Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

Những bài thơ hay, trích trong Lưu Hương Ký của HXH, bài số 7 và 8 (tiếp theo)

 Những bài thơ hay, trích trong Lưu Hương Ký của HXH, bài số 7 và 8 (tiếp theo)

Bài số 7:
Ngö oâng khuùc haønh

(Ngư ông khúc hành)

Hồ Xuân Hương

漁翁曲行 
野翁淡泊亦繁花 
錯認桃是薜蘿 

寄語舟從釣子 
過江應不聽琵琶 
*

過江莫聽琵琶 
高聲不似胡笳悽涼 
桃源水闊山長 
漁翁一棹仙堂半開 
萬重春鎖天台 
琴聲樂角聲哀不同 
寒山草色蔥蔥
蘇溪幾到清風自閑

*

Phiên âm Hán Việt

Ngư ông khúc hành 

Dã ông[1] đạm bạc[2] diệc phồn hoa,[3] 
Thác nhận[4] Đào Nguyên[5] thị bệ la.[6]
Ký ngữ khinh chu tòng điếu tử,[7] 
Quá giang ưng bất thính tỳ bà.[8] 
                 *
Quá giang mạc thính tỳ bà, [9] 
Cao thanh bất tự hồ già thê lương.[10] 
Đào nguyên thuỷ khoát sơn trường,[11] 
Ngư ông nhất trạo tiên đường bán khai. 
Vạn trùng Xuân toả thiên thai,[12] 
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng.[13] 
Hàn sơn thảo sắc thông thông,[14] 
Tô khê kỷ đáo thanh phong tự nhàn.[15]
Nguồn: 
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp

Ngân Triều dịch nghĩa bài thơ:

Ông già ở quê nhạt nhẽo, cũng cảm thấy như ở nơi thành thị,
Cứ ngỡ chốn thần tiên, Đào Nguyên, là những bệ rêu xanh.

Nhắn gởi người đi câu trên chiếc thuyền nhẹ,

Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông.

*

     Chớ lụy vì tiếng tỳ bà khi qua sông.

Tiếng ngân cao của đàn không giống tiếng kèn lá bi ai của người Mán.

Động tiên trên  biển mênh mông, núi liên tiếp chớn chở.

Ngư ông chèo một mình tìm cửa tiên hé mở.

Vạn vạn năm, đường  vào Thiên Thai Mùa Xuân đã bao phủ,
Tiếng đàn lạc điệu, tiếng tù và bi thảm, xé lòng.

Kìa trên núi lạnh, sắc cỏ xanh ngắt,

Mỗi lần đến sông Tô, hóng gió mát, tức là đã nhàn hạ rồi.

(1) Bản dịch thơ của Bùi Hạnh Cẩn

Gửi bởi Vanachi ngày 23/08/2008

Già quê đạm bạc cũng phồn hoa 
Lầm tưởng đào non là dây hờ
 
Nhắn nhủ người câu đò nhẹ lướt
 
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà
 

*

Qua sông đừng lắng tỳ bà 
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương
 
Nguồn đào trời nước mênh mang
 
Nhà tiên hé mở, chèo buông đò chài
 
Muôn trùng Xuân khoá Thiên Thai
 
Tiếng ốc buồn, tiếng đàn vui chả cùng
 
Cỏ bời lợp, núi lạnh lùng
 
Sông Tô hầu tới thung dung gió nhàn

*


                                                 Tranh minh họa bài Khúc hát ngư ông. Có hỗ trợ của AI.

(2) Ngân Triều cảm đề:

  Khúc hát Ngư ông

Già quê cảnh nhạt, vẫn nguy nga,

Ngỡ chốn thần tiên rêu bệ hoa.

Nhắn gởi  ông câu, thuyền nhẹ lướt,
Sang sông, chớ  lụy tiếng tỳ bà.
 

*

Sang sông, chớ lụy tiếng tỳ bà , 
Cung bổng lạc âm kèn xứ Hồ!
 
Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô!
Thiên Thai ngàn thuở Xuân che mãi,
Còi rúc, đàn vang, trắc tiếng tơ.
Chỉ  thấy cỏ xanh, ôm núi lạnh,
Sông Tô, gió mát, thú yên hà.[16]

 

***

Bài số 8:
Nhaõn phoùng thanh

(Nhãn phóng thanh)

Hồ XuânHương

  

 
 
 
 
 
 
仿 

Phiên âm:

Nhãn phóng thanh 

Vi mang loa đại tháp thương minh      
Đáo thử tu giao nhãn phóng thanh 
Bạch thuỷ ma thành thiên nhẫn kiếm   
Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh 
Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp                
Thần lực hề dung tạc Ngũ Đinh 
Phảng phất vân đồi đầu ám điểm          
Cao tăng ưng hữu toạ đàm kinh.

Dịch nghĩa 

Mầu lam nhạt mờ mờ nối trời xa với bể xa. 
Đến đây, tưởng như trong mắt toả sắc xanh ra 
Nước bạc mài đá thành nghìn mũi gươm nhọn 
Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa xuống. 
Vách đá hình kì quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại khoa, 
Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như vậy. 
Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã xẩm tối, 
Chắc đã có vị cao tăng ngồi yên lặng tụng kinh.

(1) Thơ dịch của Gs Hoàng Xuân Hãn

Gửi bởi Vanachi ngày 27/04/2006 09:03
Bể xanh lấp loáng tận trời xa, 
Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra. 
Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm, 
Đầm im rơi xuống một sao sa. 
Quái hình chưa dễ đề khoa bảng, 
Thần lực đâu đà tạc tượng ma. 
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối, 
Cao tăng đang tụng chốn chiền già.

(2) Trương Việt Linh dịch thơ

Gửi bởi vietlinh11 ngày 25/08/2016 15:01

Biển xanh mịt mịt trời xa 
Màu xanh từ mắt tỏa ra khắp vùng? 
Nước mài thành vạn mũi gươm 
Một ngôi sao rụng giữa đầm nước thanh 
Quái hình đâu chỗ đề danh 
Tượng kỳ ắt bởi sức thần tạc ra 
Đầu non mờ mịt mây sà 
Cao tăng ngồi đó đang là tụng kinh

(3) Ngân Triều cảm đề

Chân trời giáp bể nhạt mờ xa, 
Cứ tưởng màu xanh mắt toả ra. 
Nước bạc đá mài nghìn mũi nhọn, 
Giữa đầm lóng lánh ánh sao sa.

Đá hình bảng hổ ai làm được?

Ai dễ  sức phàm kiến tạo ra?
Phảng phất mây giăng trời sụp tối, 
Cao tăng tĩnh tọa tụng Di Đà.

Ngân Triều

Nguồn:Theo tài liệu của TS Phạm Trọng Chánh, Paris trên mạng.



Chú thích:

[1] dã ông 野翁, ông già ở chốn quê.

[2] đạm bạc  淡泊, nhạt nhẽo, vô vị.

[3] diệc  cũng, cũng thế.
diệc phồn hoa
繁花, cũng náo nhiệt, cũng xinh đẹp.

[4] Thác nhận  錯認, tự nhận, đành lòng.

[5] Đào Nguyên  桃源, nguồn đào,chỗ tiên ở.
Trong bài Đào Hoa nguyên ký, Đào Tiềm nói có người đánh cá chèo thuyền lạc lối đến Đào Nguyên là chỗ động tiên. Do đó, đào nguyên thường dùng để chỉ động tiên:

        Rước mừng đón hỏi dò la,

Đào nguyên lạc lối đâu mà tới đây?

                  ĐTTT, Nguyễn Du, câu 191-192, bản Bùi Kỹ và Trần Trọng Kim

[6] Đào yên thị bệ la: 桃嫣 , họ với người chài lưới.[Theo bản của TS Phạm Trọng Chánh nhưng tôi, NT) dùng bản của Thi viện như trên: Đào Nguyên thị bệ la: 薜蘿, chốn Đào Nguyên là những bệ rêu xanh.]

[7] Ký ngữ  寄語, gởi lời; khinh chu 挳舟, chiếc thuyền nhẹ\; tòng điếu tử 從釣子, theo người đi câu.

Cả câu Nhắn gởi người đi câu trên chiếc thuyền nhẹ.

[8] Quá giang  過江, qua sông. Ưng  , nên, bằng lòng. bất thính tỳ bà不聽琵琶, không nghe tiếng đàn tỳ bà. Cả câu: Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông.

[9] Mạc , tuyệt nhiên, chẳng ai không

Quá giang ưng bất thính tỳ bà và Quá giang mạc thính tỳ bà: bất thính = mạc thính, ( không nghe= chẳng nghe), hai câu nầy sử dụng từ khác nhau nhưng cùng một nghĩa: Qua sông chớ đam mê, lụy, tiếng tỳ bà.

[10] Cao thanh 高聲, Tiếng ngân cao. bất tự 不似, không giống giống như thế. (à peu près semblable); hồ già thê lương  胡笳悽涼, cái kèn lá lạnh lẽo bi ai.

[11]Thủy khoát sơn trường  水闊山長, biển rộng núi dài, biển bao la, núi non chớn chở.

[12] Xuân toả Thiên Thai  鎖天台,  mùa Xuân giăng khắp Thiên Thai. Tỏa: khóa, bao trùm

Thiên Thai 天台, một hòn núi ở tỉnh Chiết Giang bên Tàu. Đời nhà Hán, xưa có Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai hái thuốc và gặp tiên. Do đó, Thiên Thai dùng để chỉ cảnh tiên,

         Xắn tay mở khóa động đào,

Rẽ mây trong tỏ lối vào Thiên Thai.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 391-392, bản Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

[13] giốc thanh ai 角聲哀, tiếng thổi sừng trâu nghe bi ai. Bất đồng  不同, không hòa quyện thuận thanh cùng nhau, chói tai. Cả câu: Tiếng đàn lạc điệu, tiếng tù và bi thảm, xé lòng.

[14] thảo sắc thông thông  草色蔥蔥, sắc cỏ xanh ngắt.

[15] Tô khê 蘇溪 khe suối chảy về sông Tô Châu bên Tàu. kỷ đáo 幾到 mỗi lần đến. Mỗi lần đến sông Tô, hóng gió mát, tức là đã nhàn hạ rồi. 

[16] yên hà: 煙 霞, khói và ráng (mây). Thú vui tự do, thanh thản, không bị ràng buộc như mây và khói, thú vui của người ẩn sĩ.

       Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen

Ca dao

        Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,
      Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn?
       Nước trong rửa ruột sạch trơn,
   Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.

Sớm doi tối vịnh vui vầy,
            Ngày dài hứng gió đêm chầy chơi trăng.
       Tháng ngày thong thả làm ăn,
            Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm.
          Nghêu ngao nay chích mai đầm,

Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
                           Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét