Những bài thơ hay, trích Lưu Hương Ký của HXH, bài 5, 6.
Bài số 5:
Haûi oác truø
Hồ Xuân Hương
Bản chữ Hán,
Ngân Triều soạn
海屋籌
蘭橈隨意漾中流
景比山陽更覺幽
生面獨開雲露骨
斷鼇爭崎客回頭
馮夷疊作擎天柱
龍女添為海屋籌
大帝始皇鞭未及
古留南甸鞏金甌
*
Phiên âm:
Lan nhiêu tùy ý dạng
trung lưu
Cảnh tỉ sơn dương
cánh giác u
Sinh diện độc khai
vân lộ cốt
Đoạn ngao tranh kị khách hồi đầu
Bằng Di diệp tác
kình thiên trụ
Long Nữ thiêm vi hải
ốc trù
Đại Đế Thủy Hoàng
tiên vị cập
Cổ lưu Nam điện củng
kim âu
Chú giải:
Lan nhiêu 蘭 橈 = chèo lan, chèo nhẹ.
Đoạn ngao 斷 鼇
= chặt con rùa lớn để lấy chân làm cột chống trời. Theo thần thoại, khi vòm trời sụp xuống, Bà Nữ
Oa chặt chân con rùa khổng lồ, để làm cột
chống trời. Ờ văn cảnh nầy, tác giả minh họa các hòn đảo tròn và cao như cột
đá, chẳng hạn Hòn Chiếc Đũa.
Bằng Di 馮 夷 =tên một Thủy thần, trong Nam Hoa kinh,
trong thơ Tào Thực, được đặt ngang với Nữ Oa.
Long Nữ 龍女 =tên Nữ thần sống ở đáy bể, cai quản các loài thủy tộc ở
các vực sâu, ở biển.
Thủy Hoàng 始皇 =Vua
Tần, sau khi đánh chiếm lục quốc, đã đi kinh lý nhiều nơi. Về phương Nam, vừa mới
đi đến vùng Cối Kê (Chiết Giang ngày nay) thì mất.
Câu 8 Câu thơ nầy tương
tự với câu kết của Núi Chiếc Đũa ngoài cửa Thần Phù của Vua Lê Thánh Tông:
Tham khảo:
Vònh nuùi Chieác Ñuõa ngoaøi cöûa Thaàn Phuø
Cắm cõi Nam Minh nẻo thủa xưa
Đời Nghiêu nước cả ngập hay chưa
Nguồn tuôn xuống tanh tao sạch
Triều dẫy lên mặn ngọt ưa
Xóc xương kình tăm chẳng động,
Dò rốn bể sóng khôn lừa.
Trời dành còn để An Nam mượn.
Vạch chước bình Ngô mãi mới vừa.
Lê Thánh Tông
(
Bài thơ của Vua Lê Thánh Tông này, theo Đường luật, nhưng lại có chen vào những
câu lục ngôn, đặc điểm của thơ Đường luật vào thời Trần, Lê , thể hiện tinh thần
độc lập tự cường của dân tộc, thoát ly hình thức Thơ Đường cổ điển của người
Tàu. NT).
***
Nhất Uyên dịch nghĩa bài Hải Ốc trù:
Phe phẩy mái chèo,
tùy thích cỡi thuyền rong chơi giữa duềnh.
Qua gần chân núi lại
thấy cảnh càng vắng vẻ.
Mây thoáng qua,
núi lộ mặt, thấy đá chơ vơ,
Những khối đá lèn dựng cao vút, khi đi
ngang phía dưới,khách phải ngẩng (nghếch) trông.
Hoặc là Hải thần Bằng
Di đã dựng cộ để chống trời nghiêng,
Hoặc là hải thần Long Nữ đã nối thêm cây
nêu chỉ cung điện dưới bể của mình.
Ý chừng vua Tần Thủy
Hoàng chưa từng đặt chân đến nơi nầy,
Vì Trời vốn dành
nơi nầy cho nước Nam ta, vĩnh cửu cơ đồ.
(1)
Thơ dịch của Gs Hoàng Xuân Hãn, bài Hải ốc trù:
Giữa duềnh thủng
thẳng phẩy chèo lan,
Sát núi càng hay cảnh
lặng nhàn.
Mây cuốn bày ra
lèn cứng cỏi,
Núi cao những
ngóng đỉnh Toan Ngoan.
Bằng Di chống cột
e trời đổ,
Long Nữ thêm nêu sợ
bể tràn.
Dấu ngựa Thủy
Hoàng chưa đến đó ?
Trời dành để giữ đất
người Nam.
Đột tử, Thủy Hoàng đi chẳng đến!
Nước non Trời tặng đất Nam yêu. Ảnh Vịnh Hạ Long, Google.
(2)
Ngân
Triều cảm đề, bài Hải Ốc Trù:
Giữa
duềnh ngắm cảnh lượn tay chèo,
Chân núi trông gần cảnh vắng teo.
Mặt núi quang mây lèn những đá,
Núi cao chót vót ngẩng đầu theo.
Chống trời có phải Bằng Di cột?
Biệt điện của mình, Long Nữ nêu?
Đột tử, Thủy Hoàng đi chẳng đến!
Hạ Long, Trời tặng nước Nam yêu.
***
Bài số
6:
Löu
bieät thôøi taïi An Quaûng, An Höng nguï thöù.
Hồ Xuân Hương
Ảnh minh họa bài 6, Google
Người về người ở khéo buồn sao,
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn nữa hết,
Đá vàng lòng nọ xiết là bao.
Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,
Mở mắt chờ xem bóng nguyệt cao
Sớm biết lẽ giời tan có hợp,
Thì mười năm trước bận chi nao.
Tiêu đề:
Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.
Thư Viện Online
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
留别時在安廣安興寓次
𠊚 衛 𠊚 𣄒 呌 𢞂 𡫡
即 最 𨉟 咍 别 𨤧 芾
絲 𩯀 𠳒 箕 群 女 盡
𥒥 鐄 𢙱 奴 折 𪜀 包
浽 𩂀 𥢆 恨 𣈜 𡗶 𥐆
𨷑 眜 除 䀡 䏾 月 高
𣋽 别 𨤧 𡗶 離 𣎏 合
時 辻 𢆥 𠓀 𢏑 之 芾
*
Chú giải
tức (1)
即, đau nghẹn, khó thở, nghĩa
rộng: giận, bực không thể nói ra được, làm cho khó chịu, như tức mình, 即𨉟; tức
tối即最 .
tức (2)
即, bí, bực, chẹt như Áo may chật, mặc tức nách; Tức nước vỡ bờ.
tơ (1)絲 ,sợi tơ
do con tằm nhả ra.
tơ (2) chuyển nghĩa, chỉ cây
đàn:
Mai
sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím nầy
ĐTTT, Nguyễn
Du, câu 741-742
tơ (3),
non trẻ:
Những từ sen ngó đào tơ,
Mười lăm năm , mới bây giờ là đây!
Sđd, câu 3137-3138.
Tơ duyên 絲 縁, sợi
tơ buộc đôi trai gái với nhau như tơ đào:
Trăm
nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Sđd, câu 751-752.
tơ hồng 絲 紅,sợi
tơ màu hồng; loại dây leo nhỏ có sắc vàng mọc quanh bờ tre, bờ giậu. Lễ tơ hồng
là lễ tế vị thần tơ hồng tức là Nguyêt Lão, vị thần xe duyên cho trai gái ở thế
gian.
tơ liễu 絲 柳,cành
liễu rũ xuống mượt như những sợi tơ.
tơ lòng 絲 𢙱,tấm
lòng yêu nhau ví như những sợi tơ, quấn quít lấy nhau; nỗi nhớ thương trong
lòng.
tơ mành 絲 𥯋,sợi
tơ mỏng mảnh:
Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho ra.
Sđd, câu 243-244.
tơ tóc絲 𩯀 = tơ
liễu, 絲 柳,vật
gì hoặc loại hình nhỏ và mượt.
đá vàng 𥒥 鐄,vàng và đá, ẩn dụ tình yêu bền chắc, mãi mãi không phai:
Ví dù giải
kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân.
Sđd câu 421-422
(giải
kết, 解 結, chia cắt
mối tình đã giao ước, hẹn thề.)
Do
hai câu thơ cổ:
Thương thiên nhược giải đồng tâm kết,
Kim thạch vi minh ngã dữ quân.
蒼 天 若 解 同 心 結
金 石 爲 𧖽
我 與 君
*
Tạm dịch:
Trời xanh dẫu xóa lời giao kết,
Vàng đá bền gan, thiếp với chàng.
hoặc:
Dẫu rằng Trời bỏ
đồng tâm,
Đôi
ta nguyền kết trăm năm hẹn thề
Diễn ý bài thơ:
(1-2). Tâm trạng người ở lại.
(3-4-5-6), Tố chất của người ra đi và nỗi lòng khát
khao bên nhau.
(7-8), Tiếc nuối thời gian gặp nhau muộn màng.
Ngân
Triều cảm đề:
Buồn
lòng cho kẻ ở người đi.
Rất
bực sao chưa rõ nỗi gì!
Còn
hết lời kia nghe ngọt lịm,
Thủy
chung lòng nọ vẹn tương tri.
Gặp
nhau luống giận ngày trời ngắn,
Lúc
hẹn hằng mong bóng nguyệt trì.
Nếu
biết lẽ trời tan lại hợp,
Thì
mười năm trước, bận lòng chi!
***


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét