Phần 3: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Ngân Triều, (tiếp theo)
|
*** Nguyễn Dư |
|
Sở dĩ dám gọi
đùa là "dở ông dở thằng" là bởi vì không phải lúc nào và ở đâu người
ta cũng gọi bù nhìn và phỗng là thằng. Thỉnh thoảng hai "thằng" này
cũng được gọi thân mật, kính trọng là bác là ông. Thằng Bù Nhìn Quyền trọng ra uy trấn cõi bờ Lê Thánh Tông Bài
thơ này được đặt tên là Thằng bù nhìn, không rõ tác giả
là ai. Người thì cho là của vua Lê Thánh Tông, người khác lại cho là của Hồ
Xuân Hương, người khác nữa lại kết luận rằng bài thơ này là của người đời sau
làm (Hoàng Xuân Hãn, tập 3, Giáo Dục, 1998). Còn một thằng bù nhìn khác, gốc gác tương đối chắc
chắn hơn, nằm trong Hồng Đức quốc
âm thi tập (Văn Học, 1982) . Bài thơ mang tên Cảo nhân, nội dung gần giống bài
thơ chép bên trên. Chỉ có thằng bù nhìn thứ ba mới đích danh là thằng
bù nhìn, được chính Tản Đà (1889-1939) đặt tên: Lơ láo kìa ai đứng cạnh bờ Cả
ba bài thơ đều tả thằng bù nhìn đứng ngoài cánh đồng, đuổi chim. Xem
vậy thì nhân vật bù nhìn đã có mặt tại nước ta ít ra cũng hơn năm thế kỉ rồi.
Chúng ta lại được biết thêm rằng người xưa, đời Hồng Đức (1470-1497 , gọi thằng
bù nhìn là Cảo nhân ( nghĩa là người
làm bằng cành cây khô, hay bằng rơm rạ ) . Ngày
nay dường như chẳng còn ai nhắc đến tên Cảo nhân nữa. Mọi người, từ thành thị
đến thôn quê, chỉ biết có thằng bù nhìn thôi. Biết mặt nhưng chưa chắc đã biết
tên. Đúng hơn là không biết cái tên bù nhìn kia từ đâu đến nhập cư về thôn
quê Việt Nam? Mời các bạn cùng chúng tôi thử đi tìm quê quán của thằng bù
nhìn. Trong
bộ sưu tập tranh dân gian của Oger có tấm Dũng hình, 俑 形 Nguyễn Mạnh Hùng Ký
họa Việt Nam đầu thế kỷ 20, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh,1990) dịch là
Bù nhìn. Tưởng là nắm
được lí lịch của đương sự, nhưng xét kỹ thì thấy có điều đáng ngờ. Trước
hết là ý nghĩa của tên tranh. Chữ dũng 俑 (hoặc dõng) được
Thiều Chửu (1942) và Đào Duy Anh (1932) dịch là: - tượng gỗ - cái tượng gỗ, tục xưa dùng để chôn theo người
chết Ngoài chữ dũng, tiếng Hán còn có từ quỷ lỗi (cũng
đọc là - tượng gỗ (Thiều Chửu). Như vậy thì, theo Thiều Chửu và Đào Duy
Anh, dịch Dũng hình là cái tượng gỗ. Tượng gỗ muốn giới thiệu ai? Tấm tranh vẽ một cô gái tươi cười, đầu đội nón ba
tầm, khoác tấm áo tơi bằng lá gồi còn lành lặn. (xem hình trên). Cô gái thật
là xa lạ đối với thằng bù nhìn đầu đội nón mê, áo quần tả tơi, đứng giữa trời
phất cờ đuổi chim của nông dân. Cô không thể là một "chị bù nhìn" như Nguyễn Mạnh Hùng đã ngộ nhận! Tượng
gỗ cũng không phải là hình nhân (con nộm) của tín ngưỡng dân gian, bởi vì
hình nhân không được làm bằng gỗ. Hình nhân luôn luôn được đan bằng tre, phất
giấy, để khi đốt dễ cháy, thành tro. Vả lại, người ta không chôn chân hình
nhân xuống đất, hoặc dầm dưới nước, như trong tranh vẽ. Tôi
cho rằng tượng gỗ này là một con rối
của sân khấu múa rối nước, thủ vai một chị chăn vịt, được nghệ nhân trang điểm
đẹp đẽ, điều khiển di động trên mặt nước. Bây
giờ xin bàn đến nguồn gốc hai chữ bù
nhìn. -Thằng bù nhìn bắt đầu có mặt trong ngôn ngữ Việt
Nam từ lúc nào? -Khó trả lời chính xác. Một
điều chắc chắn là hai tiếng bù nhìn đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam trễ nhất
cũng là từ năm 1926, năm bài thơ Thằng bù nhìn được đăng trong sách Văn
Đàn Bảo Giám (Mặc Lâm, Saigon, 1968) của Trần Trung Viên.
Cũng vào thời kì này, năm 1928, Nguyễn Văn Ngọc soạn sách Tục
ngữ Phong dao (Sống Mới,
Hoa Kỳ, 1978), đã sưu tầm được thành ngữ bù nhìn giữ dưa.
Thành ngữ này nằm chung với nhiều câu tục ngữ phong dao cổ xưa của Việt Nam,
khiến nhiều người nghĩ rằng bù nhìn cũng đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam từ
lâu rồi? -Rất có thể là như vậy. Nhưng bên cạnh những câu tục ngữ phong dao cổ,
Nguyễn Văn Ngọc còn sưu tầm cả những thành ngữ mới có của thời đó như thày
cung, thày cò. Từ cò của miền Nam và từ cẩm của miền Bắc đã đến từ chữ commissaire của tiếng Pháp. Trong
mục câu đố, Nguyễn Văn Ngọc đưa ra câu: Để im thì nằm
thin thít Hễ động liếm
đít, là chạy tứ tung và giải là cái tem dán thư (timbre).
Rõ ràng là Nguyễn Văn Ngọc đã sưu tầm cả những câu mới có từ khi người Pháp đến
cai trị nước ta, trong đó biết đâu lại chả có câu bù nhìn giữ dưa? Đại
Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) cũng đã chép rải
rác một vài tiếng mới đến từ tiếng Pháp như: - cúp (tóc): hớt tóc, cắt tóc. - cái cúp: cái chén có quai. Chúng
ta có thể nói rằng ngay từ cuối thế kỷ 19, một số tiếng Pháp đã được Việt hóa
và đã đi vào ngôn ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, Huỳnh Tịnh Của vẫn chưa biết đến thằng
bù nhìn. Do
đó, dựa vào mốc thời gian của hai bộ sách tôi đoán rằng hai tiếng bù nhìn có
mặt trong ngôn ngữ Việt Nam vào khoảng giữa năm 1895 và năm 1926. Tự
điển Việt-Hoa-Pháp của Gustave Hue (Trung Hòa,1937) có từ bù
nhìn và được dịch sang tiếng Pháp là mannequin pour effrayer les
animaux (hình nộm dùng để dọa súc vật) .Định nghĩa này gần giống
định nghĩa của từ épouvantail trong từ điển Larousse: mannequin mis dans les champs, les
jardins, pour effrayer les oiseaux (hình nộm đặt ngoài cánh đồng,
ngoài vườn, để dọa chim) . Sự trùng hợp của hai định nghĩa khiến tôi nghĩ rằng
tên bù nhìn của ta đã được đến từ chữ épouvantail của Pháp. Chữ bù là
âm Việt của pou (cũng như poupée được
Đào Duy Anh ghi là bu bê). Chữ nhìn có thể được hiểu là động
tác nhìn, canh giữ của thằng bù nhìn, nhưng cũng có thể chỉ là biến âm của chữ nhân nghĩa là người. Gần đây, Hoàng Văn
Hành (Từ láy trong tiếng Việt, KHXH, 1985) đã thử xếp hai chữ bù nhìn vào
loại từ kép, từ láy của tiếng Việt. Nhưng khi đi tìm hiểu ý nghĩa của từ, tác
giả phải thừa nhận rằng "các
từ, kiểu như bâng quơ, bù nhìn là
những từ mà người bản ngữ hoàn toàn không còn có thể nhận hiểu được nghĩa của
từng yếu tố tạo thành. Hơn thế nữa, người ta cũng không thể căn cứ được vào bất
kỳ đặc điểm nào về hình thái hay về ngữ âm để giải thích nghĩa của từ cả.
Quan hệ âm-nghĩa ở các từ này rõ ràng là quan hệ võ đoán, quan hệ không có lý
do.". -Phải
chăng chỉ vì thằng bù nhìn của ta vừa lai Pháp, vừa có họ hàng bên Tàu, nên
quê quán của nó mới mù mờ, tên của nó mới khó hiểu, vô lí như vậy? Ngày
nay, bù nhìn và con rối thường được dùng với nghĩa bóng để chỉ một loại nhân vật chính trị. Người Trung quốc
và Đại Hàn gọi thằng bù nhìn đuổi chim của họ là đạo thảo nhân (người
làm bằng rơm rạ) , nghĩa cũng giống như cảo nhân. Thằng phỗng,
ông phỗng Có lẽ Nguyễn Khuyến (1835-1909) là người để ý đến
nhân vật phỗng nhiều nhất. Ông là tác giả của hai bài thơ được nhiều người biết: Tượng
sành trên non bộ Ông
đứng làm chi đấy hỡi ông *** Người đâu tên họ là gì? *
青 山 自 笑 頭 將 鶴 滄 海 誰 知 我 亦 鷗 Nguyễn Khuyến Phỗng còn là tượng
dân gian bằng đất, bằng sành hay bằng sứ, cỡ nhỏ, dáng to béo, sắc diện lạc
quan, để bày chơi trong các gia đình. Tuỳ theo tượng nặn một người lớn hay một
trẻ con và tuỳ theo tượng được đặt ở nơi thờ tự hay làm đồ chơi mà dân gian gọi
là ông phỗng hay thằng phỗng. -Tên phỗng từ đâu ra? Căn cứ vào hai kia vẽ thằng phỗng đội nến (lạp),
chúng ta thử đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên. - Chữ phỗng (ông phỗng) được viết bằng chữ bổng và
dấu nháy, một kí hiệu để chỉ rằng đây là chữ nôm. Bổng nghĩa là bổng lộc, tiền lương của
quan lại. Nghĩa này không thích hợp với nhân vật phỗng của tấm tranh. Vì vậy, phải hiểu rằng chữ nôm phỗng ở đây không
phải là được viết với chữ bổng, mà đã được viết bằng bộ nhân và chữ phụng (nhân+phụng=bổng).
Bộ nhân chỉ người. Phụng nghĩa là hầu hạ, vâng lời, dâng biếu. Nghĩa này
thích hợp với nhân vật phỗng, một kẻ đứng hầu nơi thờ tự, giữ việc đội hoặc
bưng nến, còn gọi là dâng nến. - Chữ phỗng trong tranh thằng phỗng đội nến viết
hơi khác chữ phỗng của tranh ông
phỗng. Người viết chữ nôm dùng bộ nguyệt làm kí hiệu
thay cho dấu nháy, phần còn lại thì giống nhau (bộ nhân và chữ phụng) . - Bảng tra chữ nôm (khoa Học
Xã Hội, Hà Nội, 1976) viết chữ phỗng bằng chữ phỏng nghĩa
là bắt chước, phỏng theo. Nghĩa này cũng có vẻ xa lạ đối với thằng phỗng của
dân gian Việt Nam. Ngôn ngữ Việt Nam còn có thêm hai chữ phỗng khác: - phỗng
tay trên: lấy hớt của người khác. - phỗng:
gọi ăn trong một ván bài tổ tôm, tài bàn, một con bài thứ ba của bất cứ người
nào khi trong tay mình có hai con như thế. Xét theo nghĩa thì hai chữ phỗng này có thể đến từ
chữ phủng, nghĩa là bưng, dâng, biếu. - thành ngữ ngồi im như phỗng và đứng
im như phỗng đực, có nghĩa là ngồi và đứng không động đậy, giống
pho tượng đồ chơi của trẻ con, hoặc giống ông phỗng nơi thờ tự. 1- Ông phỗng đá thứ nhất của Nguyễn Khuyến đứng trơ trơ, “đêm ngày coi sóc cho ai đó”, chắc phải là ông phỗng đứng bưng nến hay đội nến ở chùa chiền, đền miếu. 2- Ông phỗng đá thứ nhì dang tay ngửa mặt lên trời, có vẻ lạc quan, thiếu trang nghiêm, hẳn phải là ông phỗng đồ chơi. Chữ phỗng không có trong tự vị của Huỳnh Tịnh Của. Có thể đây cũng là một chữ mới có từ đầu thế kỉ 20. Theo Nguyễn Dư 13/4/2000. *** |
|
|
Nhớ có bận, các bạn và tôi đi vào
trong rừng Miểu Lục Viên, gần nhà ngoại tôi để hái gùi. Cái miểu chỉ là một cái
chòi tranh nhỏ, vách bằng phên tre, tiền diện để trống. Trên một cái bàn gỗ cũ
đơn sơ có một tấm bài vị với mấy chữ Nho sơn son thiếp vàng đã phai màu, một lư
hương ở giữa, hai bên bài vị đặt một cái chò để chưng trái cây và một bình hoa
bằng sành. Miểu Lục Viên là nơi thờ phượng người có công đức với làng xóm, quê
hương.
-Dây
gùi là vầy sao?!
Một bạn nào chợt cất tiếng. Dây nó
to bằng bắp chuối, sần sùi, cong queo. Nó bám vào một cây cám hay cây gì to
cao, nhìn lên trật ót. Chúng tôi ngồi lên những dây gùi nằm sõng soài dưới gốc
cây nghỉ chân. Có bạn rắn mắt cưỡi ngựa, đánh đu, đong đưa như ngồi trên võng.
Có một bạn nào dạn dĩ ôm bám dây gùi leo lên rất cao để hái mấy trái gùi chín
vàng trên đọt cây. Dây gùi cứ lắt la lắt lẻo…Trái gùi còn xa lắc tầm tay. Những
trái gùi dễ hái, người ta đã hái hết, chỉ còn sót lại mấy trái thách thức trên cao. Sợ rủi ro, Chị Tám
ra lệnh:
-“Xuống đi, Tarzan ơi! “Ne pas pouvoir” rồi! Xuống đi, đi hái mây!”.[4]
Thế là không hái được một trái gùi
nào cả, loại trái cây rừng mà chúng tôi háo hức muốn ăn cho biết vị. Vòng vo,
lùng sục một lúc quanh mấy bụi mây rừng tua tủa gai, chúng tôi chỉ còn hái được
hai quài mây rắc chín và một rổ quài mây rắc còn xanh.
Theo hướng nhà ngoại tôi gần đó,
chúng tôi rảo bước đi, một hơi là đến. Gặp Ngoại, các bạn lễ phép, khoanh tay,
cúi đầu: “Thưa Bà Ngoại”. Riêng tôi đứng
ra giới thiệu bạn bè với Bà. Ngoại tôi mặc một chiếc áo túi trắng, tóc bạc phơ,
mắt đã lòa, nhưng tai còn tỏ và hãy còn sõi lắm. Bà vỗ nhẹ lên đầu các bạn với
giọng cười hiền lành và giục tôi bắt gà làm cơm, nhưng cả bọn thưa rằng đã ăn
trưa rồi, chỉ muốn ăn mây cho vui thôi.
Nhanh như tép nhảy, Chị Tám lẹ làng
suốt những trái mây ra một cái rổ long mốt, xối nước, rửa cho hết bụi bám vỏ, đâm
giập “mây xanh”, để nguyên vỏ, trộn nước mắm, một ít đường, một ống bột ngọt, một
ít tiêu và ớt bột cay cay…Trộn đều, thế là xong! Chị và mấy đứa con gái chúng
tôi trịnh trọng đặt giữa bàn tròn một thau tráng men đầy trái mây xanh đã chế
biến và một chồng chén dĩa, muỗng, đũa.
-Mại
dzô! Mại dzô! Các bạn ơi! Ngon lắm!
-Mây xanh nóng hỗi, vừa thổi vừa ăn nè!
-Ăn
mây…là ngậm, là nuốt mây, cưỡi mây như Tôn Tẫn, Bàng Quyên…
-Như
đằng vân, đứng trên đám mây, mây bay vùn vụt hén!
-Xí!
Làm sao bay được…Dụ con nít, xưa rồi!
-Ha…ha…
-Mây nào cũng mây mà!
-Khác
nhau là cái chắc. Mây trời có hái, có ăn được đâu!...
-Đố
các bạn, vật gì mà “chặt không đứt, bứt
không rời, phơi không khô, chụm không cháy?”
-Khó
à nghen!
-Là
tên bạn Thu Thủy, là nước đúng
không?
-Chắc
là tên của bạn Triều, nước thủy triều
đó!
-Hay
là tên của 2 bạn Vân, Vân Đặng, Vân
Trương, vân là mây, mà mây cũng từ hơi nước mà ra thôi…
-Phải
tên bạn Ngọc, bạn Thoa (Khanh)…đâu
ai dám đem đồ trang sức quí giá của mình mà chặt, mà phơi…
-Có
lẽ là tên của bạn Thu Hương, Xuân Lan…Hương
không nắm được, Lan đâu dám nâng mạnh tay…
-Vậy
là tên các bạn Xuân, Sĩ, Sửu, Hầu, Lợi,
Nhơn, Đức, Nhuần (Văn), Minh Tân, Nhính, Lý (Ba), Chạng, Cuống, Thu (Yếu) Chị
Tám và Ngọc Chân, em út của Kim Ngân… tên có nghĩa riêng, bứt chữ rời ra
thì không thể được…
-À,
vậy, cũng như tên Lê Kim Quynh, Nguyễn
Thị Nhiên, tên hai lớp trưởng, của tụi mình, chắc là phải gắn ví nhau suốt
đời, làm sao bứt rời ra được…
-Ờ
hén! Cũng như tên của 2 bạn Ngân nè,
Ngân Võ và Ngân Nguyễn, âm thanh làm sao lấy được mà chặt, mà phơi…
- Ờ!
Hay quá! Hay quá! Đủ một số tên các bạn hay chơi chung với nhóm bọn mình …Tên một
số các bạn ở hai lớp nhứt A,B…Câu đố nầy rất có ý nghĩa…
-Vậy
là nhóm mình có nghĩa “Chặt không đứt, bứt
không rời, phơi không khô, chụm không cháy” nhen!
-Hi
vọng là như vậy đi! Ha…ha…
-Kha
…kha…
…..
-Còn
tui đố các bạn nhen. “Cha tôi đi giết
người. Mẹ tôi đi cứu người”[5],
có nghĩa là gì nè!
-Ghê
quá!
-Cứu
người thì có, chứ giết người …Ai mà dám làm chuyện ác?
-Giết
người là hung tàn, “hại nhân, nhân hại”, sẽ bị ở tù, xử tử.
-Không
phải vậy đâu! Hiểu theo nghĩa hàm ẩn, chứ
đâu phải nghĩa tường minh.
-Để
coi… Giết người là hại người, độc ác.
Cứu người là ngược lại…
-
“Xuất gì” đi chớ!
-Xuất
công việc nhà nông.
…
-À!
Có phải làm đất, trồng trọt không?
-Ráng
suy nghĩ thêm đi. Gần đến “đáp số” rồi.
-Vậy
là, đi cày và đi cấy.
-Chính
xác!
-Cha
tôi đi giết người là đi làm đất, giết
cỏ: đi cày. Mẹ tôi đi cứu người, là tạo nguồn lương thực cho
người. Có lương thực, người ta có cơm ăn mới sống là đi cấy.
-Très
bien! Très bien! (Giỏi lắm!)
-Ha
ha…
Ghi chú:
[*] TheoTruyện Vũ
Công Duệ, Nam Hải Dị Nhân, Phan Kế Bính:
VŨ CÔNG DUỆ
Công Duệ người làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh
Sơn Tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi làm ruộng vắng nhà, Công Duệ chơi với một bọn
trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bươm bướm làm hai tai, cắm con đĩa
làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra con voi đất mà vẫy được tai, vòi co
lên quắp xuống và chân đi được, ai trông thấy cũng cho là tinh quái.
Một
khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:
- Bố mày đâu?
Đáp lại:
- Bố tôi đi giết người.
- Mẹ mày đâu?
- Mẹ tôi đi cứu người.
Người
đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi thì
nói rằng:
- Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ
cho mà biết.
Người
kia mới dỗ bảo rằng:
- Mày cứ nói cho thật đi, tao sẽ tha
nợ cho nhà mày không đòi nữa.
Công Duệ sẵn cầm một cục đất dẽo, bảo người kia in tay vào đấy để làm tin.
Người kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao. Công Duệ mới nói rằng:
- Cha tôi đi nhổ mạ mà mẹ tôi thì đi cấy.
[Nhổ mạ thì phải nhổ đôi ba ngày trước
khi cấy, công cấy thì phải nhổ mạ, một buổi mạ là (300-400 bó mạ, tùy theo
hương ước địa phương). Thiết tưởng đi
cày và đi cấy sẽ hợp lý hơn:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” Chú giải
NT].
Người
kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước
ra, và nói rằng:
- Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?
Người kia đứng ngẩn
mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công Duệ cho đi học,
và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua sách.
Công
Duệ học thông minh lắm, nội các sách vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm
Hồng Đức thứ 23 đời vua Thánh Tôn nhà Lê, Công Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng
nguyên khoa ấy.
Lúc làm quan, tính
khí cương trực, vua cất lên làm Đô ngự sử, các quan ai cũng kính sợ.
Đến
khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình thần nhiều người a dua về Mạc Đăng Dung, ai
không nghe phải giết. Đăng Dung sai người dụ Công Duệ theo về làm quan với
mình, Công Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch thần;
nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự sử đâm đầu
xuống cửa bể Thần Phù mà chết.
Cách
60 năm sau đó, nhà Lê Trung Hưng, khôi phục được kinh thành Thăng Long, sai đúc
ấn Ngự sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn, mới sai người lặn xuống cửa bể
Thần Phù tìm quả ấn ngày xưa. Khi người lặn xuống đến nơi thì thấy Công Duệ vẫn
còn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn ở dưới đáy bể ,
uy nghi như thuở sinh thời.
Người
ấy sợ hãi, lên tâu chuyện với vua Trang Tôn. Vua lấy làm lạ, cho là thần khí
trung với nước của Công Duệ đã khiến cho ông đã hóa thần, mới sai quan làm lễ
khấn bái, rồi sai người đem xác Công Duệ lên, dùng lễ trọng, khâm liệm, bỏ vào
áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình Xá an táng, truy phong làm Thượng đẳng
phúc thần.
Theo Wikipedia
…..
-Đố bạn nào giải
được:
“Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra giòng liu điu”.
-Là theo nòi giống.
Ai tài giỏi, bao dung… thì con cháu tài giỏi, bao dung... Ai hèn hạ, độc ác,
ngu ngốc… thì con cháu hèn hạ, độc ác, ngu ngốc…
-Theo truyền thuyết
và lịch sử, dân tộc mình là con rồng cháu tiên, khí phách anh hùng, có lòng
nhân nghĩa. Chẳng hạn, Giặc Minh vô cùng tàn ác, thế mà khi chiến thắng vẻ vang
bọn chúng, Ta chẳng những không trả thù, chẳng những tha mạng không giết hại mà
còn cấp lương thực, ngựa xe, thuyền bè…để chúng về nước, đoàn tụ người thân… Chúng
cứ nghĩ Ta giả vờ như vậy nhưng trên đường về… hạ thủ độc thủ như bản chất của chúng
(suy bụng ta, ra bụng người)… cho nên tán đỡm kinh tâm, thất kinh hồn vía, đâu
biết, đó là tinh thần đại nghĩa, chí nhân của dân tộc ta.
-À!
Tui nhớ rồi, Cô đã giảng như vậy và đọc cho lớp mình nghe mấy câu trong bài
Bình Ngô Đại cáo. Vầy nè:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn.
Lấy chí nhân mà thay cường bạo…
*
“Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà tim đập chân run…
*
-Dân tộc
mình thật là bản lĩnh…
-Đoàn
kết, yêu nước, có lòng trắc ẩn…
-Các nhà viết lịch
sử đã sử dụng rất nhiều… rất nhiều từ ngữ và hình ảnh hoa mỹ để ca ngợi bản sắc
Việt Nam…
-À! Có
phải rắn liu điu có nọc độc, có đuôi thật dài, ám chỉ sự thâm độc và cái đuôi
chệt của giặc phương Bắc, “ba tàu”?
-Rõ
như ban ngày, ai mà chẳng biết!
-Dân
mình thì có lòng quảng đại như rồng, bay tận chín tầng mây. Bọn giặc ở phương Bắc
thâm độc, như là loài bò sát dưới đất, rắn liu điu, chui rúc ở những nơi dơ bẩn,
hôi thối…
-Chưa
hết đâu, Cô mình nói, khi đô hộ nước mình, bọn giặc Minh rất là độc ác, thối
tha… bài Bình Ngô Đại Cáo còn rành rành ra đó:
Độc ác thay! Trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay! Nước Đông Hải khôn rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha!
Ai bảo thần dân chịu được.
-Phải
chăng dân ta kêu nó là “Tàu khựa” hay
“Chệt khựa”; “Đồ dơ dáy, hôi tanh, tỡm lợm”?
-Chắc
là… có thể là… đúng vậy!
-Thầy
mình đã giảng, bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, xưa nay chúng nó đều có âm
mưu thôn tính nước ta nhưng dân Việt mình rất bản lĩnh, rất yêu nước, rất anh
hùng… trẻ già, nữ giới, thiếu nhi một lòng hi sinh, quật khởi đấu tranh nên Tổ
quốc Việt Nam mình mới trường tồn, mới không bị đồng hóa, không thể nào mất gốc…
-Thật
vô cùng tự hào Tổ quốc Việt Nam nước ta!
-Tổ
tiên mình…muôn năm!
-Ha
ha…
[Ngân Triều bổ
sung: Mãi sau nầy tôi mới đọc được mấy câu thơ hào sảng về Tổ quốc Việt
Nam, cũng không nhớ tên bài thơ và hoàn cảnh sáng tác, xin được ghi lại để tham
khảo:
Sống
vững chãi bốn nghìn năm sừng sững,[6]
Lưng
đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.
Trong
và thực sáng hai bờ suy tưởng,
Sống
hiên ngang mà nhân ái, chan hòa.
Huy Cận.
Tứ
thơ như tổng kết lịch sử đấu tranh oai hùng, bản sắc, tâm hồn Việt Nam và khẳng
định nước ta, một đất nước “sừng sững” . trường tồn vĩnh cửu, sánh vai cùng các
nước quốc tế trong năm châu, bốn biển; một dân tộc hiên ngang, bất khuất, nhân
ái, bao dung]
Liu điu lại nở ra giòng liu điu.
Vừa ăn vừa tán gẫu. Bầu không khí tở
mở, đầy tiếng nói cười rôm rã, quên luôn lời khen lịch sự cho món “mây xanh”.
Song, tôi không thể nào quên cái hương vị đậm đà của nó hơi chát chát, ngọt ngọt,
mặn mặn, ăn trệu trạo, nhai nhai nhè nhẹ luôn cả hột, khi nuốt vào, cảm nhận
cái dư vị ngọt ngọt của nó, đọng lại nơi thực quản, ngon ơi là ngon. Tuổi mới lớn, ăn gì cũng ngon…Nhất là bữa ăn đơn
sơ lồng trong một bầu không khí vui tươi, rộn rã tiếng cười giòn tan không dứt…
Nhớ có lần, chúng tôi rủ nhau đi nhổ
nấm tràm ở vạt tràm cháy của Nội tôi tận ấp Đức Ngãi (Làng Đức Lập, Đức Hòa, Chợ
Lớn). Rất hên! Chúng tôi đi hái nấm đúng mùa. (Tức là vào thời điểm sau những cơn mưa chập chũm của tháng ba âm lịch,
nắng nóng có sao, đồng ruộng khô cằn. Trên
những đám ruộng, chỉ còn trơ gốc rạ ngả nghiêng, trên những bước đi trên con đường
cỏ may cát trắng, gió làm tung bụi mịt mù). Gió chướng buổi chiều xa đưa, sau
những chiếc xe bò trên đường đất, cuồn cuộn những vầng bụi cát trắng, bay thấp
thoáng qua những dãy ruộng và tan biến sau lũy tre xanh.
Khi đến nơi đã định, chúng tôi tỏa
ra, lùng sục nấm tràm với nhãn quang của
Tề Thiên Đại Thánh(!), đôi mắt sáng cứ chăm chăm chú mục vào những gốc
tràm. Cuối cùng, chúng tôi thu hoạch được rất nhiều nấm tràm, đựng đầy trong những
chiếc nón lá và các nón bàng con trai. Mỗi lần gặp một ổ nấm tràm, tiếng reo mừng
tở mở, vang rân…
Đến nhà, dồn đi dồn lại, “chiến lợi phẩm” nấm tràm rất nhiều, đầy
5 chiếc nón lá và một số nón bàng. Để riêng ra một số nấm làm quà đem về
gia đình, còn lại, lặt gốc, bỏ đất dơ, ngâm rửa với nước muối… Rồi chúng tôi lấy
cái nồi to nhất của Nội, thường dùng nấu cơm cho công cấy ăn, hoặc sử dụng
riêng cho ngày giỗ, nấu được khoảng nửa nồi cháo nấm tràm, thơm ngon hết ý, “khao
quân”. Nấm đen đen, trắng trắng, búp búp; có gạo rang thơm; có đậu xanh hòa
quyện; có mấy con cá lóc cựu còn sót lại trong cái ao sâu của nhà, nay đà cạn
nước; mấy bạn nam quậy nước đùng đùng rồi thò hang bắt được; tóm thêm ba con ếch
bự nằm “mà” dưới đống “rơm nhao” trên bờ ao; có “bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”; có
đường, có bột ngọt, có muối, có gừng…
(Chị
Tám rất thạo việc nấu ăn, đứng bếp. Chắc là chị thường đi phụ đám tiệc ở quê nên
mới có những chiêu làm bếp tuyệt vời như thế. Sau nầy có gia đình riêng, chắc
là thế nào chị cũng một “nội tướng” đảm đang. Mà thật vậy, tôi thấy ở chị có những
phẩm hạnh tốt của người phụ nữ nông thôn như: xinh đẹp, vui vẻ, mến khách, chu
đáo, ngăn nắp, quán xuyến, tháo vát, tài ba…)
Chẳng mấy chốc, mùi cháo nấm tràm
thơm ngon lan tỏa khắp nhà, nghe cồn cào trong bụng. Sau khi múc ra để dành phần
cho Nội, Chị Tám với khuôn mặt ửng hồng, do đứng bên bếp lửa, khả ái, tươi cười,
đon đả:
-Ăn đi các bạn, cháo nhiều lắm, nấm tràm
mát lắm, học bài mau thuộc!
Thế là một nồi cháo to, một thoáng
hết sạch. Bữa ăn còn gắn với những chuyện vu vơ, trêu ghẹo lẫn nhau, những câu
chuyện têu tếu, vô thưởng vô phạt…và những tràng cười hồn nhiên, hể hả.
Chị Tám rất dễ thương qua nụ cười
và giọng nói hiền lành. Chị quả là một “đầu đàn” của bọn tôi thuở ấy.
Nhà tôi ở, ngay ngã tư Đức Lập, còn
gọi là Ngã Tư Mây Tàu, thuộc ấp Mây Tàu, giáp ranh với Rẫy Ông Ầm.[7]
Mỗi ngày tôi thường đi bộ theo đường
tắt để đến trường Tiểu Học Bào Trai. Bộ ba “tam sênh” của chúng tôi
gồm chị Tám, Thoa và tôi luôn
luôn đi chung với nhau. Có bạn hỏi chúng tôi đi học bằng phương tiện gì,
tôi cười đáp vui là đi bằng xe “lô ca chưn”. (Mặc dù bấy giờ còn có xe thổ mộ,
lộ trình Đức Lập- Bào Trai, khách lên đầy xe thì xe lóc cóc khởi hành. Dân
chúng và học sinh đi xe đạp, rất hiếm thấy).
Mỗi sáng, Khanh và tôi đi từ Đức Lập
đến nhà chị Tám (Gò Cao) đường đá lởm chởm, hơn 1km. Rồi ba đứa chúng tôi tiếp
tục đi khoảng 1km đường đá đó (TL 8) mới đến đường tắt. Con đường nầy thực ra
là một “lối mòn”, do nhiều người đã từng đi qua mà thành. Hai bên lối mòn ấy giăng
đầy bông cỏ may, men theo rừng chồi của bờ suối Bào Trai, dọc theo vuông rào lớn
của ông Bộ Tao, đi qua một vạt đất trồng đậu phộng, băng qua một mương nước cập
lộ 10, qua cống suối Bào Trai là đến trường, độ chừng 1,5 km.
Đi bộ tổng cộng 3,5 km.
Có lần tôi thử tính đường đi học của mình:
-Đường đi học và về mỗi ngày 2 lượt: 3,5km x
2 =7km.
-Đường đi học và về trong 1 tuần, 6 buổi
là :7km X 6 = 42km.
-Đường đi học và về trong 1 năm, 32 tuần
là: 42km X 32= 1.344km.
*Đáp số: Trong một năm học,
một nữ sinh tên Võ Kim Ngân đi được 1.344km.
Thật
là một kỷ lục khá lớn! Đường đi học trong một năm của tôi dài xấp xỉ bằng đường
dài từ Sài Gòn đến Hà Nội, mặc dù, bấy giờ tôi chỉ biết Sài Gòn, Hà Nội, và cả
cố đô Huế, qua quyển sách Địa Dư, do cô mua, phát ra vào dịp đầu năm học. Bộ ba
chúng tôi đi bộ như vậy chẳng nhằm nhò gì, vì hãy còn gần, khi so với phần lớn
các bạn ở vùng trên: Tân Mỹ, Gò Sao, Rừng Muỗi, La Cua … Đường xa gấp
đôi, gấp ba lần đường đi của chúng tôi, mà vẫn… lon ton… ôm cặp cuốc bộ.
Đường xa thì mặc đường xa… chúng
tôi cũng có những trò vui nhỏ trên đường đi học về. Thú vị nhất là ngắm và bắt
những côn trùng bay quanh bờ suối. Dễ phát hiện nhất là mấy chú ong bầu. Lưng
nó màu vàng nghệ, bụng màu đen. Khi bay, nó kêu o… o…rầm rì.
Ong bầu hút mật
-Kìa!
Nó đang chui vào hoa cắt lồi hút mật! Để tui bắt, đem về cho nó hát bội nghe
chơi!
- Nó
chích đau lắm đó!
-Để
tui bắt cho coi! Nè! Biết cách bắt thì dễ ợt hè!
Chị Tám chuẩn bị cái khăn tay (mouchoir),
khi ong bầu chui vào đài hoa ngang của hoa cắt lồi hút mật, chị lấy khăn túm lại
như làm một cái túi tròn, đặt sẵn ở bên ngoài. Khi hút mật xong, ong chui nhanh
ra khỏi hoa, là nó rơi ngay vào cái túi khăn ấy. Chị liền lẹ làng túm khăn lại.
Thế là được một chú ong bầu trong chiếc khăn tay.
(Ngày nay trẻ em
thường dùng túi nilon đề bắt ong bầu).
Rồi hai chú, ba chú…Chỉ cần một con
cũng đủ. Nhiều ong hơn thì hát bội vui hơn, con nầy hát mệt thì con khác
thay...Có khi hai ba con cùng hát một lúc, trẻ em rất ưa thích…
-Nhưng
làm sao cho nó “hát bội” hả chị?
-Đem về đựng mỗi con trong một cái ve chai nhỏ, hay chai nước ngọt rỗng,
nhớ làm lỗ thở cho nó. Muốn cho nó
hát thì lấy cọng bàng làm que chọc vào nó là nó khắc hát o…o…ò…ò…ọ…ọ….như hát bội
rất vui tai. “Tiếng hát” của nó rất đơn điệu, lâu dần sẽ nhàm chán và gây buồn
ngủ.
-Vậy
à! Cũng hay! Thôi thả nó ra đi chị! Tội nghiệp quá! Mất nó, gia đình nó chắc là
buồn lắm! Nó có cha mẹ, anh em, chắc là
nó cũng giống như con người!
-Tui
biểu diễn bắt ong bầu chơi thôi, chớ ở nhà, tìm một cái ve chai không, đâu phải
là chuyện dễ. Cho em bé chơi thôi…chớ mình mà chơi gì nữa! Thỉnh thoảng tui cũng
có bắt chuồn chuồn trâu cho tụi nó hoài…
“Thi
hành nghị quyết”,
chị liền mở khăn ra, tức thì mấy con ong bầu tung cánh bay vút cao lên và bay
xa tít. Chúng tôi cứ nhìn theo vòng bay của chúng nó. Ô! Tự do! Có gì vui sướng
bằng tự do. Chắc là chúng nó rất vui thích, bay vút một mạch, lượn tít lên cao,
rồi khuất dạng trong khóm cây um tùm xa xa.
-Ha ha…Tụi mình vừa thể hiện một
niềm vui cho gia đình con ong bầu, phóng thích “tù binh”, cũng như ngày rằm,
người ta mua chim, mua cá đến Chùa cúng dường, phóng sinh…
- Chắc
là gia đình nó làm tổ ở hướng đó. Mà bắt chuồn chuồn chắc là khó lắm?
Chuồn chuồn trâu xanh
-Dễ ợt
thôi! Nhưng về nhà đã. Là vầy: Giống như bắt ve sầu hay hay bẫy chim sắc. Lấy
nhựa cây sung hay cây mít, đem nhựa bôi lên đầu cây trúc cao chừng “một với”[8]
…rồi đem cắm ở chỗ có chuồn chuồn bay…Bay một hơi, chúng thường tìm chỗ đậu nghỉ
cánh. Chuồn chuồn thích đậu trên cao để nhìn tám hướng…Đậu vào…đầu trúc có thoa
nhựa cây…là dính bẫy. Hạ cây trúc xuống là bắt…Biết cho con nít chơi sao không?
Lấy sợi chỉ buộc vào chân chuồn chuồn. Lúc nắm sợi chỉ, chuồn chuồn bay vòng
tròn rất vui. Tụi nhóc thích thú như chơi bong bóng bay. Nhưng bắt kiểu nầy,
chân chuồn chuồn dính nhựa, sau dính thêm đất nên chơi không được lâu. Không bằng
thò tay bắt nó.
-Nghe
nói mình cho con chuồn chuồn cắn rún, khắc mình biết bơi... biết có đúng không?
-Làm
sao tin được! Nó cắn đau lắm! Trò lừa dụ con nít xưa rồi! Đâu phải là phép mầu
của chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa! Có tập bơi, khắc biết bơi, có học võ nghệ,
khắc biết nghề. Có nghề, hễ ai ỷ mạnh, ăn hiếp, đánh mình…thì mình dư sức dùng
“miếng trả miếng với nó”. Bộ không nhớ Cô đã giảng cho mình ở bài Đức Dục, Tự lực
tự cường sao?
-Ờ
hén! Hãy luôn cảnh giác với Giặc Phương Bắc. Lúc nào chúng cũng lăm le xâm chiếm
nước mình qua cái bản chất tham tàn, điêu trá …ẩn sâu trong đầu óc quỷ quyệt của
chúng. Từ đời Nhà Đinh, Nhà Trần…Ông cha ta lúc nào cũng đã nhắc nhở sâu và di
huấn cho hậu sinh.
a/-Thời Đinh Tiên Hoàng (968 -980), có câu:
“Bắc
môn tỏa thược”[9]
北 門 鎖 鑰
Cổng vào đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế còn ghi chữ “Bắc môn tỏa thược” 北門 鎖 鑰
b/-Di
chúc của Vua Trần Nhân Tông[10]
(1279 – 1293). Lập ra hơn 700 năm trước, đã từng cảnh giác cho muôn đời sau:
“Nếu chúng (Giặc Tàu) không thôn tính được ta thì gậm
nhấm ta. Họ (Tàu khựa) gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của
ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.
Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
“Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt
vào tay kẻ khác”.
-Bạn thuộc bài và
tiếp thu lời giảng của cô mình y boong! Cô còn liên giảng gì nữa, nhớ không?
-Đó là hai câu ca
dao lịch sử răn đời: Hãy xem cái hèn mạt,
phản quốc: “Nước loạn, không cứu; theo giặc, cầu vinh” như Trần Ích Tắc”.
“Cỏng rắn về cắn
gà nhà”, như Vua Lê Chiêu Thống, chết lưu vong nhục nhã ở tuổi 28. Đời cha ông
anh hùng mà con cháu chẳng ra gì…Ô nhục muôn đời:
“Trăm năm bia đá
thì mòn,
Nghìn năm bia miệng hãy còn …trơ trơ”.
-Tui
“ghét cay, ghét đắng…ghét vào tận tâm”…những bè lũ bù nhìn, phản dân, hại nước,
“theo giặc, cầu vinh”.
…..
Buồn cười, nhớ có lần, Cô
Thu dạy thêu “mũi xương cá” trong giờ nữ công. Thoa và tôi, vừa
may xong áo bà ba trắng mới, chúng tôi liền thực hành, tự thêu vào bâu áo,
trang trí vạt áo của mình bằng những xương cá màu đỏ, rất dễ thương. Có một bạn
nam lớp A nào, để ý, gọi hai chúng tôi là “hai
nàng tiên cá”. Một cái tên rất ngộ nghĩnh, hay hay. Cũng như có một số
bạn nam lớp A gọi bộ ba chúng tôi (Thoa, Tám và tôi) là “ Ba người đẹp Mây
Tàu”, (Đức Lập). Phương danh đó rất đúng với hai bạn kia, nhưng với
tôi thì chưa đúng lắm. Tôi được Thầy và các bạn nói là hiền thục, dễ thương và
các bạn đã từng trêu tôi là Ngân Tóc Hoe.
Hồi đó, thú vị nhất là những ngày
được nghỉ học để rủ nhau tùy tiện đi chơi… Nhưng vui nhất là nghỉ lễ Tết Âm Lịch
khoảng hai tuần, thường có đoàn hát bộ đến hát. Chúng tôi có dịp đi xem những
trò vui dân gian chốn quê trong những ngày Tết.
Sáng mùng một, sau khi mừng tuổi Ba
Mẹ, tôi dạo quanh chợ Đức Lập để thấy chợ vắng hoe, người ta nghỉ bán để ăn Tết.
Bên hông đình làng, rất đông người; những sòng đỏ-đen cho bà con thử thời vận
may mắn đầu xuân. Nào là hai ba sòng lúc lắc “bầu cua cá cọp”, một sòng
đánh bong vụ, mấy sòng đánh bài cào, bài cách tê, xì phé và bài tam cúc. Sôi nổi nhứt là “trường
đá gà nòi” cá độ.
Cảnh đá gà ngày nay
Có lần, Triều, chị Tám, Ngân, Ngọc,
Khanh và tôi cùng đi xem “hát bộ”. Rạp dựng trong sân đình làng, người
ta trét vách đất cho kín, rất nóng nực mà cũng rất đông khán giả. Hình như người
dân rất khao khát món ăn tinh thần nầy. Chúng tôi chưa hiểu nhiều về sự tích tuồng
hát và nghệ thuật của “hát bộ” nhưng xem hát rất vui. Khi vãng hát, chúng tôi dạo
quanh những hàng quán lèo tèo trước rạp hát. Đó là những lều che tạm bằng cột
tre, kèo tre, mái lều là những tấm liếp xắt thuốc lá. Những điểm dưa hấu, với một
đống dưa cao, từ Tây Ninh chở về; quầy hàng nước mía, chủ quán ép mía với hai
trục lăn nhôm; sạp nước giải khát là bán nhân sâm ,“sưng sáo”, đười ươi, hột é,
đá đậu, bánh lọt, sương sa hạt lựu. Hàng nước giải khát đóng chai thì có xá xị
con nai, Limonade, nước bạc hà, bia con cọp Larue. Hàng ăn thì có cháo lòng
heo, cháo gỏi vịt, bì bún-chả giò, hột vịt lộn, hủ tiếu mì, bánh canh, cơm tấm
và có quán nhậu đặc sản bán rượu “ Đà quốc tửu ”[11]
ký hiệu NN, có rất nhiều bác nông dân đến uống.
Cuối cùng, chúng tôi lắc cắc mấy gói đậu phộng rang, mỗi
đứa một ly nước mía, ngắm nhìn thiên hạ vui chơi, bàn luận về tuồng hát và giang
tay ra về.
Hãy quay lại với con đường đi học của
tôi. Cây cỏ may thường mọc trên gò, trên lề đường đá, trên bờ ruộng, nơi
nghĩa địa và bạt ngàn trên các lối mòn dọc theo con đường tôi đi học. Cây
cỏ may có sức sống mãnh liệt cũng như các loại cỏ khác nhưng khác nhất là mỗi bụi
có một cọng cỏ ngồng cao, ngồng cỏ thân tròn, cao khoảng 1,5 đến 2 gang tay.
Trên đọt ngồng cỏ đó, có đính một chùm bông
cỏ may, khi còn non màu tím, khi trưởng thành đổi màu trắng. Mỗi bông đều
có một cái cuống dài khoảng 2 – 3mm rất dẽo dính vào chùm bông. Khi ấbông khô
và già, nó sẵn sàng “may” một cách
nhiệt tình vào những ống quần dài nào lướt ngang qua nó. Nếu bông cỏ may “găm” vào quần dài chừng 5-10 bông thì
không sao. Nhiều hơn, dày đặc hơn là vô cùng khó chịu vì những cái mũi của nó “găm” tiếp vào ống chân, rất ngứa và xót
chân. Cho nên, tôi rất ghét bông cỏ may và luôn luôn đi né tránh những bụi
cỏ may trên đường đi học. Vậy mà ngày nào cũng như ngày nấy, tôi thường bị những
bông cỏ may “quá giang” trên ống quần tôi, theo mỗi lượt đi về. Có lúc,
không còn đủ thì giờ nhổ bỏ từng bông, tôi phải dùng bề sống của con dao mỏng
cào nhẹ trên vải quần để loại trừ nó cho nhanh…Tuy vậy, việc gì không tốt gắn với
ta lâu dần, nó cũng trở thành thân quen. Tôi xem những bông cỏ may như những người bạn đồng hành bé xíu, duyên dáng, dễ
thương, của một thời tiểu học nhiều kỷ niệm trong sáng, vô tư.
Bông
cỏ may, bông cỏ may ơi!
Duyên
đâu mà dệt bước chân tôi?
Mỗi
bông găm một niềm vui nhỏ?
Hay
nỗi sầu, vương vấn, cuộc đời?
Chú thích
[1] Trích
trích trơ trơ, từ láy, ý nói trơ
lỳ mặt ra, chẳng có phản ứng chi hết/ Nguyễn Công Trứ cũng đã viết:” Cũng trơ
trơ trích trích không nao” (Con Tạo ganh ghét)/ Trăng thề còn đó tri tri (Hoa
Tiên)
[2] hội lạc: Đời Tống, Văn Ngạn Bác mời 12 sĩ phu,
có tài, có tuổi dự tiệc rượu sang trọng ở nhà Phù Bật. Tương truyền là Lạc
Dương kỳ anh hội, Hội các bậc kỳ anh ở Lạc Dương
Phỗng được định nghĩa là tượng người bằng đất,
đá, đặt ở đền chùa, miếu mạo, được coi là người đứng hầu nơi thờ tự.( NT )
[4] (Hồi đó,
ở lớp nhì và lớp nhất chúng tôi được học Tiếng Pháp, ne pas pouvoir, có nghĩa là không
được, không thể. Tarzan là nhân vật chính, giỏi đu giây và leo trèo, trong bộ
phim Tarzan, người rừng, mà chúng tôi đã được xem bấy giờ)
[9] Bắc
môn tỏa thược nghĩa là Cửa Bắc
đóng chặt, hiện nay còn ghi ở cổng vào đền thờ của Vua Đinh Tiên Hoàng. Ý nói
nước ta phải luôn cảnh giác với cái họa mất nước từ phương Bắc, nên, khóa chặt
cửa hay luôn luôn đề cao cảnh giác với chúng. (Xem ảnh)
Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.
Trước đây, trên mạng chia sẻ cho mọi người, nói rằng
đây là di chúc của Vua Trần Nhân Tông. Thực ra, đoạn văn trên chính là lời nói
của Vua Trần Nhân Tông, trích từ chương 14, tiểu thuyết “Huyền Trân công
chúa” của nhà văn Hoàng Quốc Hải. (Ngân
Triều ghi chú).
[11]“
Đà quốc tửu” NN: là rượu đế Đức Hòa, Long An, Nước Nếp, được dân Lưu
Linh đối ẩm một thời. Gọi vui là vậy









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét