Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Bài ca Vọng cổ/ Truyện ngắn của Tiểu Tử/ Kim Trương chia sẻ

Bài Ca Vọng Cổ
(Truyện Ngắn – Tiểu Tử)
* Riêng tặng những người còn ca Vọng Cổ và tặng những người còn nhớ Vọng Cổ
Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm, đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khóe môi, mái tóc đã ngà bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công” và tôi của bây giờ thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi tập… nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt !
Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’Ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu cho tôi Công ty Đường Mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!
Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái nhiệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: Ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng… Vì vậy, tôi hơi… ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia.
Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng nầy toàn là rừng là rừng. Không phải rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mười, mười lăm thước… coi khô khốc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng nhưng đồi không cao và trũng, không sâu.
Nhà nước phá rừng trồng mía. Ruộng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v.v… nằm cách nhau cỡ vài cây số. Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó, chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến. Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đá đỏ, mỗi lần máy bay đáp lên đáp xuống là bụi bay… đỏ trời!
Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi “đi làm lại cuộc đời” ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhất làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể).
Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinois” – thằng Tàu. Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi… nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.
Một hôm, sau hơn tám tháng “ở rừng”, tôi được gọi về Abidjan để họp (đây là lần đầu tiên được về thủ đô!). Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa. Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói :
– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi, tôi mới về.
Ở xứ đen, họ dùng chữ “Patron” để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v.v… Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết! Tôi nói:
– Về đi! Đâu cần phải đợi!
Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng tốt :
– Tại Patron không biết chớ ở đây, lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay “ăn-banh” (en panne) ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.
Rồi hắn đi ra xe.
Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh, hành khách khá đông. Nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly… Không phải họ không biết gửi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô dành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ… xách tay, cho dầu là vừa nhiều món vừa nặng, vừa cồng kềnh!
Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim…
Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca Vọng Cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ : “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy”. Rồi lại nhắm mắt lim dim…
Lại nghe Vọng Cổ nữa. Mà lần nầy nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò”:
“Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng… đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều…”
Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca Vọng Cổ ngồi kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển, họ cũng ít dùng nữa.
Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca Vọng Cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là cái võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:
– Bonjour!
Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “Bonjour“. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Anh hát cái gì vậy?
Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp:
– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là “le chinois” làm việc cho hãng đường ở Borotou không?
Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.
Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:
– Trời ơi! Bác là người Việt Nam hả?
Rồi hắn vỗ lên ngực:
– Con cũng là người Việt Nam nè!
Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kiềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ” đến cái xứ “khỉ ho cò gáy” nầy mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt.
Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:
– Trời ơi… Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt… con mừng “hết lớn” bác à!
Rồi hắn kéo tôi lại võng:
– Bác nằm đi! Nằm đi!
Hắn lại đống gạch “bờ-lốc” gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:
– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy, con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu được tới bây giờ.
Hắn móc gói thuốc, rồi mời tôi:
– Mời bác hút với con một điếu.
Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “cái gì” rất Việt Nam.
Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:
– Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?
Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:
– Của ông ngoại con cho đó! Ông cho hồi ổng còn sống lận.
Rồi hắn bật cười:
– Hồi đó ông gọi con bằng “Thằng Lọ Nồi”.
Ngừng một chút rồi tiếp:
– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!
Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn, tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm. Tôi nói:
– Vậy là cháu lai Việt Nam à?
– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.
– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?
Giọng của hắn như nghẹn lại:
– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi năm 1975.
– Còn ba của cháu?
– Ổng hiện ở Paris. Tụi nầy nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!
Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ nầy, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi, môi dầy. Tôi chợt nói, nói một cách máy móc :
– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!
Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:
– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.
Hắn xòe hai bàn tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:
– Bên nội của con là nằm ở bên ngoài nầy đây nè.
Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:
– Còn bên ngoại nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.
Bỗng giọng hắn nghẹn lại:
– Con lai Việt Nam chớ bác!
Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:
– Ờ… Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy.
Hắn mỉm cười:
– Ở đây, người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?
Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:
– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh nầy, thiệt là trời còn thương con quá!
Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng.
Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:
– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca Vọng Cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “Đường Về Quê Ngoại” đó bác.
– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe Vọng Cổ.
Giọng nói hắn bỗng như hăng lên:
– Vọng Cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu, lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca Vọng Cổ hết.
– Bác cũng vậy.
Tôi nói mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau.
Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:
– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe “trắc-tơ” và “rờ-mọt” để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.
Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:
– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết “Jean le Vietnamien” hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.
Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:
– Ghé con nghe bác… Ghé con…!
Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật đầu vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con.
Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho thằng “Jean le Vietnamien“. Hồi nãy nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ.
Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “thằng Jean”, rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!
Bây giờ, viết lại chuyện “thằng Jean” mà tôi tự hỏi: “Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam? Và có được bao nhiêu người còn mang trong lòng bài ca Vọng Cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nguyên trong đó?”
Tiểu Tử

Ảnh minh họa : Tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. 

Truyện ngắn Clair de lune, Ánh Trăng/ Guy De Maupassant/ Lê Ngọc Anh dịch/ Kimkỳ st

Truyện ngắn: Ánh Trăng
của Guy de Maupasant
Lê Ngọc Anh dịch

Maupassant và các nhà viết truyện ngắn Pháp
Guy de Maupassant rõ ràng là một trong những người viết truyện ngắn tuyệt vời nhất, ở một nước, người ta đã viết rất nhiếu truyện ngắn, mà toàn là truyện viết tốt nữa. Ngôn ngữ của ông tươi tắn, đơn giản, tự nhiên, thật sự dân gian tới mức chúng ta có thể hết lòng yêu mến. Ông có cái ưu thế tốt nhất mà các nhà văn Pháp vẫn có: sự rõ ràng, đúng là rõ ràng và thật rõ ràng. Ở ông không bao giờ thiếu cái cảm giác về mức độ và trật tự thường vẫn thấy ở người Pháp. Ông viết, như là các chủ đồn điền vùng Normandie vẫn sống, nghĩa là thận trọng và vui vẻ. Mặc dù có cốt cách mực thước như vậy, các tác phẩm của ông vẫn gợi cảm, thơm phức như thứ bánh mì chín tới, các kiểu hết sức đa dạng: trí tưởng tượng của ông phát triển phong phú, hơn bất cứ người viết truyện nào khác trong thời đại chúng ta. Không có một tên ngốc hay một gã thầy tu nào mà ông bỏ qua không tìm cách ghi nhận. Ông thật là một hoạ sĩ vĩ đại trong việc vẽ lại cái kỳ dị của con người. Không yêu quá mà cũng không ghét quá, ông khách quan phác ra cho ta thấy một người nông dân tham lam, một thủy thủ say rượu, một cô gái sa ngã, một viên công chức quèn. Ông chỉ cho ta thấy những cái kỳ quái đó một cách rõ ràng, đến mức ta cảm thấy như là chính ta nhận ra và đối với ta, những hình tượng ấy còn thật hơn cả sự thật. Như là một tay thợ lành nghề, ông biết rằng muốn là có thể làm ra mọi thứ, miễn là mang lại cho chúng sức sống.
Trong sự thản nhiên của mình, ông giống như tạo hoá làm chúng ta ngạc nhiên, khiến chúng ta rung động. Lắm lúc tôi cứ tự hỏi, ở mãi phần sâu của tâm hồn, cái con người công bình, mạnh mẽ và tốt bụng này nghĩ gì, cảm xúc ra sao? Ông có yêu những chàng ngốc vì nỗi ngô nghê của họ? Ông có thích thú với cái ác, khi thấy nó lạ lùng đến thế? Ông vui hay buồn, khi làm chúng ta vui vẻ, tự ông có cảm thấy vui? Ông nghĩ gì về con người? Ông có thái độ nào đối với đời sống? Có thể, cuối cùng, ông nghĩ rằng cuộc sống không tệ như chúng ta tưởng? Rõ ràng, ở một chỗ nào đó, ông đã xoay sở mọi phương cách, nhằm làm cho đời sống có ý nghĩa. Có thể ông cho rằng, cuộc đời phải như thế, vì trong đời nhìn đâu cũng đầy những kẻ thất bại và những kẻ tầm thường, toàn những nhân vật rất thích hợp để viết truyện ngắn. Thực ra đối với một người viết truyện đấy là một «điểm nhìn» rất hay. Nhưng ngược lại, cũng có thể nghĩ rằng ông lúc nào cũng buồn bã và đau khổ, lúc nào cũng bị giày vò bởi niếm thương cảm sâu xa, và có lúc ngấm ngầm ứa nước mắt trước những gi mà bề ngoài ông chỉ ra cho chúng ta thấy một cách có vẻ lạnh lùng.

Ánh trăng
Ảnh mh cho truyện ngắn Clair De Lune 1884

Maupassant sáng tác 2 truyên ngắn cùng có tên Clair de lune. Clair de lune kia đã rất nổi tiếng ở Việt Nam qua bản dịch của Lê Hồng Sâm với tiêu đề Sáng trăng.
*
Phu nhân Julie Roubère đang đợi người chị cả của mình là phu nhân Henriette Létoré trở về từ một chuyến đi Thụy Sỹ.
Vợ chồng Léteré đã đi được gần năm tuần lễ. Để mặc chồng một mình quay về trang trại của họ ở Cavados nơi có những quyền lợi đang đòi hỏi, Henriette đến nhà em gái mình ở Paris vài ngày.
Chiều xuống. Trong phòng khách nhỏ, bình dị, mờ tối bởi hoàng hôn, phu nhân Roubère ngồi đọc, lơ đễnh, mọi tiếng động đều khiến nàng nhìn lên.
Cuối cùng chuông cũng reo và người chị gái xuất hiện, trùm kín hoàn toàn trong tấm áo rộng đi đường. Và ngay tức khắc, không chỉ nhận ra nhau, họ ôm chặt nhau nồng nhiệt, tạm ngừng để rồi lại bắt đầu ôm hôn nhau tiếp.
Rồi họ chuyện trò, hỏi han về sức khỏe, gia đình của nhau cùng hàng nghìn chuyện khác, miệng liến thoắng, tuôn ra những lời dồn dập, đứt đoạn, người nọ tiếp sau người kia, trong khi Henriette gỡ mạng và mũ.
Đêm đã xuống. Phu nhân Roubère rung chuông gọi mang đèn, và ngay khi có ánh sáng, nàng ngắm nhìn chị gái của mình, sắp sửa ôm hôn nữa. Nhưng nàng vẫn ở nguyên, hoảng hốt, không thốt lên lời. Trên thái dương của phu nhân Létoré, có hai món tóc bạc lớn. Phần còn lại của mái đầu có mầu muối tiêu ; song chỉ ở chỗ đó, từ hai bên đổ xuống tựa hai dòng suối bạc chảy ngay vào trong đám tóc sẫm màu. Thế mà nàng mới hai mươi tư tuổi và chuyện này xảy đến đột ngột từ chuyến đi Thụy Sỹ. Bất động, phu nhân Roubère nhìn thẫn thờ, sắp sửa khóc như có một nỗi bất hạnh bí ẩn và khủng khiếp nào đó đã ập xuống chị gái mình ; và nàng hỏi :
-          Có chuyện gì thế chị Henriette ?
Cười một nụ cười buồn bã, một nụ cười ốm yếu, người kia đáp :
-          Chẳng có gì đâu mà, chị cam đoan đấy. Em nhìn thấy món tóc bạc của chị à ?
Nhưng phu nhân Roubère hăng hái nắm chặt lấy vai chị nàng, nhìn sâu vào mắt và lặp lại :
-          Chị có chuyện gì ? Nói cho em hay chị có chuyện gì. Và nếu chị nói dối, em sẽ biết rõ.
Họ vẫn còn đối diện với nhau, và phu nhân Henriette biến sắc xanh xao và yếu ớt, lệ từ khóe mắt rớt xuống :
Người em gái lặp lại :
-          Chuyện gì xảy đến với chị ? chị có chuyện gì ? Trả lời em đi ?
Thế là bằng giọng cam chịu, người kia thì thào :
-          Chị… chị có nhân tình.
Và úp mặt lên vai người em út, nàng òa khóc nức nở.
Rồi khi nàng đã bình tâm hơn một chút, lúc những tiếng nấc từ ngực nàng nguôi đi, nàng bắt đầu nói ngay, như để trút bỏ bí mật này khỏi mình, thổ lộ nỗi đau đớn này vào một tấm lòng bè bạn,
Thế là cùng nắm tay nhau xiết chặt, hai người phụ nữ đi tới ngồi lún trên chiếc tràng kỉ trong góc tối của phòng khách, và người trẻ hơn quàng cánh tay lên cổ chị, ôm chị vào lòng, lắng nghe.
-          Ôi ! chị thừa nhận là vô lý ; chính chị cũng không hiểu nổi mình, và chị phát điên lên từ ngày đó. Hãy coi chừng, em bé bỏng, hãy coi chừng bản thân mình ; giá mà em biết được rằng chúng ta yếu đuối, nhún nhường, sa ngã nhanh đến thế nào ! Chẳng cần gì cả, chỉ cần một chút mủi lòng, chỉ cần một chút u sầu đột nhiên tràn qua cõi lòng, chỉ cần chút thiết tha được mở rộng vòng tay yêu dấu và ôm ấp, mà chúng ta lại có tất cả những cái đó, vào khoảnh khắc nào đó.
Em biết chồng chị đấy, và em biết là chị yêu anh ấy đến mức nào ; song anh ấy chín chắn và lí trí, không hiểu chút gì về tất cả những rung động dịu dàng của trái tim phụ nữ. Anh ấy luôn luôn, luôn luôn như thế, luôn tốt bụng, luôn tươi cười, luôn hài lòng, luôn hoàn hảo. Ôi ! đôi lúc chị mong muốn biết bao được anh ấy đột nhiên ôm chặt trong vòng tay, được anh ấy hôn bằng những nụ hôn dịu dàng và chậm rãi, hòa hợp hai con người, giống như những trao gửi riêng tư thầm lặng, chị đã mong muốn biết bao rằng anh ấy có những lúc bơ vơ, cả yếu đuối nữa, cần có chị, cần những vuốt ve của chị, cần những giọt nước mắt của chị !
Tất cả những cái đó thật ngốc nghếch ; nhưng chúng ta là như thế, chúng ta khác họ. Ai có thế cho chúng ta những cái đó ?
Và mặc dù thế, chị chưa từng có ý nghĩ đánh lừa anh ấy. Ngày hôm nay, điều đó đã đến, không tình yêu, không lý trí, chẳng có gì cả ; bởi vì có một đêm trăng trên hồ Lucerne.
Từ một tháng nay vợ chồng chị đi du lịch cùng nhau, vẻ điềm tĩnh thản nhiên của anh ấy làm tê liệt những nhiệt tình của chị, làm lụi tàn những niềm hứng khởi trong chị. Vậy là vào lúc bình minh, trên một cỗ xe tứ mã chở khách phóng nước kiệu, bọn chị xuôi xuống sườn đồi. Trong làn hơi nước trong suốt của ban mai, những thung lũng dài, những cánh rừng, những dòng sông, những làng mạc đang dần hiện ra, chị vỗ tay, thích thú nói với anh ấy :” Đẹp làm sao, bạn ơi, ôm hôn em đi nào !”, anh ấy đáp lại với một nụ cười khoan dung và lạnh lùng, hơi nhún vai : “Không phải là lý do để ôm hôn, chỉ vì quang cảnh làm vừa lòng em.”
Và điều đó làm chị băng giá tới tận cõi lòng. Thế mà với chị, dường như khi người ta yêu, người ta phải luôn có khao khát được ôm hôn còn hơn thế trước những cảnh tượng cảm động.
Cuối cùng, niềm thi hứng trong chị bị anh ấy ngăn cản tuôn trào trở nên sôi sục. Chị đã nói gì với em nhỉ ? Chị gần giống như một cái nồi đầy hơi đóng kín mít.
Một buổi tối (bọn chị đã ở tại khách sạn Fluelen được bốn ngày), Robert, bị chứng đau nửa đầu, lên nằm nghỉ ngay sau bữa tối, còn chị một mình đi dạo bên bờ hồ.
Đó là đêm của chuyện thần tiên. Mặt trăng tròn vành vạnh lồ lộ giữa bầu trời ; những trái núi tuyết lớn dường như phủ bạc, còn mặt nước, vô cùng lóng lánh, có những gợn sóng nhỏ lung linh. Không khí êm dịu, ấm áp thấm vào người khiến ta  trở nên uể oải đến yếu mềm,  khiến ta xúc động vô cớ. Một tâm hồn mới nhạy cảm và xao xuyến làm sao trong những khoảnh khắc đó ! Nó mới mau rung động và cảm nhận mạnh mẽ làm sao !
Chị ngồi trên cỏ và ngắm nhìn mặt hồ rộng, u buồn và đẹp đẽ ; và một điều lạ lùng đã xảy ra trong chị : một nỗi khao khát yêu đương vô hạn, một nỗi kích động chống lại sự nhạt nhẽo ủ ê của cuộc đời đã đến với chị. Vậy mà sao chị chưa từng được ở trong vòng tay của người đàn ông yêu dấu đi dọc một bờ nước ngập tràn ánh trăng ? Chưa từng cảm thấy trên mình những nụ hôn sâu thăm thẳm, tuyệt diệu và bàng hoàng người ta vẫn trao nhau trong những buổi đêm êm ái mà Chúa Trời dường như đã tạo ra dành cho những âu yếm ? Chưa hề được xiết chặt say sưa bởi một vòng tay đắm đuối trong ánh sáng mờ tỏ của một tối mùa hè ?
Và chị bắt đầu khóc như một con điên.
Chị nghe thấy tiếng động ở phía sau. Một người đàn ông đứng đó đang nhìn chị. Lúc chị quay đầu lại, anh ta nhận ra chị và tiến đến :
- Bà khóc ư, thưa bà ?
Đó là một luật sư trẻ đi du lịch cùng mẹ mà bọn chị đã gặp nhiều lần. Anh ta thường giõi mắt theo chị.
Chị hoảng hốt đến nỗi chẳng biết trả lời, hành động thế nào cả. Chị đứng lên và tự nhủ phải chịu đựng.
Anh ta bắt đầu bước tới gần chị, bằng một phong thái tự nhiên và kính cẩn, rồi nói chuyện với chị về chuyến du lịch. Tất cả những gì chị đã cảm kích, anh ta đều bày tỏ ; tất cả những gì khiến chị chị rung động, anh ta đều thấu hiểu như chị, còn hơn cả chị nữa. Và bỗng nhiên anh ta đọc cho chị nghe những câu thơ, những câu thơ của Musset. Một cảm xúc khó diễn tả khiến chị ngạt thở. Với chị dường như chính những núi non, hồ nước, ánh trăng đang ngợi ca những gì êm đềm khó nói lên lời …
Và chuyện ấy đã xảy ra mà chị không hiểu vì sao và thế nào, trong một kiểu ảo giác…
Về phần anh ta…, chị chỉ gặp lại anh ta vào hôm sau, lúc khởi hành.
Anh ta đưa cho chị danh thiếp của mình !...
Và phu nhân Létoré,  vừa rũ xuống trong vòng tay người em gái vừa thốt ra những tiếng rên rỉ, gần như là kêu la.
Thế là phu nhân Roubère tĩnh tâm lại, nghiêm trang, tuyên bố một cách hết sức dịu dàng :
- Chị thấy không, chị gái, nhiều khi chúng ta yêu không phải người đàn ông mà là yêu tình yêu. Và tối hôm đó, chính ánh trăng mới là người tình đích thực của chị. 
Kim Kỳ st ´*。.¨¯`**¨¯`*

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020


Mời quý bạn xem lại 1 truyện ngắn rất hay.
*
SỢI DÂY CHUYỀN KIM CƯƠNG
Posted on June 1, 2009 by Yun under Classic Short Stories/Truyện cổ điển, International Short Stories/Truyện ngắn nước ngoài, Mystery-Twist Short Stories/ Truyện Huyền bí-Li kỳ, Yun's Translation/ Dịch thuật
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản
Guy de Maupassant (1850-1893)
*
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:
Guy de Maupassant (1850-1893) sinh ra trong một gia đình tư sản quý tộc thuộc tấng lớp trung lưu tại Normandy, Pháp. Sau khi phục vụ trong quân ngũ, do không có tiền để đeo đuổi việc học luật, ông trở thành một viên chức nhà nước trong nhiều Bộ khác nhau tại Paris. Cùng thời điểm đó, ông được học cách viết lách với người thầy, người cha đỡ đầu là Gustave Flaubert và bắt đầu đi theo khuynh hướng hiện thực. Tài năng của ông thành công vang dội vào giữa những năm 1880 và 1890. Maupassant chủ yếu viết truyện ngắn, đồng thời ông cũng cũng viết bút ký, kịch, thơ và tiểu thuyết… Chỉ trong vòng một thập niên, ông đã viết gần 300 truyện ngắn, 200 bài đăng báo, 6 quyển tiểu thuyết và 3 bút ký du hành. Ông mất khi mới 42 tuổi, trong sự hành hạ của bệnh tật và được chôn cất ở nghĩa trang Montparnasse. Văn phong của Maupassant đã ảnh hưởng đến vô số nhà văn trên toàn thế giới. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông như: Viên mỡ bò (Boule de Suif), Bố của Simon (Le Papa de Simon), Một cuộc đời (Une vie), Anh bạn điển trai (Bel-Ami), Pierre et Jean…
Truyện ngắn “Sợi dây chyền kim cương” (La Parure) được sáng tác vào năm 1884, trong bối cảnh những năm cuối thế kỷ XIX ở Pháp. Từ rất sớm, xã hội Pháp đã được thiết lập dựa trên một giai cấp cơ bản và những người muốn cố thay đổi hay vượt lên giai cấp mà họ đã sinh ra phải chịu rất nhiều tủi nhục, cay đắng. Sau Cách mạng Pháp (1789- 1799), nước Pháp trở thành nước Cộng hòa, nhưng sự phân biệt giai cấp vẫn là một phần không thể thiếu trong xã hội. Thông qua những số phận bất hạnh, những hoàn cảnh trớ trêu, bằng ngòi bút sắc sảo đầy tính nhân văn của mình, Maupassant đã vạch trần những mặt trái của xã hội Pháp lúc bấy giờ.

*
Cô là một thiếu nữ xinh đẹp và quyến rũ mà thỉnh thoảng y như thể số phận trớ trêu đặt nhầm vào một gia đình công chức tầm thường. Cô không có của hồi môn, cũng chẳng có gia tài thì làm sao được một quý ông giàu có, danh giá nào để ý, tìm hiểu, yêu đương rồi lấy làm vợ cơ chứ? Thế là cô đành chấp nhận cưới một viên thư ký quèn tại Bộ thông tin.
Cô ăn mặc tuềnh toàng bởi cô nào có điều kiện để chưng diện. Vậy nên bao giờ cô cũng phiền muộn khi đinh ninh rằng mình bị rơi xuống từ một địa vị cao sang nào đấy. Từ trước tới giờ, với một người phụ nữ không có danh phận mà cũng chẳng địa vị thì chả phải sắc đẹp, nét duyên dáng, sự quyến rũ và một trí tuệ mẫn tiệp chính là thứ tôn ty duy nhất, giúp người phụ nữ đó có thể sánh ngang với các bậc mệnh phụ phu nhân khác đó sao?
Cô luôn phải chịu đựng cảm giác mình sinh ra là dành cho mọi xa hoa nhung lụa và cuộc sống xa xỉ. Cô không thể chịu nổi nơi ở tồi tàn, các bức tường nham nhở, dăm cái ghế cũ mòn, mấy bức màn xộc xệch. Tất cả những thứ mà bao nhiêu phụ nữ khác trong tầng lớp của cô quanh năm suốt tháng cũng chẳng lấy làm phiền lòng ấy đã hành hạ, dằn vặt và khiến cô giận dữ biết bao nhiêu. Cái vẻ tội nghiệp của những người phụ nữ đáng thương chỉ biết quần quật với công việc nhà hèn mọn luôn khuấy động trong cô nỗi thương cảm vô vọng và xiết bao chán ngán. Cô mơ tưởng về những căn phòng yên tĩnh trang hoàng thảm Ba Tư lấp lánh, phản chiếu ánh sáng từ những cột đèn cao bằng đồng sáng loáng và hai anh hầu mặc quần ống chẽn đang gà gật trong mấy cái ghế bành lớn bởi cái ấm áp trĩu nặng lan tỏa từ lò sưởi. Cô thấy những phòng tiếp khách dài trang trí nhiều tấm lụa cổ xưa, trưng bày bao nội thất trang nhã chứa đựng bao bí ẩn vô giá, và về phòng tiếp khách sang trọng, sực nức nước hoa dành cho các buổi tán gẫu với những quý bà thân thiết, và bao quý ông tiếng tăm người mà tất cả mọi phụ nữ đều khao khát và thèm muốn được họ chú ý đến.
Khi cô xuống dùng bữa tối, ngồi trước cái bàn tròn phủ một tấm khăn ăn đã cũ ba ngày trời, đối diện với chồng cô, anh không đậy liễn xúp mà mở toang nó ra rồi reo lên thích thú: “A, món thịt bò hầm rau ngon tuyệt! Anh thấy chả còn gì hấp dẫn hơn nữa hết!”, thì cô ao ước những bữa tối thịnh soạn với ánh bạc sáng ngời, về những tấm thảm treo tường thêu hình những danh nhân cổ xưa và những chú chim kỳ lạ đang tung cánh giữa một khu rừng thần tiên. Và cô hình dung ra bao nhiêu là món ăn thơm tho được bày biện trên những chiếc đĩa tinh xảo, về những lời thì thầm hoa mỹ được đáp lại bằng những nụ cười bí ẩn trong khi đang nhâm nhi món món cá hồi tái hay cánh chim cút dòn tan.
Cô không mê gì ngoài quần áo đẹp, đồ trang sức thế mà cô chẳng có gì cả. Cô cảm thấy mình sinh ra là để dành cho chúng! Cô sẽ hài lòng lắm nếu được các quý bà ghen tỵ, và mọi quý ông phải mê mẩn, theo đuổi.
Cô có một người bạn cũ cùng học tại trường nội trú. Chị ta rất giàu có và cô chẳng muốn đến gặp chút nào bởi cô sẽ luôn phải đau buồn, khổ sở biết bao lúc trở về.
Nhưng một tối nọ, chồng cô về nhà với khuôn mặt rạng rỡ, anh cầm trong tay một phong thư to.
“Đây” anh nói, “ Có thứ này cho em nhé!”
Cô xé phong bì và lấy ra một tấm thiệp mời có ghi những dòng này:
“ Bộ trưởng Bộ thông tin và Bà Georges Ranponneau vinh dự mời Ông và Bà. Loisel cùng đến dinh Bộ trưởng vào tối thứ hai, ngày 18 tháng Giêng.”
Thay vì hài lòng như chồng hy vọng, cô thờ ơ ném thư mời lên bàn lẩm bẩm:
“ Anh muốn em làm gì với nó chứ?”
“ Nhưng, em yêu, anh nghĩ em sẽ vui cơ đấy. Em không bao giờ đi chơi hết và đây chẳng phải là một dịp tốt sao? Anh phải vất vả lắm mới có nó đấy chứ. Ai nấy đều muốn đi cả. Vả lại họ lựa chọn kỹ càng lắm, không có nhiều thiệp mời được gửi cho những viên thư ký đâu. Cả giới quý tộc sẽ ở đó!”
Cô liếc nhìn anh một cái đầy cáu giận, bực dọc nói:
“ Và anh nghĩ em sẽ mặc cái gì để đi chứ?”
Anh đã không nghĩ đến điều đó, anh ấp úng:
“ Sao thế, chiếc váy em mặc đi rạp hát ấy, anh trông nó rất đẹp mà!”
Anh khựng lại, lo lắng, nhìn vợ mình đang khóc. Hai giọt nước mắt long lanh chầm chậm lăn từ mi mắt xuống khóe môi cô. Anh lắp bắp:
“ Sao thế em? Sao thế?”
Nhưng cô đã hết sức cố gắng kiềm chế nỗi tủi hổ của mình. Rồi cô trả lời, với một giọng bình tĩnh, trong khi lau gò má ướt của mình:
“ Chẳng có gì đâu, chỉ là em không có váy dạ tiệc và bởi vậy em không thể đến buổi khiêu vũ này được. Anh hãy đưa thiệp mời này đến những đồng nghiệp mà vợ họ có điều kiện hơn em đi!”
Anh vô cùng thất vọng nhưng cố vớt vát:
“ Coi nào, Mathilde. Nó tốn bao nhiêu, một chiếc váy phù hợp mà em có thể dùng trong những dịp khác nữa ấy, cái nào đơn giản thôi?”
Cô ngẫm nghĩ một vài giây, cân nhắc suy tính tự hỏi xem liệu cô có thể hỏi anh số tiền bao nhiêu để không phải nhận được sự từ chối tức thì hay một tiếng kêu khiếp đảm từ một viên thư ký cần kiệm.
Cuối cùng cô ngập ngừng trả lời:
“ Em không biết chính xác, nhưng em nghĩ em có thể xoay xở với bốn trăm franc.”
Mặt anh hơi tái đi, anh đã để dành ra một khoản bằng chừng ấy để mua khẩu súng săn và tự thưởng cho mình một chuyến đi bắn chim chiền chiện cùng vài người bạn dưới đồng bằng Nanterre hè tới, vào một ngày chủ nhật.
Nhưng anh lại nói:
“ Được thôi, anh sẽ đưa em bốn trăm franc. Và ráng chọn một cái váy đẹp nhé!”
Buổi khiêu vũ đã gần đến nhưng cô Loisel lại trông rất buồn bã, khó chịu và lo âu mặc dù chiếc váy của cô đã có sẵn. Một tối nọ chồng cô hỏi:
“ Có chuyện gì vậy? Coi nào, ba ngày gần đây trông em lạ quá.”
Và cô trả lời:
“Em thật bực mình vì chẳng có lấy một món nữ trang nhỏ, dù chỉ là một viên đá, không có gì để đeo vào cả. Em sẽ giống như nghèo túng đến nơi. Chẳng thà em không đi đâu hết thì hơn!”
Anh tiếp tục:
“ Em nên cài mấy bông hoa ấy. Mùa này trong năm thế là mốt lắm đấy.Với mười franc em có thể mua hai hay ba bông hồng tuyệt đẹp rồi!”
Cô chẳng bằng lòng:
“ Thôi đi, chả có nhục nhã nào hơn trông nghèo nàn giữa những quý bà giàu sang hết!”
Chợt chồng cô la lên:
“ Em ngốc quá đi thôi! Đến tìm bạn em đi, cô Forestier ấy, và hỏi mượn chị ta một ít trang sức. Hai người khá thân thiết kia mà?”
Cô thốt lên vui sướng:
“ Ừ nhỉ, sao em không nghĩ đến điều đó cơ chứ?”
Ngày hôm sau cô liền đến thăm bạn mình và tâm sự về nỗi lo lắng của cô.
Cô Forestier đi đến tủ quần áo có gắn một cái gương, lấy ra một hộp trang sức lớn, đem nó lại, mở ra và nói với cô Loisel:
“ Nào chọn thứ chị thích đi, bạn thân mến!”
Đầu tiên cô thấy một vài vòng tay, tiếp đến là một chuỗi hạt bằng ngọc trai, sau đó là một cây thánh giá Viên nạm vàng và đính những viên đá quý giá được chạm trổ bằng một tay nghề tinh xảo. Cô thử đồ trang sức trước tấm gương, do dự, không biết chọn món nào mà cũng chẳng nỡ tháo chúng ra để trả lại. Cô tiếp tục hỏi:
“ Chị còn món nào nữa không?”
“ À, còn chứ. Trông này, tôi không biết là chị thích đấy!”
Thật bất ngờ khi cô nhận ra trong chiếc hộp sa tanh đen là một chuỗi hạt tuyệt vời bằng kim cương. Trái tim cô bắt đầu đập mạnh với một nỗi khát khao tột độ. Cả hai tay cô run rẩy khi cầm nó lên. Cô choàng nó quanh chiếc cổ cao, và tiếp tục chìm đắm trong trạng thái mê ly khi ngắm nhìn sự tuyệt mỹ của mình.
Sau đó cô ngại ngùng hỏi:
“ Chị có thể cho tôi mượn nó không, chỉ nó thôi?”
“ Ồ, vâng, tất nhiên rồi.”
Cô nhảy lên choàng cổ, hôn lên má bạn thay lời cảm ơn thiết tha, sau đó vội vàng ra về với món trang sức của mình.
Đến buổi khiêu vũ, Cô Loisel đã thành công mỹ mãn. Cô đẹp hơn mọi phụ nữ, tao nhã, thanh lịch, tươi tắn, và choáng ngợp trong một niềm hân hoan khôn tả. Bao nhiêu đàn ông ở đó đều ngắm nhìn cô, hỏi tên cô, đến tự giới thiệu với cô. Tất cả những nhân vật quan trọng Bộ đều muốn lướt trong điệu valse với cô. Chính bộ trưởng cũng chú ý đến cô nữa.
Cô khiêu vũ say sưa trong một xúc cảm mạnh mẽ, ngất ngây trong nỗi vui thích mê ly. Cô như quên tất cả chỉ còn lại sự hãnh diện về nhan sắc rạng rỡ, niềm tự hào về thành công đã mong đợi bao ngày. Cô như đang bay lên chín tầng mây, hạnh phúc với tất cả sự ngưỡng mộ. Chao ôi, điều đó mới thật ngọt ngào với trái tim một phụ nữ xiết bao!
Cô ra về khoảng bốn giờ sáng. Chồng cô đã ngủ từ nửa đêm trong một căn phòng trống nhỏ cùng với ba quý ông khác trong khi vợ họ đang hưởng những thì giờ vui vẻ. Anh khoác lên vai cô chiếc khăn choàng anh đã mua, chiếc khăn choàng giản dị của cuộc sống bình thường mà sự nghèo nàn của nó sao tương phản với sự quý phái của chiếc váy khiêu vũ quá! Cô cảm thấy điều đó, và muốn thoát ngay ra khỏi nó để không bị những quý bà choàng áo lông thú đắt tiền chú ý.
Loisel giữ vai cô lại và bảo:
“ Chờ một chút nào, bên ngoài lạnh lắm, em cảm mất thôi. Để anh ra gọi một chiếc xe ngựa đã!”
Nhưng cô không chịu nghe anh, và vội vã bước xuống cầu thang. Khi ra ngoài đường họ không tìm thấy một chiếc xe ngựa nào, và họ bắt đầu tìm kiếm, hét toáng phía sau lưng một người đánh xe ngựa đã đi qua một quãng xa.
Họ đi về phía sông Seine trong nỗi thất vọng, cả hai run lẩy bẩy vì lạnh. Cuối cùng họ tìm thấy trên bến cảng một chiếc xe cũ kỹ chẳng bao giờ thấy lảng vảng quanh Paris cho đến khi trời sẩm tối, y như thể nó cũng biết xấu hổ khi phô bày sự nghèo nàn của mình ra vậy.
Xe đưa họ đến trước cửa nhà ở đường Martyrs, và một lần nữa, họ buồn bã leo lên gác. Với cô, vậy là mọi thứ đã kết thúc rồi. Về phần chồng cô, anh nghĩ mình lại phải có mặt ở Bộ lúc mười giờ đúng.
Cô cởi khăn choàng khỏi bờ vai trước tấm gương, để được một lần nữa nhìn ngắm mình trong sự lộng lẫy. Nhưng bất thình lình cô thốt lên hoảng hốt. Cô không thấy sợi dây chuyền quanh cổ mình nữa!
Chồng cô đã gần thay xong quần áo, gặng hỏi:
“ Chuyện gì thế em?”
Cô quay sang anh, hổn hển:
“Em…em…em đã đánh mất chuỗi hạt của chị Forestier rồi.”
Anh đứng bật dậy, sửng sốt:
“Cái gì! Làm sao? Không thể thế được!”
Và họ lục tìm trong nếp gấp của chiếc váy, trong nếp gấp của áo choàng, trong túi của cô, tất cả mọi nơi. Nhưng họ không tìm thấy nó.
Anh hỏi:
“ Em có chắc là vẫn còn đeo nó khi mình rời khỏi buổi khiêu vũ không?”
“Có, em còn sờ thấy nó lúc ấy cơ mà.”
“Nếu em làm rơi nó trên đường thì mình đã nghe tiếng rơi. Chắc nó rơi trong xe rồi.”
“Có lẽ thế, mà anh có biết số xe không?”
“Không. Còn em, em đâu có để ý số xe phải không?”
“Không.”
Họ nhìn nhau bàng hoàng như sét đánh bên tai. Cuối cùng, Loisel mặc quần áo vào.
“Anh sẽ đi bộ trở lại,” anh bảo, “ dọc mọi con đường chúng ta đã qua xem liệu anh có thể tìm thấy nó không.”
Và anh đi ra. Cô ngồi chờ trên ghế bành vẫn mặc váy khiêu vũ, không có chút sức lực nào để đi nằm, ngập tràn chán nản, đờ đẫn, không một ý nghĩ.
Chồng cô trở về lúc bảy giờ. Anh chẳng tìm thấy gì cả.
Anh đến đồn cảnh sát, đến các tòa sọan báo đăng tin rao thưởng, đến các sở xe ngựa, mọi nơi mà anh còn le lói chút hy vọng dù nhỏ nhoi nhất.
Cô chờ đợi cả ngày, trong cùng một tâm trạng tồi tệ của nỗi sợ hãi bàng hoàng trước biến cố khủng khiếp này. Anh Loisel trở về lúc tối mịt với cái bụng trống rỗng và khuôn mặt nhợt nhạt, anh không phát hiện được gì hết.
“Em phải viết vài dòng cho bạn em thôi,” anh nói, “rằng em đã làm gãy cái móc gài sợi dây chuyền của cô ấy và em phải đem nó đi sửa. Chúng ta sẽ có thêm thời gian để xoay xở.”
Cô viết theo những gì anh đọc.
Cuối cùng sau một tuần lễ họ đã hoàn toàn mất hy vọng.
Và Loisel giờ trông như già thêm năm tuổi, đành bảo:
“Chúng ta phải tìm cách nào thay thế món nữ trang đó thôi.”
Ngày hôm sau họ mang cái hộp đựng sợi dây chuyền đến tiệm kim hoàn của người thợ có tên khắc trong hộp. Ông ta tra cứu trong sổ sách của mình:
“ Thưa bà, tôi không bán chuỗi hạt đó, tôi chỉ bán cái hộp thôi.”
Sau đó họ đến tiệm này tới tiệm khác, tìm kiếm sợi dây chuyền giống cái đã mất theo trí nhớ của mình. Cả hai đều thất vọng và khổ não hết sức.
Cuối cùng họ tìm thấy trong một cửa hàng ở khu Plais Royal, một chuỗi kim cương giống in hệt cái họ đang tìm kiếm. Nó trị giá bốn chục ngàn franc nhưng họ có thể mua nó với ba mươi sáu ngàn franc.
Thế là hai người năn nỉ ông chủ tiệm đừng bán nó trong ba ngày tới. Và đôi bên thỏa thuận với nhau rằng ông ta sẽ phải mua lại nó với cái giá ba mươi bốn ngàn franc trong trường hợp họ tìm thấy cái bị mất trước khi hết tháng hai.
Loisel có mười tám ngàn franc do cha anh để lại. Anh sẽ vay số còn thiếu.
Anh hỏi mượn một ngàn franc chỗ này, năm trăm franc chỗ khác, mấy chục franc chỗ nọ. Anh ghi nợ, mang về những giao kèo cắt cổ, anh liên hệ với những kẻ cho vay nặng lãi và với mọi hạng người trong giới chợ đen. Anh sẵn sàng thỏa hiệp bằng cả cuộc đời mình. Anh liều mạng ký tên mà không cần biết rồi đây có thanh toán được nó hay không, và lo lắng khôn xiết về một viễn cảnh đen tối đầy bất hạnh của sự thiếu thốn vật chất, đày đọa về tinh thần bất thình lình đổ ập lên đầu mà anh phải chịu đựng. Với tâm trạng ngổn ngang như thế, anh đến lấy sợi dây chuyền mới, đặt xuống quầy thu tiền của tiệm kim hoàn ba mươi sáu ngàn franc.
Khi cô Loisel mang trả sợi dây chuyền thì cô Forestier lạnh nhạt bảo rằng:
“ Đáng lẽ chị nên trả nó sớm hơn mới phải. Nhỡ đâu tôi cần đến nó thì sao?”
Chị ta không mở cái hộp, trong khi cô Loisel vô cùng lo sợ. Nếu phát hiện ra sự thay thế này, chị ta sẽ nghĩ gì? Chị ta sẽ không cho cô Loisel là kẻ cắp chứ?
Cô Loisel giờ đã thấm thía cuộc sống khủng khiếp của sự nghèo túng. Với sự cam đảm vượt bậc, cô đã dự phần gánh vác trách nhiệm này. Hơn nữa, những món nợ dễ sợ phải được trả. Cô sẽ phải trả nó. Họ cho người hầu thôi việc, họ thay đổi chỗ ở, họ thuê một gác xép nhỏ xíu sát mái nhà.
Cô đã biết công việc nhà nặng nhọc và việc lau chùi những nhà bếp bẩn thỉu là như thế nào. Cô rửa bát đĩa, dùng những ngón tay búp măng kỳ cọ những cái xoong chảo đầy dầu mỡ. Cô giặt những tấm ra giường, quần áo, tạp dề dơ dáy rồi phơi khô chúng trên một sợi dây thép. Cô khuân vác những đống quần áo may sẵn rẻ tiền xuống đường vào mỗi sớm tinh mơ, cô gánh nước và thỉnh thoảng phải ngừng lại thở dốc mỗi khi đến nơi.Và ăn mặc như một người đàn bà lao động, với cái làn trên tay, cô đến từng quầy rau quả, hàng tạp hóa, hàng thịt, mặc cả, cò kè bớt một thêm hai, bảo vệ những đồng tiền khốn khổ của mình từng xu, từng xu một.
Mỗi tháng họ lại trả thêm được một vài khoản, lại gia hạn những khoản khác, và cần nhiều thời gian hơn nữa.
Chồng cô làm việc cả buổi tối để ghi chép sổ sách cho một vài nhà buôn, đến khuya có khi anh còn viết lại các bản thảo với giá năm xu một trang.
*
Và cuộc sống như thế trôi qua trong mười năm.
Rốt cuộc, họ đã trả xong mọi thứ, với tiền lời cắt cổ của các tên chủ nợ và những món lãi, mẹ lãi con chồng chất.
Cô Loisel giờ trông già sọp đi. Cô đã trở thành người đàn bà của một gia đình bần cùng – mạnh mẽ, cứng cỏi và thô lỗ. Với mái tóc rối bù, váy áo xốc xếch, hai bàn tay sần đỏ, cô ăn nói rổn rảng khi đang cong lưng cọ sàn trong tiếng nước xối rào rào. Nhưng thỉnh thoảng khi chồng ở công sở, cô ngồi lặng bên cửa sổ, nghĩ về cái đêm đã xa xôi, về buổi khiêu vũ mà cô đã rất xinh đẹp và được ngưỡng mộ biết bao!
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô không làm mất sợi dây chuyền ấy? Ai biết được? Cuộc sống sẽ khác và thay đổi biết chừng nào! Chỉ một việc tưởng chừng nhỏ nhặt thôi cũng có thể làm ta mất hay có tất cả!
Nhưng, một chủ nhật nọ, khi đang đi bộ trong vườn Champs Elysée để thư giãn sau một tuần lao động mệt nhọc, cô bất ngờ trông thấy người phụ nữ đang dắt theo một đứa bé. Đó là cô Forestier, vẫn xinh đẹp, vẫn quyến rũ.
Cô Loisel cảm thấy xúc động. Cô sẽ đến nói chuyện với chị ta chăng? Phải, tất nhiên rồi. Và giờ cô đã trả xong nợ, cô sẽ nói với bạn mình mọi chuyện. Sao không chứ?
Cô đến gần.
“Một ngày tốt lành, chị Jeanne.”
Người kia, ngạc nhiên khi được một bà nội trợ quê mùa xưng hô thân mật, đã không nhận ra bạn mình và lúng túng:
“ Nhưng, thưa bà, tôi không biết bà, bà nhầm rồi!”
“Không , tôi là Mathilde Loisel đây.”
Bạn cô thốt lên kinh ngạc:
“Trời ơi, chị Mathilde tội nghiệp của tôi! Chị thay đổi nhiều quá!”
“ Phải, tôi đã có đủ những ngày khổ sở, từ khi tôi gặp chị lần cuối, và đó là tại chị đấy!”
“ Vì tôi ư? Sao lại thế?”
“ Chị còn nhớ sợi dây chuyền kim cương chị cho tôi mượn đeo vào hôm khiêu vũ ở Bộ không?”
“Vâng, mà sao?”
“ Ồ, tôi đã làm mất nó.”
“Chị nói vậy là sao? Chị đã mang trả nó rồi mà.”
“Tôi đã mang trả chị một cái khác giống nó thôi. Và phải mất mười năm để trả xong nợ. Chị có thể hiểu là điều đó thật không dễ dàng với chúng tôi, những người chẳng có gì hết. Cuối cùng, mọi thứ đã kết thúc, và tôi thật mừng vì điều đó!”
Cô Forestier khựng lại.
“ Chị nói rằng chị đã mua một sợi dây chuyền bằng kim cương khác để thay thế cái của tôi à?”
“Phải. Chị không bao giờ để ý đâu! Chúng giống nhau lắm mà.”.Và ngay lập tức, cô mỉm cười với một niềm hãnh diện chất phác.
Cô Forestier nắm lấy tay bạn, xúc động khôn xiết:
“Trời ơi, chị Mathilde đáng thương của tôi! Sao lại thế, sợi dây chuyền của tôi là đồ giả mà. Nó chỉ đáng giá năm trăm franc là cùng!”
NGỌC VÂN
( Dịch từ bản tiếng Anh “The Necklace”)
Ảnh tác giả và ảnh minh họa.
Nguồn sưu tầm trên trang The Yun' s sky


Khoảnh khắc đời tôi/ Cre: Weibo Vietnam/ Hong nguyen chia sẻ trên FB/ Kim Tinh chuyển

22 tuổi, bạn tốt nghiệp đại học, vì chuyên ngành của bạn không dễ tìm việc, mấy năm đầu bạn phải chạy xe ôm, giao hàng nhanh.
24 tuổi, bạn tìm được việc làm, công việc tiền lương cũng không cao, còn thường xuyên phải tăng ca đến tận đêm khuya.
30 tuổi, bạn kết hôn, đối tượng do bà mối giới thiệu, cha mẹ hỏi bạn có thích cô gái ấy không, bạn gật đại: "thích ạ."
33 tuổi, sức khỏe bạn càng ngày càng kém đi, tăng ca càng ngày càng ít, tốc độ thăng tiến cũng càng ngày càng chậm. Cô vợ được thiên hạ ban cho kia nói với bạn: "con gái mình sắp lên mẫu giáo, song ngữ một tháng 6 triệu." Bạn nhíu mày, cô ấy không chịu được nữa, "con anh Lộc, một tháng 12 triệu kìa!" "anh đã như vậy, anh muốn con anh cũng thất bại sao?!" bạn im lặng, trở về phòng đưa vợ 12 triệu, tiền ấy bạn tính sinh nhật tự thưởng cho mình bộ máy tính mới.
36 tuổi, con vào lớp 1. Thầy nói năm lớp một rất quan trọng, bạn cười nói, vâng vâng vâng, xin thầy quan tâm cháu dùm em, thầy thấy bạn chưa hiểu, chỉ cho bạn đường sáng: "phụ đạo một tháng khoảng.v..v." năm lớp sáu, cô nói cấp hai rất quan trọng, bạn cười nói:"vâng vâng vâng, em đang tính lên đóng tiền học thêm cho cháu."
Có một ngày về đến nhà, con bé nói với bạn: "ba, con muốn học piano".
Dù bạn không còn phân vân nữa, câu "ba hiện tại mua không nổi" những tháng năm này bạn đã nói nhiều, nhưng lần này vẫn không thể nói nên lời.
cũng may con gái tương đối hiểu chuyện, bé nói: "không sao đâu ba, không được thì con học guitar cũng tốt." Bạn nhìn con gái ngoan, thấy vui vui trong lòng.
46 tuổi, con gái học phổ thông ở một trường không tồi lắm.
một ngày nọ, bạn đang họp, nhận được điện thoại của giáo viên, trong điện thoại nói con bạn đánh nhau ở trường, mời phụ huynh lên trường giải quyết. Bạn rụt rè xin cấp trên kém hơn bạn 5 tuổi cho nghỉ, tới trường lại bị thầy dạy dỗ một trận, "anh làm phụ huynh mà không biết dạy con", bạn cười cười, vâng vâng vâng.
49 tuổi, con gái lên đại học.
Chuyên môn con học, bạn nhìn vào chẳng hiểu gì. Bạn chỉ biết là công việc chắc chắn không dễ tìm, mà học phí lại cực cao.
một đêm nọ, bạn say khướt, về nói chuyện với con. Bạn nói những lời mà bạn từng rất ghét, "phải vì công việc sau này mà nghĩ, chọn nghề nào hot, đừng làm theo ý con nữa."
Bạn và con từ nói chuyện thành cãi lộn. Bạn phát hiện bạn già rồi, không cãi lại con gái nữa. Bạn nói không lại con bé, chỉ có thể hét: "tao là ba của mày đó!"
con bé nhìn bạn, biết có tranh luận thế nào cũng vô ích, bạn không muốn nghe nữa. Khi con bé về phòng, bạn nghe vọng lại một câu: "con không muốn sống giống như ba."
Bạn không biết sao lại ngồi khóc, 50 tuổi đầu ngồi khóc.
chắc là do rượu cay quá, có phải không?
chắc là do rượu cay quá rồi.
55 tuổi, con gái đi làm, dường như đã cảm thông với bạn một chút. 56 tuổi, con gái kết hôn.
bạn hỏi con có thích cậu trai kia không. Con bé quả quyết: "thích ạ." Bạn rất vui mừng.
60 tuổi, vất vả cả một đời, bạn muốn đi du lịch một chút.
Nửa kia đã bên bạn 30 năm qua, nhưng bạn vẫn thế thích cô ấy hay không cũng không rõ.
Bạn và cô ấy bắt đầu tính đường đi du lịch. Đã nhiều năm như vậy, cả hai vẫn bất đồng, vẫn cãi nhau. Rồi đâu cũng vào đấy, tất cả đã chuẩn bị xong, thì con gái nói: "ba má, chúng con bận rộn quá, giúp chúng con trông con nha?". Bạn rút vé máy bay, lại về như 30 năm trước.
70 tuổi, con của con gái cũng đã khá lớn, không cần mỗi ngày trông nom nữa. Bạn quyết định nói:"nhất định phải đi chơi một chuyến." Thế nhưng cây gậy trong tay chỉ có thể giúp bạn đi xuống vườn hoa dưới lầu mà thôi.
73 tuổi, bạn nằm trên giường bệnh viện, tỉnh lại sau hôn mê, xung quanh đầy người, bạn mơ mơ màng màng trông thấy bác sĩ lắc đầu, người chung quanh thần sắc trang nghiêm.
Bạn nhận ra, bạn sắp chết rồi.
bạn không có chút sợ hãi.
bạn đột nhiên tự hỏi,
ta thực ra đã chết từ lúc nào?
bạn nhớ đến hôn lễ năm 30 tuổi,
hóa ra, lúc đó, bạn đã chết rồi.
Trước lúc lâm chung 3 giây, 73 năm cuộc đời bạn tua ngược lại về trước, 1 giây, 2 giây trôi qua, mặt bạn không chút cảm xúc.
Giây thứ 3, bạn đột nhiên cười.
Đó là năm 15 tuổi, bạn trông thấy một cậu bé đang ngậm một ổ bánh mì, đeo cặp đi theo một đám học sinh khác. Cậu bé ấy đi qua ban công cô bé nhà bên, hướng mắt nhìn về phía cửa sổ.
Đó là cô bé mà bạn thầm thương năm 15 tuổi,
Bạn nghĩ không ra nàng trông như thế nào, bạn cố gắng nhớ lại.
3 giây trôi qua, người bên cạnh đột nhiên gào khóc, bạn rơi vào màn đêm không hay.
Cre: Weibo Vietnam