Phần 5: Chuyện câu cá, trích trong Bông Cỏ May, Truyện ngắn Ngân Triều (tiếp theo)
Tạp
bút
Chuyeän
caâu caù
·
Ngân
Triều
Chuyện
câu cá, ảnh minh họa
Lời
dẫn:
Nhà tôi ở trong một
“châu vi” (1), đối diện với một cái đồn Tây Bào Trai, thuộc làng Tân Phú Thượng.
Vể phía Nam châu vi, có một dòng suối (2) nhỏ, lắm cá, chảy ngang. Dòng nước suối,
chảy xiết vào mùa mưa và êm đềm trôi ra sông Vàm Cỏ Đông, mùa khô. Nguồn nước
chảy về suối, xuất phát từ vạt ruộng đồng phía Đông, thuộc miệt Bào Công, Tha
La (3) Đức Ngãi và đồng bưng, Kinh Thầy Cai.
Thuở ấy, các bạn nhỏ
và tôi cứ nghĩ “chiến tranh là chuyện của người lớn, chỉ có ở nơi xa” và lũ con nít chúng tôi chỉ biết hồn nhiên,
lang thang vui chơi trong một vùng đất lành
có nhiều cá, nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, vô tận …
Khoảng năm 1952-1954, quê tôi có vẻ
yên ổn, thanh bình. Đồn Tây hiếm khi báo động. Cái vọng lâu cao trước đồn đã được
hạ xuống. Ít khi thấy xe cơ giới có trang bị súng canon vingt (đại bác 20 ly)
chạy ra, chạy vào, tuần tiểu. Thỉnh thoảng, chúng tôi chỉ nghe tiếng súng douze-sept (đại liên đuôi-sết, 12,7 ly), vài
loạt của tàu mặt dựng trên sông Vàm Cỏ Đông vọng về và lâu lâu thấy những chiếc
máy bay thả những lính nhảy dù… đâu đó, xa tít ở cuối chân trời…
Vui biết mấy một thời
Tiểu học! Hễ đến trường là bọn con trai chúng tôi đem theo trong cặp bàng những
đồ chơi trẻ con, chờ trống điểm giờ ra chơi là rủ nhau “cáp độ”. Đó là những
trò chơi nhỏ theo mùa như bắn “cu li” hay bắn bi, bắn bi ăn bi, bi một lỗ, hai
lỗ; đánh đáo lỗ hoặc đánh đáo ra, đánh đáo hạt điều, đánh đáo tiền cắc; chơi
“chọi tạt” ăn hình Tarzan, hình cowboys hoặc ăn bao thuốc lá thơm xếp thành
hình tam giác; chơi đá gà, chơi u bắt mọi, chơi khô-ướt, chơi đếm 5-10, chơi cá
sấu lên bờ; chơi rồng-rắn cắn đuôi, chơi đá banh…Ngoài ra còn có các trò chơi bị
cấm vì nguy hiểm như “đánh quạ” giống như đánh khúc côn cầu (hockey), ném banh,
đánh gồng, bứt dây dộng chuông…
Nhóm con gái thì chơi
các trò chơi đằm thắm nhưng không kém phần hào hứng như đánh đũa, nhảy dây; ông
đi qua bà đi lại, bắc kim thang; than thế nổ, nhảy chén chậu, cùm nụm cùm nịu…
Những ngày nghỉ học,
đầu mùa mưa, chúng tôi thường rủ nhau đi câu cá ở suối Bào Trai, đi giăng câu,
thả lưới nhưn, đặt lờ bóng; đi câu cắm ở ruộng, đi câu ếch, đi câu nhấp, đi câu
cá trê, đi câu cá rô, “câu tọt”( câu nhấp lưu động…)
Đến cuối mùa mưa, nước
ruộng, nước ao, nước bàu trong vắt, có màu cỏ khô nâu; nơi cạn có thể nhìn thấu
đáy nước. Bấy giờ, sau khi được nhiều cá là chúng tôi rủ nhau tắm bàu hoặc tắm
ao cho mát…Trời xanh mây trắng, rộn ràng tiếng chim hót vang rân. Chúng tôi đùa
giỡn trong tiếng la hét rộn ràng thỏa thích, khác nào như lạc vào trong truyện
cổ tích thần tiên…Ôi! một thuở trường làng.…Còn một chút gì để nhớ…Bao giờ tôi
quên?!
Tắm suối (Ảnh minh họa)
Chúng tôi thường rủ nhau đi câu cá
ở suối Bào Trai (ảnh minh hoạ)
(1) Thời đó, châu vi như một cái ấp nhỏ, bị bắt buộc tập trung, nên điều kiện sinh hoạt của người dân rất thảm hại về mặt vệ sinh. Gần 200 nóc gia, không có lấy một nhà vệ sinh nào. Khi cần là ra đồng núp bụi, núp bờ…gieo rắc những “di sản” tràn lan, mới có, cũ có, như một bãi rác hôi thối, tỡm lợm…Chỉ tội nghiệp cho những trẻ mục đồng phải thường giẫm đạp “ghê chân”, khi phải lùa trâu bò đi và về ra những cánh đồng xa. Có thể do đó, mới có từ “đi đồng” là đi ra đồng làm cái chuyện khẩn thiết bản thân.
(2) Dân địa phương gọi
là dòng suối vì hai bên bờ có những bóng cây; có những lùm, bụi, cây dại thấp;
có biền đầy những dây leo và dòng nước, dù chảy xiết hay lặng lờ trôi ra sông
cái; đối với tôi, dòng suối ấy, rất gần gũi, quen thuộc, mến thương…
Sau nầy, khi thành Tỉnh
Hậu Nghĩa, con suối đó được khai thông và nâng cấp nhiều lần đến tận sông Vàm Cỏ
Đông. Ngày nay, tên con suối đó không còn nữa. Tên “con suối xưa” đã trở thành
một con kênh rộng 40m, có nước lớn, nước ròng, có một cây cầu Bàu Trai dài 60m, có
ghe thuyền miền Tây tấp nập lui tới Bến Chợ, bán hàng hóa, đặc sản miền Tây,
bán phân tro theo mùa hoặc thu mua những nông sản địa phương…
***
Những ngày nghỉ học, đầu mùa mưa,
chúng tôi thường rủ nhau đi câu cá ở suối Bào Trai, đồng thời xem người ta đi
đánh bắt cá bằng nhiều phương tiện khác nhau.
Đến điểm câu, chúng tôi ngồi trên một
tấm thảm cỏ chỉ êm như nhung, trên bờ suối. Mỗi đứa chúng tôi câu bốn cần câu
phao là chuyện bình thường. Chúng tôi chọn khu vực thả câu kề cận nhau để có thể
vừa câu cá, vừa tán gẫu cho vui.
-Ê bồ, bồ có nhớ tụi mình biết đi
câu cá hồi nào không, hồi lớp mấy không?
-Tui không nhớ rõ
lúc mình câu chung lần đầu là năm lớp mấy trường làng nhưng có thể khi ấy, tụi
mình hãy còn bé lắm.
-Phải hồi 10 tuổi, lớp tư, cours
enfantin[1]
đúng không?
*
-Có lẽ là như vậy.
Đi câu phải biết móc mồi, biết canh độ sâu gắn phao, biết quan sát chỗ có cá để
thả câu, biết kiên nhẫn đợi chờ cá-ăn-câu-phao-nhịp; biết bình tĩnh khi giật
cá…như vậy là câu cá được đấy.
-Móc mồi vào lưỡi câu, gắn phao, thả
câu, kiên nhẫn ngồi chờ…thì ai cũng làm được. Chỉ khi giật cần câu là cả một
nghệ thuật trong đó…Giật không đúng là sẩy cá. Thật tiếc uổng! Con cá sẩy, thường
là cá to. Tuy vậy, còn có người đi câu, để mà câu thôi, không cần có cá. Đi câu
để lắng đọng tâm hồn; suy gẫm chuyện mình, chuyện đời; câu cá để chờ thời, chờ
vận, như một người chừng mực, hiểu đời, biết sống; như một thức giả; như một bậc
hiền-nhân-quân-tử; như bậc thánh nhân… thì cũng có khối người đấy!
- Nhớ bài “Chăn trâu”, học thuộc
lòng hồi đó không?
“Ai bảo chăn trâu là khổ?
– Không, chăn trâu sướng lắm chứ! Đầu đội nón mê như
lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai
nghe chim hót trong vòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ. Trong khoảng trời
xanh, lá biếc, tôi với con trâu thảnh thơi vui thú, tưởng không có gì sung sướng
cho bằng…”
(Quốc Văn Giáo Khoa
Thư)
Chăn trâu, ảnh minh họa
-Đúng phoóc?
-Vậy mình đổi lại mấy chữ thành đi câu cá đi!
- Ờ, hay đó! Thử xem!
“Ai bảo đi câu là khổ? – Không, đi câu
sướng lắm chứ! Đầu đội nón mê như lọng che. Tay cầm cần câu như roi ngựa,
ngất nghểu ngồi trên thảm cỏ, tai nghe chim hót trong vòm cây, mắt trông
bướm lượn trên khóm hoa. Trong khoảng trời xanh, lá biếc, đi câu thảnh
thơi vui thú, tưởng không có gì sung sướng cho bằng…”
-Ôi! Hay! Hay quá, hay quá là hay! Xin thưởng cho một
tràng pháo tay: (đốp đốp đốp…)
Hay!
Hay quá, hay quá là hay! Xin thưởng cko một trận cười: (meo meo meo…)
- Cười gì mà nghe tiếng mèo ngao vậy?
-Hê hê…
…..
-Vậy là, hễ cá lôi phao về bên phải,
phải giật ngược về phía bên trái và ngược lại. Hễ cá lôi phao về phía xa trước
mặt thì giật bổng lên. Còn cá lôi phao về phía mình đứng câu?[2]
-Thì cũng giật bổng
thôi. Có thể đây là lý thuyết cơ bản, là bài học vỡ lòng của người đi câu cá.
- Sao phải giật như vậy? Giật tùy
thích thì có dính cá không?
-Biết sao không? Anh hai tôi nói rằng,
phải giật cần câu theo cách ấy thì lưỡi câu mới dính sâu vào mang cá, không sẩy;
còn giật tự do thì có khi cũng dính cá, mà phần lớn là sẩy cá; khi ấy, lưỡi câu
dính gần mép cá; cá bị giật lên khỏi nước, sức nặng của cá cùng với sức cản của
nước ghì lại, làm cho cá bị sứt mép là cá sẩy, hoặc nó bay từ bên nầy rơi tõm
sang bên kia, như có dịp “đằng vân”,
thăng thiên chơi, cơ hội thú vị bay lên trời miễn phí …
-Đúng rồi! Ha ha!…
…….
-Còn việc làm mồi câu cá thì…có bí
quyết gì không?
-Có chớ, bí mật gia truyền nên ít
ai phổ biến. Tui chỉ nghe kể lại, cách chế biến mồi câu đại khái mà câu cũng nhạy
hơn bình thường. Đối với cá rô thì xào
trứng kiến với mỡ thịt bò, cạo thêm một ít sáp đèn cầy cho dễ vắt mồi câu,
xào đừng ướt quá…mồi câu đơn sơ, dễ làm như vậy rất nhạy. Đối với cá trê thì lấy
nước rô-ti thịt, cá còn dư trong chảo,
đựng trong một cái hũ không rửa sạch. Mỗi khi móc mồi trùng xong là nhúng lưỡi
câu có mồi trùng vào hũ nước cặn rô ti, mới thả xuống nước… rất nhạy, cá trê đến
ăn liền hè.[3]
Đến mùa lúa trổ đòng đòng, cá rô ở ruộng mập ú cỡ ba ngón
tay, mỗi lần giật cần, nghe sướng tay lắm. Đi câu chừng 1 tiếng đồng hồ, được
2-3 kg cá rô…là chuyện “chắc như bắp”. Tuy nhiên, nói đi còn nói lại, ngày nay
dân đông, ruộng lúa thâm canh đều sử dụng rất nhiều thuốc trừ sâu. Mặt khác,
khi mùa mưa đến, cá lên ruộng sinh sản được, phải gian nan thoát hiểm, may mắn
vượt qua biết bao nhiêu là những công cụ đánh bắt cá ở dọc đường đi. Còn lại số
lượng cá được lên ruộng đồng sinh sản, chừng 20%. Số cá ấy còn bị những người
đi “chích điện” truy tìm, vơ vét nốt. Cho nên số lượng cua, cá, ếch, rắn…trên
ruộng đồng quê mình chỉ còn rất ít so với hơn 60 năm về trước. Môi trường sinh
thái mất cân đối nên lúa bị nhiều sâu rầy làm hại.
Ba tui nói, hồi đó, trên một đám ruộng nước mới
cày lật, ếch nhỏ, ếch lớn ngồi đặc sệt trên các vỡ cày, rình mồi. Có một cậu bé
nào “rê” ếch bằng một cần câu dài chừng hai sải tay, trên đám ruộng đó, thì có
hàng trăm con ếch ùa theo đường câu rê, giành ăn mồi… cậu bé chăn trâu đó, cứ
giật sẩy rất nhiều mà bọn ếch cứ kiên nhẫn, lì lợm, ngồi chờ mồi câu mãi…
Mỗi khi
đi trên bờ ruộng thăm đồng, cứ vài bước chân là ếch từ bờ nhảy xuống ruộng lúa nước
tõm…tõm…liên hồi như tiếng trống bỏi[4]
Còn cá
con thì nhiều vô kể. Vác nhũi đi nhũi chừng một lát thì được một nồi cá con kho
quéo, đủ bữa cho cả nhà, chưa kể các cách bắt cá khác…
…..
-À mà bồ có đi câu đêm lần nào
không?
-Có chứ! Nhất là gần mùa gió Bấc,
cá theo mưa lên đồng đã lớn. Trời im vắng, se lạnh, chỉ nghe tiếng đớp móng “uủn…uủn
…” của cá, phải đem theo một cây đèn pin hộp để tiện dụng. Người ta thường câu ở
dưới suối, câu trước các miệng rọ…
Khi đến chỗ câu, người đi câu lần
mò móc nguyên 1 con trùng sành vào lưỡi câu trê, thả mồi xuống nước, câu ngầm,
không cần phao,[5] nhấp
nhấp liên tục làm như con trùng đang cử động, chốc chốc lại nhè nhẹ giở cần
lên, nếu cảm thấy nhợ căng hơi nặng tay và có đối lực lại, là cá trê đã ăn mồi;
lập tức, giật cần ngược lại… là dính một “chú cá trê”. Khi lên khỏi nước, dính
vào lưỡi câu rồi, nó thường vừa giãy giụa vừa kêu “kẹt… kẹt…” nho nhỏ…Ở ruộng
hay bên dòng nước, cá trê thường đi kiếm ăn hai lần, lần đầu là lúc hừng đông
sáng và lần sau là chập tối. Mỗi đêm câu đến khuya, tùy theo có “sát cá”[6]
hay không, số lượng cá câu được hai ba ký cá là chuyện bình thường.
…..
- Bồ có đi “soi ếch” lần nào không?
Chắc là thú vị lắm?
Soi
ếch,
ảnh minh họa
-Người ta đi soi ếch như thế nào?
- Phải có đồ nghề! Đồ nghề soi ếch
rất đơn giản: một cái đèn soi tự chế, một “chiếc đèn con cóc bằng thiếc” chuyên
dùng, có bán ở tiệm tạp hóa; một cái nơm để chụp ếch; thủ theo một cái hộp quẹt
máy cho nhạy… Nếu không kịp chuẩn bị đèn đuốc, có người soi ếch bằng “con cúi” bằng rơm cũng được.
Thời gian thuận lợi đi soi là vào
lúc quá nửa đêm. Khi ấy, tiếng ếch kêu đối đáp nhau vang đồng. Chúng kêu lên,
tìm chọn bạn tình, để làm cái chuyện yêu đương mà dân gian gọi là “mắc cặp”.
Người đi soi chỉ cần soi đèn, men theo hướng có nhiều tiếng ếch kêu vì khi ếch
đã mắc cặp thì không rời nhau, không hoảng sợ chi cả, cứ an vị tại chỗ, bất kể dâu bể tang thương, trời gầm không buông. Trong ánh đèn soi, bộ da đen-vàng đặc trưng của
cặp ếch nổi trên mặt nước lồ lộ, cùng với 8 cái chân bơi bơi. Định vị xong, quật
ngang lồng đèn để chúng không thấy mình, đưa nơm tới chụp…là bắt cả cặp. Ở điểm
có nước lấp xấp, thường có nhiều ếch. Chúng nằm lóc ngóc, nổi trên mặt nước,
nơm bắt không kịp luôn! Khi lùng sục xung quanh vạt ruộng tình trường, bắt hết ếch rồi…lại lắng nghe tiếng ếch kêu
hướng nào, xách đèn men theo hướng đó…tiếp tục soi đèn bắt ếch[7]
-Đi soi ếch, bồ có gặp ma không?
-Tui thì chưa thấy ma bao giờ nhưng
nghe người lớn kể chuyện ma; dù chỉ đi theo anh hai tôi để xách đục hoặc xách
giỏ và thủ một cái chỉa đùm phòng khi gặp rắn; lắm lúc tui cũng thấy rờn rợn
khi đi ngang các đám mả đất, thấp lè tè…vì có thể có ma trơi[8]…
-Ghê quá!
-Mà ba tui thường nói “Đức trọng quỷ thần kinh”. Người có đức
lớn, ma quỷ cũng phải sợ người ấy. Trong thế giới hữu hình còn khó làm hại
nhau, huống chi hồn ma dật dờ, lãng đãng vô hình…làm sao “nhát” hay hại mình được?
Người lớn thì nói vậy, còn con nít bọn mình…nghe chuyện ma rồi…hết dám đi soi ếch,
câu đêm… đi coi hát một mình ban đêm luôn…
-Kìa! Cái phao của bồ nhịp nhịp rồi
kìa…chắc là cá trê ăn…coi chừng giật đó!
…
Thế mà đã hơn sáu mươi năm trôi
qua! Sáu mươi năm mà tưởng như mới hôm qua, mà ngỡ ngàng như trong giấc mộng!...
Về họp mặt bạn cũ, ôn lại những kỷ
niệm của một thời thơ ấu xa xưa, lòng chợt bồi hồi khôn tả! Bạn bè giờ đà ly
tán cả. Có đứa xa lắc phương trời. Có người rêu phong cùng cát bụi, ôm mộng tuổi
trẻ, vùi thây quên đời trên chiến trường khói lửa hay trong biển cả âm u. Nam nữ
chúng tôi đều ở tuổi U80, da mồi tóc bạc, đi đứng lụm cụm khó khăn. Ai cũng đeo
trên vai gầy một số căn bệnh tuổi già để chờ ngày “đoàn tụ” với người thân, ở
bên kia thế giới mới.[9]
Còn gặp nhau là còn trẻ trung, còn rộn rã những tiếng cười thân ái, còn sống lại
những kỷ niệm thương mến của một thời trường làng đã tàn héo từ lâu…Rồi đây, biết
năm sau và những năm sau nữa, ai còn - ai mất? Số mệnh bất định, khôn lường. Tuổi
già như ngọn đèn sắp hết dầu, chập chờn trước gió, vụt tắt vô chừng. Giây phút
tương phùng của bạn già…thật là trân quý biết bao!
Chuyện ngày xưa…
cánh hoàng hôn không đợi!
Ngân
Triều
Cảm ơn anh chị dành chút thời gian,[10]
Còn gặp nhau dẫu hoàng hôn không đợi
Tuổi thơ bay nhanh, trời xanh mây nổi,
Chuyện tâm tình khắc khoải cuối trời quên.
Ngân Triều
Tâm hồn tôi cứ rộn ràng xao động, vui
buồn trong thương mến và ngậm ngùi tiếc nhớ, một thời thơ ấu hoa mộng miên man…
Quê hương giờ đang chuyển mình thay
đổi toàn diện, từng ngày. Những tài nguyên thiên nhiên, gắn liền với những cánh
đồng mênh mông của một thời thơ ấu hơn sáu mươi năm trước, giờ đã cạn kiệt do
khai thác, đánh bắt một cách bừa bãi; tàn diệt môi trường một cách thiển cận,
nhẫn tâm, vô ý thức. Nếu kể về chuyện ếch - cá của quê mình, thuở ấy, con cháu
bây giờ và sau nầy, chắc chúng khó lòng hình dung và có thể tin được. Những
chuyện câu cá thời thơ ấu đó…có thể chỉ còn là những chuyện xưa tích cũ lỗi thời…
-Bồ còn nhớ mẩu chuyện vui nào, hồi
đó không? Đã chìm sâu hơn sáu mươi năm rồi… xa lắc!
-Ừa! Hơn sáu mươi năm! Thời gian
nhanh quá! Chuyện như mới ràng ràng đây thôi…trong chớp mắt, phút chốc…tụi mình
đã lẩn tha lẩn thẩn, mang thân già lụm cụm!…Chuyện
câu cá ấn tượng, sao mà quên được! Nhớ hoài. Chuyện là như vầy:
“Lúc đó, vào một buổi sáng nghỉ lễ,
tui cùng một tốp bạn ra cánh đồng loáng nước, bắt cua. Có một anh bạn ở Chợ Lớn mới chuyển về, cũng muốn nhập
bọn đi bắt cua cho biết. Đến nơi, chúng tôi cứ để chân trần, ùn ùn lội trong rỗng
nước của đám đất chưa cày lật, ngập đến nửa ống chân. Nước ruộng trong veo
màu-vàng-nâu-cỏ-cháy. Nghe tiếng động, cua ở trong rỗng nước chạy ngời ngời về
phía trước mặt mình như trò chơi đuổi - bắt. Khi thấy cái khuôn nhỏ, vuông
vuông, màu tím-trắng có vân, chạy trước mặt mình, đó đích thị là một con cua,
thế là thò tay chụp nó, tóm nó theo bề dọc các ngoe, hay nắm hai bên cái mai,
tránh hai cái càng ra, bắt bỏ vào giỏ là xong. Hoặc là lấy chân đạp nhẹ cái mai
cua, giữ nó lại trong chân rồi cẩn thận thò tay bắt lấy. Nếu không biết cách
tóm nó, ngón tay mình có thể bị cua kẹp, đau điếng.
Nếu không biết
cách tóm nó, ngón tay mình có thể bị cua kẹp, đau điếng.
Đang
hăng say vào cuộc săn lùng cua, bỗng nghe một tiếng la thảm não, vang lên: “Ui da!”. Cả bọn ngoái nhìn thì thấy nạn
nhân là anh bạn mới đang nhăn nhó, để thấy một con cua mới lớn kẹp sâu vào ngón
tay út.
-Ui da! Đau quá!
Tui liền chạy lại cứu. Lính quýnh,
khó có thể bẻ càng cua. Tui liền nắm cả bàn tay dính cua của bạn, đặt nhanh xuống
mặt nước; theo kinh nghiệm dân gian; khắc cua sẽ nhả càng ra, bôn tẩu. Mà quả
như thế thật! Khi vừa đụng mặt nước, con cua mới lớn đó tha cho anh bạn mới của
tôi, nó liền nhả càng tẩu thoát. Nhưng nó có chạy đâu cho khỏi tay tui. Nước
trong, thấy bóng nó ngời ngời! Nó vừa rời khỏi tay anh bạn là nó liền nằm gọn
trong tay tui.
-Mi sắp hóa kiếp mà còn bướng bỉnh, làm tàng, sức mấy mà giỡ trò anh
hùng rơm! Ta cho mi biết tay! Đồ ngang ngược![11]
Thế là tui thộp lấy nó, vụt mạnh nó
vào giỏ của bạn. Nó nằm cong queo. Quả là bạn ấy chưa biết cách bắt cua. Ngón
tay út ngòi viết khuyết sâu, rướm máu. Cua mới lớn, càng rất sắc.
-Có
ai có dầu gió không?
-Có dầu
cù là Mác-su[12]
nè!
-Một
chút hết liền hè!
-Sao không để ý? Chụp nó, phải dứt khoát, cẩn thận, tránh hai cái càng
nó ra![13]
-Ha
ha… “bắt cua, cua kẹp, bắt rùa rùa bơi!”
-Thôi đi
bạn! Cô dạy là người ta đang bị rủi ro, ngoài ý muốn, chớ nên “cười” mà tội
nghiệp!
-Cười
người chớ khá cười lâu,
Cười người bữa trước, bữa sau người cười.
- Chớ
nên châm chọc bạn nhé!…
-À! Có phải chuyện bạn “Ngà cua kẹp” không?
- Thì đó![14]
Nhưng sau đó, còn tiếp liền một chuyện vui nữa, đúng
không?
- Ờ! Ngà cua kẹp sau đó một lúc, tự nhiên lại la “oái oái!” lần nữa,
rồi ba chân bốn cẳng chạy té nước, quăng cả đục cua.
-Có
chuyện gì vậy?
Mặt tái mét, Ngà nói trong hơi thở hổn hển đứt quảng:
-Sợ
“quá ể”[15]
…Thấy ghê quá!
-Chuyện
gì? Ở đâu?
-Đằng
…kia cà!
Không hiểu chuyện gì xảy ra mà bạn
lại “khiếp vía” đến thế. Mãi sau bạn
mới nói:
-Con
ếch…
-Có
con rắn ở đó phải không?
-Không
phải rắn! Ghê…lắm!
-
???
-Có hai
con ếch, Con ếch mẹ …cõng con ếch con, đằng kia kìa!
-Ha
ha…
Cuối cùng hóa ra là một cặp ếch đang
“mắc cặp”. Có lẽ vì quá xa nhau nên
khi tìm được nhau là đã quá muộn trong “chợ tình”. Dù muộn, nhưng vẫn “yêu
nhau” đắm say, “ái ân quên trời quên đất,
quên trời đã sáng từ lâu…Thời gian sao quá muộn màng”!
Ngà là dân thành phố mới về, lần đầu
mới thấy hai con ếch mắc cặp[16], nên mới lạ lẫm, sợ hãi trong ngớ ngẩn,
buồn cười…”
…..
-Bồ kể tui mới nhớ một chuyện khác:
-“Hồi đó, chiều tối tui thường đi
ra ruộng cắm câu. Sáng sớm tui háo hức, lon ton đi thăm câu, bắt cá về…Sao có một đầu cần câu bị kéo sát mặt nước?
Dây nhợ kéo nghe nằng nặng, rối vòng trong bụi lúa. “Chắc là đã dính một anh “cá lóc” to đây”, tui nhủ thầm… Khi lui
cui nhổ cần, kéo lên … thấy một phần da bông bông cục cựa, loáng thoáng trên mặt
nước nhiều cỏ. “Đúng là một con cá lóc
to”. Sợ sẩy thì uổng, tui hồi họp, lấy hai tay chộp vào chỗ da bông bông
đó, tóm nó kéo lên. “Oái! Con rắn!”,
tui buông tay, hào hễn bỏ chạy thật xa…Một lúc lâu định thần mới quay lại, trở
gốc cần câu cắm nện cho nó mấy cây, nó mới “ngay
đơ cán cuốc”…rồi cứ để nguyên lưỡi và nhợ câu…mà cho vào giỏ. Hóa ra là một
con rắn ri cá khá to.
Chuyện hi hữu là vầy. Cái cần câu
đó đã dính sẵn một con cá rô nhỏ trước đó rồi, con rắn ri cá lại đến xơi con cá
rô đó, nên nó mới dính câu luôn. Sự việc hồi họp, buồn cười, trớ trêu, làm mình
muốn “lên ruột”[17],
Thật là con mắt tráo trưng quá! Hi hi… Mà bồ kể nốt chuyện kia đi!”
…..
- Chuyện nầy là do
“cơ duyên” thôi! Đó là chuyện câu cá! Lần đó đi câu, tui câu được một con cá lạ,
hình như cùng họ hàng với cá Nược![18]
-À! Cá Nược, loại cá có vú ở sông
Vàm Cỏ Đông mà. Mà bồ câu cá đó, ở điểm câu nào vậy? Loại cá gì?
- Đích thị, câu ở
sần sông mới có, chỗ phải im ắng… Tôi câu được một “cô ả cá Ngần” tuyệt đẹp!
- Ồ! Cá Ngần là Cá Ngân Long mà,
loại cá cảnh quý hiếm? Khối tiền đó! Bồ có đem bán cho ai không?
được một “ cô ả cá Ngần” tuyệt đẹp!
-Ừa! Chim trời cá
nước, mình có duyên mới câu được một con cá lạ, hỏi ý kiến bà già…chớ bán cho
ai.
-Bà bảo sao?
-Để nuôi.
-Ông nuôi được bao lâu?
-Rất lâu à nghen.
-Rồi nó có sinh sản gì không?
- Có chớ! Sinh sản
được 6 lứa, mà sao mỗi lứa chỉ có …một con hè!
-Nó dễ nuôi không?
- Nhờ Trời…nó rất
dễ nuôi…Đến nay vẫn còn nuôi nữa đó!
-Mà nó lớn chắc là cái bồn xây lớn
lắm phải không?
-Không! Nó ở nhà
chung với tui! Chớ không ở trong bồn vì nó có chân đi mà!
-???
A! Biết tỏng rồi![19]
Bồ nói văn chương, mỹ từ pháp…mà mình cứ tưởng là bồ câu được con cá Ngân Long![20]
Bồ kể
chuyện khéo lắm, ví ngầm, ngoắt ngoéo… tự trào! Thiên tình sử của
chàng và nàng… vậy mà mình cứ ngỡ …là
“Chuyện
câu cá”.
Cảm tác khi đọc “ Chuyện
caâu caù “ của Ngân Triều, Nguyễn
Nam[21].
Sao mình maûi
caâu
Soøng ñôøi ngoàn ngoän hö vinh,
Dö ba bieån moäng, sao mình maûi caâu?
Hyù tröôøng thôøi theá beå daâu,
Nöôùc coøn cau maëtnieàm ñau ñoaïn tröôøng!
Sao
mình maûi caâu
Sòng đời ngồn ngộn
hư vinh,
Dư ba biển mộng, sao mình mải câu?
Hý trường thời thế bể dâu,
Nước còn cau mặt nỗi đau miên trường.
[1] Trường sơ cấp thời đó có 3 lớp: Lớp năm hay
vỡ lòng gọi là cours préparatoire; lớp tư là cours enfantin, lớp ba là cours
élémentaire. Trường Tiểu học có 5 lớp, ngoài 3 lớp như trường sơ cấp, còn có
thêm hai lớp nữa là lớp nhì, cours moyen và lớp nhất là cours supérieur.
Bí quyết làm mồi cá rô của người đi câu rất tân kỳ và hiệu quả lắm,
có phổ biến trên tạp chí Kiến thức ngày nay…rất tuyệt vời! Nghề đi câu cũng lắm
công phu. Cách làm mồi nhử cá rô như sau:
-1 muỗng canh, sữa bột em bé.
-1 muỗng canh, cà phê bột thơm ngon, hay 1 gói càfé sữa hòa tan
cũng được.
-1 lon cám rang vàng.
-5-7 cánh tai vị hay ngũ vị hương là vị thuốc Bắc đại hồi, mua ở
tiệm thuốc Bắc hoặc ở các tiệm chạp phô bán đồ gia vị; rang lên đâm nát rất
thơm.
-1 ống thuốc chích dầu bạc hà 2ml hiệu Solucamphre cốt để tạo
mùi thơm kỳ dị.
Tất cả 5 món trộn đều, bỏ riêng vào 1 lon có
nắp đậy, thế là đã có mồi nhử cá rô rồi đấy. Mồi nhử đem trộn với bùn, thoa đều
tráng đáy, ở điểm thả câu là rất nhạy.
Tôi có chỉ cách
cho 1 bác sĩ quen, ông ta cảm ơn rất nhiều vì chỉ câu có 1 đám ruộng, trong
1 giờ được hơn 3 kg cá rô.
Chú thích:
[4] Trống
bỏi: Đồ chơi em bé, trống bỏi có 2
mặt nhỏ như cái chén, bịt bằng da ếch hay bong bóng lợn, có một sợi dây, đầu xỏ
một cái nút tròn, vừa đủ để nút chạm vào hai mặt trống, có gắn một tay cầm. Bé
cầm trống, lắc tay qua lại, nút dây ấy đánh vào hai mặt trống…nghe toong…toong…
liên tục, rất vui tai.
Cho nên có câu chê cười: Già mà còn ham chơi trống bỏi, ý nói người đã già rồi mà còn ham muốn những
cái không phù hợp với tuổi của mình. Nhất là chuyện yêu đương.
[5] Ngày nay, khi đi câu đêm, người không quen
câu ngầm, có thể mua phao lân tinh, rất tiện.
[6]
Sát cá là giết cá, ở đây có nghĩa là người đi câu may mắn, câu được câu
nhiều cá; câu giỏi.
[7] Có thể sắm một “cây đèn khí đá” bằng thiếc,
có 2 ngăn, thì độ sáng mạnh hơn rất nhiều lần so với đèn con cóc đốt bằng dầu
gas-oil. Nó có chóa đèn mạ kền, sáng trưng. Như vậy là chập tối, phải chạy ra
quán tạp hóa của “chú chệt mập” mua “khí đá” hay “đất đèn”, (tức là đá carbure
de calcium, là một hợp chất hóa học của Canxi và Cacbon. Tên gọi của hợp
chất này là Canxi Cacbua, tên tiếng anh: Calcium carbide;
công thức hóa học là CaC2. ... Thông thường đất
đèn có màu xám hoặc màu nâu. Khi đất bị ẩm, nó sẽ sinh ra
mùi hăng khó chịu).
Cục khí đá tan trong nước sẽ cho khí đốt
acétylène, C2H2 để
đá ấy vào ngăn dưới, mở nước từ ngăn trên nhểu xuống là có khí C2H2
bốc lên béc đèn, châm lửa tại béc (mỏ đèn)… đốt thử đèn, xoi béc đèn…Nếu đèn
cháy tốt, khóa hơi đèn, khóa nước lại, để đèn và nơm ở góc nhà dưới, háo hức,
chờ đến khuya…là khởi hành, vào cuộc.
Ngày nay người ta soi ếch bằng đèn bình ắc-quy
mang trên lưng, có dây dẫn điện đến một cây đèn đeo trước trán. Tân kỳ nhất là
một chiếc đèn led có pin charge, vừa nhẹ nhàng, vừa lâu hết pin, rất rẻ).
[8] Ma
trơi: Hiện tượng xác động vật vùi
chôn dưới đất, có khi ở nghĩa địa bị phân hủy, hơi xương từ xác động vật là lân
tinh tức hơi Phosphore, P, thường thoát lên trên mặt đất vào lúc ban đêm, gặp
oxy thì cháy thành một quầng lửa xanh, người ta gọi đó là ma trơi. Có lẽ
thường thấy ở các đám mả.
[9](Mà nói cho “oách” là “đi Đứt”, hay “đứt
bóng” …vậy mà!
[10] Mấy câu
thơ trên ấm fond họp mặt hàng năm của cựu học sinh Bào Trai. Khéo bảo quản,
hơn mười năm rồi mà chữ vẫn còn rất tươi rất đẹp, nên lần họp mặt nào cũng đem
ra chưng, chỉ sửa ngày tháng thôi. Khỏi tốn tiền!
[11] Ngang
ngược là con cua không bò theo hướng trước mặt nó mà bò ngang.
[12] Dầu
cù là Mác-su, Mac Phsu: Cù là
tên mà người xưa ở miệt dưới (Miền tây Nam bộ) dùng để gọi nước Miến Điện nay là nước Myanmar. Trước đây có một loại dầu cao
mang nhãn hiệu Mac Phsu, sản xuất tại Miến Điện, được ưa chuộng khắp Nam
bộ, nên mới được gọi là dầu cù là (dầu được sản xuất từ nước Cù là).
Sau này danh từ dầu cù là được
dùng rộng rãi để chỉ tất cả các loại dầu cao. (Theo
An Chi, Chuyện Đông chuyện Tây)
[13]
Bắt cua cua kẹp thì phải làm sao: Bị kẹp hả…ráng chịu đau…đưa tay xuống nước…nó
sẽ nhả ra…
[14] Thì
đó: nói tắt của câu “Đích thị là chuyện đó”
[15] Quá ể:
phương ngữ miền Tây, nay ít dùng, tức là quá trời, quá chừng.
[16]
Hai con ếch mắc cặp: ếch đực thường
nhỏ con, ếch cái to con hơn
[17] là sợ hãi cao điểm, quá sợ.
[18]Ở đây nói quanh co, tung hỏa mù để người đối
thoại khó đoán. Thực ra Cá Ngần và cá Nược không giống nhau và ở Sông Vàm Cỏ
Đông chỉ có cá Nược, cá có vú, không có cá Ngần.
[19] Biết
tỏng rồi: là biết một cách cặn kẽ, tường tận, chính xác.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét