Phụ lục phần cuối: Truyện ngắn Bông Cỏ May , Ngân Triều
Maïn ñaøm
Chúng tôi, ba đứa bạn
già lại gặp nhau. Gặp nhau mỗi ngày ở một cái quán café nhỏ quen thuộc.

… ở một
cái quán café nhỏ quen thuộc
Không hẹn trước nhưng chúng tôi thường đến
đúng giờ. Quán không đông khách lắm nhưng thân tình, dễ mến. Không cần nói uống
gì, chủ quán vẫn đem café cho mỗi người đúng theo sở thích.
-Bồ có bốn câu thơ…nghe
cũng mướt lắm!
(Sòng đời ngồn ngộn hư vinh,
Dư
ba biển mộng, sao mình mải câu?
Hý
trường thời thế bể dâu,
Nước
còn cau mặt nỗi đau miên trường.
Nguyễn
Nam )
Người ta câu cá, còn bồ câu gì vậy? Mà cứ
câu “mê mải” ?
-Biết rồi
mà còn hỏi!
-Bồ dùng từ “sòng đời”,
cuộc đời người như một canh bạc. Mà canh bạc đó, ai cũng thua hết, mà thua là
cái chắc. Cờ bạc là bác thằng bần! Nhớ có một khổ thơ hay:
Nợ tình chưa trả tròn một
món,
Sòng đời thua đến trắng
hai tay.
Quê nhà xa lắc xa lơ
đó,
Ngoảnh lại tha hồ mây
trắng bay
Hành phương Nam, Nguyễn Bính
-Cặp từ láy “ngồn ngộn”
nghĩa là rất nhiều, không đếm nổi, nhiều đến mức rợn ngợp!
- Biết mà
còn nói!
-Cái hay nữa là cặp từ
“hư vinh”[1].
“Vinh” sự vẻ vang nhất thời được đánh giá cao và được tôn trọng làm cho người
ta liên tưởng đến từ “nhục” là cảm thấy xấu hổ, đáng khinh, không còn chút danh
dự nào. Hư vinh là bả vinh hoa không có gì là đời đời, kiếp kiếp cả; bả hư
vinh là cái mồi hấp dẫn cho thị hiếu đời người như giàu sang phú quí, như
chức trọng quyền cao, như cái vòng danh lợi… thật ra là hão huyền, không bền,
không vĩnh cửu… Vậy mà theo giá trị quan nầy, thói đời vẫn ưa thích; nó như một
cái vòng danh lợi người người đều mong bước vào,[2]
lao vào như con thiêu thân choáng mắt đâm vào ngọn ánh đèn rồi chết…
Còn dùng từ “hư
danh” cũng là nghĩa tương tự nhưng theo tôi, nó kém hay hơn.
- Biết mà
còn nói!
-Tui còn thấy “dư ba biển mộng”, từ Hán Việt hơi khó
hiểu nhưng trang trọng và hay cực kỳ!
“Dư ba”[3]
-Cái “biển mộng” đó, bây giờ chắc là
không còn nữa…vì tác giả đang “ở cái dốc
bên kia của đời mình rồi, đang ở độ tuổi lực bất tòng tâm[4]
…chắc là đi câu “ánh trăng tan” trên
biển, đi tìm đóm lửa tàn trong đống tro xưa cổ tích… Phải chăng là ảo vọng[5]
…
- Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng
làm chi!
(Dans mon coeur, la flame des passions était
éteinte,
Pourquoi faudrait-il bousculer dans ce monde de
poussière et de malheur?)
ĐTTT,
Nguyễn Du, câu 3045-3046;
traduction
Française par Lưu Hoài
-Bồ câu được bao nhiêu “ánh nguyệt mộng”
rồi… mà cứ còn mê mải?
- Biết mà còn nói! Cũng giống như các bạn thôi mà!
-Còn hai câu sau cũng quá tuyệt vời!
Hý trường[6]
gợi nhớ hai câu thơ trong bài Thăng Long Thành hoài cổ. Nỗi đau miên trường[7]
là nỗi đau triền miên không bao giờ dứt của biển.
-Bồ chỉ khen không
hà! Cái đuôi của tui là “đuôi dài”[8]
còn cái đuôi của bồ e là cũng “dài đuôi”, đúng không?
-Ha…ha…
*
-Ba đứa bạn già tụi mình thật là tri kỷ
của nhau!
- Sao lại là ba? Là chín đứa chứ!
-À đúng rồi! Mỗi người như là ba người
mà[9]:
Một
bình rượu, khóm hoa,[10]
Nhâm
nhi chẳng bạn mà!
Chén
mời, mời trăng tỏ,
Bóng
mình nữa là ba.
Thay lôøi keát
Boû queân chieác aùo
Hôm qua tát nước đầu đình, (câu 1),
Bỏ
quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà ?
Áo anh sứt chỉ đường tà, (câu
5)
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy vào khâu cho cùng.
Khâu rồi anh lại trả công,
Ít nữa lấy chồng, anh sẽ giúp cho. (câu 10)
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trầm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,(câu
15)
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau…
Ca dao
Nhớ
thời Trung học, bài ca dao nầy có tiêu đề là “Con trai ngỏ ý với con gái” hay ngôn từ của một anh chàng tán tỉnh người đẹp.
Thầy
giảng:
-“Tán” là khéo nói, nói hay làm cho người ta thích, lời nói đó
chưa chắc đã thật lòng, cốt để tranh thủ, làm cho đối tượng chú ý đến mình và
có thể để lợi dụng, thỏa lòng cho mục đích của mình. “Tán tỉnh” cũng như “tán”
là nói ngon, nói ngọt, làm cho đối tượng xiêu lòng, hướng theo mình nhằm đạt
mục đích riêng. Cho dẫu chàng trai nói dóc linh tinh, nghe qua là biết trêu
đùa, vớ vẫn nhưng với “cái mồi câu ảo”, duyên dáng đó, có khi cũng lắm người
con gái “phải lòng” và thiên tình sử được hai anh chị mở ra. Nhà tâm lý học
nói, “giới nữ” thường cảm nhận và yêu thích bằng đôi tai. Chàng cứ mải nhìn,
đeo bám đối tượng, buông một cái nhìn đắm đuối, ngất ngây; đón đường đón ngõ,
phục binh; làm cái đuôi dài dài với nàng…mà không dám nói ra…thì đố ai mà biết,
đố ai biết được mà gieo tình(!)
·
Bốn câu đầu: [câu 1-4]:
Hôm qua tát nước đầu đình, (câu 1),
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Em
được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà?
Cho nên khi một
chàng trai đem lòng si mê một người trong mộng, thì phải tiếp cận, làm quen và
ngỏ lời để nàng lưu ý đến mình. Thực ra, chuyện nầy không dễ dàng gì! Đâu phải
là chuyện dễ dàng như lấy gàu tát nước
hay lấy đồ trong túi. Có lẽ chàng
phải đắn đo cho hai điều phân vân, để “tri
kỷ tri bỉ”, chờ mong “khúc khải hoàn”:
Thứ nhất, người mình ưng ý thì khối người chạy theo. Phận mình ra đâu!
Thứ hai, biết nàng có dám đứng lại lâu
lâu một chút, cho mình ngỏ lời không (?). Người con gái nào mà không sợ dư luận
của xóm nhỏ, làng quê qua thành kiến của các nhà Nho xưa, “nam nữ thọ thọ bất thân”.
-Đâu
có gì mà e ngại nhỉ! Mình chỉ muốn xin lại chiếc áo bỏ quên thôi mà:
Hôm qua tát nước đầu đình, (câu 1)
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa
sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
?
Lời trần tình của chàng trai
thật là vừa ngắn gọn, vừa đầy đủ. Câu nói bao gồm thời gian, không gian và lý
do bỏ quên chiếc áo. Sự việc như cẩm nang “5Wh” của một nhà văn nổi tiếng R.
Kippling: sự việc xảy ra là ai (who),
là gì (what), khi nào (when), ở đâu (where), tại sao (why)…Thời
gian là hôm qua, nghĩa là mới đây
thôi. Không gian là nơi cái ao sen đầu
đình. Vì mải mê tát nước, anh đã bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen, mà không nhớ, đối tượng là
người con gái đáng yêu. [câu 1-2].
-Hóa ra, chàng ta là một người nông dân siêng năng, cần cù, để
lưng trần lao động... trong nghiệp nông gia. Được đấy! Khi tát nước, anh biết
“tiết kiệm” chiếc áo, vì sợ áo thấm ướt nước, dính bùn dơ, áo mau cũ, dễ rách
bươm. Phải chăng đó là phẩm chất khả ái, tính cần kiệm một giá trị quan đáng
quý, như một nếp xưa, thời nuôi tằm dệt vải khó khăn, ở chốn quê.
Tiếp theo:
-Em được thì cho anh xin, (câu 5)
-Chẳng có gì lạ, chỉ là lời hỏi
thăm về chiếc áo bỏ quên của anh ấy thôi.
-Hay là em để làm tin trong nhà ? (câu 6)
-Hơi quá đáng à nghen! Sao anh dám…dám đường đột, nói càn. Ô hay!
Tôi mới nghe anh nói mất áo. Chưa rõ thế nào, sao anh lại bảo tôi giữ áo anh để
làm tin chứ? Anh vô tình hay cố ý vơ quàng vơ xiên như vậy. “Của tin” là tín
vật trao tặng của đôi lứa yêu nhau để khẳng định lời hẹn ước…tình yêu
chung thủy, bền vững, sắt son. Tôi với anh chỉ mới gặp nhau lần đầu, có gì với
nhau chưa, mà anh lại bảo “để áo làm tin trong nhà” chứ? Chắc là anh không biết
ý nghĩa của hai chữ “của tin” rồi:
Rằng: - Trăm năm cũng từ đây,
Của tin gọi một chút nầy làm
ghi”.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 355-356.
“Dès ce moment, dit-il, ma vie est unifiée avec la vôtre pour cent
ans.
Eh bien, gardez ces objets précieux, comme petits gagnes.
Histoire de Thúy Kiều,
Traduction française par Lưu Hoài”
Hay là:
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền
ngày xưa.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu
739-740.
“Quoique je sois disparue dans ce monde, ces gages resteriont
ainsi,
Voici l’encens perfumé, les
touches de la guitare d’austrefois.”
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 739-740); traduction Française par Lưu
Hoài
[Lẽ ra ở câu nầy, bài ca dao nên để chàng trai tỏ lòng mình một
cách tế nhị, nhã nhặn hơn mà vẫn chặt chẽ, hợp vần. Không hiểu do bí vần hay dị bản mà [câu 4] ở trên, tác
giả lại để chàng trai phát ngôn rất vụng về, đột ngột, cục mịch. Có thể nên
chỉnh lại:
Em được thì cho anh xin,
Hay em có nhặt, thì anh
chuộc quà] .
…Mà chiếc áo anh có giá trị như chiếc áo long bào chắc? Thôi hãy
nán lại để xem chàng ta nói tiếp xem sao).
·
Sáu câu sau: [câu 5-10] Mô tả chiếc áo bỏ quên một cách khôn khéo, nhờ người đẹp
khâu hộ, hứa hẹn trả công:
Áo anh sứt chỉ đường
tà, (câu 5)
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy vào khâu cho cùng.
Khâu rồi anh lại trả công,
Ít nữa lấy chồng, anh sẽ giúp cho: (câu 10)
“Áo anh sứt chỉ đường tà” là áo rách sứt chỉ đường may của mảnh áo,
dễ vá hơn áo rách trên mảnh vải, gọi là áo rách đường thịt. Áo anh sứt chỉ đã
lâu, nghĩa là trải qua một thời gian, lâu lắm rồi, anh vẫn phải mặc chiếc
áo rách đó, vả lại Mẹ anh đã già, mắt
lòa tay run, không thể nào khâu áo cho anh.
[Cái khéo léo ở chỗ anh vừa mô
tả chiếc áo, vừa cố tình “tiết lộ”
gia cảnh của mình, đồng thời khơi gợi lòng trắc ẩn của đối tượng một cách tự
nhiên. Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu. Và
anh tỏ lời “Hay là…hay là ngày mai, nhờ
em giúp anh khâu hộ chiếc áo đó nhé!”: Mai mượn cô ấy vào khâu cho cùng.
Do quảng bá bằng tính truyền
khẩu lâu đời, sau nầy, khi có chữ viết, bài ca dao trên mới được sưu tầm ghi
lại. Nguyên văn bài ca dao trên được trích từ Quyển Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển
của Dương Quảng Hàm, nxb trung Tâm Học Liệu, trang 9. “Mai” là thời gian vị lai gần nhất. Tuy nhiên, có thể viết và hiểu
là “may”, điều tình cờ đưa đến đúng
lúc, may mắn, anh mới gặp được em và
xin nhờ em, về khâu áo giúp giùm anh một thể. Có thể nên là thế nầy:
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
May mượn cô ấy vào khâu cho
cùng.
Và cái chuyện nhờ vả trả công hay làm ơn trả ơn, là một cách
ứng xử tự nhiên trong mối quan hệ giữa người và người xưa nay:
"Ngẫm
câu báo đức thù công,
"Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng
ngươi."
Vân Tiên nghe
nói liền cười:
"Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Lục Vân Tiên,
Nguyễn Đình Chiểu, câu 173-176
Và nhất là anh sẽ trả ơn em bằng cách sẵn lòng “giúp em” trong việc “lấy chồng” sắp tới, “ít nữa”: khẩu ngữ chỉ một thời gian
ngắn, không bao lâu nữa.
(Hay đấy! Anh tử tế lắm! Làm
thân con gái 12 bến nước, chắc là…chắc là cũng phải nhờ người điềm chỉ mai mối
cho, hoặc là khi có đám cưới, nhiều việc, phải cậy người phụ đám …như thế cũng
hay đấy! Để xem chàng cất cao giọng đàn tiếng uyển…ra sao?)
·
Câu 11-16: Đền ơn khâu áo sao lạ quá! Sao quá hậu hĩ!
Giúp em một thúng xôi vò,[11]
Một con lợn béo, một vò rượu
tăm.[12]
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trầm[13]
em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,[14](câu
15)
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau…
*
Đền ơn khâu áo sao quá hậu hĩ à nhen! Cả “một thúng xôi vò”!
Sao lại có “Một con lợn béo, một vò rượu
tăm” (?)
Sao lại thêm “đôi chiếu”,
“đôi chăn” nhỉ?
Có vẻ như anh ta là con nhà nghèo…mà “trả công” sao quá ư hào
phóng”?
Còn cho cả đôi trầm… trang sức cho cô dâu (!)…
“Tiền cheo”, “tiền cưới” và “buồng cau”, chẳng phải sính lễ là gì…
Hóa ra anh chàng tát nước đầu đình nầy “bỏ quên chiếc áo”, nhờ khâu hộ, đền ơn …là chú rể…
Còn mình, e rằng không khác cô dâu…
Thật là duyên dáng, “khôn ngoan
đến mực, nói năng phải lời”
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2374.
E rằng mình cũng không thể cầm lòng cho đang.
Không biết rồi sau sẽ ra sao?
“Người đâu gặp gỡ làm chi?
Trăm năm biết có duyên gì hay
không?”
ĐTTT, Nguyễn Du, câu
181-182);
(Pourquoi ai-je rencontré cet home?
Est-il vrai que notre hymen,
nous attacherait au cours des cent ans?)
Traduction Française par Lưu Hoài
Ảnh minh họa: Tát nước gàu sòng, Google
-Thôi thì anh ơi!
“Theo anh” tát nước đầu đình,
“Quả cau nho nhỏ”[15], chúng mình… với nhau.
Ngân Triều
Chú thích:
[1] Hư
vinh: hư 虚, không có thực, trống rổng;
vinh: 榮, vẻ vang; hư vinh: 虚 榮, vinh dự và vẻ vang hảo,
không có gì là trường cửu, đời đời.
[2] Cái vòng danh lợi cong cong,
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước
vào,
Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản,
Hà Nội, 1951
[3] Dư
ba là âm thanh của tiếng sóng tuy đã dứt … mà như còn ngân nga, vọng
mãi trong lòng. Biển mộng là những ước vọng, hoài bảo bao la như
cái biển rộng mênh mông của một thời trai trẻ của tác giả.
[4] Là đã già rồi.
[5] ảo vọng:
sự ước mong mập mờ, viẽn vông.
[6] Hý
trường: là rạp hát, là sân khấu trình diễn nghệ thuật thứ bảy như hát tuồng,
hát bộ, cải lương…
Thăng Long thành hoài
cổ, Bà Huyện Thanh Quan:
Tạo hóa gây chi
cuộc hý trường
Đến nay thấm thoắt
mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn
thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng
tịch dương,
Đá vẫn trơ gan cùng
tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt
với tang thương.
Ngàn năm gương cũ
soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây
luống đoạn trường
[7] Miên trường: dài bất tận, mãi mãi không bao giờ dứt.
[8] Thành ngữ:
Mèo khen mèo dài đuôi. Ý nói khích lệ, tâng bốc với nhau.
[9] Không có bạn hiền, thơ dịch, Ngân Triều
[10]
Ghi chú : trích tác phẩm Hồn Quê, quyển số 3 của Ngân Triều trang 63:
Nguyệt hạ độc chước-Lý Bạch
Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân
月 下 獨 酌 - 李 白
花 間 一 壼 酒
獨 酌 無 相 親
舉 杯 邀 明 月
對 影 成 三 人
*
Dịch thơ
Một
mình uống rượu dưới trăng
Tương
Như dịch
Một mình chuốc dưới hoa,
Có rượu không có bạn,
Nâng chén mời trăng sáng,
Mình với bóng là ba.
*
--Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn phỏng dịch--
Một bầu rượu ở vườn hoa
Rót mời chỉ có riêng ta tự tình
Nâng lên cạn chén - trăng
xinh
Bóng hòa với rượu cộng mình là ba
*
-- Bản dịch của Hạt Cát --
Một
mình chuốc rượu dưới trăng
Tay
ôm vò rượu bên hoa,
Một mình một chén gần xa không người.
Kìa trăng! Nâng chén xin mời!
Thêm này chiếc bóng! Ba người cùng nhau.
*
Bản dịch của SongNguyễn HànTú
Một Mình Uống Rượu Dưới Trăng
Ôm bầu ngồi dưới giàn hoa
Rót đầy ly cạn
Uống qua ly đầy
Nào . . .
Mời trăng sáng cùng say
Trăng, ta và bóng họp bầy là ba
*
--Bản dịch của Nguyễn phước Hậu--
Một bầu rượu , dưới giàn hoa
Không ai đối ẩm thì ta uống mình.
Mời trăng sáng, chén lưu tình
Có ta, trăng sáng, bóng hình là ba.
*
--Bản dịch của Anh Nguyên—
Uống
rượu một mình dưới trăng
Bên hoa sẵn rượu một bầu,
Tự tay chuốc rượu, giải sầu nào
ai!
Mời trăng nâng chén cùng say,
Lại thêm bóng nữa, thế này là ba.
*
--Bản dịch của Lâm trung Phú --
Một bầu rượu giữa hoa
Không bạn, uống mình ta .
Nâng chén mời trăng sáng
Kể luôn bóng thành ba !
*
--Bản dịch của Thầy Trần Trọng San—
Trong hoa một bầu rượu
Riêng mình chẳng có ai
Nâng chén mời trăng sáng
Với bóng thành ba người
*
Bản dịch của Ngân Triều Hậu Nghĩa
Một bình rượu, khóm hoa,
Nhâm nhi chẳng bạn mà!
Chén mời, mời trăng tỏ,
Bóng mình nữa là ba.
Chén mời, mời trăng tỏ,
Bóng mình nữa là ba.
Ngân Triều dịch thơ
[11] Xôi vò thường làm bằng nếp hạt tròn, đậu xanh bóc vỏ, giã nhỏ cho tơi xốp, thêm gia vị, thường ăn với món cơm rượu…rất ngon.
[12] Rượu tăm là rượu tuyệt vời chưng cất nước đầu,
có nồng độ cao, khi rót ra thường sủi tăm, thường đãi khách quý.
[13] Đôi
trầm là đôi bông tai bằng bạc hình con đỉa, trang sức phổ biến của người
phụ nữ xưa.
[14]Tiền "cheo"
là khoản tiền nhà trai phải nạp cho làng bên nhà gái nếu chú rể ở khác làng.
Trai gái cùng làng xã lấy nhau cũng phải nạp tiền cheo song có giảm bớt. Lệ này đã bị bãi bỏ. Thanh niên ngày
nay chỉ còn thấy bóng dáng của tiền cheo
qua ca dao-tục ngữ.
[15] Tức là thành đôi vợ chồng, lấy ý từ bài ca dao:
Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần, mai anh học xa.
Anh lấy em từ thuở mười ba,
Ðến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
Ca dao



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét