Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

Những bài thơ hay, trích Lưu Hương Ký của HXH, bài 5, 6.

Những bài thơ hay, trích Lưu Hương Ký của HXH, bài 5, 6.

Bài số 5:
Haûi oác truø

                                      Hồ Xuân Hương

 Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn

海屋籌

蘭橈隨意漾中流

景比山陽更覺幽

生面獨開雲露骨

斷鼇爭客回頭

馮夷作擎天柱

龍女添為海屋籌

大帝始皇鞭未及

古留南甸鞏金甌

*

Phiên âm:

Lan nhiêu tùy ý dạng trung lưu

Cảnh tỉ sơn dương cánh giác u

Sinh diện độc khai vân lộ cốt

Đoạn ngao tranh kị  khách hồi đầu

Bằng Di diệp tác kình thiên trụ

Long Nữ thiêm vi hải ốc trù

Đại Đế Thủy Hoàng tiên vị cập

Cổ lưu Nam điện củng kim âu  

Chú giải:

Lan nhiêu    = chèo lan, chèo nhẹ.

Đoạn ngao   = chặt con rùa lớn để lấy chân làm cột chống trời.  Theo thần thoại, khi vòm trời sụp xuống, Bà Nữ Oa chặt chân con rùa  khổng lồ, để làm cột chống trời. Ờ văn cảnh nầy, tác giả minh họa các hòn đảo tròn và cao như cột đá, chẳng hạn Hòn Chiếc  Đũa.

Bằng Di   =tên một Thủy thần, trong Nam Hoa kinh, trong thơ Tào Thực, được đặt ngang với Nữ Oa.

Long Nữ  龍女 =tên Nữ thần sống ở đáy bể, cai quản các loài thủy tộc ở các vực sâu, ở biển.

Thủy Hoàng  始皇 =Vua Tần, sau khi đánh chiếm lục quốc, đã đi kinh lý nhiều nơi. Về phương Nam, vừa mới đi đến vùng Cối Kê (Chiết Giang ngày nay) thì mất.

Câu 8 Câu thơ nầy tương tự với câu kết của Núi Chiếc Đũa  ngoài cửa Thần Phù của Vua Lê Thánh Tông:

Tham khảo:

Vònh nuùi Chieác Ñuõa ngoaøi cöûa Thaàn Phuø 
Cắm cõi Nam Minh nẻo thủa xưa 
Đời Nghiêu nước cả ngập hay chưa 
    Nguồn tuôn xuống tanh tao sạch 
    Triều dẫy lên mặn ngọt ưa 
    Xóc xương kình tăm chẳng động, 
    Dò rốn bể sóng khôn lừa. 
Trời dành còn để An Nam mượn. 
Vạch chước bình Ngô mãi mới vừa
.

Lê Thánh Tông

( Bài thơ của Vua Lê Thánh Tông này, theo Đường luật, nhưng lại có chen vào những câu lục ngôn, đặc điểm của thơ Đường luật vào thời Trần, Lê , thể hiện tinh thần độc lập tự cường của dân tộc, thoát ly hình thức Thơ Đường cổ điển của người Tàu. NT).

***

Nhất Uyên dịch nghĩa bài Hải Ốc trù:

Phe phẩy mái chèo, tùy thích cỡi thuyền rong chơi giữa duềnh.

Qua gần chân núi lại thấy cảnh càng vắng vẻ.

Mây thoáng qua, núi lộ mặt, thấy đá chơ vơ,

Những khối đá lèn dựng cao vút, khi đi ngang phía dưới,khách phải ngẩng (nghếch) trông.

Hoặc là Hải thần Bằng Di đã dựng cộ để chống trời nghiêng,

Hoặc là hải thần Long Nữ đã nối thêm cây nêu chỉ cung điện dưới bể của mình.

Ý chừng vua Tần Thủy Hoàng chưa từng đặt chân đến nơi nầy,

Vì Trời vốn dành nơi nầy cho nước Nam ta, vĩnh cửu cơ đồ.

(1)

Thơ dịch của Gs Hoàng Xuân Hãn, bài Hải ốc trù:

Giữa duềnh thủng thẳng phẩy chèo lan,

Sát núi càng hay cảnh lặng nhàn.

Mây cuốn bày ra lèn cứng cỏi,

Núi cao những ngóng đỉnh Toan Ngoan.

Bằng Di chống cột e trời đổ,

Long Nữ thêm nêu sợ bể tràn.

Dấu ngựa Thủy Hoàng chưa đến đó ?

Trời dành để giữ đất người Nam.


Đột tử, Thủy Hoàng đi chẳng đến!

                                          Nước non Trời tặng đất Nam yêu. Ảnh Vịnh Hạ Long, Google.

(2) 

Ngân Triều cảm đề, bài Hải Ốc Trù:

Giữa duềnh ngắm cảnh lượn tay chèo,
Chân núi trông gần cảnh vắng teo.
Mặt núi quang mây lèn những đá,
Núi cao chót vót ngẩng đầu theo.
Chống trời có phải Bằng Di cột?
Biệt điện của mình, Long Nữ nêu?
Đột tử, Thủy Hoàng đi chẳng đến!
Hạ Long, Trời tặng nước Nam yêu.

***

Bài số 6:
Löu bieät thôøi taïi An Quaûng, An Höng nguï thöù.

Hồ Xuân Hương

Ảnh minh họa bài 6, Google

 Người về người ở khéo buồn sao,

Tức tối mình thay biết lẽ nào.

Tơ tóc lời kia còn nữa hết,

Đá vàng lòng nọ xiết là bao.

Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,

Mở mắt chờ xem bóng nguyệt cao

Sớm biết lẽ giời tan có hợp,

Thì mười năm trước bận chi nao.

Tiêu đề: Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.

Thư Viện Online

Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:

别時在安廣安興寓次

𠊚 𠊚 𣄒 𢞂 𡫡

即 最 𨉟 𨤧

𩯀 𠳒 箕 群 女 盡

𥒥 𢙱 𪜀

𩂀 𥢆 𣈜 𡗶 𥐆

𨷑 眜 除 䀡 䏾 月 高

𣋽 𨤧 𡗶 𣎏

時 辻 𢆥 𠓀 𢏑 之 芾

*

Chú giải

tức (1) , đau nghẹn, khó thở, nghĩa rộng: giận, bực không thể nói ra được, làm cho khó chịu, như tức mình, 𨉟; tức tối即最 .

tức (2) , bí, bực, chẹt như  Áo may chật, mặc tức nách; Tức nước vỡ bờ.

tơ (1)  ,sợi tơ do con tằm nhả ra. 

 tơ (2) chuyển nghĩa, chỉ cây đàn:

Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím nầy

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 741-742

tơ (3), non trẻ:

Những từ sen ngó đào tơ,

Mười lăm năm , mới bây giờ là đây!

                       Sđd, câu 3137-3138.

Tơ duyên   , sợi tơ buộc đôi trai gái với nhau như tơ đào:

          Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

                                                             Sđd, câu 751-752.

tơ hồng ,sợi tơ màu hồng; loại dây leo nhỏ có sắc vàng mọc quanh bờ tre, bờ giậu. Lễ tơ hồng là lễ tế vị thần tơ hồng tức là Nguyêt Lão, vị thần xe duyên cho trai gái ở thế gian.

tơ  liễu   ,cành liễu  rũ xuống mượt như những sợi tơ.

tơ lòng 𢙱,tấm lòng yêu nhau ví như những sợi tơ, quấn quít lấy nhau; nỗi nhớ thương trong lòng.

 tơ mành 𥯋,sợi tơ mỏng mảnh:

          Cho hay là giống hữu tình,

Đố ai gỡ mối tơ mành cho ra.

Sđd, câu 243-244.

tơ tóc  𩯀 = tơ liễu,   ,vật gì hoặc loại hình nhỏ và mượt.

đá vàng  𥒥 ,vàng và đá, ẩn dụ tình yêu bền chắc, mãi mãi không phai:

          Ví dù giải kết đến điều,

Thì đem vàng đá mà liều với thân.

Sđd câu 421-422

(giải kết,  , chia cắt mối tình đã giao ước, hẹn thề.)

Do hai câu thơ cổ:

Thương thiên nhược giải đồng tâm kết,

Kim thạch vi minh ngã dữ quân.

            

      𧖽     

      *

Tạm dịch:

Trời xanh dẫu xóa lời giao kết,

Vàng đá bền gan, thiếp với chàng.

hoặc:

        Dẫu rằng Trời  bỏ  đồng tâm,

Đôi  ta nguyền kết trăm năm hẹn thề

Diễn ý bài thơ:

(1-2). Tâm trạng người ở lại.

(3-4-5-6), Tố chất của người ra đi và nỗi lòng khát khao bên nhau.

(7-8), Tiếc nuối thời gian gặp nhau muộn màng.

Ngân Triều cảm đề:

Buồn lòng cho kẻ ở người đi.

Rất bực sao chưa rõ nỗi gì!

Còn hết lời kia nghe ngọt lịm,

Thủy chung lòng nọ vẹn tương tri.

Gặp nhau luống giận ngày trời ngắn,

Lúc hẹn hằng mong bóng nguyệt trì.

Nếu biết lẽ trời tan lại hợp,

Thì mười năm trước, bận lòng chi!

 

*** 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét