Những bài thơ hay, trích Lưu Hương ký của HXH, bài 9 và 10 (tiếp theo)
Bài số 9:
Nhaäp An Bang
(Nhập An Bang)
Lãng tích phong trần vị nhạ cương,[1]
Phiêu linh thư kiếm nhập An Bang.[2]
Cừ lô[3]
thiên địa tâm thiên lý,
Oa giốc sơn hà[4]
nhãn nhất soang (song).
Thi giá cảm vân sơn quỷ khấp,
Sầu thành liêu giả tửu binh hàng.[5]
Hứng hàm dục tá Tinh châu tiễn,[6]
Tiễn thử kỳ phong thuỷ bán giang.
Bản chữ Hán Ngân
Triều soạn:
入安邦
浪跡風塵未迓繮
漂零書劍入安邦
渠爐天地心千里
蝸角山河眼一雙
詩價感雲山鬼泣
愁城僚者酒兵降
興含欲借倂州剪
剪此其風水半間
*
Ngân Triều dịch:
Đi lang thang chưa ai đón rước lấy
dây cương.
Lênh đênh gươm sách đến An Bang.
Đây là cái lò lớn trung tâm đất
trời, hàng ngàn dặm,
Sông núi, lô nhô tựa như giang sơn trong đôi mắt của sừng ốc.
Lúc thi hứng dâng
cao cùng mây núi, tứ thơ làm cho quỷ khốc, thần sầu.
Khi thành sầu ngẩn ngơ, bè bạn đều
là những lính men bại trận.
Nhân hứng muốn mượn chiếc kéo Tinh Châu,
Xén ngay phân nửa núi sông ngoạn mục nầy vậy.
*
(1) Lưu Đức Thọ cảm đề:
Yên cương vó ngựa vẫn lang thang,
Gieo neo[7]
thư kiếm đến An Bang.
Khung trời khoáng đãng[8]
tâm ngàn dặm,
Sông núi lô nhô ốc nổi hàng.
Cao hứng lời thơ nghe quỷ khốc,
Phá sầu say khướt rượu vô đoan[9]
Ngẩn ngơ muốn lấyTinh Châu kéo,
Xén nửa kỳ quan mới thoả gan.
(2) Thơ dịch Bùi Hạnh Cẩn:
Gió bụi lông bông bước vẫn tràn,
Lênh đênh gươm sách tới An Bang.
Sừng sên sông núi đôi con mắt,
Quán trọ càn khôn dạ dặm ngàn.
Thơ tứ dám rằng ma núi khóc,
Thành sầu đành mượn lính men hàng.
Say toan nhờ kéo châu Tinh cắt,
Non nước xinh này cắt nửa gang.
(3) Ngân Triều cảm đề:
Gió bụi long đong chưa kẻ rước,
Lênh đênh thư kiếm đến An Bang.
Đất trời lò lớn, tâm ngàn dặm,
Sừng ốc lô nhô, đá vạn hàng.
Thi hứng thi đề, thi quỷ khốc,
Chén đầy chén cạn, chén miên man…
Ngất ngây muốn mượn Tinh Châu kéo,
Khoe nửa kỳ quan, khắp thế gian.
Có thuyết cho rằng bài này không phải của Hồ Xuân
Hương. An Bang là tên xa xưa của Hoa Phong, tức Nghiêu Phong hay Hạ Long ngày nay.
*
Nguồn: Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại,
Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông
tin, 1999.
***
Bài số 10:
Traïo thanh ca
(Trạo thanh ca)
Hồ Xuân Hương
棹 聲 歌
玲 瓏 四 璧 列 雲 屏
玉 筍 參 差 水 面 平
漸 覺 桃 厡 山 作 戸
秪 從 魚 浦 石 屯 兵
盡 教 謝 客 遊 難 遍
這 莫 雲 林 畫 不 成
遥 望 水 窮 山 盡 處
忽 然 沖 岀 棹 聲 歌
*
Phiên âm
Linh lung tứ bích liệt vân bình,
Ngọc duẩn sâm si thủy diện bình.
Tiệm giác đào nguyên sơn tác hộ,
Chỉ tùng ngư phố thạch đồn binh.
Tận giao tạ khách du nan biến,
Giá mạc vân lâm họa bất thành.
Dao vọng thủy cùng sơn tận xứ,
Hốt nhiên xung xuất trạo thanh
ca.
*
Dịch
nghĩa:
Long lanh bốn vách giăng những bức
bình phong vẽ cảnh mây,
Đá hình cây măng ngọc lô nhô mọc
trên mặt nước.
Thấy rõ ràng rằng lối vào Đào
Nguyên có cửa bằng núi đá,
Lạ thay! Sao mà bên bến cá lại có
thành xây bằng đá để đóng đồn binh.
Mặc lòng chàng Tạ Linh Liên đến
chơi đây, đi xem đâu hết,
Dẫu là họa sĩ Ngọc Vân Lâm vẽ cảnh
cũng không thật đúng.
Ngóng trông đến chỗ cuối nước hết
núi,
Thình lình nghe tiếng chèo và tiếng
ca trỗi lên.
(1) Gs. Hoàng Xuân Hãn dịch:
Gửi bởi Vanachi
ngày 28/õ/2006
Long lanh bốn phía
rũ màn mây,
Nước phẳng lô nhô
măng ngọc đầy.
Mới biết nguồn Đào
ngăn cửa đá,
Nào ngờ bến cá có đồn
xây.
Mặc cho họ Tạ xem
đâu hết,
Dẫu có chàng Lâm vẽ
chẳng tày.
Xa ngóng chân trời
non lẫn nước,
Bỗng nghe chèo hát nổi đâu đây.
Long lanh bốn hướng, bình phong mây,
Măng ngọc lô nhô mọc nước đầy./ Ảnh Vịnh Hạ Long
(2) Nguyễn Kim Trân dịch thơ:
Bốn phía lung linh toả sắc mây,
Nước êm lố nhố ngọc măng đầy.
Đào Nguyên cửa núi Thần Tiên ngự,
Bến cá đồn thành đá tảng xây.
Vạn núi, Tạ Liên xem mỏi mắt,
Vân Lâm vẽ cảnh cũng đờ tay.
Bình phong khép lại vuông màu biếc,
Văng vẳng chèo ca vọng đến đây.
(3) Ngân Triều cảm đề:
Long lanh bốn hướng, bình phong mây,
Măng ngọc lô nhô mọc nước đầy.
Nào biết Đào Nguyên đâu, cửa đá?
Lạ thay! Bến cá thạch thành xây!
Chập chùng Liên Tạ xem sao nổi!
Cho dẫu Vân Lâm vẽ rụng tay.
Vời ngắm chân trời xa tít núi,
Chú thích:
[1] Lãng
tích: 浪 跡, dấu chân đi lang thang. phong trần: 風 塵, gió bụi, nỗi khó nhọc gian nan khi đi đường. nhạ: 迓, đón rước nhau. Cương: 繮, dây cương ngựa.
[2] Phiêu
linh: 漂零, lênh đênh, vất vả, khổ sở.
[3] Cừ
lô: 渠爐, cái lò lớn, cái bầu
lớn.
[4] Oa giốc (giác): 蝸角, cái
sừng
của
con ốc
sên.
Oa giốc sơn hà: 蝸角山河, Sách Trang Tử viết: trong cùng sừng con sên có những quốc gia có
tên là Xúc và Man.
[5] Hàng:
降, chịu phục tùng, chấp nhận. Hứng
hàm: 興含Lưu hứng, nhân hứng
[6] dục tá: 欲借, muốn mượn. Tinh châu tiễn: 倂州剪, cái kéoTinh Châu. Tinh Châu tiễn: Thơ Đỗ Phủ đề tranh
sơn thuỷ của Vương Tế có câu: "Sao
lấy được chiếc kéo sắc châu Tinh, Cắt lấy Ngô Trung nửa sông núi".
[8] khoáng đãng: 曠蕩 rộng rãi, bát ngát,
mênh mông.
[9] Vô đoan : 無 端, cứ uống mãi, không có lý do.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét