Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Phần 3: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Ngân Triều, (tiếp theo)

 Phần 3: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Ngân Triều, (tiếp theo)

***
Phụ lục:
Thằng bù nhìn & Thằng phỗng 

Nguyễn Dư

 

Sở dĩ dám gọi đùa là "dở ông dở thằng" là bởi vì không phải lúc nào và ở đâu người ta cũng gọi bù nhìn và phỗng là thằng. Thỉnh thoảng hai "thằng" này cũng được gọi thân mật, kính trọng là bác là ông.

Thằng Bù Nhìn

Quyền trọng ra uy trấn cõi bờ 
Vốn lòng vì nước há vì dưa 
Xét soi trước mặt đôi vừng ngọc 
Vùng vẫy trên tay một lá cờ 
Dẹp giống chim muông xa phải lánh 
Dể quân cày cuốc gọi không thưa 
Mặc ai nhảy nhót đường danh lợi 
Ơn nước đầm đìa hạt móc mưa

                                Lê Thánh Tông

          Bài thơ này được đặt tên là Thằng bù nhìn, không rõ tác giả là ai. Người thì cho là của vua Lê Thánh Tông, người khác lại cho là của Hồ Xuân Hương, người khác nữa lại kết luận rằng bài thơ này là của người đời sau làm (Hoàng Xuân Hãn, tập 3, Giáo Dục, 1998).

Còn một thằng bù nhìn khác, gốc gác tương đối chắc chắn hơn, nằm trong Hồng Đức quốc âm thi tập (Văn Học, 1982) . Bài thơ mang tên Cảo nhân, nội dung gần giống bài thơ chép bên trên.

Chỉ có thằng bù nhìn thứ ba mới đích danh là thằng bù nhìn, được chính Tản Đà (1889-1939) đặt tên:

Lơ láo kìa ai đứng cạnh bờ 
Trần ai tri kỷ đã ai chưa? 
Ba thu mưa gió người trơ mộc 
Bốn mặt giang sơn áo phất cờ 
Được việc thế thôi, cày chẳng biết 
Khinh đời ra dáng, gọi không thưa 
Lâu nay thiên hạ văn minh cả 
Bác mấy ngàn năm vẫn thế ư? 
         ( Thăm thằng bù nhìn - Tản Đà ) 

          Cả ba bài thơ đều tả thằng bù nhìn đứng ngoài cánh đồng, đuổi chim.

        Xem vậy thì nhân vật bù nhìn đã có mặt tại nước ta ít ra cũng hơn năm thế kỉ rồi. Chúng ta lại được biết thêm rằng người xưa, đời Hồng Đức (1470-1497 , gọi thằng bù nhìn là Cảo nhân ( nghĩa là người làm bằng cành cây khô, hay bằng rơm rạ ) .

        Ngày nay dường như chẳng còn ai nhắc đến tên Cảo nhân nữa. Mọi người, từ thành thị đến thôn quê, chỉ biết có thằng bù nhìn thôi. Biết mặt nhưng chưa chắc đã biết tên. Đúng hơn là không biết cái tên bù nhìn kia từ đâu đến nhập cư về thôn quê Việt Nam? Mời các bạn cùng chúng tôi thử đi tìm quê quán của thằng bù nhìn.

        Trong bộ sưu tập tranh dân gian của Oger có tấm Dũng hình, Nguyễn Mạnh Hùng Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ 20, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh,1990) dịch là Bù nhìn. Tưởng là nắm được lí lịch của đương sự, nhưng xét kỹ thì thấy có điều đáng ngờ.

        Trước hết là ý nghĩa của tên tranh. Chữ dũng (hoặc dõng) được Thiều Chửu (1942) và Đào Duy Anh (1932) dịch là:

- tượng gỗ 

- cái tượng gỗ, tục xưa dùng để chôn theo người chết

Ngoài chữ dũng, tiếng Hán còn có từ quỷ lỗi (cũng đọc là ổi lỗi hoặc khổi lỗi) được hai học giả dịch là:

- tượng gỗ (Thiều Chửu). 
- người bằng gỗ. Bu bê (poupée) (Đào Duy Anh) . 

Như vậy thì, theo Thiều Chửu và Đào Duy Anh, dịch Dũng hình là cái tượng gỗ.

Tượng gỗ muốn giới thiệu ai?

Tấm tranh vẽ một cô gái tươi cười, đầu đội nón ba tầm, khoác tấm áo tơi bằng lá gồi còn lành lặn. (xem hình trên). Cô gái thật là xa lạ đối với thằng bù nhìn đầu đội nón mê, áo quần tả tơi, đứng giữa trời phất cờ đuổi chim của nông dân. Cô không thể là một "chị bù nhìn" như Nguyễn Mạnh Hùng đã ngộ nhận!

        Tượng gỗ cũng không phải là hình nhân (con nộm) của tín ngưỡng dân gian, bởi vì hình nhân không được làm bằng gỗ. Hình nhân luôn luôn được đan bằng tre, phất giấy, để khi đốt dễ cháy, thành tro. Vả lại, người ta không chôn chân hình nhân xuống đất, hoặc dầm dưới nước, như trong tranh vẽ.

        Tôi cho rằng tượng gỗ này là một con rối của sân khấu múa rối nước, thủ vai một chị chăn vịt, được nghệ nhân trang điểm đẹp đẽ, điều khiển di động trên mặt nước.

        Bây giờ xin bàn đến nguồn gốc hai chữ bù nhìn.

-Thằng bù nhìn bắt đầu có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam từ lúc nào?

-Khó trả lời chính xác. 

        Một điều chắc chắn là hai tiếng bù nhìn đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam trễ nhất cũng là từ năm 1926, năm bài thơ Thằng bù nhìn được đăng trong sách Văn Đàn Bảo Giám (Mặc Lâm, Saigon, 1968) của Trần Trung Viên. Cũng vào thời kì này, năm 1928, Nguyễn Văn Ngọc soạn sách Tục ngữ Phong dao (Sống Mới, Hoa Kỳ, 1978), đã sưu tầm được thành ngữ bù nhìn giữ dưa. Thành ngữ này nằm chung với nhiều câu tục ngữ phong dao cổ xưa của Việt Nam, khiến nhiều người nghĩ rằng bù nhìn cũng đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam từ lâu rồi?

-Rất có thể là như vậy. 

Nhưng bên cạnh những câu tục ngữ phong dao cổ, Nguyễn Văn Ngọc còn sưu tầm cả những thành ngữ mới có của thời đó như thày cung, thày cò. Từ cò của miền Nam và từ cẩm của miền Bắc đã đến từ chữ commissaire của tiếng Pháp.

        Trong mục câu đố, Nguyễn Văn Ngọc đưa ra câu:

Để im thì nằm thin thít 

Hễ động liếm đít, là chạy tứ tung

và giải là cái tem dán thư (timbre). Rõ ràng là Nguyễn Văn Ngọc đã sưu tầm cả những câu mới có từ khi người Pháp đến cai trị nước ta, trong đó biết đâu lại chả có câu bù nhìn giữ dưa?

        Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) cũng đã chép rải rác một vài tiếng mới đến từ tiếng Pháp như: 

- cúp (tóc): hớt tóc, cắt tóc.

- cái cúp: cái chén có quai. 

        Chúng ta có thể nói rằng ngay từ cuối thế kỷ 19, một số tiếng Pháp đã được Việt hóa và đã đi vào ngôn ngữ Việt Nam.

Tuy nhiên, Huỳnh Tịnh Của vẫn chưa biết đến thằng bù nhìn.

        Do đó, dựa vào mốc thời gian của hai bộ sách tôi đoán rằng hai tiếng bù nhìn có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam vào khoảng giữa năm 1895 và năm 1926.

        Tự điển Việt-Hoa-Pháp của Gustave Hue (Trung Hòa,1937) có từ bù nhìn và được dịch sang tiếng Pháp là mannequin pour effrayer les animaux (hình nộm dùng để dọa súc vật) .Định nghĩa này gần giống định nghĩa của từ épouvantail trong từ điển Larousse: mannequin mis dans les champs, les jardins, pour effrayer les oiseaux (hình nộm đặt ngoài cánh đồng, ngoài vườn, để dọa chim) . Sự trùng hợp của hai định nghĩa khiến tôi nghĩ rằng tên bù nhìn của ta đã được đến từ chữ épouvantail của Pháp. Chữ  là âm Việt của pou (cũng như poupée được Đào Duy Anh ghi là bu bê). Chữ nhìn có thể được hiểu là động tác nhìn, canh giữ của thằng bù nhìn, nhưng cũng có thể chỉ là biến âm của chữ nhân nghĩa là người.

        Gần đây, Hoàng Văn Hành (Từ láy trong tiếng Việt, KHXH, 1985) đã thử xếp hai chữ bù nhìn vào loại từ kép, từ láy của tiếng Việt. Nhưng khi đi tìm hiểu ý nghĩa của từ, tác giả phải thừa nhận rằng "các từ, kiểu như bâng quơ, bù nhìn là những từ mà người bản ngữ hoàn toàn không còn có thể nhận hiểu được nghĩa của từng yếu tố tạo thành. Hơn thế nữa, người ta cũng không thể căn cứ được vào bất kỳ đặc điểm nào về hình thái hay về ngữ âm để giải thích nghĩa của từ cả. Quan hệ âm-nghĩa ở các từ này rõ ràng là quan hệ võ đoán, quan hệ không có lý do.".

        -Phải chăng chỉ vì thằng bù nhìn của ta vừa lai Pháp, vừa có họ hàng bên Tàu, nên quê quán của nó mới mù mờ, tên của nó mới khó hiểu, vô lí như vậy?

        Ngày nay, bù nhìn và con rối thường được dùng với nghĩa bóng để chỉ một loại nhân vật chính trị. Người Trung quốc và Đại Hàn gọi thằng bù nhìn đuổi chim của họ là đạo thảo nhân (người làm bằng rơm rạ) , nghĩa cũng giống như cảo nhân.

Thằng phỗng, ông phỗng

Có lẽ Nguyễn Khuyến (1835-1909) là người để ý đến nhân vật phỗng nhiều nhất. Ông là tác giả của hai bài thơ được nhiều người biết:

Tượng sành trên non bộ

Ông đứng làm chi đấy hỡi ông 
Trơ trơ như đá vững như đồng 
Đêm ngày coi sóc cho ai đó 
Non nước vơi đầy có biết không?

*** 
Ông phỗng đá

Người đâu tên họ là gì? 
Khéo thay trích trích tri tri[1] nực cười. 
Dang tay ngửa mặt lên trời, 
Hay còn lo tính sự đời chi đây?

* 
Thấy phỗng đá lạ lùng muốn hỏi. 
Cớ làm sao len lỏi đến chi đây? 
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này, 
Chí cũng rắp dang tay vào hội lạc[2]
Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,

                       
Thương hải thùy tri ngã diệc âu.[3]

                      
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu, 
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác. 
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác, 
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác, 
Cuộc tỉnh say, say tỉnh cùng nhau. 
Nên chăng đá cũng gật đầu! 

                                                    Nguyễn Khuyến

Phỗng còn là tượng dân gian bằng đất, bằng sành hay bằng sứ, cỡ nhỏ, dáng to béo, sắc diện lạc quan, để bày chơi trong các gia đình. Tuỳ theo tượng nặn một người lớn hay một trẻ con và tuỳ theo tượng được đặt ở nơi thờ tự hay làm đồ chơi mà dân gian gọi là ông phỗng hay thằng phỗng.

-Tên phỗng từ đâu ra? Căn cứ vào hai 

tấm tranh dân gian có chữ Nôm, một tấm vẽ ông phỗng bưng nến, tấm

kia vẽ thằng phỗng đội nến (lạp), chúng ta thử đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.

- Chữ phỗng (ông phỗng) được viết bằng chữ bổng và dấu nháy, một kí hiệu để chỉ rằng đây là chữ nôm.

Bổng nghĩa là bổng lộc, tiền lương của quan lại. Nghĩa này không thích hợp với nhân vật phỗng của tấm tranh.

Vì vậy, phải hiểu rằng chữ nôm phỗng ở đây không phải là được viết với chữ bổng, mà đã được viết bằng bộ nhân và chữ phụng (nhân+phụng=bổng). Bộ nhân chỉ người. Phụng nghĩa là hầu hạ, vâng lời, dâng biếu. Nghĩa này thích hợp với nhân vật phỗng, một kẻ đứng hầu nơi thờ tự, giữ việc đội hoặc bưng nến, còn gọi là dâng nến.

- Chữ phỗng trong tranh thằng phỗng đội nến viết hơi khác chữ phỗng của tranh ông phỗng. Người viết chữ nôm dùng bộ nguyệt làm kí hiệu thay cho dấu nháy, phần còn lại thì giống nhau (bộ nhân và chữ phụng) .

Bảng tra chữ nôm (khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1976) viết chữ phỗng bằng chữ phỏng nghĩa là bắt chước, phỏng theo. Nghĩa này cũng có vẻ xa lạ đối với thằng phỗng của dân gian Việt Nam.

Ngôn ngữ Việt Nam còn có thêm hai chữ phỗng khác:

- phỗng tay trên: lấy hớt của người khác.

- phỗng: gọi ăn trong một ván bài tổ tôm, tài bàn, một con bài thứ ba của bất cứ người nào khi trong tay mình có hai con như thế.

Xét theo nghĩa thì hai chữ phỗng này có thể đến từ chữ phủng, nghĩa là bưng, dâng, biếu.

- thành ngữ ngồi im như phỗng và đứng im như phỗng đực, có nghĩa là ngồi và đứng không động đậy, giống pho tượng đồ chơi của trẻ con, hoặc giống ông phỗng nơi thờ tự.

1- Ông phỗng đá thứ nhất của Nguyễn Khuyến đứng trơ trơ, “đêm ngày coi sóc cho ai đó”, chắc phải là ông phỗng đứng bưng nến hay đội nến ở chùa chiền, đền miếu.

2- Ông phỗng đá thứ nhì dang tay ngửa mặt lên trời, có vẻ lạc quan, thiếu trang nghiêm, hẳn phải là ông phỗng đồ chơi.

Chữ phỗng không có trong tự vị của Huỳnh Tịnh Của. Có thể đây cũng là một chữ mới có từ đầu thế kỉ 20. 

Theo Nguyễn Dư

13/4/2000. 

***



Chim & tổ giòng giọc mái
Tổ chim giòng giọc trống
Chim giòng giọc luôn ồn ào giành nhau những vị trí tốt trên các cành cây xoài cao, những đọt tre ngất nghểu. Chúng đan những tổ chim khéo léo và rất xinh đẹp bằng những sợi cỏ khô mềm. Những tổ chim giòng giọc ngoạn mục, lủng lẳng, đong đưa theo gió nhẹ, trang điểm cho bức tranh quê vào mùa lúa chín, thật là một vẻ mỹ quan khó quên. Chim mái làm tổ có vòi dài rất đẹp mắt. Chim trống cũng tự đan một tổ nhỏ đơn sơ hình tròn, lớn hơn nắm tay người lớn, có dây ngang làm chỗ đứng, canh gác, tránh nắng, tránh mưa. Đây là mùa sinh sản, duy trì nòi giống của loài chim giòng giọc để hết mùa lúa chín, chúng bay đi vùng khác.

Nhớ có bận, các bạn và tôi đi vào trong rừng Miểu Lục Viên, gần nhà ngoại tôi để hái gùi. Cái miểu chỉ là một cái chòi tranh nhỏ, vách bằng phên tre, tiền diện để trống. Trên một cái bàn gỗ cũ đơn sơ có một tấm bài vị với mấy chữ Nho sơn son thiếp vàng đã phai màu, một lư hương ở giữa, hai bên bài vị đặt một cái chò để chưng trái cây và một bình hoa bằng sành. Miểu Lục Viên là nơi thờ phượng người có công đức với làng xóm, quê hương.

-Dây gùi là vầy sao?!

Một bạn nào chợt cất tiếng. Dây nó to bằng bắp chuối, sần sùi, cong queo. Nó bám vào một cây cám hay cây gì to cao, nhìn lên trật ót. Chúng tôi ngồi lên những dây gùi nằm sõng soài dưới gốc cây nghỉ chân. Có bạn rắn mắt cưỡi ngựa, đánh đu, đong đưa như ngồi trên võng. Có một bạn nào dạn dĩ ôm bám dây gùi leo lên rất cao để hái mấy trái gùi chín vàng trên đọt cây. Dây gùi cứ lắt la lắt lẻo…Trái gùi còn xa lắc tầm tay. Những trái gùi dễ hái, người ta đã hái hết, chỉ còn sót lại mấy trái thách thức trên cao. Sợ rủi ro, Chị Tám ra lệnh:

-“Xuống đi, Tarzan ơi! “Ne pas pouvoir” rồi! Xuống đi, đi hái mây!”.[4]

Thế là không hái được một trái gùi nào cả, loại trái cây rừng mà chúng tôi háo hức muốn ăn cho biết vị. Vòng vo, lùng sục một lúc quanh mấy bụi mây rừng tua tủa gai, chúng tôi chỉ còn hái được hai quài mây rắc chín và một rổ quài mây rắc còn xanh.

Theo hướng nhà ngoại tôi gần đó, chúng tôi rảo bước đi, một hơi là đến. Gặp Ngoại, các bạn lễ phép, khoanh tay, cúi đầu: “Thưa Bà Ngoại”. Riêng tôi đứng ra giới thiệu bạn bè với Bà. Ngoại tôi mặc một chiếc áo túi trắng, tóc bạc phơ, mắt đã lòa, nhưng tai còn tỏ và hãy còn sõi lắm. Bà vỗ nhẹ lên đầu các bạn với giọng cười hiền lành và giục tôi bắt gà làm cơm, nhưng cả bọn thưa rằng đã ăn trưa rồi, chỉ muốn ăn mây cho vui thôi.

Nhanh như tép nhảy, Chị Tám lẹ làng suốt những trái mây ra một cái rổ long mốt, xối nước, rửa cho hết bụi bám vỏ, đâm giập “mây xanh”, để nguyên vỏ, trộn nước mắm, một ít đường, một ống bột ngọt, một ít tiêu và ớt bột cay cay…Trộn đều, thế là xong! Chị và mấy đứa con gái chúng tôi trịnh trọng đặt giữa bàn tròn một thau tráng men đầy trái mây xanh đã chế biến và một chồng chén dĩa, muỗng, đũa.

-Mại dzô! Mại dzô! Các bạn ơi! Ngon lắm!

-Mây xanh nóng hỗi, vừa thổi vừa ăn nè!

-Ăn mây…là ngậm, là nuốt mây, cưỡi mây như Tôn Tẫn, Bàng Quyên…

-Như đằng vân, đứng trên đám mây, mây bay vùn vụt hén!

-Xí! Làm sao bay được…Dụ con nít, xưa rồi!

-Ha…ha…

-Mây nào cũng mây mà!

-Khác nhau là cái chắc. Mây trời có hái, có ăn được đâu!...

-Đố các bạn, vật gì mà “chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy?”

-Khó à nghen!

-Là tên bạn Thu Thủy, là nước đúng không?

-Chắc là tên của bạn Triều, nước thủy triều đó!

-Hay là tên của 2 bạn Vân, Vân Đặng, Vân Trương, vân là mây, mà mây cũng từ hơi nước mà ra thôi…

-Phải tên bạn Ngọc, bạn Thoa (Khanh)…đâu ai dám đem đồ trang sức quí giá của mình mà chặt, mà phơi…

-Có lẽ là tên của bạn Thu Hương, Xuân Lan…Hương không nắm được, Lan đâu dám nâng mạnh tay…

-Vậy là tên các bạn Xuân, Sĩ, Sửu, Hầu, Lợi, Nhơn, Đức, Nhuần (Văn), Minh Tân, Nhính, Lý (Ba), Chạng, Cuống, Thu (Yếu) Chị Tám và Ngọc Chân, em út của Kim Ngân… tên có nghĩa riêng, bứt chữ rời ra thì không thể được…

-À, vậy, cũng như tên Lê Kim Quynh, Nguyễn Thị Nhiên, tên hai lớp trưởng, của tụi mình, chắc là phải gắn ví nhau suốt đời, làm sao bứt rời ra được…

-Ờ hén! Cũng như tên của 2 bạn Ngân nè, Ngân Võ và Ngân Nguyễn, âm thanh làm sao lấy được mà chặt, mà phơi…

- Ờ! Hay quá! Hay quá! Đủ một số tên các bạn hay chơi chung với nhóm bọn mình …Tên một số các bạn ở hai lớp nhứt A,B…Câu đố nầy rất có ý nghĩa…

-Vậy là nhóm mình có nghĩa “Chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy” nhen!

-Hi vọng là như vậy đi! Ha…ha…

-Kha …kha…

…..

-Còn tui đố các bạn nhen. “Cha tôi đi giết người. Mẹ tôi đi cứu người”[5], có nghĩa là gì nè!

-Ghê quá!

-Cứu người thì có, chứ giết người …Ai mà dám làm chuyện ác?

-Giết người là hung tàn, “hại nhân, nhân hại”, sẽ bị ở tù, xử tử.

-Không phải vậy đâu!  Hiểu theo nghĩa hàm ẩn, chứ đâu phải nghĩa tường minh.

-Để coi… Giết người là hại người, độc ác. Cứu người là ngược lại…

- “Xuất gì” đi chớ!

-Xuất công việc nhà nông.

-À! Có phải làm đất, trồng trọt không?

-Ráng suy nghĩ thêm đi. Gần đến “đáp số” rồi.

-Vậy là, đi cày và đi cấy.

-Chính xác!

-Cha tôi đi giết người là đi làm đất, giết cỏ: đi cày. Mẹ tôi đi cứu người, là tạo nguồn lương thực cho người. Có lương thực, người ta có cơm ăn mới sống là đi cấy.

-Très bien! Très bien! (Giỏi lắm!)

-Ha ha…

Ghi chú:

[*] TheoTruyện Vũ Công Duệ, Nam Hải Dị Nhân, Phan Kế Bính:

VŨ CÔNG DUỆ

   Công Duệ người làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi làm ruộng vắng nhà, Công Duệ chơi với một bọn trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bươm bướm làm hai tai, cắm con đĩa làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra con voi đất mà vẫy được tai, vòi co lên quắp xuống và chân đi được, ai trông thấy cũng cho là tinh quái.

   Một khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:

            - Bố mày đâu?

   Đáp lại:

            - Bố tôi đi giết người.

            - Mẹ mày đâu?

            - Mẹ tôi đi cứu người.

   Người đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi thì nói rằng:

            - Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ cho mà biết.

   Người kia mới dỗ bảo rằng:

            - Mày cứ nói cho thật đi, tao sẽ tha nợ cho nhà mày không đòi nữa.

   Công Duệ sẵn cầm một cục đất dẽo, bảo người kia in tay vào đấy để làm tin.

   Người kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao. Công Duệ mới nói rằng:

            - Cha tôi đi nhổ mạ mà mẹ tôi thì đi cấy.

[Nhổ mạ thì phải nhổ đôi ba ngày trước khi cấy, công cấy thì phải nhổ mạ, một buổi mạ là (300-400 bó mạ, tùy theo hương ước địa phương). Thiết tưởng đi càyđi cấy sẽ hợp lý hơn: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” Chú giải NT].

   Người kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước ra, và nói rằng:

            - Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?

Người kia đứng ngẩn mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công Duệ cho đi học, và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua sách.

Công Duệ học thông minh lắm, nội các sách vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm Hồng Đức thứ 23 đời vua Thánh Tôn nhà Lê, Công Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng nguyên khoa ấy.

Lúc làm quan, tính khí cương trực, vua cất lên làm Đô ngự sử, các quan ai cũng kính sợ.

Đến khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình thần nhiều người a dua về Mạc Đăng Dung, ai không nghe phải giết. Đăng Dung sai người dụ Công Duệ theo về làm quan với mình, Công Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch thần; nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự sử đâm đầu xuống cửa bể Thần Phù mà chết.

Cách 60 năm sau đó, nhà Lê Trung Hưng, khôi phục được kinh thành Thăng Long, sai đúc ấn Ngự sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn, mới sai người lặn xuống cửa bể Thần Phù tìm quả ấn ngày xưa. Khi người lặn xuống đến nơi thì thấy Công Duệ vẫn còn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn ở dưới đáy bể , uy nghi như thuở sinh thời.

Người ấy sợ hãi, lên tâu chuyện với vua Trang Tôn. Vua lấy làm lạ, cho là thần khí trung với nước của Công Duệ đã khiến cho ông đã hóa thần, mới sai quan làm lễ khấn bái, rồi sai người đem xác Công Duệ lên, dùng lễ trọng, khâm liệm, bỏ vào áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình Xá an táng, truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.

Theo Wikipedia

…..

-Đố bạn nào giải được:

“Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu điu lại nở ra giòng liu điu”.

-Là theo nòi giống. Ai tài giỏi, bao dung… thì con cháu tài giỏi, bao dung... Ai hèn hạ, độc ác, ngu ngốc… thì con cháu hèn hạ, độc ác, ngu ngốc…

-Theo truyền thuyết và lịch sử, dân tộc mình là con rồng cháu tiên, khí phách anh hùng, có lòng nhân nghĩa. Chẳng hạn, Giặc Minh vô cùng tàn ác, thế mà khi chiến thắng vẻ vang bọn chúng, Ta chẳng những không trả thù, chẳng những tha mạng không giết hại mà còn cấp lương thực, ngựa xe, thuyền bè…để chúng về nước, đoàn tụ người thân… Chúng cứ nghĩ Ta giả vờ như vậy nhưng trên đường về… hạ thủ độc thủ như bản chất của chúng (suy bụng ta, ra bụng người)… cho nên tán đỡm kinh tâm, thất kinh hồn vía, đâu biết, đó là tinh thần đại nghĩa, chí nhân của dân tộc ta.

-À! Tui nhớ rồi, Cô đã giảng như vậy và đọc cho lớp mình nghe mấy câu trong bài Bình Ngô Đại cáo. Vầy nè:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn.

Lấy chí nhân mà thay cường bạo…

*

Mã Kỳ, Phương Chính, cp cho năm trăm chiếc thuyn,

Ra đến bin mà hn bay phách lc,

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cnga,

Vđến nước mà tim đp chân run…

*

-Dân tộc mình thật là bản lĩnh…

-Đoàn kết, yêu nước, có lòng trắc ẩn…

-Các nhà viết lịch sử đã sử dụng rất nhiều… rất nhiều từ ngữ và hình ảnh hoa mỹ để ca ngợi bản sắc Việt Nam…

-À! Có phải rắn liu điu có nọc độc, có đuôi thật dài, ám chỉ sự thâm độc và cái đuôi chệt của giặc phương Bắc, “ba tàu”?

-Rõ như ban ngày, ai mà chẳng biết!

-Dân mình thì có lòng quảng đại như rồng, bay tận chín tầng mây. Bọn giặc ở phương Bắc thâm độc, như là loài bò sát dưới đất, rắn liu điu, chui rúc ở những nơi dơ bẩn, hôi thối…

-Chưa hết đâu, Cô mình nói, khi đô hộ nước mình, bọn giặc Minh rất là độc ác, thối tha… bài Bình Ngô Đại Cáo còn rành rành ra đó:

Độc ác thay! Trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay! Nước Đông Hải khôn rửa sạch mùi

Lẽ nào trời đất dung tha!

Ai bảo thần dân chịu được.

-Phải chăng dân ta kêu nó là “Tàu khựa” hay “Chệt khựa”; “Đồ dơ dáy, hôi tanh, tỡm lợm”?

-Chắc là… có thể là… đúng vậy!

-Thầy mình đã giảng, bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, xưa nay chúng nó đều có âm mưu thôn tính nước ta nhưng dân Việt mình rất bản lĩnh, rất yêu nước, rất anh hùng… trẻ già, nữ giới, thiếu nhi một lòng hi sinh, quật khởi đấu tranh nên Tổ quốc Việt Nam mình mới trường tồn, mới không bị đồng hóa, không thể nào mất gốc…

-Thật vô cùng tự hào Tổ quốc Việt Nam nước ta!

-Tổ tiên mình…muôn năm!

-Ha ha…

[Ngân Triều bổ sung: Mãi sau nầy tôi mới đọc được mấy câu thơ hào sảng về Tổ quốc Việt Nam, cũng không nhớ tên bài thơ và hoàn cảnh sáng tác, xin được ghi lại để tham khảo:

Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững,[6]

Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.

Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng,

Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa.

Huy Cận.

Tứ thơ như tổng kết lịch sử đấu tranh oai hùng, bản sắc, tâm hồn Việt Nam và khẳng định nước ta, một đất nước “sừng sững” . trường tồn vĩnh cửu, sánh vai cùng các nước quốc tế trong năm châu, bốn biển; một dân tộc hiên ngang, bất khuất, nhân ái, bao dung]

 

Liu điu lại nở ra giòng liu điu.

Vừa ăn vừa tán gẫu. Bầu không khí tở mở, đầy tiếng nói cười rôm rã, quên luôn lời khen lịch sự cho món “mây xanh”. Song, tôi không thể nào quên cái hương vị đậm đà của nó hơi chát chát, ngọt ngọt, mặn mặn, ăn trệu trạo, nhai nhai nhè nhẹ luôn cả hột, khi nuốt vào, cảm nhận cái dư vị ngọt ngọt của nó, đọng lại nơi thực quản, ngon ơi là ngon. Tuổi mới lớn, ăn gì cũng ngon…Nhất là bữa ăn đơn sơ lồng trong một bầu không khí vui tươi, rộn rã tiếng cười giòn tan không dứt…

Nhớ có lần, chúng tôi rủ nhau đi nhổ nấm tràm ở vạt tràm cháy của Nội tôi tận ấp Đức Ngãi (Làng Đức Lập, Đức Hòa, Chợ Lớn). Rất hên! Chúng tôi đi hái nấm đúng mùa. (Tức là vào thời điểm sau những cơn mưa chập chũm của tháng ba âm lịch, nắng nóng có sao,  đồng ruộng khô cằn. Trên những đám ruộng, chỉ còn trơ gốc rạ ngả nghiêng, trên những bước đi trên con đường cỏ may cát trắng, gió làm tung bụi mịt mù). Gió chướng buổi chiều xa đưa, sau những chiếc xe bò trên đường đất, cuồn cuộn những vầng bụi cát trắng, bay thấp thoáng qua những dãy ruộng và tan biến sau lũy tre xanh.

Khi đến nơi đã định, chúng tôi tỏa ra, lùng sục nấm tràm với nhãn quang của Tề Thiên Đại Thánh(!), đôi mắt sáng cứ chăm chăm chú mục vào những gốc tràm. Cuối cùng, chúng tôi thu hoạch được rất nhiều nấm tràm, đựng đầy trong những chiếc nón lá và các nón bàng con trai. Mỗi lần gặp một ổ nấm tràm, tiếng reo mừng tở mở, vang rân…

Đến nhà, dồn đi dồn lại, “chiến lợi phẩm” nấm tràm rất nhiều, đầy 5 chiếc nón lá và một số nón bàng. Để riêng ra một số nấm làm quà đem về gia đình, còn lại, lặt gốc, bỏ đất dơ, ngâm rửa với nước muối… Rồi chúng tôi lấy cái nồi to nhất của Nội, thường dùng nấu cơm cho công cấy ăn, hoặc sử dụng riêng cho ngày giỗ, nấu được khoảng nửa nồi cháo nấm tràm, thơm ngon  hết ý, “khao quân”. Nấm đen đen, trắng trắng, búp búp; có gạo rang thơm; có đậu xanh hòa quyện; có mấy con cá lóc cựu còn sót lại trong cái ao sâu của nhà, nay đà cạn nước; mấy bạn nam quậy nước đùng đùng rồi thò hang bắt được; tóm thêm ba con ếch bự nằm “mà” dưới đống “rơm nhao” trên bờ ao; có “bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”; có đường, có bột ngọt, có muối, có gừng…

(Chị Tám rất thạo việc nấu ăn, đứng bếp. Chắc là chị thường đi phụ đám tiệc ở quê nên mới có những chiêu làm bếp tuyệt vời như thế. Sau nầy có gia đình riêng, chắc là thế nào chị cũng một “nội tướng” đảm đang. Mà thật vậy, tôi thấy ở chị có những phẩm hạnh tốt của người phụ nữ nông thôn như: xinh đẹp, vui vẻ, mến khách, chu đáo, ngăn nắp, quán xuyến, tháo vát, tài ba…)

Chẳng mấy chốc, mùi cháo nấm tràm thơm ngon lan tỏa khắp nhà, nghe cồn cào trong bụng. Sau khi múc ra để dành phần cho Nội, Chị Tám với khuôn mặt ửng hồng, do đứng bên bếp lửa, khả ái, tươi cười, đon đả:  

-Ăn đi các bạn, cháo nhiều lắm, nấm tràm mát lắm, học bài mau thuộc!

Thế là một nồi cháo to, một thoáng hết sạch. Bữa ăn còn gắn với những chuyện vu vơ, trêu ghẹo lẫn nhau, những câu chuyện têu tếu, vô thưởng vô phạt…và những tràng cười hồn nhiên, hể hả.

Chị Tám rất dễ thương qua nụ cười và giọng nói hiền lành. Chị quả là một “đầu đàn” của bọn tôi thuở ấy. 

Nhà tôi ở, ngay ngã tư Đức Lập, còn gọi là Ngã Tư Mây Tàu, thuộc ấp Mây Tàu, giáp ranh với Rẫy Ông Ầm.[7]

Mỗi ngày tôi thường đi bộ theo đường tắt để đến trường Tiểu Học Bào Trai. Bộ ba “tam sênh” của chúng tôi gồm chị Tám, Thoa và tôi luôn luôn đi chung với nhau. Có bạn hỏi chúng tôi đi học bằng phương tiện gì, tôi cười đáp vui là đi bằng xe “lô ca chưn”. (Mặc dù bấy giờ còn có xe thổ mộ, lộ trình Đức Lập- Bào Trai, khách lên đầy xe thì xe lóc cóc khởi hành. Dân chúng và học sinh đi xe đạp, rất hiếm thấy).

Mỗi sáng, Khanh và tôi đi từ Đức Lập đến nhà chị Tám (Gò Cao) đường đá lởm chởm, hơn 1km. Rồi ba đứa chúng tôi tiếp tục đi khoảng 1km đường đá đó (TL 8) mới đến đường tắt. Con đường nầy thực ra là một “lối mòn”, do nhiều người đã từng đi qua mà thành. Hai bên lối mòn ấy giăng đầy bông cỏ may, men theo rừng chồi của bờ suối Bào Trai, dọc theo vuông rào lớn của ông Bộ Tao, đi qua một vạt đất trồng đậu phộng, băng qua một mương nước cập lộ 10, qua cống suối Bào Trai là đến trường, độ chừng 1,5 km.

Đi bộ tổng cộng 3,5 km.

Có lần tôi thử tính đường đi học của mình:

-Đường đi học và về mỗi ngày 2 lượt:                                        3,5km x 2 =7km.

-Đường đi học và về trong 1 tuần, 6 buổi là :7km X 6 =                             42km. 

-Đường đi học và về trong 1 năm, 32 tuần là: 42km X 32=                   1.344km.

*Đáp số: Trong một năm học, một nữ sinh tên Võ Kim Ngân đi được 1.344km.

          Thật là một kỷ lục khá lớn! Đường đi học trong một năm của tôi dài xấp xỉ bằng đường dài từ Sài Gòn đến Hà Nội, mặc dù, bấy giờ tôi chỉ biết Sài Gòn, Hà Nội, và cả cố đô Huế, qua quyển sách Địa Dư, do cô mua, phát ra vào dịp đầu năm học. Bộ ba chúng tôi đi bộ như vậy chẳng nhằm nhò gì, vì hãy còn gần, khi so với phần lớn các bạn ở vùng trên:  Tân Mỹ, Gò Sao, Rừng Muỗi, La Cua … Đường xa gấp đôi,  gấp ba lần đường đi của chúng tôi,  mà vẫn… lon ton… ôm cặp cuốc bộ. 

Đường xa thì mặc đường xa… chúng tôi cũng có những trò vui nhỏ trên đường đi học về. Thú vị nhất là ngắm và bắt những côn trùng bay quanh bờ suối. Dễ phát hiện nhất là mấy chú ong bầu. Lưng nó màu vàng nghệ, bụng màu đen. Khi bay, nó kêu o… o…rầm rì.

 

Ong bầu hút mật

-Kìa! Nó đang chui vào hoa cắt lồi hút mật! Để tui bắt, đem về cho nó hát bội nghe chơi!

- Nó chích đau lắm đó!

-Để tui bắt cho coi! Nè! Biết cách bắt thì dễ ợt hè!

Chị Tám chuẩn bị cái khăn tay (mouchoir), khi ong bầu chui vào đài hoa ngang của hoa cắt lồi hút mật, chị lấy khăn túm lại như làm một cái túi tròn, đặt sẵn ở bên ngoài. Khi hút mật xong, ong chui nhanh ra khỏi hoa, là nó rơi ngay vào cái túi khăn ấy. Chị liền lẹ làng túm khăn lại. Thế là được một chú ong bầu trong chiếc khăn tay.

(Ngày nay trẻ em thường dùng túi nilon đề bắt ong bầu).

Rồi hai chú, ba chú…Chỉ cần một con cũng đủ. Nhiều ong hơn thì hát bội vui hơn, con nầy hát mệt thì con khác thay...Có khi hai ba con cùng hát một lúc, trẻ em rất ưa thích…

-Nhưng làm sao cho nó “hát bội” hả chị?

-Đem về đựng mỗi con trong một cái ve chai nhỏ, hay chai nước ngọt rỗng, nhớ làm lỗ thở cho nó. Muốn cho nó hát thì lấy cọng bàng làm que chọc vào nó là nó khắc hát o…o…ò…ò…ọ…ọ….như hát bội rất vui tai. “Tiếng hát” của nó rất đơn điệu, lâu dần sẽ nhàm chán và gây buồn ngủ.

-Vậy à! Cũng hay! Thôi thả nó ra đi chị! Tội nghiệp quá! Mất nó, gia đình nó chắc là buồn lắm!  Nó có cha mẹ, anh em, chắc là nó cũng giống như con người!

-Tui biểu diễn bắt ong bầu chơi thôi, chớ ở nhà, tìm một cái ve chai không, đâu phải là chuyện dễ. Cho em bé chơi thôi…chớ mình mà chơi gì nữa! Thỉnh thoảng tui cũng có bắt chuồn chuồn trâu cho tụi nó hoài…

“Thi hành nghị quyết”, chị liền mở khăn ra, tức thì mấy con ong bầu tung cánh bay vút cao lên và bay xa tít. Chúng tôi cứ nhìn theo vòng bay của chúng nó. Ô! Tự do! Có gì vui sướng bằng tự do. Chắc là chúng nó rất vui thích, bay vút một mạch, lượn tít lên cao, rồi khuất dạng trong khóm cây um tùm xa xa.

-Ha haTụi mình vừa thể hiện một niềm vui cho gia đình con ong bầu, phóng thích “tù binh”, cũng như ngày rằm, người ta mua chim, mua cá đến Chùa cúng dường, phóng sinh…

- Chắc là gia đình nó làm tổ ở hướng đó. Mà bắt chuồn chuồn chắc là khó lắm?

Chuồn chuồn trâu xanh

-Dễ ợt thôi! Nhưng về nhà đã. Là vầy: Giống như bắt ve sầu hay hay bẫy chim sắc. Lấy nhựa cây sung hay cây mít, đem nhựa bôi lên đầu cây trúc cao chừng “một với”[8] …rồi đem cắm ở chỗ có chuồn chuồn bay…Bay một hơi, chúng thường tìm chỗ đậu nghỉ cánh. Chuồn chuồn thích đậu trên cao để nhìn tám hướng…Đậu vào…đầu trúc có thoa nhựa cây…là dính bẫy. Hạ cây trúc xuống là bắt…Biết cho con nít chơi sao không? Lấy sợi chỉ buộc vào chân chuồn chuồn. Lúc nắm sợi chỉ, chuồn chuồn bay vòng tròn rất vui. Tụi nhóc thích thú như chơi bong bóng bay. Nhưng bắt kiểu nầy, chân chuồn chuồn dính nhựa, sau dính thêm đất nên chơi không được lâu. Không bằng thò tay bắt nó.

-Nghe nói mình cho con chuồn chuồn cắn rún, khắc mình biết bơi... biết có đúng không?

-Làm sao tin được! Nó cắn đau lắm! Trò lừa dụ con nít xưa rồi! Đâu phải là phép mầu của chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa! Có tập bơi, khắc biết bơi, có học võ nghệ, khắc biết nghề. Có nghề, hễ ai ỷ mạnh, ăn hiếp, đánh mình…thì mình dư sức dùng “miếng trả miếng với nó”. Bộ không nhớ Cô đã giảng cho mình ở bài Đức Dục, Tự lực tự cường sao?

-Ờ hén! Hãy luôn cảnh giác với Giặc Phương Bắc. Lúc nào chúng cũng lăm le xâm chiếm nước mình qua cái bản chất tham tàn, điêu trá …ẩn sâu trong đầu óc quỷ quyệt của chúng. Từ đời Nhà Đinh, Nhà Trần…Ông cha ta lúc nào cũng đã nhắc nhở sâu và di huấn cho hậu sinh.

a/-Thời Đinh Tiên Hoàng (968 -980), có câu:

“Bắc môn tỏa thược”[9]

                 

 

Cổng vào đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế còn ghi chữ “Bắc môn tỏa thược” 北門

 b/-Di chúc của Vua Trần Nhân Tông[10] (1279 – 1293). Lập ra hơn 700 năm trước, đã từng cảnh giác cho muôn đời sau:

“Nếu chúng (Giặc Tàu) không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ (Tàu khựa) gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.

Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

“Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.

-Bạn thuộc bài và tiếp thu lời giảng của cô mình y boong! Cô còn liên giảng gì nữa, nhớ không?

-Đó là hai câu ca dao lịch sử răn đời:  Hãy xem cái hèn mạt, phản quốc: “Nước loạn, không cứu; theo giặc, cầu vinh” như Trần Ích Tắc”.

“Cỏng rắn về cắn gà nhà”, như Vua Lê Chiêu Thống, chết lưu vong nhục nhã ở tuổi 28. Đời cha ông anh hùng mà con cháu chẳng ra gì…Ô nhục muôn đời:

“Trăm năm bia đá thì mòn,

Nghìn năm bia miệng hãy còn …trơ trơ”.

-Tui “ghét cay, ghét đắng…ghét vào tận tâm”…những bè lũ bù nhìn, phản dân, hại nước, “theo giặc, cầu vinh”.

…..

Buồn cười, nhớ có lần, Cô Thu dạy thêu “mũi xương cá” trong giờ nữ công. Thoa và tôi, vừa may xong áo bà ba trắng mới, chúng tôi liền thực hành, tự thêu vào bâu áo, trang trí vạt áo của mình bằng những xương cá màu đỏ, rất dễ thương. Có một bạn nam lớp A nào, để ý, gọi hai chúng tôi là “hai nàng tiên cá”.  Một cái tên rất ngộ nghĩnh, hay hay. Cũng như có một số bạn nam lớp A gọi bộ ba chúng tôi (Thoa, Tám và tôi) là “ Ba người đẹp Mây Tàu”, (Đức Lập). Phương danh đó rất đúng với hai bạn kia, nhưng với tôi thì chưa đúng lắm. Tôi được Thầy và các bạn nói là hiền thục, dễ thương và các bạn đã từng trêu tôi là Ngân Tóc Hoe.

Hồi đó, thú vị nhất là những ngày được nghỉ học để rủ nhau tùy tiện đi chơi… Nhưng vui nhất là nghỉ lễ Tết Âm Lịch khoảng hai tuần, thường có đoàn hát bộ đến hát. Chúng tôi có dịp đi xem những trò vui dân gian chốn quê trong những ngày Tết.

Sáng mùng một, sau khi mừng tuổi Ba Mẹ, tôi dạo quanh chợ Đức Lập để thấy chợ vắng hoe, người ta nghỉ bán để ăn Tết. Bên hông đình làng, rất đông người; những sòng đỏ-đen cho bà con thử thời vận may mắn đầu xuân. Nào là hai ba sòng lúc lắc “bầu cua cá cọp”, một sòng đánh bong vụ, mấy sòng đánh bài cào, bài cách tê, xì phé bài tam cúc. Sôi nổi nhứt là “trường đá gà nòi” cá độ.

Cảnh đá gà ngày nay

            Có lần, Triều, chị Tám, Ngân, Ngọc, Khanh và tôi cùng đi xem “hát bộ”. Rạp dựng trong sân đình làng, người ta trét vách đất cho kín, rất nóng nực mà cũng rất đông khán giả. Hình như người dân rất khao khát món ăn tinh thần nầy. Chúng tôi chưa hiểu nhiều về sự tích tuồng hát và nghệ thuật của “hát bộ” nhưng xem hát rất vui. Khi vãng hát, chúng tôi dạo quanh những hàng quán lèo tèo trước rạp hát. Đó là những lều che tạm bằng cột tre, kèo tre, mái lều là những tấm liếp xắt thuốc lá. Những điểm dưa hấu, với một đống dưa cao, từ Tây Ninh chở về; quầy hàng nước mía, chủ quán ép mía với hai trục lăn nhôm; sạp nước giải khát là bán nhân sâm ,“sưng sáo”, đười ươi, hột é, đá đậu, bánh lọt, sương sa hạt lựu. Hàng nước giải khát đóng chai thì có xá xị con nai, Limonade, nước bạc hà, bia con cọp Larue. Hàng ăn thì có cháo lòng heo, cháo gỏi vịt, bì bún-chả giò, hột vịt lộn, hủ tiếu mì, bánh canh, cơm tấm và có quán nhậu đặc sản bán rượu “ Đà quốc tửu ”[11] ký hiệu NN, có rất nhiều bác nông dân đến uống. 

Cuối cùng, chúng tôi lắc cắc mấy gói đậu phộng rang, mỗi đứa một ly nước mía, ngắm nhìn thiên hạ vui chơi, bàn luận về tuồng hát và giang tay ra về.  

Hãy quay lại với con đường đi học của tôi. Cây cỏ may thường mọc trên gò, trên lề đường đá, trên bờ ruộng, nơi nghĩa địa và bạt ngàn trên các lối mòn dọc theo con đường tôi đi học. Cây cỏ may có sức sống mãnh liệt cũng như các loại cỏ khác nhưng khác nhất là mỗi bụi có một cọng cỏ ngồng cao, ngồng cỏ thân tròn, cao khoảng 1,5 đến 2 gang tay. Trên đọt ngồng cỏ đó, có đính một chùm bông cỏ may, khi còn non màu tím, khi trưởng thành đổi màu trắng. Mỗi bông đều có một cái cuống dài khoảng 2 – 3mm rất dẽo dính vào chùm bông. Khi ấbông khô và già, nó sẵn sàng “may” một cách nhiệt tình vào những ống quần dài nào lướt ngang qua nó. Nếu bông cỏ may “găm” vào quần dài chừng 5-10 bông thì không sao. Nhiều hơn, dày đặc hơn là vô cùng khó chịu vì những cái mũi của nó “găm” tiếp vào ống chân, rất ngứa và xót chân. Cho nên, tôi rất ghét bông cỏ may và luôn luôn đi né tránh những bụi cỏ may trên đường đi học. Vậy mà ngày nào cũng như ngày nấy, tôi thường bị những bông cỏ may “quá giang” trên ống quần tôi, theo mỗi lượt đi về. Có lúc, không còn đủ thì giờ nhổ bỏ từng bông, tôi phải dùng bề sống của con dao mỏng cào nhẹ trên vải quần để loại trừ nó cho nhanh…Tuy vậy, việc gì không tốt gắn với ta lâu dần, nó cũng trở thành thân quen. Tôi xem những bông cỏ may như những người bạn đồng hành bé xíu, duyên dáng, dễ thương, của một thời tiểu học nhiều kỷ niệm trong sáng, vô tư.

Bông cỏ may, bông cỏ may ơi!

Duyên đâu mà dệt bước chân tôi?

Mỗi bông găm một niềm vui nhỏ?

Hay nỗi sầu, vương vấn, cuộc đời?



Chú thích

[1] Trích trích trơ trơ, từ láy, ý nói trơ lỳ mặt ra, chẳng có phản ứng chi hết/ Nguyễn Công Trứ cũng đã viết:” Cũng trơ trơ trích trích không nao” (Con Tạo ganh ghét)/ Trăng thề còn đó tri tri (Hoa Tiên)

[2] hội lạc: Đời Tống, Văn Ngạn Bác mời 12 sĩ phu, có tài, có tuổi dự tiệc rượu sang trọng ở nhà Phù Bật. Tương truyền là Lạc Dương kỳ anh hội, Hội các bậc kỳ anh ở Lạc Dương

 [3] Hai câu thơ chữ Hán: Nhìn núi xanh, ta tự cười đầu ta bạc trắng; Trước cảnh biển xanh (tượng trưng cho cảnh dâu bể khôn lường), ai có biết rằng ta cũng như con chim âu.(Chim âu tượng trưng cho người ẩn dật, không màng đến thế sự thăng trầm).

Phỗng được định nghĩa là tượng người bằng đất, đá, đặt ở đền chùa, miếu mạo, được coi là người đứng hầu nơi thờ tự.( NT )

[4] (Hồi đó, ở lớp nhì và lớp nhất chúng tôi được học Tiếng Pháp, ne pas pouvoir, có nghĩa là không được, không thể. Tarzan là nhân vật chính, giỏi đu giây và leo trèo, trong bộ phim Tarzan, người rừng, mà chúng tôi đã được xem bấy giờ)

 [5] -Cha tôi đi giết người là đi làm đất, giết cỏ: đi cày. Mẹ tôi đi cứu người, là tạo nguồn lương thực cho người. Có lương thực, người ta có cơm ăn mới sống là đi cấy.

 [6]Trích Đi trên mảnh đất này- Huy Cận

  [8] “Một với” là số đo khoảng cách chiều cao của một người và một cánh tay giơ lên; biến thể từ một vói tay.

[9] Bắc môn tỏa thược nghĩa là Cửa Bắc đóng chặt, hiện nay còn ghi ở cổng vào đền thờ của Vua Đinh Tiên Hoàng. Ý nói nước ta phải luôn cảnh giác với cái họa mất nước từ phương Bắc, nên, khóa chặt cửa hay luôn luôn đề cao cảnh giác với chúng. (Xem ảnh)

 [10] Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Vả lại, phải xem đây là mưu của người Trung quốc. Chỉ người Trung quốc mới nghĩ ra các thứ mẹo vặt ấy. Ngoại trừ những điều nhân nghĩa ra, thì các nhà cai trị Trung Hoa không việc gì là họ không làm. Từ những việc kinh thiên động địa đến việc táng tận lương tâm, miễn sao họ có lợi. Cũng nên nhớ, đây còn là quốc sách truyền thống của người Hoa Hạ (Người Trung quốc xưa thường cho dân tộc mình là nòi giống đẹp đẽ nhất hoàn vũ, nên gọi là Hoa Hạ); từ ngày họ mới lập nước tới nay. Các người có nhớ hồi đánh giặc Thát, ta chỉ ngại cái đám mưu sĩ người Tống, đầu hàng nhà Nguyên, lẩn vào trong đó. Cho tới khi trừ được bọn Lý Hằng, Lý Quán rồi ta mới yên tâm đánh bọn Thoát Hoan, Tích Lệ Cơ Ngọc. Bọn người Thát, trước sau gì cũng không nuốt nổi Trung Hoa. 

Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.

                Trước đây, trên mạng chia sẻ cho mọi người, nói rằng đây là di chúc của Vua Trần Nhân Tông. Thực ra, đoạn văn trên chính là lời nói của Vua Trần Nhân Tông, trích từ chương 14, tiểu thuyết “Huyền Trân công chúa” của nhà văn Hoàng Quốc Hải. (Ngân Triều ghi chú).

[11]“ Đà quốc tửu” NN: là rượu đế Đức Hòa, Long An, Nước Nếp, được dân Lưu Linh đối ẩm một thời. Gọi vui là vậy


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét