Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

Phần 4: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Ngân Triều, (tiếp theo)

 Phần 4  : Truyện ngắn Bông Cỏ May, Ngân Triều, (tiếp theo)

Noãi nieàm xa xöù

Vào một buổi sáng, mùa Trung Thu năm 1980, vợ chồng tôi bồng bế hai đứa con nhỏ dại, rời bỏ tổ ấm thân yêu, một căn nhà trong chung cư Phú Lâm ở Saigon. Lòng lặng buồn. Lúc nào, nước mắt cũng cứ chực rơi. Dạt dào với bao nỗi buồn tê tái, miên man, tôi phải đành lòng  bỏ lại một gánh càn khôn của quê mẹ sau lưng, dấn thân vào một chuyến viễn du vô định, đầy chông gai và nhiều nguy hiểm, có thể là, một đi không bao giờ trở lại.

 

(a) Vượt biên (Google images/ Ảnh minh họa)

Sau 7 ngày đêm vật vờ trên biển, chiếc ghe nhỏ xíu, bềnh bồng, lắc lư, nhấp nhô trên mặt biển sóng gào, khác nào như lao vào vực thẳm. Chưa bao giờ đi biển, chúng tôi bị nôn mữa, kiệm ăn, kiệm uống, chen chúc, bơ phờ trong nắng nóng, đờ đẫn…và cái chết đã đến cận kề trong đường tơ kẽ tóc. Tôi có chết thì cũng cam lòng. Trẻ thơ có tội tình gì mà phải… (Quả là tôi rất hãi hùng, không dám nghĩ đến những điều bất hạnh…). Tài công cứ nhắm thẳng hướng nam mà đi. Đến lúc kiệt sức, thắt tha thắt thẻo trong nỗi chết dần… thì may mắn thay, chúng tôi gặp được mấy người đánh cá Indonesia tốt bụng cứu giúp. Rồi họ đưa chúng tôi vào một hòn đảo nhỏ tên là Kuku để chăm sóc. Ba tuần sau, chúng tôi được đưa đến đảo Galang. Sau 4 tháng, Cao ủy LHQ đưa chúng tôi đến Singapore trong 2 tuần và cuối cùng được chuyển đến Úc. 

Trong thời gian đầu ở đảo, trên xứ lạ quê người, cảnh và người đều xa lạ. Con đường phía trước mịt mờ, còn nỗi buồn nào hơn? Những nỗi nhớ thương trào dâng cuồn cuộn nao lòng. Tôi nhớ mẹ tôi, chị và em gái tôi, nhớ người thân, nhớ xóm làng, nhớ phần mộ của Ba tôi và những ngôi mộ đá đỏ của tổ tiên trên một gò cỏ may tĩnh mịch, đìu hiu.                                  Nh con đường làng ngon ngoèo đính nhng khóm bông c may ri rác, quanh co, dn vào nhng lũy tre yên ng, thanh bình; băng qua nhng cánh đng lúa xanh rì, mơn mn.

Nhớ thời gian đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ, giờ đã xa vời. Nhớ những cánh cò trắng rập rờn bay lượn khắp đồng ruộng, mùa mưa; những cánh diều giấy xanh đỏ phất phới tít trời cao, trong mùa gió chướng, phía sau đình làng; hình ảnh bóng trăng rằm lồng lộng ló lên ở cuối con đường làng, trên chân trời tím thẩm.

Nhớ âm thanh ríu rít, trong trẻo của những tiếng chim đồng quê quen thuộc; những tiếng ểnh ương “về…đâu…”,

“buồn…thương…”,

“về…đâu…”, buồn…thương…”;

vang vọng rền trời đêm mưa hòa lẫn những tiếng sấm trầm trầm vang vọng xa xa; liên tưởng như tiếng kêu gọi trở về, hãy tở về quê mẹ, con ơi! 

Đói no, có cả họ hàng,

   Ai sao, tôi vậy, bỏ làng, bỏ quê?[1]

Như tiếng vọng của làng quê trong cõi u tịch, mơ hồ.

Nhớ mùi thơm thoang thoảng của hoa đồng cỏ nội, trong mỗi mùa mưa nắng; hương vị của món mắm kho với thị ba chỉ, chấm rau lá hẹ, bông súng, đặc sản miền quê, dân dã mà ngon …

Nhớ nhiều lắm! Nhớ vô cùng! Xiết bao chạnh lòng trong nỗi ly hương, để rồi những nỗi nhớ thương chập chùng ấy …cứ chập chờn trong cõi nhớ tha thiết, ngẩn ngơ…

Cuối cùng là những dòng lệ nghẹn ngào, buồn tủi cho thân phận mình vì nỗi lòng biết tỏ cùng ai?

 

(b) Nhớ con đường làng ngoằn ngoèo, quanh co…

 

(c) Bóng trăng rằm lồng lộng ló lên…

Thế rồi, khi đến xứ Úc xa lạ, con cái được đi học, cha mẹ cũng phải đi học.  Mùa đông đầu tiên ở Nam bán cầu, cái lạnh như cứa da không thể nào chịu nổi. Tôi mặc 5 bộ quần áo ấm thật dày mà vẫn cứ lạnh run. Hai lỗ tai nhức buốt, tay chân tê cóng, gần như không còn cảm giác gì … Vậy mà, ngoài giờ đi học, đi làm ở hãng, vợ chồng tôi còn phải đi làm thêm. Chúng tôi làm đủ thứ nghề, mong kiếm thêm ít tiền để dần dà ổn định cuộc sống và gởi về cho mẹ già và người thân ở quê nhà. Chúng tôi xin đi làm “tạp vụ”: quét rác, phát tờ rơi quảng cáo ở các thùng thơ ngoài cổng của các nhà dân bản xứ, làm housewife và làm công bán thời gian…chúng tôi không câu nệ, việc gì làm được, cứ làm… ròng rã và ròng rã trong 8 năm.

Khi ấy, tình cờ một vận may đã đến với tôi! Một gia đình người Úc biết khả năng chuyên môn và hoàn cảnh của tôi, liền đỡ đầu, hướng dẫn vợ chồng tôi học lại ngành y tế trong hai năm. Việc học tập rất khó khăn vì vốn tiếng Anh của chúng tôi còn yếu. Cuối cùng, với nhiều quyết tâm và cố gắng, chúng tôi mới đạt tốt nghiệp. Sau khi đã có một việc làm chính thức, khá ổn định, tôi muốn trở lại quê nhà. Diễm phúc làm sao! Tôi không ngờ mình còn có dịp trở về mái nhà xưa, thăm người mẹ già mòn mõi trông con.

Vui mừng biết bao khi gặp lại người thân và các bạn bè cũ sau 10 năm xa cách. Còn vui mừng nào hơn! Bản thân như được tái sinh! Nước mắt cứ tuôn rơi, tuôn rơi! Đó là ngôn ngữ nhạy cảm của người phụ nữ, của một người con, người thân, tưởng không bao giờ gặp nữa, vĩnh viễn mất đi mà giờ đây, nó lù lù bằng xương, bằng thịt, trở về. Chuyện tiếp theo là rất nhiều đêm, nhiều đêm trắng tâm sự, mà vẫn chưa hết chuyện.  

Sau chuyến về quê hương lần đầu tiên, tôi trở qua Úc tiếp tục công việc chuyên môn tại bệnh viện. Cuộc sống và việc làm ở bên Úc, ở một thành phố lớn, thật là bận rộn. Thời gian làm việc kéo dài một hơi, từ sáng đến chiều, trưa được nghỉ ăn trưa 30 phút. Vì vậy, trước trở ngại không thuận lợi cho việc chăm sóc hai đứa con còn nhỏ, tôi có một dịp may để thử thách. Đó là mở một trung tâm y tế phục hồi chức năng cho những bệnh nhân tâm thần phân liệt ở giai đoạn cuối, để họ sẽ tái hòa nhập cùng với gia đình. Được cho phép và trợ vốn với lãi suất ưu đãi, được bạn bè hỗ trợ, động viên và nhất là ông xã đồng ý, tôi mạnh dạn đứng ra xin mở một trung tâm đó xem sao. Trung tâm tôi mới mở gồm có 12 phòng lớn với 28 bệnh nhân, chưa kể phòng quản lý. Khi bắt tay vào việc, tôi bắt đầu đối phó với những nan đề vô cùng lớn lao. Phải giải quyết những yêu cầu của bệnh nhân một cách liên tục. Họ đòi hỏi những tiện nghi rất cao, cơ sở còn thiếu, người phụ việc không đủ. Một mặt phải nâng cấp những tiện nghi, mặt khác phải chạy tìm người phục vụ để đối nội cho ổn, đối ngoại cho êm và dằn dặt trước những nỗi bực mình. Cố gắng và cố gắng, có nhiều đêm phải thức suốt. Trung bình, tôi phải tất bật làm việc trên dưới 20/24 giờ/ ngày. Ròng rã và ròng rã trong 7 năm! Biết bao mồ hôi và khổ tâm, biết bao là cay đắng buồn phiền. Tôi như người kiệt lực. Do đó, khi đã trả hết lần nợ góp cuối cùng, tôi nhẹ nhõm và xin giải tán trung tâm. Các bệnh nhân được chuyển đi nơi khác.  

Quá mệt mỏi, tôi xin trở về quê hương, vừa để thanh thản tinh thần vừa thăm mẹ già, thân nhân và những bạn bè cũ. Chuyến về quê lần nầy, thật vô cùng có ý nghĩa cho tôi, vì tôi được tận tay chăm sóc mẹ già trong những ngày cuối đời. Mẹ ơi! Mẹ rất thương ba đứa con gái của mẹ, nhất là một đứa con gái xa xôi nơi “góc biển, chân trời”. Lòng mẹ bao la như biển cả, mãi mãi dạt dào, biết bao nhiêu là con sóng yêu thương! Tôi cố gắng lo cho Mẹ bằng những chăm sóc, điều trị tốt nhất để Mẹ có thể kéo dài thêm từng giây phút ở lại dương trần. Nhưng sức cùng lực kiệt, Mẹ đã vĩnh viễn ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản, trong tiếng nấc nghẹn ngào và trong suối lệ hầu như khô cạn của ba chị em tôi. Từ nay, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ còn có mẹ nữa! Chúng tôi trở thành những kẻ mồ côi, bơ vơ trên cõi đời nầy. Có gặp Mẹ chăng, chỉ là lúc cõi mộng mơ hồ! Mỗi lần nhớ đến Mẹ, ngay cả trong lúc nầy đây, tôi cũng còn đẫm lệ, thổn thức trong nhung nhớ: mất mẹ, như mất cả bầu trời thương yêu! 

Buồn quá, tôi quay lại Úc với nhiều nỗi bi thương. Khi nhàn cư, nỗi buồn hiện đến dày vò. Có một người bạn giới thiệu một shop café cần nhượng lại. Tôi muốn sang shop café ấy những mong khuây khỏa và tạo việc làm cho một số người quen. Tục ngữ có câu: “Nghĩ một đằng, nó quằng một nẽo” để nói lên lý trí và cơ hội luôn mâu thuẩn nhau. Thật không sai với trường hợp của tôi! Công việc quản lý shop café của tôi, có tên chào mời ấn tượng là "Giọt Đắng", cũng khá đông khách, cũng rất tất bật và vô cùng mệt mỏi. Đó là điều mà đối với tôi rất đơn điệu, chán ngắt và bực mình. Tôi lại phải đến rất sớm, về nhà thật khuya và còn dính vào những chuyện “ phiền hà”: thiếu người pha café, thiếu người quản lý, thiếu người phục vụ, thiếu người dọn dẹp, thiếu cả thu ngân… Tôi lại phải tự làm những công việc lặt vặt 4-5 giờ/ngày. Nếu không làm, tôi phải thuê người. Như vậy, phải trả thêm tiền cho người ta và có nguy cơ hao phí, lỗ lã. Chúng tôi bàn bạc, chưa biết cách nào thoát ra, dù tôi chỉ mới khai trương có 3 tháng. Khi ấy, quả thật bất ngờ và may mắn! Một hôm có một người Châu Á (sau khi trao đổi, tôi mới biết người đó là một Việt Kiều mới qua) đến uống càfé, hỏi thăm, ngỏ ý muốn xin sang lại một shop café như shop càfé của tôi. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ là người đó nói giỡn chơi cho vui nhưng tôi cũng thực lòng nói rằng tôi mới làm chủ nhân vỏn vẹn được 3 tháng. Người đó cũng thực lòng muốn sang lại shop café để có điều kiện mưu sinh. Tôi hẹn ngày trả lời để còn bàn lại với nhà tôi. Rồi tôi liền nhượng lại “của nợ” ấy và buông tay, để trở về với cuộc đời mình, lúc ấy tôi đang ở tuổi 58.

Sau đó, tôi chẳng làm gì cả, chỉ sống nhờ vào các khoản trợ cấp và sống với các con của tôi.

Tôi có hai đứa con. Một đứa con gái cả và một đứa con trai út. Các con tôi, bấy giờ, đều đã học xong nguyện vọng mình, ổn định cuộc sống và đã có gia đình riêng.    

 Đứa con gái cả, học khoa Nha, có gia đình, có việc làm ổn định và có nhà riêng cách chúng tôi 150km. Tôi thường đến chơi với con gái, dọn dẹp, giúp đỡ con, cho nó hạnh phúc hơn. Khi mới có một đứa cháu ngoại đầu tiên, tôi vui mừng bao kể xiết!  Tôi tự nguyện chăm sóc cho cháu ngoại từ A đến Z, nhưng đứa con gái “không cho”, cho dẫu tôi đã tốt nghiệp ngành y ở Việt Nam và ở Úc! Tôi phải năn nỉ hết sức, đầy lý lẽ, nó mới cho chăm sóc vài ngày trong tuần. Thôi thì vậy cũng được, còn niềm vui nào lớn hơn? Thật là hạnh phúc cho những ai được làm “Bà ngoại”! Nhìn cháu mình, tôi thấy tình cốt nhục bà-cháu dạt dào! Dĩ nhiên, nó trông giống cha mẹ nó là điều cơ bản. Khi ngắm nhìn nó, nựng nịu nó, thấy mụ bà dạy nó cười, nó hươ tay, đạp chân…tôi càng vui sướng, phát hiện nét nầy nó giống người thân nầy, người thân nọ, nét kia nó giống đứa cháu nầy, đứa cháu kia…mà vui sướng, mà thỏa lòng.

Riêng đứa con trai út, sau khi tốt nghiệp Đại Học, được du học TTL[2] tốt nghiệp Cao học Quản trị kinh doanh. Cháu đã đi làm tại 1 trong 5 công ty tiếng tăm thế giới. Vài năm sau, xin nghỉ việc và tự đứng ra lập công ty riêng. Khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra, cháu giải thể công ty kịp thời nên không bị lỗ lã. Sau đó, cháu lập gia đình, nối nghiệp “dì út” ở quê nhà, làm nghề “gõ đầu trẻ lớn”. Hiện cháu có một chú nhóc trai, nay được 4 tuổi. Vậy là, tôi đã lên chức Bà với hai cháu ngoại gái 9 tuổi, 6 tuổi và một cháu nội trai 4 tuổi.

- Về phần “ông nhà”, “phân nữa đời tôi”, đã ở tuổi “người xưa nay hiếm”, cũng còn tráng kiện, bình thường. Ngày ngày chúng tôi tập thể dục, bách bộ, đi bơi, chơi tennis, đi từ thiện, giao tiếp bạn bè, viết lách, truy cập Internet… và cùng ăn chay trường.

***

Boâng  coû  may

 Đến đây, xin hãy trở lại vấn đề chính của truyện vừa nầy. Vì sao tôi chọn tiêu đề của truyện là Bông Cỏ May?

Như đã trình bày. Tôi có một chuyến viễn du, phiêu linh, đầy sóng gió của định mệnh, như những người đồng hội, đồng thuyền, tôi đã sống vô cùng khổ sở, vất vả và gieo neo trong những bước đầu nhập cư, trong nỗi nhớ tha thiết về Mẹ, anh chị em gia tộc, bạn bè thương yêu… Nhất là nỗi nhớ đẫm lệ, triền miên về quê hương yêu dấu xa xôi, đầy ắp những kỷ niệm đằm thắm của tuổi thơ hồn hậu thời tiểu học, nhiều kỷ niệm êm đềm…và tôi cũng không ngờ rằng số tôi còn may mắn như vậy.

Trước quyết định chẳng đặng đừng, đem cả gia đình xa cách với những người thương yêu, trong một chuyến đi đầy sóng gió, may ít, rủi nhiều,  tôi đã đánh cược với số phận mình: có thể bị vùi thây nơi lòng biển lạnh, làm mồi cho cá; hoặc nếu có may mắn, sẽ là những cánh chim vô định, phiêu bạt, lạc loài, lữ thứ...mãi mãi sẽ không bao giờ được trở về xứ sở…mãi mãi sẽ là những người tự lưu đày, không có quê hương…

Trong thời gian đầu ở đảo Kuku, (Indonesia), một hôm, nhân vá lại chiếc quần dài đen sứt chỉ - chiếc quần dài đen mà tôi đã mặc lúc về từ giã mẹ tôi, gia đình hai chị em tôi và phần mộ của tổ tiên lần cuối - tôi đã phát hiện được 5 bông cỏ may đã dệt thật khéo vào bên trong cái lai quần. Năm bông cỏ may nầy đã lặng lẽ găm chặt ở phía bên trong phần lai quần của tôi, mà tôi không hề hay biết. Cũng có thể mẹ tôi và tôi đã đẫm lệ, thổn thức nhặt bỏ hết những bông cỏ may dính bên ngoài chiếc quần dài của tôi rồi và năm bông cỏ may nầy cứ thương mến tôi, trốn kỹ bên trong, âm thầm xuôi ngược theo bước chân tôi như những mảnh gợi nhớ réo rắt của hồn quê chan chứa ân tình.Tôi đã lặng người nhớ lại…

Rõ ràng, đây là 5 bông cỏ may - trên Gò Cỏ May, đất hương hỏa gia tộc, mảnh đất gia sơn (nơi tổ tiên tôi đã nghìn thu yên giấc) - đã âm thầm quyến luyến theo tôi trên những bước đường xa xứ lạc loài! Tôi tê dại trong cảm xúc dâng trào với nghẹn ngào nước mắt!  Phải chăng những “ bông cỏ may” đó còn là những yêu thương nhắc nhở ngầm của tổ tiên: Tôi phải giữ vẹn  truyền thống đạo lý gia tộc, một truyền thống của bản sắc Việt Nam như một ánh hào quang miên viễn, quyện chặt tâm hồn những đứa con của NGƯỜI trên những bước đường muôn nẽo, tha  phương.

Cuối cùng,“bông cỏ may” chính là những kỷ niệm trân quý, không thể nào quên, chính là tấm lòng của những số phận phải lênh đênh theo dòng nước nổi trôi…với ước mong sao, sau cơn mưa, trời lại sáng.

Và điều đó chỉ là những khắc khoải của tấc lòng cố quốc tha hương riêng tư của những đóm sáng đồng điệu, trong hàng triệu tấm lòng.

Bông cỏ may! Bông cỏ may ơi!

Hồn quê dìu dặt bước chân tôi.

Phiêu linh, dù đã xa muôn dặm!

Man mác, bâng khuâng, một hướng trời [3] ./-

 Ngóng trông man mác, chơi vơi!

Giai nhân:[4] biền biệt, phương trời nhớ thương.

Ngân Triều



Chú thích:

[1] Bỏ làng bỏ quê mà đi thật là nỗi đau xé lòng!

[2] Tân Tây lan, New Zealand

[3] Một hướng trời (thiên nhất phương): một phương trời ,lời ca trong bài Tiền Xích Bích phú,        của Tô Thức,      bài  Hát nói “ Vịnh Tiền Xích Bích ” của Nguyễn Công Trứ, đã sử dụng cụm từ “ Thiên nhất phương ”:

-   Quế trạo (hề) lan tương

Kích không minh (hề) tố lưu quang

Diễu diễu (hề) dư hoài

Vọng mỹ nhân (hề) thiên nhất phương

(Tiền Xích Bích phú -Tô Thức)

Tô Thức: Người Đất Mi Sơn, đỗ tiến sĩ và làm quan đời Nhà Tống. Quan lộ của Ông có nhiều thăng trầm. Ông là trưởng nam của Tô Tuân, anh của Tô Triệt đều nổi tiếng văn chương. Lúc Ông bị biếm ở Hoàng Châu, có dựng một ngôi nhà ở Đông Pha, lấy hiệu là Đông Pha cư sĩ, người đời còn gọi Ông là Tô Đông Pha

Không những Ông giỏi về thi, văn mà ông còn giỏi về cả thư, họa.

Tác phẩm:

Dịch thư truyện,

Luận Ngữ thuyết,

Cừu Trì bút ký,

Đông Pha chí tâm,

Đông Pha toàn tập,

Đông Pha từ

Nguyên văn chữ Hán

        漿

           

       

           

 ( - )

·         Tạm dịch là :

-Thuyền quế, dầm lan.

Khua ánh trăng trong nước (hề) ngược dòng sáng trôi.

Man mác (hề) lòng ta mong nhớ,

Trông ngóng giai nhân (hề) một phương trời.

·         Dịch thơ ( bài 1):

Chèo ta cây quế,

Sào ta cây lan.

Khua tan

Dòng ngược

Sáng loang,

Lưu ly lấp lánh

Long lanh mê hồn.

Bồn chồn!

Réo rắt,

Bên lòng…

Phương trời mong ngóng,

Bóng hồng miên man…

Ngân Triều

·                     Dịch thơ ( bài 2):

Sào chèo cây quế cành lan

Ngược dòng lấp lánh, hàng hàng ngọc trôi.

Ngóng trông man mác, chơi vơi!

Giai nhân biền biệt, phương trời nhớ thương.

Ngân Triều

Ngóng trông man mác, chơi vơi!

Giai nhâniai nhân:[1] biền biệt, phương trời nhớ thương.

                          Ngân Triều



[1] Giai nhân: người đẹp, bóng hồng, tố nga, giai nhân…còn ẩn dụ chỉ thánh đế anh minh, quê hương hay người tri âm xa cách.

[4] Giai nhân: người đẹp, bóng hồng, tố nga, giai nhân…còn ẩn dụ chỉ thánh đế  anh minh, quê hương hay người tri âm xa cách. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét