Phần 2, Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều (tiếp theo)
Boâng
coû may (Bông Cỏ May)
Võ Kim Ngân & Ngân Triều
Tôi đã trải qua một tuổi thơ hồn
nhiên rất đẹp với nhiều kỷ niệm của thuở học trò trường Tiểu học Bào Trai Hậu
Nghĩa (Ngày xưa, Trường Tiểu học Bào Trai[1],
viết chữ o như thế nầy). Đó là năm học 1954 – 1955 và 1955 –1956, lúc ở tuổi
choai choai 13, 14, 15. Hồi đó, mỗi tuần lễ học sinh miền quê phải đi học 6
ngày. Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu là học nguyên ngày, còn những ngày còn
lại, học một buổi. Những ngày học hai buổi, học sinh ở xa như chúng tôi phải giở
theo cơm đựng trong một cái“mo cơm” làm bằng bẹ tàu cau, ăn trưa,
ngay lớp học của mình, hoặc rủ nhau ăn chung từng nhóm, nơi hành lang, lớp học,
hoặc dưới gốc cây điệp to ở hai bên cổng trường.
Sau bữa cơm trưa lúc tan học sáng
10h30, chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống đám rừng chồi của con Suối Bào
Trai[2]
(Hậu Nghĩa) để vui chơi. Chúng tôi
thường tản ra thành nhiều nhóm thân quen để cùng chơi chung những trò chơi
nhỏ, lùng sục, các lùm bụi, học ôn bài…vì buổi chiều vào học lúc 2giờ.
Có nhóm đi hái những trái dại, tìm
kiếm những loại trái cây rừng mà có thể học sinh bây giờ, khó lòng biết được.
Chẳng hạn như trái nhãn lồng, trái nhãn chài có vị mát miệng; trái bời lời,
trái cò ke làm đạn bắn ống thụt bằng trúc, đạn
nổ lốp bốp vui tai, chia phe bắn vào nhau rất hồi họp. Trái nhăn chín màu đỏ
như cái nanh heo rừng; lủng lẳng trên những dây leo mảnh mai; ngọt ngọt. Trái
kim cang từng chùm đính trên một dây gai, lá to bằng bàn tay, ăn lờ lợ, nhớt nhớt.
Trái chùm gởi từng ổ, trên những cành cây trăm cao, nhỏ như trái cùm nụm ăn vui
miệng. Trái mây rắc (mây rừng) ăn chát chát; trái chùm mòi, trái dấm chua chua.
Trái mua có 5 cánh hồng, khi chín mở thân ra làm hai với năm múi tím đen ngọt
ngọt thường có nhiều kiến hôi. Trái đu đủ rừng (trái đ.. chó), trái và lá có nhiều lông tơ trị ho, chát chát, ăn
không khéo, mắc nghẹn. Trái táo rừng chua ngọt khắp nơi trên những nhánh nhỏ nằm
ngang, đầy gai nhọn và nhiều nhất là trái cà na trong mùa mưa, cà na đắng, cà
na chua, trái nù mới ngon và trái trăm đen sẫm khi chín, trăm móc, trăm sắn;
mùa trăm chín rộ là sau Tết Nguyên Đán. Những trái to thì có những trái Bình Bát,
chín vàng trên những cành cây khó trèo, tàng cây de ra hai bên bờ suối. Những
trái Dứa Gai thơm lừng lựng nhưng không ăn được vì rất ngứa miệng. Những trái Ồi
rừng, Ổi lộn kiếp, cơm mỏng hạt nhiều, chẳng đứa nào muốn hái ăn và những trái
điều[3],
điều nếp màu vàng và điều đỏ trông rất đẹp mắt.
Nhóm con gái chúng tôi thường bẻ những
hoa dại xinh xinh. Hoa Dù Cồn đầu có một núm tròn nâu trên một cọng ngồng cao,
điểm những cánh hoa vàng nhỏ xíu, mọc bạt ngàn trong các vũng nước. Hoa Cây Nổ
màu xanh biếc, cánh hoa mỏng manh, trái từng chùm như chân gà con; khi thả chùm
trái khô vào nước, trái nở ra và phát ra những tiếng nổ lách tách như tiếng
pháo chuột. Hoa Bí Bái màu trắng thơm thơm đặc trưng. Hoa Cắt Lồi thân thẳng
như một cái roi mây. Trên đầu roi có một búp hoa tròn màu đỏ kết một chùm trái
bằng nắm tay, nở hoa trắng liên tục, hết hoa nầy đến hoa khác, thường có mấy
chú ong bầu chui vào hút mật. Hoa Dây Chiều màu xanh tím, gắn trên một thân dây
leo có một lớp lông tơ cứng. Hoa Cúc Rừng nho nhỏ như đôi hoa tai, màu cam lấm
tấm thơm thơm. Hoa trắng tím của dây Chùm Bao (Lạc Tiên) rất dễ thương; những
trái chín tròn màu vàng trong một cái bao lưới trắng, ăn chua chua ngọt ngọt.
Bông và trái cò ke
Ống thụt và đạn bắng trái Cò ke.
Trái và bông Chùm Bao, (Lạc Tiên)
Hoa bìm bìm leo lên những bờ thấp, cười duyên

Hoa Mua với 5 cánh
hồng, với chùm sợi nhị vàng,
Hoa Lẹo nhiều bông nhỏ kết thành một
chùm to màu đỏ, màu đỏ của miền quê may mắn, thanh bình…
Có mấy bạn thường rút những tàu lá
Dứa gai để thắt những chiếc chong chóng dứa, những trái banh dứa để đánh đũa,
đôi dép dứa, chiếc đồng hồ đeo tay bằng dứa, cả những sợi dây nịch dứa và chiếc
kèn bằng dứa nữa.
Cũng có bạn đi tìm những tổ Ong Lá,
mang về làm mồi đi câu cá rô. Bạn bắt tổ Ong Lá rất tài. Chỉ cần một mảnh giấy
xếp dọc, rón rén đặt giấy phía dưới tổ ong, châm lửa đốt. Khói lửa bốc cao, bầy
ong bảo vệ tổ sợ lửa bay xa, còn trơ tổ không là bạn thò tay bắt lấy (ha ha... chiều mai mình sẽ câu được một đục
cá rô đấy!) Hoặc có bạn cao hứng bứt những dây Bòng Bong và những sợi tơ hồng
để kết làm chiếc mão đội làm tướng, huơ tay múa chân, vuốt râu, lắc nghiêng cái
đầu mới học được trong tuồng hát bội của đoàn Sơn Đông mải võ lưu động đi bán
thuốc quảng cáo:
-Ải ải…Ta là Tiết
Đinh San cầu Phàn Lê Huê[4]
đây!
-Xin hỏi Tiết Đinh
San, cầu Phàn Lê Huê ở đâu vậy?
-Thì ở Cầu Phàn Lê
Huê, chớ ở đâu!
-Cầu Phàn Lê Huê
chắc là một cái cầu có trồng nhiều cây “lê”.
-Chắc là ở miền
“quê” rất xa…
-Bậy nào! Chắc là ở
tiệm tạp hóa “Mai Huê” gần trường mình đó mà…
-Ừa hén! Cái cầu thì
phải có suối, có sông. Tiết Đinh San ở cầu nào, ở đâu cũng được mà…
-Hát tiếp đi! Đinh San ơi!
-Ải ải…
Có nhóm bạn đằm thắm hơn, rủ nhau
leo lên cây trăm học bài, nhìn các bạn
khác chơi, nhìn trời, nhìn đất, tán chuyện vu vơ rất vui:
-Ước gì mình có
cánh như tiên, bay lên trời cao chắc là vui lắm!
-Bạn có cánh, tụi
nầy không cánh. Bay một mình, đâu vui! Tui ước cái cây trâm nầy hoá thành cây
đa, tụi mình bay lên trời như Chú Cuội…Cây nó chở mình bay chầm chậm, nghiêng
qua nghiêng lại…bay lên mặt trăng luôn…đêm đêm nhìn xuống thế gian …
-Ý! Không được
đâu! Lên trên ấy, làm sao mà về… nhớ
nhà, nhớ cha mẹ, bà con…và nhớ đứa em mình nữa…
-Chắc là mình mượn
cái thang của Chú Cuội và Chị Hằng leo xuống, về nhà, đi học mà…
-Thôi đi bạn! Tui
không chịu đi đâu! Biết sao không! Nếu tụi mình leo xuống, về nhà thì trần gian
sẽ bị biến đổi hết. Chuyện Từ Thức lên Tiên mới có một năm mà khi về trần thì ở
trần gian đã trải qua mấy trăm năm lận…Coi chừng, tụi mình cũng như vậy à
nghen!
-Còn tui thì tui
muốn có con ngựa sắt, chiếc roi sắt…như Phù Đổng Thiên Vương[5]…đi
đánh giặc Ân xâm lược, cứu nước, cứu dân…[6]
-Hay đó! Cô mình kể,
Thánh Gióng đã lên ba tuổi, cứ nằm chờ sứ giả, không thèm nói năng gì hết. Giặc
Ân xâm lược nước mình, tiếng nói đầu tiên
trong đời của ông là “tiếng nói yêu nước, thương dân”, tiếng nói xin đi đánh giặc
cứu nước…
-Giặc
phương Bắc điêu trá, hung tàn. Muôn đời, lúc nào lũ nó cũng lăm le thôn tính nước
mình. Nước mình tuy nhỏ hơn chúng nhưng vua biết nghe theo ý dân, biết trọng
nhân tài, dân mình đoàn kết một lòng… nên một khi chúng nhào vô nước mình kiếm
ăn, vơ vét thì đều bị đánh tan tành, thê thảm…
-Như
Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, chặt đầu Thái Tử Hoàng
Thao. Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên, chiến thắng Bạch Đằng; Thoát
Hoan cùng đường, sợ chết vì cung tên tẩm độc nhà Trần, phải chui vào ống đồng
cho tàn quân kéo chạy về nước.
-Năm
1789, Hoàng Đế Quang Trung đánh tan giặc nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị hồn xiêu, phách
lạc; đại bác nước Nam sao đặt được trên lưng voi (?); quân nước Nam từ dưới đất
xông lên, hay trên trời bay xuống; đến nỗi thân hắn không kịp mặc áo giáp, lưng ngựa không kịp thắng
yên, không kịp đem theo ấn tín…
-Kinh
hồn bạt vía, quân giặc khiếp đảm, giẫm đạp lên nhau, cố chạy thoát thân, chạy cong
đuôi như chó, hoảng loạn quang quác như gà…, thây phơi thành núi, máu chảy
thành sông…
-Các
bạn thuộc bài giảng của cô mình khá đấy! Đố bạn nào còn nhớ cô mình giảng một
câu đối của sứ nước ta, hạ nhục Vua Tàu Nhà Minh không?
-Ờ ờ…Tui
chỉ nhớ vua Tàu nhà Minh muốn sỉ nhục nước Nam trước các chư hầu, mới ra câu đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục[7]
Sứ nước mình[8]
khảng khái liền “chơi lại” ngay:
"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng[9]
-Hóa
ra “gậy ông đập lưng ông” nhục nhã trước chư hầu, mới hạ lệnh giết sứ nước mình
đó.
-Quả
là anh hùng tử, khí hùng nào tử! Cao cả như Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma[10]
nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.
(Trước
thời điểm đó khoảng 300 năm, trong bài Bạch Đằng Giang
phú 白 藤 江 賦, Ông Trương Hán Siêu [?-1354] cũng đã hạ bút hai câu ngời ngời
thiên cổ…
至 今 江 流
Chí kim giang lưu,
Chung bất tuyết sỉ.
Đến nay sông nước tuy
chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa
nổi.
-Bạn con thầy
giáo, nói hay quá, chắc là…chắc là sau nầy sẽ “hổ phụ sanh hổ tử”! “Con thầy
giáo, sẽ làm thầy giáo”.
-Còn bạn thì không
phải là con thầy giáo chắc? “Cái mộng ngành y, nhân đạo cứu người”, có giấu được
ai…
-Ha ha…
…..
Khi hơi chán thì ngồi xúm xít dưới
những tán cây cao hay những đám cây mặt cật, nói chuyện gẫu rù rì. Thời gian
như ngừng đọng, lặng im. Thỉnh thoảng có tiếng cất lên, gọi tên nhau ơi ới và
nhiều lúc nói cười vang rân.
Dòng suối Bào Trai hiền hòa, không
sâu, nhiều chỗ nước ngang đến bụng, có thể lội băng qua được. Tôi rất sợ lội
qua suối vì suối có rất nhiều đỉa. Muốn biết có đỉa không thì lấy cây khoắn xuống
nước, rồi chờ xem. Đỉa mén lội phăng phăng ngang dọc hàng chục con; mấy con đỉa
trâu, dài hơn gang tay, màu đen, có sọc vàng hai bên lưng, túa ra tìm mồi.
Trông nó vẫy đuôi dợn sóng mà ớn lạnh xương sống …
Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc tắm suối. Đứa thì biểu diễn “thả
ngữa”, đứa thì “lội ếch”, đứa thì “lội chó”, đứa thì “lội đứng, lội sải, lội
đập”, rồi bất chợt chia phe té nước vào nhau, nước văng tung tóe. Chơi
chán, từng đứa leo lên bờ, co giò, bịt mũi, nhảy ùm xuống nước, lặn đua... Tiếng
la hét hòa lẫn với tiếng cười sằng sặc, in ỏi, bất kể câu nói cảnh giác của ai
đó:
- Mấy đứa! Coi chừng
đỉa chun lỗ tai !
Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc (!) tắm suối
Đến đây, tôi chợt nhớ đến một chuyện
kể, cảnh giác về đỉa mà tôi được nghe hồi đó. Và câu chuyện này, chính là lý do
làm cho tôi sợ đỉa.[11]
Ghê quá! Biết nhóm nữ chúng
tôi sợ đỉa, còn có một vài bạn “rắn mắt” bắt đỉa để nhát hoặc bắt đỉa
“lộn thinh”[12]
trong cành cây nhỏ rồi vừa quăng đỉa về phía chúng tôi vừa la to “Đỉa đó”! Không biết phản ứng như thế nào, chúng tôi
hét lên “Oái”, rồi xanh mặt chạy thật
xa, không dám ngoái lại và để nghe phía sau lưng, một tràng cười dài đắc thắng.
Như vậy
đó!
Những buổi đi chơi giữa giờ buổi
chiều thường nhiều màu sắc như vậy đó!
Những cuộc đi chơi rất vui, giúp
chúng tôi gần gũi, thân thiết nhau. Chúng tôi không sợ trễ giờ vì có trống trường “kêu gọi” bằng một hồi dài và 3 tiếng
báo hiệu trước chừng 5 phút. Chỉ cần chạy một mạch là về kịp lúc sắp hàng vào lớp.
Thường thì chúng tôi thả lần về trước, nhưng cũng có vài lần, đang mải mê vui
chơi, bỗng nghe trống điểm, phải ù té, hào hễn chạy về trường, quăng bỏ hết dọc
đường những “chiến lợi phẩm” của mình đã làm ra hoặc kiếm được, mệt muốn
đứt hơi, mà vui.
Những ngày học một buổi, nghỉ buổi
chiều, chị Tám rủ chúng tôi đi vào nhà một số bạn bè trong xóm chơi; thường
thì chúng tôi kéo về nhà chị ở xóm Gò Cao, khoảng giữa hai làng Đức Lập – Tân
Phú Thượng. Chúng tôi ham vui và hiếu kỳ, nên đi ngay, sau khi xin phép
gia đình. Nhóm chúng tôi; trai có, gái có, ở chợ có, ở xóm khác có; thường
khoảng hơn chục bạn, cùng đi theo chị.
Có lúc đi ăn xoài chua, chấm mắm đường
tán; đường tán được gọt bằng một cái lưỡi hái; tham ăn xót ruột. Có lần, rủ
nhau đi ăn trái trăm, trăm sắn hoặc trăm móc để rồi môi và lưỡi đứa nào đứa
nấy đều tím đen. Có khi đi ăn điều chín, điều đỏ, điều vàng ngọt ngọt, chát
chát để rồi sau đó, chị gom góp hạt điều cũ, nướng mẻ hạt điều, xịt khói cháy
đen, rồi đập vỏ lấy ruột ăn, béo lạ. Có dạo cùng đi hái trái cà na, trái nù mới
chua ngon, ăn với mắm ruốc, chát chát, chua chua rất ngon. Số cà na còn lại, chừng
một rổ, cả nhóm ăn chán rồi, chị Tám và chúng tôi lấy dao khía dọc thân trái mấy
đường, đem ngâm muối với cam thảo, khi đi học chị lại đem theo vào lớp để “nhấm
nháp” trong giờ chơi, vui miệng. Hái cà na, vui nhất là cảnh, một bạn trai, làm
người hùng, “leo cây hái trái”. Can đảm lắm! Nhưng khi bạn leo lên cây thì cành
động. Cành động thì lũ kiến vàng túa ra tấn công. Kiến vàng tấn công cắn bạn đỏ
ở tay chân, ở cổ, cả mặt mũi… Lũ kiến đặc nghẹt, “mãnh tướng nan địch bầy kiến vàng”! Bạn phải lật đật tuột xuống gốc
cây như bay, như nhảy xuống đất, nhăn nhó để các bạn trai khác xúm nhau…phủi kiến.
Và buồn cười nhất là bạn đó phải ba chân bốn cẳng chạy ra chỗ khuất, chắc là có
mấy con Kiến Vàng xung phong cắn
vào…chỗ kín!
Nhớ có lần, để tổ chức bữa trưa, chị
Tám đảm đang, phân công người nào việc nấy rất khoa học.
Nhóm nam đi kiếm rau: rau muống,
rau nhút, rau dừa, nhổ bông súng đỏ và bông súng chỉ, nổi dưới ao nhà; hoặc nhổ
rau chóc, lá hẹ, rau bợ ngoài ruộng nước; hái rau tiêu (rau càng cua) ngoài bờ
tre; kiếm rau dền cơm, dền gai, dền điều, (không hái dền voi) rau đầu rìu quanh
nhà, bẻ đậu rồng, mồng tơi ngoài rào và có khi đào trùng câu cá hay câu ếch
trong ao. Câu ếch thì rất dễ! Mấy bạn đi bắt một con nhái sọc ngoài ruộng, móc
vào lưỡi câu trê, không quên ngắt một đoạn ngồng cỏ mần chầu làm một cọng “lông
hồng”, để lưỡi câu không dính vào bụi cỏ. Bung sợi nhợ hướng vào lùm cỏ ở góc bờ
ao, nhấp nhấp… hễ có ếch là ếch nhảy đến ăn mồi liền. Nó rất tham ăn. Nó đã ăn
mồi! Đừng vội! Chờ một tí cho nó ngậm mồi vào trong cái miệng rộng của nó xong,
giật ngược hướng ngồi của nó hoặc giật bổng là không sẩy con nào cả. Trong khi
đó, có mấy bạn đi móc ếch, hoặc móc cua trong hang cua.
Vào mùa mưa, nước ngập ruộng, mới
vào vụ cày lật, các bạn trai đi nhũi một lát là được một nồi kho: nào là cá
lòng tong, cá trào cửng, cá ròng ròng, cá trê con, nào là cá chạch nhỏ, cá sặc
rằn, cá sặc trắng, cá bãi trầu, nhiều nhất là cá rô binh tích hay cá rô hạt bí
và cua con. Đôi lúc được rất nhiều con bù niễng, con ăn mày, con đòn gánh, con
cà cuống… và cả mấy con đỉa trâu nữa! Bỏ rong rêu, rác rến, chỉ bắt những đối
tượng ngon lành…và chuẩn bị chế biến kho quéo...
Nhớ có lần nghe các anh chị công cấy hò đối
đáp với nhau:
-Hò
ơ ớ…Thương anh em bẹt cẳng ra,
Để
anh đứng giữa…đẩy mà một hơi!
-Hò
ơ ớ…Sỗ sàng, bất nhã…những lời,
Trông
anh thanh tú, coi trời bằng vun!
-Hò
ơ ớ…Câu đố tục, đâu phải khùng,
Giảng thanh không đúng… em “tùng xẽo”[13]
anh!
Hò ơ
ớ…Vậy sao, thì đáp cho nhanh,
Nếu
mà lố bịch ta đành…xa nhau.
-Hò
ơ ớ…Đây nè, anh giải đáp mau,
Anh
đố cái Nhũi…em đâu có ngờ!
Ai
trong sáng, ai lờ mờ?
Cái Nhũi, đi nhũi cá, Google-images
(Giải câu đố tục giảng thanh về cái nhũi:
-Thương anh em bẹt
cẳng ra; là
hai cái gọng nhũi.
Để anh đứng giữa…đẫy
mà một hơi;
là thao tác đi nhũi cá.)
*
Chị Tám và chúng tôi chắt ruột cá lớn,
gỡ bỏ mai cua lớn, đánh vải cá lớn, bẻ cánh bù niễng, cà cuống và ngắt mỏ nó, rửa
sạch, làm đồ kho, ướp muối, ướp nghệ, nước mắm, nửa tán đường, bỏ hành, bỏ
tiêu, một ống bột ngọt, năm bảy trái ớt Xiêm đỏ, kho quéo…thơm ngon hết ý…
Nhóm nữ chúng tôi trổ tài làm nước
chấm tỏi ớt, lấy nước mắm trong một cái “tĩn”, (một loại hũ bằng sứ thô nung, hình quả bóng đá, miệng và đít tóp lại, miệng
tròn, có thể đưa bàn tay vào và miệng có trám lại bằng một cái nắp vũm thường bằng
sứ thô màu đỏ bằng đất
nung, có dung tích chừng 5 lít), hay nước chấm tương hột có trộn đường, có
món mắm chua cá con do chị làm sẵn và nấu canh rau với tôm khô, bột
ngọt hoặc mấy con cá, mấy con ếch câu được trong ao nhà. Nhiều bữa cơm “cây
nhà lá vườn” tại nhà bè bạn hoặc nhà chị, thường đơn sơ đạm bạc; “ba tay chụm lại”,
mỗi bạn một tay; sao mà ngon miệng lạ lùng.
Tĩn nước mắm đang đóng nắp, chờ phân phối
(Google images)
Nhớ có bận, chị Tám, các bạn và
tôi, về quê ngoại tôi ở Lục Viên, mùa mây rắc và gùi. Trên đường đi, có biết
bao tiếng chim ca lúc nhặt, lúc khoan nghe rộn ràng, thanh thản. Nhạc khúc đồng
quê thân thương của những loài chim bay lượn đầy trời, khắp nơi trong các hàng
cây, bụi rậm, trên những con đường mòn, đường mồi,[14]
chúng tôi đi ngang qua…như những âm thanh ngân nga, say đắm của một thời đất nước
thanh bình, trong lịch sử xa xăm.
Kìa, có con chim chiền chiện nào, cứ
khoe tài ca hát. Nó bay vút lên trời thật cao rồi nghiêng cánh cho thân mình
rơi xuống đất từ từ, đồng thời cất lên một liên khúc dài trong trẻo, ríu rít,
nôn nao. (Có đứa bảo đó là chim sơn ca).
Chim Chiền Chiện
Chim Cưởng
Phía bên hàng tre cao nhà ai, chim sáo, chim cưởng bay từng đàn, gọi nhau lảnh lót. Tôi cứ tưởng như mình đang ngậm viên ngọc rắn của Công Dã Tràng nghe xem loài chim nói chuyện thế nào. Tiếng chim hoành hoạch cất tiếng “học… học …học… nhớ nghe bạn…nhớ nghe bạn…” bằng một hơi rất nhanh như tiếng nói của Ông Thiện từ bi, trong khóm dây chùm bao rậm rạp, (học mà chơi…chơi mà học! Học thời như gấm thêu hoa, Có văn, có chất mới ra con người). Tiếng Chim Cu thư thả, giục giã: “cực cứ tu…thì tu”, “cực cứ tu…thì tu” hoặc “tu chửa được…tu chửa được…” như tâm trạng của ai, muốn thoát tục, lánh chốn bụi hồng mà hãy còn tiếc nuối …
-À!
Đố các bạn giải được câu ca dao:
“Ở đời
có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”
-“Ngu”
là rất kém về nhận thức, ứng xử, ngây ngô, dại dột …để có thể bị mắng chửi, bị
nhận lãnh trách nhiệm vô cớ…điều mà bản thân chẳng nên nhập cuộc, dính vào.
-Nói
rõ vì sao ngu đi!
-Vầy
nè: Một là “làm mai mối”, môi giới
cho đôi trai gái nên vợ, nên chồng.
-Đó
là xe duyên tốt phúc. Sao ngu?
-Đành
rằng đó là việc nghĩa, tốt phúc. Nhưng “chén úp trong sống chén còn khua” huống
chi vợ chồng trăm năm, dễ dầu gì gia đạo cứ mãi thăng hoa, mà “không tiếng chì
tiếng bấc”, không to tiếng cãi nhau…
-Và
khi ấy người làm mai mối bị đem ra mắng chửi… là ngu, đúng không?
-Đúng
rồi! Làm mai mối chi mà phải bị chửi, bị mang tiếng là ngu si. Đại để “Tiên tổ
cha đứa nào mối lái kết duyên x…với y… mà sự thể thế nầy”. “Mẹ kiếp cái thằng
cha z đó, chớ ai?”
-Ha
ha…
-Còn
lãnh nợ thì rõ ràng rồi. Tự nhiên đứng ra lãnh nợ cho người thứ ba. Người ta
không trả nổi hay quịt nợ thì bản thân mình phải trả vì người chủ nợ chỉ biết
người vay nợ là mình mà thôi…Vậy là ngu, “thầy pháp ăn, bắt thầy chùa chịu”.
Tình ngay lý gian, phải đem tài sản mình ra gán nợ, mà mình có tiêu xài gì cho
cam, lắm lúc cười ra nước mắt![15]
-Ờ
hén! Còn chuyện đi “gác cu” hay bẫy cu?
-Các
bạn biết đó, người đi bẫy cu, có đồ nghề là một “cái lụp” hai ngăn có ngụy
trang, ngăn trong đặt con cu mồi, ngăn ngoài để mở, có một nút bẫy. Cái lụp được
gắn chặt với một đầu của một cây trúc đá làm sào, dài khoảng 5-6 mét. Đến điểm
gác cu, chỉ cần đưa cái lụp đó lên cành cây hay cành tre cao, đầu sào còn lại,
cắm vào mặt đất cho chắc để cố định cái lụp phòng khi có gió mạnh, cái lụp bị
ngả xuống đất, con chim mồi hoảng sợ, tâm lý không tốt, khó có thể bình thường
được trong mấy buổi (Thế là phải xách lụp về nhà, dang dở cuộc chơi).
Khi
đã đặt xong cái lụp trên cao là yên chí núp ló, ngồi rình, chờ đợi trong một
cái thum (chỗ núp, ngụy trang sơ sài bằng
cành cây gần đó). Việc gác cu bắt đầu có hiệu quả. Đã được huấn luyện, khi ấy,
con cu mồi bắt đầu cất tiếng gáy vang. Đám cu bổi (cu đối tượng đánh bẫy) nghe
tiếng gáy liền bay đến tìm con cu mồi để đánh đuổi. (Đứa nào, ở đâu…mà dám xâm
nhập lãnh địa của ta?!). Nó bay đến chỗ chim mồi, chui vào cửa của cái lụp đó,
hung hăng, xù lông cổ, xòe cánh, giương mỏ tác chiến…nhưng vừa quay qua, quay lại…chân
chạm vào nút bẫy…cửa ngoài của cái lụp liền sập xuống, chú cu bổi quay đão lung
tung, cố tìm đường thoát ra trong vô vọng. Chỉ chờ có thế, người gác cu chạy đến
hiện trường, nhẹ nhàng hạ sào xuống, một tay vừa mở cửa ngăn ngoài của cái lụp
ra, tay kia thò vào tóm con cu bổi ngu dại, cho vào một cái lồng không. Thế là
được một con cu bổi, một cách dễ dàng. Ngăn ngoài cái lụp lại được mở ra, cài
chốt bẫy và được đặt lại vị trí cũ…Người gác cu quay lại “cái thum” (chỗ núp ngụy
trang), chờ đợi, ngồi rình…
-Như
vậy, gác cu, đâu có nghĩa gì…là ngu?
-Ngu
chớ sao không! Này nhé, nông dân mình thường cư trú tại đất nhà, trong một
vuông rào có lũy tre bao bọc, vuông rào nhỏ thì khoảng 30-50 cao, vừa vừa thì
70-80 cao, rộng lớn thì 1-2 mẫu đất, (30 cao là 3.000m2, một mẫu là 10.000m2).
Ngoài khu vực nhà ở, chuồng trâu bò, chuồng gà vịt, chuồng heo…là vườn rau, vườn
cây ăn trái, ao cá…Vườn cây yên ắng, thanh bình, rậm rạp,“đất lành chim đậu”nên
có nhiều loài chim cư trú, làm tổ, cả ngày tiếng hót líu lo… nhất là có nhiều bầy
cu về ở…
Từ sáng
sớm tinh mơ, người chủ gia đình đã ra đồng cày ruộng, đắp bờ, tát nước, rải
phân cho lúa…trẻ em đều đi học trường làng, ở nhà chỉ có người già hoặc vợ nhà
nội trợ…Gác cu thì núp ló, rình rập chim gần hay trong vuông rào nhà người
ta…khiến cho người ta nghi ngờ là phường đạo chích giả bộ gác cu …để sẽ làm một
“ phi vụ” (một đêm ăn trộm…bằng ba năm làm!) như trộm gà, trộm vịt, trộm cá, trộm
những công cụ nhà nông, trộm vặt…mà tệ hại nhất là lợi dụng người chồng bận rộn
công việc đồng áng, không có ở nhà, giả bộ gác cu, vào nhà xin nước uống, hòng
tán tỉnh, ve vản vợ người ta…Cho nên, người chủ gia đình, khi có mất trộm món
gì đều nghi ngờ nhắm ngay đối tượng người gác cu…Như vậu gác cu thiệt thòi cho
danh dự và đạo đức của mình…chưa kể là bị chửi lén huyên thuyên…Bị chửi là
ngu…đúng không?
-Rất
chí lý! Rất hay! Chắc là thầy ở nhà đã giải nghĩa phải hôn?
-Đâu
có, khi hầu rượu cho Ba mình và Thầy Ba láng giềng, mỗi chiều, nghe chuyện “trà
dư tửu hậu”, đàm đạo mà biết đó thôi.
-À!
cái ngu cuối nữa, “cầm chầu là sao?
-Bồ
nói nghe chơi!
-Cầm
chầu là đánh trống khen chê, hay dở về cách trình diễn của diễn viên trên sân
khấu trong một đám hát dân gian như là đoàn hát bộ lưu động đến làng mình hoặc
hát trong các dịp kỳ yên, cúng đình. Người cầm chầu đám hát là một trong 12 hương
chức trong ban hội tề. Ban nầy, nếu không có ai cầm chầu thì cử người có uy
tín, giàu có… sành điệu hát tuồng. Đó là người lèo lái cảm hứng dân gian, phẩm
bình hay dở thay cho công chúng qua tiếng trống. Khi các vai diễn thể hiện câu ca, lời hát, điệu
bộ, pha trò hay… thì người cẩm chầu đánh
trống khen hay, bằng cách hai tay gõ trống, vừa đủ nghe, một hồi trống ngắn
dài trên mặt trống, “tung tung…tung
tung”, như cho điểm khen, nhiều hay ít. Ngược lại là trống chê dở cách trình
diễn chưa đạt hoặc dở tệ bằng một hồi ngắn hoặc dài, trên tang trống, lắc cắc… lắc cắc… để tạo không khí hào hứng và để
các diễn viên điều chỉnh màn trình diễn của mình…
-Mình
chưa hiểu, sao như vậy là ngu.
-Nói
dài dòng là vậy. Ba mình nói, “thiên hạ, trăm người ngàn ý, làm người khó lắm,
vi nhân nan, vi nhân nan...
-Hí
hí…vi mo nan… vi mo nan…làm cái mo cau khó lắm…
-Ha
ha…Ha ha…
-Do
đó, khi người cầm chầu đánh trống khen hoặc chê, thì thế nào cũng có nhiều người
phản bác, bất bình chửi thầm. (Thằng cha già lãng nhách, vô duyên, ngu ngốc…dở
như vậy mà cũng khen! Hoặc người ta diễn hay như vậy…mà lại chê! Như vậy, đó là
bị chửi…là ngu…
-Hiểu
rồi! Trong bốn cái ngu ấy có ba cái ngu bị mắng chửi. Tuy bị chửi nhưng vô hại.
Chuyện qua rồi thì thôi. Còn cái ngu “lãnh nợ” thật là thảm hại! Mất tài sản vì
chuyện tình cảm…thương người, động lòng trắc ẩn nên bị lường gạt…bản thân có
vay đâu…mà có trách nhiệm phải trả nợ?
-Thực
ra, bài ca dao trên, có giá trị đạo đức, cảnh giác, hướng tới một thái độ sống
tốt ở đời. Nhưng phê phán, đánh giá, ứng xử theo “bốn cái ngu” ấy thì phải tùy
việc, tùy hoàn cảnh, tùy người mà áp dụng một cách linh hoạt, hợp lý, hợp tình.
Quyết định không dính vào bốn cái ngu trên…là một điều thái quá; mà sự gì thái
quá thì không tốt.[16]
-Hay quá hén! Sao
chữ “ngu”có nghĩa không hay như thế mà đời nhà Hồ lại đặt quốc hiệu nước mình
là Đại Ngu vậy cà? Hồi đó, dân nước mình “ngu” lắm phải không?
-Đâu phải vậy. Quốc
hiệu “Đại Ngu” có nghĩa “an vui”, “tên một triều vua nước Tàu”. Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, Hồ
Quý Ly đặt quốc hiệu như vậy với hoài bảo xây dựng một nước Đại Việt mới, như
nước Ngu thời Ngu Thuấn, một trong ngũ đế thời thượng cổ, lấy dân làm gốc, hùng
cường, thịnh vượng, an vui. Tiếc thay, vì chế độ nhà Hồ,(1400-1407) không được
lòng dân (vì cướp ngôi nhà Trần) nên sớm bị tiêu vong.
( Đại Ngu 大 虞: an vui, hòa bình, thịnh vượng
khác với ngu 愚 không thông minh).
Vừa đi đường vừa chuyện gẫu cho
quên đường xa. Còn tôi cứ như tiếp tục ngậm ngọc…
Kìa! Có tiếng chim Tu Hú “thuyết
pháp”, hô hào, còn chần chờ chi nữa, mà không đi tu: “tu hú… tu hú…tu hú!...” Nghe lạ tai và buồn là tiếng Chim Mồ Côi
kêu thương không ngớt như lạc đàn, như bơ vơ vang vọng, như nức nở tìm kiếm người
thương trong gia đình: “Ba…má…anh…đâu mất
tiêu rồi!
Ba…má…anh…đâu… mất tiêu rồi...
Chim Tu Hú
Chim Cu Cườm (Cu Đất)
Chim Bói Cá (Chài Chài)
Chim đa đa hót: “Coi chừng giặc…xa xa…”
Lũ Quạ thì khác, lúc nào cũng la
hét, thở than: “họa…hoạ mà…”, “họa…hoạ mà…”, như hãy còn nguyền rủa
cho nỗi nhục nhã đau thương của đất nước trong dĩ vãng 1000 năm đô hộ. Có tiếng
chim quốc kêu: quốc…quốc…quốc…”, khắc
khoải, đau lòng. Tiếng chim đa đa
nghe như tiếng Hồn Quê luôn cảnh giác, nhắc nhở: “Coi chừng giặc…xa xa…”, “Coi
chừng giặc…xa xa… Tham vọng
thôn tính láng giềng truyền kiếp của giặc phương Bắc.[17]
Tiếng chim bìm bịp như bổ sung
cho những câu nói liên tưởng, cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi, như phỉ báng
lũ tàu khựa tham tàn. Bọn cầm quyền mập ú, núc ních đó, dẫu bề ngoài thơn thớt nói cười nhưng trong
huyết quản của chúng, lúc nào, bọn chúng cũng chỉ là một lũ gian trá, thâm độc.
Phải chăng con chim bìm bịp nôn nao giục giã kêu lên, như một hồi trống trận
dài… cho con nước, lúc “con Nước” Sông Vàm Cỏ Đông chuyển dòng từ “nước lớn”
sang “nước ròng” ?!:
“Đồ bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…”
Bìm bịp kêu Nước lớn hỡi ai!
Hiểm sâu, độc hại! Tẩy chay đếch cần.
Chim bìm bịp
Chim chích chòe
Tiếng chim chích chòe cất cao lời
phê phán bằng một tràng dài huyên thuyên lảnh lót như “trăm[18]
tiếng Tây”. Con chim chích nhỏ xíu,
bay bay chớp chớp theo mỗi lượt vỗ cánh lên cao như “nhảy cừu”, cũng hô hào “ghét…ghét…ghét…”,
“bết…bết…bết…”.
Bầy chim se sẻ trên những đọt cây
cau cứ rộn ràng đấu khẩu với nhau: “nè…nè…nè…”,
“thù…thù…thù…”.
Thỉnh thoảng, khi chúng tôi đi ngang qua mấy bụi rậm,
vài con chim mỏ nhác, hay con chim cút nào thấy người sợ hãi, bay vù, làm mấy đứa
yếu vía, giật mình, đánh thót, phì cười…
(Tôi
cứ ngỏn ngoẻn cười thầm một mình, hoang tưởng coi như đang ngậm viên ngọc nghe
tiếng loài vật của Công Dã Tràng, nghe chúng nói lên tâm trạng và cảm nghĩ của
chúng và thả hồn theo những trang sử cảnh giác, quật khởi của bản lĩnh Việt tộc,
qua tiếng chim có ý nghĩa thú vị, bên tai).
…..
Khi lúa phất cờ, trổ đều trên tấm
thảm lúa mênh mông khắp đồng, những bông lúa cong trái me, nhấp nhô theo từng
cơn gió thoảng, trông thật đẹp mắt. Những bông lúa chín vàng như ươm tơ! Hương
đồng ngào ngạt, thơm thơm mùi lúa chín. Sắp đến mùa thu hoạch của nhà nông! Khi
ấy, không biết từ đâu bay vể, từng bầy chim lá rụng, chim sắc, chim áo già,
chim giòng giọc, chim manh manh… khắp những cánh đồng… rậm rật ăn lúa. Mỗi khi
có tiếng ai đó “hù…hù…” một hơi là bầy chim bay lên rần rần…một đàn có thể khoảng
vài trăm con…
(Thế
là có nhừng ông bù nhìn được đem ra trấn giữ khắp nơi trên những cánh đồng. Thường
thì Ông mặc môt chiếc áo đen rách, áo tơi, nón lá. Tay cầm một cái dây trúc
dài… những bầy chim tinh khôn, mới đầu còn e ngại…Sau đó, chúng nó phớt lờ, tỉnh
bơ, chúng nó vẫn sà xuống, xông vào trước mặt Ông bù nhìn canh gác…mà ăn lúa
như đi ăn đám giỗ! Xót ruột, nhà nông phải thay thế hoặc đem vứt đi, để rồi
đích thân ra ruộng, đuổi lũ chim bay đi nơi khác)
Trơ mắt ngó, chim kéo vào đục khoét,
Bù nhìn[19]
kia, sao không kíp quăng đi!
Chú thích:
[1] Bào
Trai: Tôi còn nhớ, đối diện Trường Tiểu Học Bào Trai của chúng
tôi là một cái đồn Tây có tấm bảng La poste de BaoTrai, trên mái ngói của
một dãy nhà sát lộ của đồn Tây, có vẽ chữ BaoTrai bằng sơn trắng rất lớn;
sát bên trường là một cái chợ nhỏ, mặt tiền nhà lồng chợ chó chữ Chợ Bào
Trai. (Chữ Bào được viết với chữ o cuối).
Ngày nay, chữ Bàu Trai
viết với chữ u cuối, theo từ điển Tiếng Việt.
[2]
Suối Bào Trai, nay thành kinh Bàu Trai, có cầu Bàu Trai
(xưa là một cái cống, với 3 ống cống to thoát nước ra sông Vàm Cỏ Đông); có ghe
thuyền miền Tây và miền Đông lui tới buôn bán những đặc sản theo mùa, như mua
lúa, mua đậu phọng; bán tro cho nhà nông; bán cây chiết cành; bán đồ sành sứ…
[3] Trái
điều, còn gọi là đào lộn hột, ngọt ngọt mà chát, nước trái điều dính
vào áo, giặt không ra. Hột điều nằm phía dưới trái điều. Tụi con trai thường lấy
hột điều chơi đánh đáo. Hột điều nướng, ăn béo và bùi, vị ngon khó quên.
[4] Tiết
Đinh San cầu Phàn Lê Huê: tên một tuồng hát Bội, viết theo truyện Tàu, khuyết
danh; Tiết đinh San chinh Tây. Tiết Đinh San khi ấy gặp Phàn Lê Huê, nữ tướng Tây Liêu có tài cao, si mê Tiết Đinh San, đầu phục
nhà Đường, được kết duyên cùng Đinh San. Hai vợ chồng có công trong việc chinh
Tây.
“cầu”
là tìm, là cầu hôn.
Do các bạn không biết chuyện tuồng…nên
đối đáp ngây ngô rất buồn cười như vậy.
Đời Hùng
Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông bà lão nghèo chăm chỉ làm ăn và
có tiếng là phúc đức thế mà họ vẫn chưa có con. Một hôm bà ra đồng thấy 1 vết
chân rất to liền ướm thử xem thua kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai
và 12 tháng sau sinh được 1 cậu bé khôi ngô tuấn tú.
Kì lạ
thay, cậu bé ấy lên ba mà vẫn không biết nói cười, đặt đâu nằm đấy. Gặp lúc
trong nước có tin nguy cấp, có giặc Ân tàn ác sang cướp phá nuớc ta. Vua sai sứ
đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo
mẹ ra mời sứ giả vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một áo giáp sắt và một
con ngựa sắt, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ
vươn vai hóa thành người cao lớn, liền phi ngựa vung gươm ra trận, quan quân
theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Trâu. Con ngựa sắt cũng phun lửa đốt
cháy quân giặc. Bọn giặc giẫm đạp lên nhau mà chay cũng không thoát chết. Tan
giặc, Thánh Gióng đến chân núi Sóc Sơn, cởi áo giáp, phi ngựa lên trời mà đi.
Để tưởng
niệm, Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế.
Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến
Sơ, hương Phù Đổng).
[6] Cốt
truyện Phù Đổng Thiên Vương
Chuyện kể rằng:
Vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có
hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có
một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn
chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai
và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng
lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười,
cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ có giặc Ân phương Bắc, xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua
lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé
nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói:
-Mẹ ra mời
sứ giả vào đây!
Sứ giả vào, đứa bé bảo:
-Ông về tâu
vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ
phá tan lũ giặc này.
Sứ giả vừa
kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ săt ngày
đêm làm gấp những vật chú bé dặn.
Càng lạ hơn
nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no,
áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng nấu nướng bao nhiêu thức ăn cũng
không đủ cho con ăn no, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều
vui lòng gom góp gạo thóc, thức ăn nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc,
cứu nước.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa
lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn
vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt.
Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc
áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng
đến
nơi có giặc, lao vào thiên binh vạn mã toát lên bá khí cường liệt dị
thường, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh
đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng
sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Thánh Gióng dập đầu lạy mẹ cha, tạ ơn công
nuôi dưỡng sinh thành rồi lên đỉnh núi Sóc Sơn cưỡi ngựa bay về trời. Vua nhớ
công ơn, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.
Tranh Phù Đổng Thiên Vương
Tương truyền, Cao Bá Quát khi viếng đền thờ của Phù Đổng Thiên Vương, có cảm đề
,2 câu đối kiệt xuất, được người đời tán tụng -nay còn bút tích (?):
破 賊 癉 嫌 三 歳 晚
騰 雲 由 恨 九 天 低
-Phá tặc đản hiềm tam tuế vãn,
Đằng vân do hận cửu thiên đê.
-Đánh
giặc lên ba, e quá muộn,
Tung
mây còn bực chín trời gần.
Ngân Triều dịch
Hiện nay, đền thờ
người anh hùng diệt giặc cứu nước vẫn còn ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng
Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội linh đình. Người ta kể rằng những bụi
tre màu ngà, ngả nghiêng.rải rác ở huyện Gia Bình vì bị ngựa phun lửa bị cháy
sém, mới ngả màu vàng óng như thế, dân làng gọi là những “bụi tre pheo”;còn những
dấu chân ngựa sắt ngày xưa, nay đã thành những hồ ao liên tiếp, trải dài. Người
ta còn nói khi ngựa phun lửa giết giặc, vòi lửa vô tình đã làm cháy một ngôi
làng, cho nên làng đó, dẫu đã được xây dựng từ lâu đời, tục nay vẫn còn gọi là
Làng Cháy.
Theo Wikipedia
***
Chú thích:
[7] Đồng
Trụ đến giờ, rêu vẫn lục! (xanh lục)”.
[8] Anh
hùng sứ giả nước Nam tên là Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638)
tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Lê Trung
Hưng. Ông được mệnh danh là vị sứ
thần "Bất nhục quân mệnh" 不 辱 君 命 (Không
để nhục mệnh vua) vì đã hiên ngang, bất khuất, thẳng thừng đối lại câu đối
của vua Minh Tư Tông nhục mạ nước ta, trong một buổi lâm triều, có đầy đủ sứ bộ
các nước. Nhục nhã, bất chấp thị phi, vua hạ lệnh hành hình ông vào năm 1638, thọ 65 tuổi.
Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mang (vừa công
nhận nhà Hậu Lê và vừa công nhận nhà Mạc) với mục đích muốn cho cuộc chiến tranh
Lê-Mạc cứ tiếp diễn vì hai chế độ
đều có chính thống. Khi ấy, Trưởng đoàn sứ bộ ngoại giao của Nhà Hậu Lê là
Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.
Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông , Chu Do Kiểm (tức Sùng Trinh) lấy lý do "Vì lệ cũ không có những
quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc
thư để tưởng lệ" với mục đích là chưa công nhận sự chính thống của nhà Hậu
Lê cũng như vẫn “ lập lờ” công nhận nhà Mạc.
Đồng thời, trong buổi lâm triều, Chu Do Kiểm
còn ngạo mạn, sỉ nhục nước ta nên đã ra một vế đối như sau:
Đồng trụ chí kim
đài dĩ lục
銅 宙 至 今 苔 已 綠
Nghĩa là:
Đồng trụ đến giờ, rêu vẫn lục. [màu xanh lục]
Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt"
(Cột đồng gãy thì Giao Chỉ
- tức Đại Việt - bị diệt vong).
Mộ Thám Hoa Giang Văn Minh (1573 – 1638) Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã kiên cường đối lại thẳng thừng như mộ cái tát tay vào mặt kẻ ngạo mạn, hống hách:
Đằng Giang tự cổ
huyết do hồng
籐 江 自 古 血 由 紅
Nghĩa là:
Đằng Giang muôn thuở, máu còn hồng.
Vế đối này không những đối một cách chan
chat về ý mà về hình thức nghệ thuật rất sắc sảo, chính xác, từ với từ, còn có
ý nhắc lại việc người Việt đã hai lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên
sông Bạch Đằng.(Máu của giặc đã chết trận tự ngàn xưa, do
đại bại ở Sông Bạch Đằng, đời Nhà Ngô, Nhà Trần, hòa nước sông, tuôn ra biển cả,
đến bấy giờ vẫn còn màu hồng, như rửa trôi chưa hết.- NT)
Vào lúc đó, câu đối này được xem như là một cái tát “đòn hằn”, và “hạ gục”
vào mặt hoàng đế nhà Minh, trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ
bộ các nước chư hầu. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận, quá nhục nhã, quên mất thể
diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã ra lệnh giết ông bằng cách cho
trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem "Sứ thần An Nam to gan, lớn
mật đến đâu".(!!!)
Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Tuy
nhiên, cuối cùng, khibình tâm, Minh Tư Tông vẫn kính phục một bậc trung thần
nghĩa sĩ, hết lòng vì vua vì nước, cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và cho
đưa thi hài ông về nước.
Khi thi hài của Ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đều vô cùng thương tiếc, bái kiến linh cữu và truy tặng Ông chức Công
bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, với sắc phong:
使 不
辱 君 命,
可 爲 千 古 英 雄
.
"Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng"
(tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).
Cuối cùng Ông được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông
Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này hiện còn có một cái quán (như một ngôi
nhà nhỏ) là nơi linh cữu ông đã được quàng lại một thời gian ngày xưa để các
quan lại, sĩ phu và nhân dân thương tiếc bái biệt, được gọi là Quán Quàng. Hiện
nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn
hóa.
Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên
Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội.
[9] Đằng
Giang muôn thuở, máu còn hồng.
Vế đối nhắc
lại Sông Bạch Đằng là mồ chôn giặc phương Bắc. Ngô Quyền chôn cọc gỗ lim trên
sông Bạch Đằng, đánh tan quân Nam Hán, chém đầu Hoằng Thao, tk X, năm 938; Trần
Hưng Đạo cũng chôn cọc gỗ lim trên sông Bạch Đằng đánh tan quân Nguyên, tk
XIII, năm 1288. Thuyền giặc bị vướng cọc ngả nghiêng, không nhúc nhích, quân
ta thừa thế giết giặc máu nhuộm đỏ cả khúc sông. Các tướng giặc đều bị quân ta
bắt sống như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc…
[10] Thiết tưởng từ “ma nước Nam” ở đây hợp lý
hơn “quỷ nước Nam”. Ma có vẻ hiền lành, quỷ hung ác. NT
-Mầy nấu cơm gì kỳ vậy? Hèn gì cơm sống!
Thuận
tay, đang cầm chiếc đũa bếp, bà gõ vào đầu nàng dâu. Nàng dâu chỉ kêu “Á!” một
tiếng rồi ngã lăn ra chết. Bà mẹ chồng hốt hoảng, nhìn xem thì thấy chỗ vết
thương tét sọ, đỉa bò ra lúc nhúc. Bà mới vỡ lẽ là nàng dâu đã bị đỉa chun lỗ
tai và đỉa đã sinh sôi nẩy nở trong đầu con dâu…
[12]Lộn
thinh đỉa: Là lấy 1 que dài hơn đỉa, luồn vào 1 đầu đỉa, cho đến lhi que
qua đầu kia. Con đỉa bị lộn ngược, phơi bụng ra ngoài, nắng nóng khô lại và nó
sẽ chết tiệt.
[13] tùng
xẽo là hình phạt thời Trung cổ rất
ghê gớm. Tội phạm gian ác bị lột trần, cột vào một trụ đứng. Khi một tiếng trống
“tùng” vang lên là bị “xẽo” một miếng thịt…cho đến chết. Hoặc
nướng đỏ các loại dao, kiềm…đem áp vào tội nhân, kiểu như vậy.
[14] Đường mồi
là một con đường đất nhỏ, ăn vào một con đường khác lớn hơn.
[15] Trần Tế Xương 1870-1907, năm 1900, thi trượt và cũng vì tin bạn,
lãnh nợ dùm bạn, cho nên phải mất nhà… Ông đã tâm sự trong một bài thơ bi lụy,
ngao ngán tình đời:
Gần Tết than việc nhà
Bố
ở một nơi, con một nơi,
Bấm
tay tháng nữa hết năm rồi!
Văn
trường ngoại hạn, quan không chấm,
Nhà
cửa giao canh, nợ phải bồi.
Tin
bạn hóa ra người thất thổ[15]
Vì
ai nên nỗi quyển đâm vôi.
Ba
mươi mốt tuổi đà bao chốc,
Lặn
suối trèo non đã mấy hồi
Bài nầy được sang tác vào cuối năm Canh Tý,
1900, khi đã hõng thi. Lúc ấy gia đình Ông bị Mụ Hai An tịch biên đoạt ngôi nhà
247 Phố Hàng Nâu, phải đi tá túc nhà người bà con là Trần Đăng Chu. Sau đó, Mẹ
vợ, Bà Hai Sửu thương tình, mới nhường cho gia đình Ông ngôi nhà 280 Phố Hàng
Nâu.
Trích Thơ Trần Tế Xương, nxb Văn Hóa-Thông Tin, 1998. (NT chú giải).
[17]Vua
Trần Nhân Tông (陳仁 宗; 1258 – 1308) nói:
Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu…
(trích từ chương 14 tiểu thuyết Huyền
Trân công chúa của nhà văn Hoàng Quốc Hải)
[18]
trăm là nói, “trăm hay không bằng tay
quen”= nói hay không bằng làm giỏi.
[19] Có bạn
giải thích “tếu”; bù là thua; nhìn là xem, ngó, canh giữ. Vậy bù nhìn là không
nhìn được; canh giữ là thua. Phải chăng cũng đúng?





















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét