Những bài thơ chữ Hán hay, trích trong Lưu Hương Ký của HXH, bài 11 (hết)
Bài
số 11:
Thuûy vaân höông
(Thủy Vân Hương)
Hồ Xuân Hương
Văn bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
水雲郷
雲根石竇似蜂房
满目山光接水光
渉海鑿河癡李 勃
負舟藏壑拜元章
螺痕夕霽嶙峋出
霧影朝迷次笫藏
漫說漁人舟一枼
教重門戸水雲郷
(a) Ảnh
minh họa (Động Thiên Đường, thuộc Phong Nha –Kẽ Bàng, xã Sơn Trạch,
Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình). Ảnh Ngân Triều
Phiên
âm:
Vân căn thạch đậu tự phong phòng
Mãn mục sơn quang tiếp thủy quang
Thiệp hải tạc hà[1] si Lý Bột
Phụ chu tàng hác[2]
bái Nguyên Chương
Loa ngân[3] tịch
tễ lân tuần xuất
Vụ ảnh triêu mê thứ đệ tàng
Mạn thuyết ngư nhân chu nhất diệp
Số trùng môn hộ Thủy Vân Hương.[4]
Dịch nghĩa:
Dưới
chân mây, bày hang đá như tổ ong;
Đầy
mặt thấy ánh sáng trên núi tiếp với ánh sáng dưới nước.
Vượt
bể để đi đục núi như Lý Bột thật là ngây.
Đội
thuyền lên cạn giấu trong hang như Nguyên Chương thì đáng phục.
Buổi
chiều trời lạnh, sóng gợn lăn tăn hiện
ra.
Ban
sáng màn mù che núi lần lượt biến mất.
Vui
chuyện bảo người chài dong chiếc thuyền kia,
Đang
len lỏi qua nhiều từng cửa tìm vào làng Tiên.
(1) Gs Hoàng Xuân Hãn dịch thơ:
Về chốn nước mây
Chân
mây lỗ đá tựa phòng ong,
Chốn
chốn lèn chong ánh nước hồng,
Vượt bể, đục non cười Lý Bột,
Đội thuyền giấu động phục Nguyên Ông.
Chiều
êm sóng gợn lăn tăn nổi,
Sáng
tỏa mù tan, lớp lớp trong.
Vui
chuyện kìa ai thuyền một lá,
Cửa
lèn len lỏi kiếm non bồng.
(b) Nhân hứng bảo người dong chiếc bách,
Tìm tiên, tìm cửa động Thiên Thai. Ngân
Triều
(2) Đức Lưu Nguyên họa thơ
Ghềnh đá tổ ong ẩn dưới mây,
Giao thoa rực sáng biển trời đầy.
Đào sông thông bể ngông chàng Lý
Ẩn sĩ giấu thuyền Nguyên phủ ngây.
Trời lạnh, chiều buông, loang sóng gợn,
Sương mù, nắng sớm, cảnh quang ngay.
Kìa ai dong ruỗi thuyền len lỏi,
Tìm dấu tiên xưa cực lạcThai?[5]
(3) Hồ Nguyễn họa thơ
Đá lấp tổ ong khuất bóng mây,
Non xa lấp lánh nước đong đầy.
Dong thuyền Lý Bột ngân mê đá,
Ngái ngủ Nguyên Chương ngất ngưởng ngây.
Sóng gợn chiều lên nhô tí tách,
Nắng bừng lên núi sương tan ngay.
Thung thăng chiếc bách tràn thi hứng,
Ngây ngất tìm tiên động tích thai.
Hồ
Nguyễn (09-6-17)
(4) Nguyễn Cang dịch thơ
Về chốn nước mây
Chân
mây hang đá tựa ong xây
Lấp
lánh non xa chiếu nước đầy
Vét
biển đục non, khờ Lý Bột
Vác
thuyền giấu động, Nguyên Chương ngây.
Chiều
tà sóng gợn ôm chân núi,
Sáng
sớm sương tan trốn khóm mây
Hứng
bảo ngư ông dong chiếc bách
Cùng
nhau tìm đến động Thiên Thai !
Cang Nguyen (10/6/2017)
(5) Họa thơ
Lạc tới Bồng Lai
Đây Vịnh Hạ Long Thượng Đế xây,
Xung quanh động đá nước dâng đầy.
Thuyền buông lặng lẽ trôi lờ lững,
Sóng lượn bồng bềnh mộng ngất ngây.
Lấp lánh tà dương hong vạn lá,
Mịt mờ sương sớm ủ ngàn mây.
Bốn bề non nước như tiên cảnh,
Tưởng tới bồng lai hóa bích thai![6]
Jasmina
Nguyen (June 10,2017)
(6) Họa
thơ
Vịnh Hạ
Long
Khen
thay tạo hóa khéo công xây,
Muôn
thuở Hạ Long cảm xúc đầy.
Sóng vỗ
mạn thuyền hồn ngất ngất,
Buồm
căng sức gió dạ ngây ngây.
Lòa
xòa mép cỏ chen gềnh đá,
Loáng
thoáng bờ hồ lộng ánh mây.
Nước
nhược non bồng đây có khác,
Phàm
trần hạ giới một tiên thai.
Lê Hữu
Nghĩa
(7) Kim
Oanh dịch thơ:
Lạc cảnh Tiên Bồng
Đá ong lớp lớp tận chân mây,
Ánh sáng lung linh chiếu nước đầy.
Vét bể đá khuân khờ Lý Bột,
Giấu thuyền đi ẩn, phục Chương hay.
Chiều tà nước biếc nghe se lạnh,
Nắng sớm tan mù cảnh ngất ngây.
Vui chuyện bảo người đưa chiếc bách,
Lênh đênh tìm nẻo nhập thiên thai.
Kim Oanh Huynh 11/6/17
(8) Ngân Triều cảm đề:
Tổ ong ghềnh đá trải
chân mây,
Lấp lánh nghìn non chiếu nước đầy.
Vét biển khơi dòng khờ Lý Bột,
Giấu thuyền ẩn dật, Nguyên Chương ngây.
Chiều tàn sóng lạnh lăn tăn giỡn,
Nắng sớm sương mù thẹn, biến ngay.
Nhân hứng bảo người dong chiếc bách,
Phiêu du ròng rã mộng Thiên Thai.
***
(c) Cảnh
Vịnh Hạ Long ngày xưa, nguồn báo Lao Động:
Vịnh Hạ Long xưa đẹp diễm lệ qua những tấm
ảnh đen trắng cực quý hiếm. ngày 02/11/2014 ,
Google
Chú thích:
[1] Vượt bể đục núi: Chỉ công việc gian
nan, vô ích, hoài công. Sách Nam hoa kinh thiên Ưng đế vương có câu: Thiệp hải, tạc hà, 渉 海 鑿 河 nghĩa là vượt bể, đào sông,
hay đào sông trong bể là một chuyện phi lý. Ở đây, tác giả mượn ý của 4 chữ
trên để tả những hang động có lối thông nhau qua nhiều đảo.
[2] Đội thuyền giấu trong hang núi: Phụ chu tàng
hác , 負舟藏壑.Trong Nam Hoa Kinh, thiên 6, Đại Tông sư có nhận xét: Làm như vậy
tưởng là an toàn, chắc nhắn, nhưng khi ngủ, có kẻ trộm lấy mất đi thì làm sao
biết được. Chi tiết giấu thuyền trong
hang núi là chỉ người ẩn sĩ, xóa dấu vết, không muốn cho người đời biết đến
mình, đi tìm mình.
[3] Loa ngân,
螺 痕,dấu ốc hoặc bọt nước,tăm, của các loài thủy tộc nổi lên thành gợn
sóng nhỏ hoặc sóng nỏ hình tròn trên nước lặng.
[4] Thủy vân hương, 水 雲 郷làng nổi giữa nước và mây, chỉ nơi Tiên ở.
[6] Bích thai 碧 台, Ngọn núi xanh biếc màu ngọc bích



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét