Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Phần 2, Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều (tiếp theo)

 Phần 2, Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều (tiếp theo)

Boâng   coû   may  (Bông Cỏ May)

 Võ Kim Ngân & Ngân Triều

 Nhôù … (Nhớ...)

Tôi đã trải qua một tuổi thơ hồn nhiên rất đẹp với nhiều kỷ niệm của thuở học trò trường Tiểu học Bào Trai Hậu Nghĩa (Ngày xưa, Trường Tiểu học Bào Trai[1], viết chữ o như thế nầy). Đó là năm học 1954 – 1955 và 1955 –1956, lúc ở tuổi choai choai 13, 14, 15. Hồi đó, mỗi tuần lễ học sinh miền quê phải đi học 6 ngày. Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu là học nguyên ngày, còn những ngày còn lại, học một buổi. Những ngày học hai buổi, học sinh ở xa như chúng tôi phải giở theo cơm đựng trong một cái“mo cơm” làm bằng bẹ tàu cau, ăn trưa, ngay lớp học của mình, hoặc rủ nhau ăn chung từng nhóm, nơi hành lang, lớp học, hoặc dưới gốc cây điệp to ở hai bên cổng trường.

Sau bữa cơm trưa lúc tan học sáng 10h30, chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống đám rừng chồi của con Suối Bào Trai[2] (Hậu Nghĩa) để vui chơi.  Chúng tôi thường tản ra thành nhiều nhóm thân quen để cùng chơi chung những trò chơi nhỏ, lùng sục, các lùm bụi, học ôn bài…vì buổi chiều vào học lúc 2giờ.

Có nhóm đi hái những trái dại, tìm kiếm những loại trái cây rừng mà có thể học sinh bây giờ, khó lòng biết được. Chẳng hạn như trái nhãn lồng, trái nhãn chài có vị mát miệng; trái bời lời, trái cò ke làm đạn bắn ống thụt bằng trúc, đạn nổ lốp bốp vui tai, chia phe bắn vào nhau rất hồi họp. Trái nhăn chín màu đỏ như cái nanh heo rừng; lủng lẳng trên những dây leo mảnh mai; ngọt ngọt. Trái kim cang từng chùm đính trên một dây gai, lá to bằng bàn tay, ăn lờ lợ, nhớt nhớt. Trái chùm gởi từng ổ, trên những cành cây trăm cao, nhỏ như trái cùm nụm ăn vui miệng. Trái mây rắc (mây rừng) ăn chát chát; trái chùm mòi, trái dấm chua chua. Trái mua có 5 cánh hồng, khi chín mở thân ra làm hai với năm múi tím đen ngọt ngọt thường có nhiều kiến hôi. Trái đu đủ rừng (trái đ.. chó), trái và lá có nhiều lông tơ trị ho, chát chát, ăn không khéo, mắc nghẹn. Trái táo rừng chua ngọt khắp nơi trên những nhánh nhỏ nằm ngang, đầy gai nhọn và nhiều nhất là trái cà na trong mùa mưa, cà na đắng, cà na chua, trái nù mới ngon và trái trăm đen sẫm khi chín, trăm móc, trăm sắn; mùa trăm chín rộ là sau Tết Nguyên Đán. Những trái to thì có những trái Bình Bát, chín vàng trên những cành cây khó trèo, tàng cây de ra hai bên bờ suối. Những trái Dứa Gai thơm lừng lựng nhưng không ăn được vì rất ngứa miệng. Những trái Ồi rừng, Ổi lộn kiếp, cơm mỏng hạt nhiều, chẳng đứa nào muốn hái ăn và những trái điều[3], điều nếp màu vàng và điều đỏ trông rất đẹp mắt.

Nhóm con gái chúng tôi thường bẻ những hoa dại xinh xinh. Hoa Dù Cồn đầu có một núm tròn nâu trên một cọng ngồng cao, điểm những cánh hoa vàng nhỏ xíu, mọc bạt ngàn trong các vũng nước. Hoa Cây Nổ màu xanh biếc, cánh hoa mỏng manh, trái từng chùm như chân gà con; khi thả chùm trái khô vào nước, trái nở ra và phát ra những tiếng nổ lách tách như tiếng pháo chuột. Hoa Bí Bái màu trắng thơm thơm đặc trưng. Hoa Cắt Lồi thân thẳng như một cái roi mây. Trên đầu roi có một búp hoa tròn màu đỏ kết một chùm trái bằng nắm tay, nở hoa trắng liên tục, hết hoa nầy đến hoa khác, thường có mấy chú ong bầu chui vào hút mật. Hoa Dây Chiều màu xanh tím, gắn trên một thân dây leo có một lớp lông tơ cứng. Hoa Cúc Rừng nho nhỏ như đôi hoa tai, màu cam lấm tấm thơm thơm. Hoa trắng tím của dây Chùm Bao (Lạc Tiên) rất dễ thương; những trái chín tròn màu vàng trong một cái bao lưới trắng, ăn chua chua ngọt ngọt.

 

Trái Thù Lù chín, v ngt thanh
trong mt cái bao rng nhn, kín mít.

                                                                        Bông và trái cò ke

   

                                                                           Ống thụt và đạn bắng trái Cò ke.

Trái và bông Chùm Bao, (Lạc Tiên)

                                                              Hoa bìm bìm leo lên những bờ thấp, cười duyên

                                                         
                                              Hoa Mua với 5 cánh hồng, với chùm sợi nhị vàng,
trái chín mở thân ra làm hai…

                                                                             
                                                                                         Bông Cắt Lồi

Hoa Lẹo nhiều bông nhỏ kết thành một chùm to màu đỏ, màu đỏ của miền quê may mắn, thanh bình… 

Có mấy bạn thường rút những tàu lá Dứa gai để thắt những chiếc chong chóng dứa, những trái banh dứa để đánh đũa, đôi dép dứa, chiếc đồng hồ đeo tay bằng dứa, cả những sợi dây nịch dứa và chiếc kèn bằng dứa nữa.

Cũng có bạn đi tìm những tổ Ong Lá, mang về làm mồi đi câu cá rô. Bạn bắt tổ Ong Lá rất tài. Chỉ cần một mảnh giấy xếp dọc, rón rén đặt giấy phía dưới tổ ong, châm lửa đốt. Khói lửa bốc cao, bầy ong bảo vệ tổ sợ lửa bay xa, còn trơ tổ không là bạn thò tay bắt lấy (ha ha... chiều mai mình sẽ câu được một đục cá rô đấy!) Hoặc có bạn cao hứng bứt những dây Bòng Bong và những sợi tơ hồng để kết làm chiếc mão đội làm tướng, huơ tay múa chân, vuốt râu, lắc nghiêng cái đầu mới học được trong tuồng hát bội của đoàn Sơn Đông mải võ lưu động đi bán thuốc quảng cáo:

-Ải ải…Ta là Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê[4] đây!

-Xin hỏi Tiết Đinh San, cầu Phàn Lê Huê ở đâu vậy?

-Thì ở Cầu Phàn Lê Huê, chớ ở đâu!

-Cầu Phàn Lê Huê chắc là một cái cầu có trồng nhiều cây “lê”.

-Chắc là ở miền “quê” rất xa…

-Bậy nào! Chắc là ở tiệm tạp hóa “Mai Huê” gần trường mình đó mà…

-Ừa hén! Cái cầu thì phải có suối, có sông. Tiết Đinh San ở cầu nào, ở đâu cũng được mà…

-Hát tiếp đi!  Đinh San ơi!

-Ải ải…

Có nhóm bạn đằm thắm hơn, rủ nhau leo lên cây trăm  học bài, nhìn các bạn khác chơi, nhìn trời, nhìn đất, tán chuyện vu vơ  rất vui:

-Ước gì mình có cánh như tiên, bay lên trời cao chắc là vui lắm!

-Bạn có cánh, tụi nầy không cánh. Bay một mình, đâu vui! Tui ước cái cây trâm nầy hoá thành cây đa, tụi mình bay lên trời như Chú Cuội…Cây nó chở mình bay chầm chậm, nghiêng qua nghiêng lại…bay lên mặt trăng luôn…đêm đêm nhìn xuống thế gian …

-Ý! Không được đâu!  Lên trên ấy, làm sao mà về… nhớ nhà, nhớ cha mẹ, bà con…và nhớ đứa em mình nữa…

-Chắc là mình mượn cái thang của Chú Cuội và Chị Hằng leo xuống, về nhà, đi học mà…

-Thôi đi bạn! Tui không chịu đi đâu! Biết sao không! Nếu tụi mình leo xuống, về nhà thì trần gian sẽ bị biến đổi hết. Chuyện Từ Thức lên Tiên mới có một năm mà khi về trần thì ở trần gian đã trải qua mấy trăm năm lận…Coi chừng, tụi mình cũng như vậy à nghen!

-Còn tui thì tui muốn có con ngựa sắt, chiếc roi sắt…như Phù Đổng Thiên Vương[5]…đi đánh giặc Ân xâm lược, cứu nước, cứu dân…[6]

-Hay đó! Cô mình kể, Thánh Gióng đã lên ba tuổi, cứ nằm chờ sứ giả, không thèm nói năng gì hết. Giặc Ân xâm lược nước mình, tiếng nói đầu tiên trong đời của ông là “tiếng nói yêu nước, thương dân”, tiếng nói xin đi đánh giặc cứu nước…

 *

-Giặc phương Bắc điêu trá, hung tàn. Muôn đời, lúc nào lũ nó cũng lăm le thôn tính nước mình. Nước mình tuy nhỏ hơn chúng nhưng vua biết nghe theo ý dân, biết trọng nhân tài, dân mình đoàn kết một lòng… nên một khi chúng nhào vô nước mình kiếm ăn, vơ vét thì đều bị đánh tan tành, thê thảm…

-Như Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, chặt đầu Thái Tử Hoàng Thao. Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên, chiến thắng Bạch Đằng; Thoát Hoan cùng đường, sợ chết vì cung tên tẩm độc nhà Trần, phải chui vào ống đồng cho tàn quân kéo chạy về nước.

-Năm 1789, Hoàng Đế Quang Trung đánh tan giặc nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị hồn xiêu, phách lạc; đại bác nước Nam sao đặt được trên lưng voi (?); quân nước Nam từ dưới đất xông lên, hay trên trời bay xuống; đến nỗi thân hắn  không kịp mặc áo giáp, lưng ngựa không kịp thắng yên, không kịp đem theo ấn tín…

-Kinh hồn bạt vía, quân giặc khiếp đảm, giẫm đạp lên nhau, cố chạy thoát thân, chạy cong đuôi như chó, hoảng loạn quang quác như gà…, thây phơi thành núi, máu chảy thành sông…

-Các bạn thuộc bài giảng của cô mình khá đấy! Đố bạn nào còn nhớ cô mình giảng một câu đối của sứ nước ta, hạ nhục Vua Tàu Nhà Minh không?

-Ờ ờ…Tui chỉ nhớ vua Tàu nhà Minh muốn sỉ nhục nước Nam trước các chư hầu, mới ra câu đối:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục[7]

Sứ nước mình[8] khảng khái liền “chơi lại” ngay:

            "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng[9]

-Hóa ra “gậy ông đập lưng ông” nhục nhã trước chư hầu, mới hạ lệnh giết sứ nước mình đó.

-Quả là anh hùng tử, khí hùng nào tử! Cao cả như Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma[10] nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.

(Trước thời điểm đó khoảng 300 năm, trong bài Bạch Đằng Giang phú 白 藤 江 , Ông Trương Hán Siêu [?-1354] cũng đã hạ bút hai câu ngời ngời thiên cổ…

     

     

Chí kim giang lưu,

Chung bất tuyết sỉ. 

Đến nay sông nước tuy chảy hoài, 

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi. 

-Bạn con thầy giáo, nói hay quá, chắc là…chắc là sau nầy sẽ “hổ phụ sanh hổ tử”! “Con thầy giáo, sẽ làm thầy giáo”.

-Còn bạn thì không phải là con thầy giáo chắc? “Cái mộng ngành y, nhân đạo cứu người”, có giấu được ai…

-Ha ha…

….. 

Khi hơi chán thì ngồi xúm xít dưới những tán cây cao hay những đám cây mặt cật, nói chuyện gẫu rù rì. Thời gian như ngừng đọng, lặng im. Thỉnh thoảng có tiếng cất lên, gọi tên nhau ơi ới và nhiều lúc nói cười vang rân.

Dòng suối Bào Trai hiền hòa, không sâu, nhiều chỗ nước ngang đến bụng, có thể lội băng qua được. Tôi rất sợ lội qua suối vì suối có rất nhiều đỉa. Muốn biết có đỉa không thì lấy cây khoắn xuống nước, rồi chờ xem. Đỉa mén lội phăng phăng ngang dọc hàng chục con; mấy con đỉa trâu, dài hơn gang tay, màu đen, có sọc vàng hai bên lưng, túa ra tìm mồi. Trông nó vẫy đuôi dợn sóng mà ớn lạnh xương sống … 

Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc tắm suối. Đứa thì biểu diễn “thả ngữa”, đứa thì “lội ếch”, đứa thì “lội chó”, đứa thì “lội đứng, lội sải, lội đập”, rồi bất chợt chia phe té nước vào nhau, nước văng tung tóe. Chơi chán, từng đứa leo lên bờ, co giò, bịt mũi, nhảy ùm xuống nước, lặn đua... Tiếng la hét hòa lẫn với tiếng cười sằng sặc, in ỏi, bất kể câu nói cảnh giác của ai đó:

- Mấy đứa! Coi chừng đỉa chun lỗ tai !



 

Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc (!) tắm suối

Đến đây, tôi chợt nhớ đến một chuyện kể, cảnh giác về đỉa mà tôi được nghe hồi đó. Và câu chuyện này, chính là lý do làm cho tôi sợ đỉa.[11] 

Ghê quá!  Biết nhóm nữ chúng tôi sợ đỉa, còn có một vài bạn “rắn mắt” bắt đỉa để nhát hoặc bắt đỉa “lộn thinh”[12] trong cành cây nhỏ rồi vừa quăng đỉa về phía chúng tôi vừa la to “Đỉa đó”!  Không biết phản ứng như thế nào, chúng tôi hét lên “Oái”, rồi xanh mặt chạy thật xa, không dám ngoái lại và để nghe phía sau lưng, một tràng cười dài đắc thắng.

Như vậy đó!

Những buổi đi chơi giữa giờ buổi chiều thường nhiều màu sắc như vậy đó!

Những cuộc đi chơi rất vui, giúp chúng tôi gần gũi, thân thiết nhau. Chúng tôi không sợ trễ giờ vì có trống trường “kêu gọi” bằng một hồi dài và 3 tiếng báo hiệu trước chừng 5 phút. Chỉ cần chạy một mạch là về kịp lúc sắp hàng vào lớp. Thường thì chúng tôi thả lần về trước, nhưng cũng có vài lần, đang mải mê vui chơi, bỗng nghe trống điểm, phải ù té, hào hễn chạy về trường, quăng bỏ hết dọc đường những “chiến lợi phẩm” của mình đã làm ra hoặc kiếm được, mệt muốn đứt hơi, mà vui.   

Những ngày học một buổi, nghỉ buổi chiều, chị Tám rủ chúng tôi đi vào nhà một số bạn bè trong xóm chơi; thường thì chúng tôi kéo về nhà chị ở xóm Gò Cao, khoảng giữa hai làng Đức Lập – Tân Phú Thượng. Chúng tôi ham vui và hiếu kỳ, nên đi ngay, sau khi xin phép gia đình. Nhóm chúng tôi; trai có, gái có, ở chợ có, ở xóm khác có; thường khoảng hơn chục bạn, cùng đi theo chị.

Có lúc đi ăn xoài chua, chấm mắm đường tán; đường tán được gọt bằng một cái lưỡi hái; tham ăn xót ruột. Có lần, rủ nhau đi ăn trái trăm, trăm sắn hoặc trăm móc để rồi môi và lưỡi đứa nào đứa nấy đều tím đen. Có khi đi ăn điều chín, điều đỏ, điều vàng ngọt ngọt, chát chát để rồi sau đó, chị gom góp hạt điều cũ, nướng mẻ hạt điều, xịt khói cháy đen, rồi đập vỏ lấy ruột ăn, béo lạ. Có dạo cùng đi hái trái cà na, trái nù mới chua ngon, ăn với mắm ruốc, chát chát, chua chua rất ngon. Số cà na còn lại, chừng một rổ, cả nhóm ăn chán rồi, chị Tám và chúng tôi lấy dao khía dọc thân trái mấy đường, đem ngâm muối với cam thảo, khi đi học chị lại đem theo vào lớp để “nhấm nháp” trong giờ chơi, vui miệng. Hái cà na, vui nhất là cảnh, một bạn trai, làm người hùng, “leo cây hái trái”. Can đảm lắm! Nhưng khi bạn leo lên cây thì cành động. Cành động thì lũ kiến vàng túa ra tấn công. Kiến vàng tấn công cắn bạn đỏ ở tay chân, ở cổ, cả mặt mũi… Lũ kiến đặc nghẹt, “mãnh tướng nan địch bầy kiến vàng”! Bạn phải lật đật tuột xuống gốc cây như bay, như nhảy xuống đất, nhăn nhó để các bạn trai khác xúm nhau…phủi kiến. Và buồn cười nhất là bạn đó phải ba chân bốn cẳng chạy ra chỗ khuất, chắc là có mấy con Kiến Vàng xung phong cắn vào…chỗ kín! 

Nhớ có lần, để tổ chức bữa trưa, chị Tám đảm đang, phân công người nào việc nấy rất khoa học.

Nhóm nam đi kiếm rau: rau muống, rau nhút, rau dừa, nhổ bông súng đỏ và bông súng chỉ, nổi dưới ao nhà; hoặc nhổ rau chóc, lá hẹ, rau bợ ngoài ruộng nước; hái rau tiêu (rau càng cua) ngoài bờ tre; kiếm rau dền cơm, dền gai, dền điều, (không hái dền voi) rau đầu rìu quanh nhà, bẻ đậu rồng, mồng tơi ngoài rào và có khi đào trùng câu cá hay câu ếch trong ao. Câu ếch thì rất dễ! Mấy bạn đi bắt một con nhái sọc ngoài ruộng, móc vào lưỡi câu trê, không quên ngắt một đoạn ngồng cỏ mần chầu làm một cọng “lông hồng”, để lưỡi câu không dính vào bụi cỏ. Bung sợi nhợ hướng vào lùm cỏ ở góc bờ ao, nhấp nhấp… hễ có ếch là ếch nhảy đến ăn mồi liền. Nó rất tham ăn. Nó đã ăn mồi! Đừng vội! Chờ một tí cho nó ngậm mồi vào trong cái miệng rộng của nó xong, giật ngược hướng ngồi của nó hoặc giật bổng là không sẩy con nào cả. Trong khi đó, có mấy bạn đi móc ếch, hoặc móc cua trong hang cua.

Vào mùa mưa, nước ngập ruộng, mới vào vụ cày lật, các bạn trai đi nhũi một lát là được một nồi kho: nào là cá lòng tong, cá trào cửng, cá ròng ròng, cá trê con, nào là cá chạch nhỏ, cá sặc rằn, cá sặc trắng, cá bãi trầu, nhiều nhất là cá rô binh tích hay cá rô hạt bí và cua con. Đôi lúc được rất nhiều con bù niễng, con ăn mày, con đòn gánh, con cà cuống… và cả mấy con đỉa trâu nữa! Bỏ rong rêu, rác rến, chỉ bắt những đối tượng ngon lành…và chuẩn bị chế biến kho quéo...

Nhớ có lần nghe các anh chị công cấy hò đối đáp với nhau:

-Hò ơ ớ…Thương anh em bẹt cẳng ra,

Để anh đứng giữa…đẩy mà một hơi!

-Hò ơ ớ…Sỗ sàng, bất nhã…những lời,

Trông anh thanh tú, coi trời bằng vun!

-Hò ơ ớ…Câu đố tục, đâu phải khùng,

Giảng thanh không đúng… em “tùng xẽo”[13] anh!

Hò ơ ớ…Vậy sao, thì đáp cho nhanh,

Nếu mà lố bịch ta đành…xa nhau.

-Hò ơ ớ…Đây nè, anh giải đáp mau,

Anh đố cái Nhũi…em đâu có ngờ!

Ai trong sáng, ai lờ mờ?

 

Cái Nhũi, đi nhũi cá, Google-images

(Giải câu đố tục giảng thanh về cái nhũi:

-Thương anh em bẹt cẳng ra; là hai cái gọng nhũi.

Để anh đứng giữa…đẫy mà một hơi; là thao tác đi nhũi cá.)

*

Chị Tám và chúng tôi chắt ruột cá lớn, gỡ bỏ mai cua lớn, đánh vải cá lớn, bẻ cánh bù niễng, cà cuống và ngắt mỏ nó, rửa sạch, làm đồ kho, ướp muối, ướp nghệ, nước mắm, nửa tán đường, bỏ hành, bỏ tiêu, một ống bột ngọt, năm bảy trái ớt Xiêm đỏ, kho quéo…thơm  ngon hết ý…

Nhóm nữ chúng tôi trổ tài làm nước chấm tỏi ớt, lấy nước mắm trong một cái “tĩn”, (một loại hũ bằng sứ thô nung, hình quả bóng đá, miệng và đít tóp lại, miệng tròn, có thể đưa bàn tay vào và miệng có trám lại bằng một cái nắp vũm thường bằng sứ thô màu đỏ bằng  đất  nung, có dung tích chừng 5 lít), hay nước chấm tương hột có trộn đường, có món mắm  chua cá con do chị làm sẵn và nấu canh rau với tôm khô, bột ngọt hoặc mấy con cá, mấy con ếch câu được trong ao nhà. Nhiều bữa cơm “cây nhà lá vườn” tại nhà bè bạn hoặc nhà chị, thường đơn sơ đạm bạc; “ba tay chụm lại”, mỗi bạn một tay; sao mà ngon miệng lạ lùng. 


 
              

 




                                              Tĩn nước mắm đang đóng nắp, chờ phân phối

                                  (Google images)

Nhớ có bận, chị Tám, các bạn và tôi, về quê ngoại tôi ở Lục Viên, mùa mây rắc và gùi. Trên đường đi, có biết bao tiếng chim ca lúc nhặt, lúc khoan nghe rộn ràng, thanh thản. Nhạc khúc đồng quê thân thương của những loài chim bay lượn đầy trời, khắp nơi trong các hàng cây, bụi rậm, trên những con đường mòn, đường mồi,[14] chúng tôi đi ngang qua…như những âm thanh ngân nga, say đắm của một thời đất nước thanh bình, trong lịch sử xa xăm.

Kìa, có con chim chiền chiện nào, cứ khoe tài ca hát. Nó bay vút lên trời thật cao rồi nghiêng cánh cho thân mình rơi xuống đất từ từ, đồng thời cất lên một liên khúc dài trong trẻo, ríu rít, nôn nao. (Có đứa bảo đó là chim sơn ca).

 

Chim Chiền Chiện

                                                                   Chim Cưởng

Phía bên hàng tre cao nhà ai, chim sáo, chim cưởng bay từng đàn, gọi nhau lảnh lót. Tôi cứ tưởng như mình đang ngậm viên ngọc rắn của Công Dã Tràng nghe xem loài chim nói chuyện thế nào. Tiếng chim hoành hoạch cất tiếng “học… học …học… nhớ nghe bạn…nhớ nghe bạn…” bằng một hơi rất nhanh như tiếng nói của Ông Thiện từ bi, trong khóm dây chùm bao rậm rạp, (học mà chơi…chơi mà học! Học thời như gấm thêu hoa, Có văn, có chất mới ra con người). Tiếng Chim Cu thư thả, giục giã: “cực cứ tu…thì tu”, “cực cứ tu…thì tu” hoặc “tu chửa được…tu chửa được…”  như tâm trạng của ai, muốn thoát tục, lánh chốn bụi hồng mà hãy còn tiếc nuối

-À! Đố các bạn giải được câu ca dao:

“Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”

-“Ngu” là rất kém về nhận thức, ứng xử, ngây ngô, dại dột …để có thể bị mắng chửi, bị nhận lãnh trách nhiệm vô cớ…điều mà bản thân chẳng nên  nhập cuộc, dính vào.

-Nói rõ vì sao ngu đi!

-Vầy nè: Một là “làm mai mối”, môi giới cho đôi trai gái nên vợ, nên chồng.

-Đó là xe duyên tốt phúc. Sao ngu?

-Đành rằng đó là việc nghĩa, tốt phúc. Nhưng “chén úp trong sống chén còn khua” huống chi vợ chồng trăm năm, dễ dầu gì gia đạo cứ mãi thăng hoa, mà “không tiếng chì tiếng bấc”, không to tiếng cãi nhau…

-Và khi ấy người làm mai mối bị đem ra mắng chửi… là ngu, đúng không?

-Đúng rồi! Làm mai mối chi mà phải bị chửi, bị mang tiếng là ngu si. Đại để “Tiên tổ cha đứa nào mối lái kết duyên x…với y… mà sự thể thế nầy”. “Mẹ kiếp cái thằng cha z đó, chớ ai?”

-Ha ha…

-Còn lãnh nợ thì rõ ràng rồi. Tự nhiên đứng ra lãnh nợ cho người thứ ba. Người ta không trả nổi hay quịt nợ thì bản thân mình phải trả vì người chủ nợ chỉ biết người vay nợ là mình mà thôi…Vậy là ngu, “thầy pháp ăn, bắt thầy chùa chịu”. Tình ngay lý gian, phải đem tài sản mình ra gán nợ, mà mình có tiêu xài gì cho cam, lắm lúc cười ra nước mắt![15]

-Ờ hén! Còn chuyện đi “gác cu” hay bẫy cu?

-Các bạn biết đó, người đi bẫy cu, có đồ nghề là một “cái lụp” hai ngăn có ngụy trang, ngăn trong đặt con cu mồi, ngăn ngoài để mở, có một nút bẫy. Cái lụp được gắn chặt với một đầu của một cây trúc đá làm sào, dài khoảng 5-6 mét. Đến điểm gác cu, chỉ cần đưa cái lụp đó lên cành cây hay cành tre cao, đầu sào còn lại, cắm vào mặt đất cho chắc để cố định cái lụp phòng khi có gió mạnh, cái lụp bị ngả xuống đất, con chim mồi hoảng sợ, tâm lý không tốt, khó có thể bình thường được trong mấy buổi (Thế là phải xách lụp về nhà, dang dở cuộc chơi).

Khi đã đặt xong cái lụp trên cao là yên chí núp ló, ngồi rình, chờ đợi trong một cái thum (chỗ  núp, ngụy trang sơ sài bằng cành cây gần đó). Việc gác cu bắt đầu có hiệu quả. Đã được huấn luyện, khi ấy, con cu mồi bắt đầu cất tiếng gáy vang. Đám cu bổi (cu đối tượng đánh bẫy) nghe tiếng gáy liền bay đến tìm con cu mồi để đánh đuổi. (Đứa nào, ở đâu…mà dám xâm nhập lãnh địa của ta?!). Nó bay đến chỗ chim mồi, chui vào cửa của cái lụp đó, hung hăng, xù lông cổ, xòe cánh, giương mỏ tác chiến…nhưng vừa quay qua, quay lại…chân chạm vào nút bẫy…cửa ngoài của cái lụp liền sập xuống, chú cu bổi quay đão lung tung, cố tìm đường thoát ra trong vô vọng. Chỉ chờ có thế, người gác cu chạy đến hiện trường, nhẹ nhàng hạ sào xuống, một tay vừa mở cửa ngăn ngoài của cái lụp ra, tay kia thò vào tóm con cu bổi ngu dại, cho vào một cái lồng không. Thế là được một con cu bổi, một cách dễ dàng. Ngăn ngoài cái lụp lại được mở ra, cài chốt bẫy và được đặt lại vị trí cũ…Người gác cu quay lại “cái thum” (chỗ núp ngụy trang), chờ đợi, ngồi rình…

-Như vậy, gác cu, đâu có nghĩa gì…là ngu?

-Ngu chớ sao không! Này nhé, nông dân mình thường cư trú tại đất nhà, trong một vuông rào có lũy tre bao bọc, vuông rào nhỏ thì khoảng 30-50 cao, vừa vừa thì 70-80 cao, rộng lớn thì 1-2 mẫu đất, (30 cao là 3.000m2, một mẫu là 10.000m2). Ngoài khu vực nhà ở, chuồng trâu bò, chuồng gà vịt, chuồng heo…là vườn rau, vườn cây ăn trái, ao cá…Vườn cây yên ắng, thanh bình, rậm rạp,“đất lành chim đậu”nên có nhiều loài chim cư trú, làm tổ, cả ngày tiếng hót líu lo… nhất là có nhiều bầy cu về ở…

Từ sáng sớm tinh mơ, người chủ gia đình đã ra đồng cày ruộng, đắp bờ, tát nước, rải phân cho lúa…trẻ em đều đi học trường làng, ở nhà chỉ có người già hoặc vợ nhà nội trợ…Gác cu thì núp ló, rình rập chim gần hay trong vuông rào nhà người ta…khiến cho người ta nghi ngờ là phường đạo chích giả bộ gác cu …để sẽ làm một “ phi vụ” (một đêm ăn trộm…bằng ba năm làm!) như trộm gà, trộm vịt, trộm cá, trộm những công cụ nhà nông, trộm vặt…mà tệ hại nhất là lợi dụng người chồng bận rộn công việc đồng áng, không có ở nhà, giả bộ gác cu, vào nhà xin nước uống, hòng tán tỉnh, ve vản vợ người ta…Cho nên, người chủ gia đình, khi có mất trộm món gì đều nghi ngờ nhắm ngay đối tượng người gác cu…Như vậu gác cu thiệt thòi cho danh dự và đạo đức của mình…chưa kể là bị chửi lén huyên thuyên…Bị chửi là ngu…đúng không?

-Rất chí lý! Rất hay! Chắc là thầy ở nhà đã giải nghĩa phải hôn?

-Đâu có, khi hầu rượu cho Ba mình và Thầy Ba láng giềng, mỗi chiều, nghe chuyện “trà dư tửu hậu”, đàm đạo mà biết đó thôi.

-À! cái ngu cuối nữa, “cầm chầu là sao?

-Bồ nói nghe chơi!

-Cầm chầu là đánh trống khen chê, hay dở về cách trình diễn của diễn viên trên sân khấu trong một đám hát dân gian như là đoàn hát bộ lưu động đến làng mình hoặc hát trong các dịp kỳ yên, cúng đình. Người cầm chầu đám hát là một trong 12 hương chức trong ban hội tề. Ban nầy, nếu không có ai cầm chầu thì cử người có uy tín, giàu có… sành điệu hát tuồng. Đó là người lèo lái cảm hứng dân gian, phẩm bình hay dở thay cho công chúng qua tiếng trống.  Khi các vai diễn thể hiện câu ca, lời hát, điệu bộ, pha trò hay… thì người cẩm chầu đánh trống khen hay, bằng cách hai tay gõ trống, vừa đủ nghe, một hồi trống ngắn dài trên mặt trống, “tung tung…tung tung”, như cho điểm khen, nhiều hay ít. Ngược lại là trống chê dở cách trình diễn chưa đạt hoặc dở tệ bằng một hồi ngắn hoặc dài, trên tang trống, lắc cắc… lắc cắc… để tạo không khí hào hứng và để các diễn viên điều chỉnh màn trình diễn của mình…

-Mình chưa hiểu, sao như vậy là ngu.

-Nói dài dòng là vậy. Ba mình nói, “thiên hạ, trăm người ngàn ý, làm người khó lắm, vi nhân nan, vi nhân nan...

-Hí hí…vi mo nan… vi mo nan…làm cái mo cau khó lắm…

-Ha ha…Ha ha…

-Do đó, khi người cầm chầu đánh trống khen hoặc chê, thì thế nào cũng có nhiều người phản bác, bất bình chửi thầm. (Thằng cha già lãng nhách, vô duyên, ngu ngốc…dở như vậy mà cũng khen! Hoặc người ta diễn hay như vậy…mà lại chê! Như vậy, đó là bị chửi…là ngu…

-Hiểu rồi! Trong bốn cái ngu ấy có ba cái ngu bị mắng chửi. Tuy bị chửi nhưng vô hại. Chuyện qua rồi thì thôi. Còn cái ngu “lãnh nợ” thật là thảm hại! Mất tài sản vì chuyện tình cảm…thương người, động lòng trắc ẩn nên bị lường gạt…bản thân có vay đâu…mà có trách nhiệm phải trả nợ?

-Thực ra, bài ca dao trên, có giá trị đạo đức, cảnh giác, hướng tới một thái độ sống tốt ở đời. Nhưng phê phán, đánh giá, ứng xử theo “bốn cái ngu” ấy thì phải tùy việc, tùy hoàn cảnh, tùy người mà áp dụng một cách linh hoạt, hợp lý, hợp tình. Quyết định không dính vào bốn cái ngu trên…là một điều thái quá; mà sự gì thái quá thì không tốt.[16]

-Hay quá hén! Sao chữ “ngu”có nghĩa không hay như thế mà đời nhà Hồ lại đặt quốc hiệu nước mình là Đại Ngu vậy cà? Hồi đó, dân nước mình “ngu” lắm phải không?

-Đâu phải vậy. Quốc hiệu “Đại Ngu” có nghĩa “an vui”, “tên một triều vua nước Tàu”. Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, Hồ Quý Ly đặt quốc hiệu như vậy với hoài bảo xây dựng một nước Đại Việt mới, như nước Ngu thời Ngu Thuấn, một trong ngũ đế thời thượng cổ, lấy dân làm gốc, hùng cường, thịnh vượng, an vui. Tiếc thay, vì chế độ nhà Hồ,(1400-1407) không được lòng dân (vì cướp ngôi nhà Trần) nên sớm bị tiêu vong.

( Đại Ngu  : an vui, hòa bình, thịnh vượng khác với ngu không thông minh).

Vừa đi đường vừa chuyện gẫu cho quên đường xa. Còn tôi cứ như tiếp tục ngậm ngọc…

Kìa! Có tiếng chim Tu Hú “thuyết pháp”, hô hào, còn chần chờ chi nữa, mà không đi tu: “tu hú… tu hú…tu hú!...” Nghe lạ tai và buồn là tiếng Chim Mồ Côi kêu thương không ngớt như lạc đàn, như bơ vơ vang vọng, như nức nở tìm kiếm người thương trong gia đình: “Ba…má…anh…đâu mất tiêu rồi!
Ba…má…anh…đâu… mất tiêu  rồi...





Chim Tu Hú

 





Chim Cu Cườm (Cu Đất)

 Đàn Cò trắng bay

 Xa xa, đàn cò trắng nào đậu rải rác trên những đám ruộng hay đứng trên lưng trâu rình mồi.  Cò ma vàng sậm thường kiếm ăn chung với cò trắng hoặc gật gù trên những cành mềm trên bờ ao. Khi giật mình bay bổng, luôn luôn xưng danh nó ra, (mầy tưởng không ai biết tên “cò” chắc?!): “Cò…à! Cò à! Cò à!…” tiếng kêu của nó khàn khàn, khô khốc. Mấy chú Chim Chài Chài mỏ nhọn dài, lông cánh màu xanh biếc-ức vàng sậm, canh mồi chăm chỉ trên các cành cây lộ thiên, sát bên mộ cái ao cứ chú mục vào mặt nước ao với cai mỏ gật gù. Kìa! Nó lao xuống nước như chớp rồi bay lên chỗ cũ. (A! nó bắt được một con mồi tươi rói, một con cá lòng tong ngon lành).

  


       




Chim Bói Cá (Chài Chài)

       

Chim đa đa hót: “Coi chừng giặc…xa xa…”

Lũ Quạ thì khác, lúc nào cũng la hét, thở than: “họa…hoạ mà…”, “họa…hoạ mà…”, như hãy còn nguyền rủa cho nỗi nhục nhã đau thương của đất nước trong dĩ vãng 1000 năm đô hộ. Có tiếng chim quốc kêu: quốc…quốc…quốc…”, khắc khoải, đau lòng. Tiếng chim đa đa nghe như tiếng Hồn Quê luôn cảnh giác, nhắc nhở: “Coi chừng giặc…xa xa…”, “Coi chừng giặc…xa xa… Tham vọng thôn tính láng giềng truyền kiếp của giặc phương Bắc.[17]  Tiếng chim bìm bịp như bổ sung cho những câu nói liên tưởng, cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi, như phỉ báng lũ tàu khựa tham tàn. Bọn cầm quyền mập ú, núc ních đó, dẫu bề ngoài thơn thớt nói cười nhưng trong huyết quản của chúng, lúc nào, bọn chúng cũng chỉ là một lũ gian trá, thâm độc. Phải chăng con chim bìm bịp nôn nao giục giã kêu lên, như một hồi trống trận dài… cho con nước, lúc “con Nước” Sông Vàm Cỏ Đông chuyển dòng từ “nước lớn” sang “nước ròng” ?!:

“Đồ  bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…”

Bìm bịp kêu Nước lớn hỡi ai!

Hiểm sâu, độc hại! Tẩy chay đếch cần.

 





Chim bìm bịp






Chim chích chòe

Tiếng chim chích chòe cất cao lời phê phán bằng một tràng dài huyên thuyên lảnh lót như “trăm[18] tiếng Tây”. Con chim chích nhỏ xíu, bay bay chớp chớp theo mỗi lượt vỗ cánh lên cao như “nhảy cừu”, cũng hô hào “ghét…ghét…ghét…”,

“bết…bết…bết…”.

Bầy chim se sẻ trên những đọt cây cau cứ rộn ràng đấu khẩu với nhau: “nè…nè…nè…”,

 “thù…thù…thù…”.

Thỉnh thoảng, khi chúng tôi đi ngang qua mấy bụi rậm, vài con chim mỏ nhác, hay con chim cút nào thấy người sợ hãi, bay vù, làm mấy đứa yếu vía, giật mình, đánh thót, phì cười…

(Tôi cứ ngỏn ngoẻn cười thầm một mình, hoang tưởng coi như đang ngậm viên ngọc nghe tiếng loài vật của Công Dã Tràng, nghe chúng nói lên tâm trạng và cảm nghĩ của chúng và thả hồn theo những trang sử cảnh giác, quật khởi của bản lĩnh Việt tộc, qua tiếng chim có ý nghĩa thú vị, bên tai).

…..

Khi lúa phất cờ, trổ đều trên tấm thảm lúa mênh mông khắp đồng, những bông lúa cong trái me, nhấp nhô theo từng cơn gió thoảng, trông thật đẹp mắt. Những bông lúa chín vàng như ươm tơ! Hương đồng ngào ngạt, thơm thơm mùi lúa chín. Sắp đến mùa thu hoạch của nhà nông! Khi ấy, không biết từ đâu bay vể, từng bầy chim lá rụng, chim sắc, chim áo già, chim giòng giọc, chim manh manh… khắp những cánh đồng… rậm rật ăn lúa. Mỗi khi có tiếng ai đó “hù…hù…” một hơi là bầy chim bay lên rần rần…một đàn có thể khoảng vài trăm con

(Thế là có nhừng ông bù nhìn được đem ra trấn giữ khắp nơi trên những cánh đồng. Thường thì Ông mặc môt chiếc áo đen rách, áo tơi, nón lá. Tay cầm một cái dây trúc dài… những bầy chim tinh khôn, mới đầu còn e ngại…Sau đó, chúng nó phớt lờ, tỉnh bơ, chúng nó vẫn sà xuống, xông vào trước mặt Ông bù nhìn canh gác…mà ăn lúa như đi ăn đám giỗ! Xót ruột, nhà nông phải thay thế hoặc đem vứt đi, để rồi đích thân ra ruộng, đuổi lũ chim bay đi nơi khác)

Trơ mắt ngó, chim kéo vào đục khoét,

Bù nhìn[19] kia, sao không kíp quăng đi!



Chú thích:
[1] Bào Trai: Tôi còn nhớ, đối diện Trường Tiểu Học Bào Trai của chúng tôi là một cái đồn Tây có tấm bảng La poste de BaoTrai, trên mái ngói của một dãy nhà sát lộ của đồn Tây, có vẽ chữ BaoTrai bằng sơn trắng rất lớn; sát bên trường là một cái chợ nhỏ, mặt tiền nhà lồng chợ chó chữ Chợ Bào Trai. (Chữ Bào được viết với chữ o cuối).

Ngày nay, chữ Bàu Trai viết với chữ u cuối, theo từ điển Tiếng Việt.

[2] Suối Bào Trai, nay thành kinh Bàu Trai, có cầu Bàu Trai (xưa là một cái cống, với 3 ống cống to thoát nước ra sông Vàm Cỏ Đông); có ghe thuyền miền Tây và miền Đông lui tới buôn bán những đặc sản theo mùa, như mua lúa, mua đậu phọng; bán tro cho nhà nông; bán cây chiết cành; bán đồ sành sứ…

[3] Trái điều, còn gọi là đào lộn hột, ngọt ngọt mà chát, nước trái điều dính vào áo, giặt không ra. Hột điều nằm phía dưới trái điều. Tụi con trai thường lấy hột điều chơi đánh đáo. Hột điều nướng, ăn béo và bùi, vị ngon khó quên.

[4] Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê: tên một tuồng hát Bội, viết theo truyện Tàu, khuyết danh; Tiết đinh San chinh Tây. Tiết Đinh San khi ấy gặp Phàn Lê Huê, nữ tướng Tây Liêu có tài cao, si mê Tiết Đinh San, đầu phục nhà Đường, được kết duyên cùng Đinh San. Hai vợ chồng có công trong việc chinh Tây.

“cầu” là tìm, là cầu hôn.
Do các bạn không biết chuyện tuồng…nên đối đáp ngây ngô rất buồn cười như vậy.

 [5] Ghi chú[*]Truyện Phù Đổng Thiên Vương,: Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ toàn thư, kỷ Hồng Bàng thị ghi chép lại về Thánh Gióng như sau:

Đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông bà lão nghèo chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức thế mà họ vẫn chưa có con. Một hôm bà ra đồng thấy 1 vết chân rất to liền ướm thử xem thua kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai và 12 tháng sau sinh được 1 cậu bé khôi ngô tuấn tú.

Kì lạ thay, cậu bé ấy lên ba mà vẫn không biết nói cười, đặt đâu nằm đấy. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, có giặc Ân tàn ác sang cướp phá nuớc ta. Vua sai sứ đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời sứ giả vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một áo giáp sắt và một con ngựa sắt, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ vươn vai hóa thành người cao lớn, liền phi ngựa vung gươm ra trận, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Trâu. Con ngựa sắt cũng phun lửa đốt cháy quân giặc. Bọn giặc giẫm đạp lên nhau mà chay cũng không thoát chết. Tan giặc, Thánh Gióng đến chân núi Sóc Sơn, cởi áo giáp, phi ngựa lên trời mà đi.

Để tưởng niệm, Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).

[6] Cốt truyện Phù Đổng Thiên Vương

Chuyện kể rằng:

Vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.

Bấy giờ có giặc Ân phương Bắc, xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói:

-Mẹ ra mời sứ giả vào đây!

 Sứ giả vào, đứa bé bảo:

-Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này.

Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ săt ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.

Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng nấu nướng bao nhiêu thức ăn cũng không đủ cho con ăn no, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc, thức ăn nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.

Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến

nơi có giặc, lao vào thiên binh vạn mã toát lên bá khí cường liệt dị thường, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Thánh Gióng dập đầu lạy mẹ cha, tạ ơn công nuôi dưỡng sinh thành rồi lên đỉnh núi Sóc Sơn cưỡi ngựa bay về trời. Vua nhớ công ơn, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.

                                               Tranh Phù Đổng Thiên Vương

Tương truyền, Cao Bá Quát khi viếng đền thờ của Phù Đổng Thiên Vương, có cảm đề ,2 câu đối kiệt xuất, được người đời tán tụng -nay còn bút tích (?):

    

-Phá tặc đản hiềm tam tuế vãn,

Đằng vân do hận cửu thiên đê.

-Đánh giặc lên ba, e quá muộn,

Tung mây còn bực chín trời gần.

                                 Ngân Triều dịch

Hiện nay, đền thờ người anh hùng diệt giặc cứu nước vẫn còn ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội linh đình. Người ta kể rằng những bụi tre màu ngà, ngả nghiêng.rải rác ở huyện Gia Bình vì bị ngựa phun lửa bị cháy sém, mới ngả màu vàng óng như thế, dân làng gọi là những “bụi tre pheo”;còn những dấu chân ngựa sắt ngày xưa, nay đã thành những hồ ao liên tiếp, trải dài. Người ta còn nói khi ngựa phun lửa giết giặc, vòi lửa vô tình đã làm cháy một ngôi làng, cho nên làng đó, dẫu đã được xây dựng từ lâu đời, tục nay vẫn còn gọi là Làng Cháy.

Theo Wikipedia 

***
Chú thích:

[7] Đồng Trụ đến giờ, rêu vẫn lục! (xanh lục)”.

[8] Anh hùng sứ giả nước Nam tên là Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Lê Trung Hưng. Ông được mệnh danh là vị sứ thần "Bất nhục quân mệnh"       (Không để nhục mệnh vua) vì đã hiên ngang, bất khuất, thẳng thừng đối lại câu đối của vua Minh Tư Tông nhục mạ nước ta, trong một buổi lâm triều, có đầy đủ sứ bộ các nước. Nhục nhã, bất chấp thị phi, vua hạ lệnh hành hình ông  vào năm 1638, thọ 65 tuổi.

Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mang (vừa công nhận nhà Hậu Lê và vừa công nhận nhà Mạc) với mục đích muốn cho cuộc chiến tranh Lê-Mạc cứ tiếp diễn vì hai chế độ đều có chính thống. Khi ấy, Trưởng đoàn sứ bộ ngoại giao của Nhà Hậu Lê là Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.

Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông , Chu Do Kiểm (tức Sùng Trinh) lấy lý do "Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ" với mục đích là chưa công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê cũng như vẫn “ lập lờ” công nhận nhà Mạc.

Đồng thời, trong buổi lâm triều, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn, sỉ nhục nước ta nên đã ra một vế đối như sau:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

             

Nghĩa là:

Đồng trụ đến giờ, rêu vẫn lục. [màu xanh lục]

Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột  đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt"   
(Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong).

 

Mộ Thám Hoa Giang Văn Minh (1573 – 1638) Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã kiên cường đối lại thẳng thừng như mộ cái tát tay vào mặt kẻ ngạo mạn, hống hách:

Đằng Giang tự cổ huyết do hồng

           

Nghĩa là:

Đằng Giang muôn thuở, máu còn hồng.

Vế đối này không những đối một cách chan chat về ý mà về hình thức nghệ thuật rất sắc sảo, chính xác, từ với từ, còn có ý nhắc lại việc người Việt đã hai lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.(Máu của giặc đã chết trận tự ngàn xưa, do đại bại ở Sông Bạch Đằng, đời Nhà Ngô, Nhà Trần, hòa nước sông, tuôn ra biển cả, đến bấy giờ  vẫn còn màu hồng, như  rửa trôi chưa hết.- NT)

Vào lúc đó, câu đối này được xem như là một cái tát “đòn hằn”, và “hạ gục” vào mặt hoàng đế nhà Minh, trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước chư hầu. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận, quá nhục nhã, quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã ra lệnh giết ông bằng cách cho trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem "Sứ thần An Nam to gan, lớn mật đến đâu".(!!!)

Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Tuy nhiên, cuối cùng, khibình tâm, Minh Tư Tông vẫn kính phục một bậc trung thần nghĩa sĩ, hết lòng vì vua vì nước, cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và cho đưa thi hài ông về nước.

Khi thi hài của Ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đều vô cùng thương tiếc, bái kiến linh cữu và truy tặng Ông chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, với sắc phong:

使        ,           .

"Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng"

 (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).

Cuối cùng Ông được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này hiện còn có một cái quán (như một ngôi nhà nhỏ) là nơi linh cữu ông đã được quàng lại một thời gian ngày xưa để các quan lại, sĩ phu và nhân dân thương tiếc bái biệt, được gọi là Quán Quàng. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa. ‎

Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội.

[9] Đằng Giang muôn thuở, máu còn hồng.

Vế đối nhắc lại Sông Bạch Đằng là mồ chôn giặc phương Bắc. Ngô Quyền chôn cọc gỗ lim trên sông Bạch Đằng, đánh tan quân Nam Hán, chém đầu Hoằng Thao, tk X, năm 938; Trần Hưng Đạo cũng chôn cọc gỗ lim trên sông Bạch Đằng đánh tan quân Nguyên, tk XIII, năm 1288. Thuyền giặc bị vướng cọc ngả nghiêng, không nhúc nhích, quân ta thừa thế giết giặc máu nhuộm đỏ cả khúc sông. Các tướng giặc đều bị quân ta bắt sống như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc…

[10] Thiết tưởng từ “ma nước Nam” ở đây hợp lý hơn “quỷ nước Nam”. Ma có vẻ hiền lành, quỷ hung ác. NT

 [11] Xưa có một nàng dâu của một gia đình nghèo. Để “làm dâu”, ngày ngày chị phải đi bắt cua, bắt cá quanh suối. Chị nấu cơm, kho cá, luộc rau, nấu canh, chiên cá đều tốt. Sau một thời gian, chị bỗng “dở hơi”, ngẩn ngẩn ngơ ngơ và nhất là lần nào nấu cơm cũng sống cả. Để ý, người mẹ chồng rình xem thì thấy khi cơm sôi, chị lấy nắp vun nồi cơm đặt trên đầu mình một cách liên tục, có vẻ rất thoải mái. Thấy vậy, người mẹ chồng bước ra, quát:

-Mầy nấu cơm gì kỳ vậy? Hèn gì cơm sống!

Thuận tay, đang cầm chiếc đũa bếp, bà gõ vào đầu nàng dâu. Nàng dâu chỉ kêu “Á!” một tiếng rồi ngã lăn ra chết. Bà mẹ chồng hốt hoảng, nhìn xem thì thấy chỗ vết thương tét sọ, đỉa bò ra lúc nhúc. Bà mới vỡ lẽ là nàng dâu đã bị đỉa chun lỗ tai và đỉa đã sinh sôi nẩy nở trong đầu con dâu…

[12]Lộn thinh đỉa: Là lấy 1 que dài hơn đỉa, luồn vào 1 đầu đỉa, cho đến lhi que qua đầu kia. Con đỉa bị lộn ngược, phơi bụng ra ngoài, nắng nóng khô lại và nó sẽ chết tiệt.

[13] tùng xẽo là hình phạt thời Trung cổ rất ghê gớm. Tội phạm gian ác bị lột trần, cột vào một trụ đứng. Khi một tiếng trống “tùng” vang lên là bị “xẽo” một miếng thịt…cho đến chết. Hoặc nướng đỏ các loại dao, kiềm…đem áp vào tội nhân, kiểu như vậy.

[14] Đường mồi là một con đường đất nhỏ, ăn vào một con đường khác lớn hơn.

[15] Trần Tế Xương 1870-1907, năm 1900, thi trượt và cũng vì tin bạn, lãnh nợ dùm bạn, cho nên phải mất nhà… Ông đã tâm sự trong một bài thơ bi lụy, ngao ngán tình đời:

Gần Tết than việc nhà

Bố ở một nơi, con một nơi,

Bấm tay tháng nữa hết năm rồi!

Văn trường ngoại hạn, quan không chấm,

Nhà cửa giao canh, nợ phải bồi.

Tin bạn hóa ra người thất thổ[15]

Vì ai nên nỗi quyển đâm vôi.

Ba mươi mốt tuổi đà bao chốc,

Lặn suối trèo non đã mấy hồi

Bài nầy được sang tác vào cuối năm Canh Tý, 1900, khi đã hõng thi. Lúc ấy gia đình Ông bị Mụ Hai An tịch biên đoạt ngôi nhà 247 Phố Hàng Nâu, phải đi tá túc nhà người bà con là Trần Đăng Chu. Sau đó, Mẹ vợ, Bà Hai Sửu thương tình, mới nhường cho gia đình Ông ngôi nhà 280 Phố Hàng Nâu.

Trích Thơ Trần Tế Xương, nxb Văn Hóa-Thông Tin, 1998.  (NT chú giải).

 [16] Cái gì quá đáng thì không tốt. Dịch theo một câu tục ngữ Pháp: Ce qu' est de trop, c’est mauvais.

[17]Vua Trần Nhân Tông (陳仁 ; 1258 – 1308) nói:

Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu… 

(trích từ chương 14 tiểu thuyết Huyền Trân công chúa của nhà văn Hoàng Quốc Hải)

[18] trăm là nói, “trăm hay không bằng tay quen”= nói hay không bằng làm giỏi.

[19] Có bạn giải thích “tếu”; bù là thua; nhìn là xem, ngó, canh giữ. Vậy bù nhìn là không nhìn được; canh giữ là thua. Phải chăng cũng đúng?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét