Giới thiệu tập truyện ngắn BÔNG CỎ MAY, Ngân Triều
Thay lôøi môû ñaàu
1-
Bông Cỏ may, là viết theo lời kể của bạn Võ Kim Ngân, cựu học sinh Bào Trai đã được Ngân
Triều chấp bút. Câu chuyện cảm động nầy đã từng được bạn bè ủng hộ, ngưỡng mộ và
tán dương.
Nội dung hiện thực, nhiều tình tiết thi vị, tái minh họa sắc sảo hình ảnh
một thời đi học, vui chơi của học sinh miền quê Hậu Nghĩa cách nay hơn 60 năm,
nói riêng và khái quát lên có thể là hình ảnh của lớp học sinh nông thôn ở Miền
Đông Nam bộ, trong khoảng thập niên 1952-1962.
Đó chính là những kỷ niệm không thể nào quên của một thời tuổi ngọc hồn
nhiên; là những tiếng lòng tha thiết, đồng vọng, ngân nga… của một thế hệ học
trò miền quê khả ái; là những nét xưa vời vợi; tình cảm chân chất, thơ ngây của
những ngày thơ ấu. Tất cả những dấu ấn tình cảm đó nghe chừng như sắp tan biến
vào mây khói thời gian, tận cuối Trời Quên…
2- Chuyện câu cá không những là một phóng sự vui về chuyện câu cá, cách câu cá, làm mồi
nhử cá, câu đêm, soi ếch, bắt cua …tiếc nhớ số lượng thủy sản vô tận của miền
quê… bây giờ chẳng còn nữa, mà còn ẩn chứa một câu hỏi, làm sao giữ gìn,
bảo vệ tàì nguyên thiên nhiên và môi trường
sống để người dân nông thôn, có thể sống một đời sống ấm no, hạnh phúc, an lành…
2-
Lời bình bài ca dao “Bỏ quên chiếc áo” hơi dí dỏm và cường điệu một
chút là một trong những phong vị tình quê. Nói gần, nói xa, cuối cùng nói thật
một cách tuy hơi sống sượng, bạo miệng, nhưng rất dễ thương.
Xin được hân hạnh giới thiệu cùng quý Bạn.
Hậu Nghĩa, những ngày đầu Xuân Ất Mùi 2015
NgânTriều 03/03/2015
***
Coû may coøn tím
Thơ Mặc Hiền-Phạm
Văn Rã
Lời bình Ngân Triều
…Cỏ May còn tím đường đi học,
Tím cả gò hoang, tím cả trời.
Mặc
Hiền
Coû may coøn tím
Mặc Hiền Phạm Văn Rã
“Lục Viên ơi! Lục
Viên ơi!”[1] (câu 1)
Đường về quê Ngoại
của tôi ơi!
Cỏ May còn tím đường
đi học,
Tím cả gò hoang,
tím cả trời.
*
Tôi đứng ngoái
nhìn, xa tít xa, (câu 5)
Cuối trời mây trắng,
bến bờ qua.
Mây ơi! Xin nhắn lời
ta gởi,
Không nhớ nào hơn,
nỗi nhớ nhà.
*
Rồi bỗng mơ về thấy
mẹ tôi: (câu 9)
Cỏ may giăng tím,
chạy quanh đồi,
Run run Mẹ lặt từng
hoa cỏ,
Lòng đắng, chia
lìa, giọt lệ rơi!
*
Sao đã lạc loài giữa
biển khơi, (câu 13)
Còn năm hoa cỏ, vướng
chân tôi?
“Phiêu linh dù đã
xa muôn dặm,
Man mác, bâng
khuâng một hướng trời”[2]
Mặc Hiền, Phạm Văn Rã
***
Lôøi bình
Ngaân Trieàu
Mặc Hiền Phạm Văn Rã, Võ Kim Ngân
và Ngân Triều là ba người bạn đã quen biết nhau hồi còn học chung Trường Tiểu Học
Bào Trai, Hậu Nghĩa, năm học 1954-1956. (Ngày
ấy, Bào Trai đã viết chữ o như thế).
Sau đó, con đường cầu học, sự nghiệp và hoàn cảnh riêng tư, đã dẫn đưa mỗi người,
mỗi hướng đa đoan, mây trôi bèo dạt. Trải qua một thời dâu bể, ba tia sáng đơn sắc phân kỳ ngày xưa đó, bỗng
nhiên hội tụ trong một lăng kính dễ thương:
“Bút ký Bông Cỏ May” cốt truyện
của Võ Kim Ngân (VKN); cảm tác “Cỏ May
còn tím” thơ của Mặc Hiền (MH) và lời bình của Ngân Triều (NT)
Đó là những ký ức hồn nhiên của một thời học
sinh Tiểu học trường làng, đầy ắp trong hành trang kỷ niệm của tuổi học trò
trong sáng, vô tư, như những con sóng nhỏ
trên mặt Sông Vàm Cỏ Đông hiền hòa, long lanh, ngời sáng, phản chiếu ánh trời
chiều, rực rỡ, trong phút giây, để lặng lờ đi về theo từng con nước thủy
triều mỗi ngày, xuôi dòng trôi về Biển Đông mênh mông xa lắc. Những con sóng đó,
bây giờ, chắc đang ở tận cuối Trời Quên,
nói theo Heraclite[3]
(540-480 TCN): “On ne se baigne jamais
deux fois, dans le même fleuve”. Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông.
Một thời đi học trường làng… chắc là cũng vậy. Nhưng khi hoài niệm về dĩ
vãng, ai mà chẳng chạnh lòng, xao xuyến,
ngẩn ngơ …
I-Khổ
thơ đầu: (Câu 1-4):
Lục Viên ơi! Lục
Viên ơi![4] (câu 1)
Đường
về quê Ngoại của tôi ơi!
Cỏ
May còn tím đường đi học,
Tím
cả gò hoang, tím cả trời. (câu 4)
“Cảm đề” là cảm xúc và sáng tác sau khi đọc
nội dung một tác phẩm. Ở đây là tự truyện Bông Cỏ May của VKN qua sự chấp bút của
NT. Với khổ thơ mở đầu bên trên, Mặc Hiền (MH) như đã hòa nhập ngay vào vai của
nhân vật trữ tình bằng một nỗi nhớ tha thiết, mênh mông:
Trước
hết, người đọc như đồng cảm qua những tiếng gọi tha thiết về quá khứ, vang dội
trong một chặng đường đời; một thời thơ ấu hồn nhiên vui tươi; một thời tiểu học
êm đềm ở trường làng; một điều gì đó thiêng liêng gắn kết nhân vật trữ tình khi
hồi tưởng về nguồn. Những nỗi nhớ thương như giăng khắp cả bầu trời, thể hiện một
tâm trạng u ẩn, dồn nén lâu rồi, bây giờ mới có cơ hội bộc phát, tuôn chảy dạt
dào. Những bi khúc nhớ nhung đó, không phải chỉ cất cao một cách đơn điệu mà nó
còn như lặp đi lặp lại, réo rắt, tăng tiến, ngân nga, trữ tình, sâu lắng, qua
nghệ thuật khéo dùng những điệp từ: 3
từ hô ngữ “ơi” và hai điệp
ngữ nhấn gọi tên “Lục Viên” quê ngoại. bồi hồi trong cõi
nhớ là hình ảnh như in trong tâm tưởng của tác giả về con đường về quê ngoại:
Lục Viên ơi! Lục Viên ơi! (câu
1)
Đường về quê Ngoại
của tôi ơi!
Hai câu tiếp theo:
Cỏ May còn tím đường
đi học,
Tím cả gò hoang,
tím cả trời. câu 4)
Âm điệu lại dồn dập thêm, nhấn mạnh
hơn bằng 3 điệp từ tím. Màu tím là màu kết hợp cùng khối lượng của
màu xanh và đỏ. Màu tím thường tượng
trưng cho sự nhung nhớ, tiếc thương: tâm trạng của tác giả ở đây là nỗi lòng bùi
ngùi nhớ một con đường đi học, quen thuộc; con đường mòn ấy đầy những bông cỏ
may tím ngát Cỏ May còn tím đường đi học;
thương biết bao phần mộ tổ tiên, xa lắc quê nhà; tím cả gò hoang; trong nỗi niềm xa xứ, mỗi khi hồi tưởng, nhân vật
trữ tình cứ mãi vương vấn những nỗi buồn thương tím ngát chất ngất, ngập lòng.
Quả đúng với câu nói của Hàn Dũ 韓 愈(768-824), một tác giả
thời Trung Đường, đã nhận xét: “Vật
bất đắc kỳ bình, tắc minh” 物不得其平則鳴 . Khi vật bất bình thì kêu lên. Hay suy rộng
ra, “người có điều quặn thắt tâm can, khắc
phải bày tỏ lòng mình”… cho phôi pha một thành sầu u uất, cho vơi đi những
niềm thương, nỗi nhớ như vò nát con tim:
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại, một ngày dài ghê!
Đoạn Trường Tân Thanh,
Nguyễn Du, câu 247-248
*
Plus
il mesurait sa tristesse, plus il la sentait profonde et trouble
Chaque
jour semblait plus long que trois automnes réunies.
Histoire de Thúy
Kiều, traduction française en vers libres par Lưu Hoài
II- Khổ thơ thứ hai, (Câu 5-8): Trung thực, tỏ lòng.
Tôi đứng ngoái nhìn, xa tít xa, (câu 5)
Cuối trời mây trắng, bến bờ qua.
Mây ơi! Xin nhắn lời ta gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi nhớ nhà.
Hai câu (5-6) lấy ý từ một tấm ảnh,
đã đăng trên Giai Phẩm Xuân Hậu Nghĩa số 2:
Hình một con tàu chạy ra khơi, VKN đang nhìn ngoái lại (ghi chú của MH).
“Ngoái
nhìn” đồng nghĩa với “ngoảnh lại” là
trông lại phía sau lưng mình, nhìn lại con đường dài đã đi qua mà cảm xúc.
Dừng chân ngoảnh lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan
Xa
tít xa là
khoảng cách xa xôi diệu vợi, muôn trùng sông núi. Quê nhà nhìn từ xứ người, chẳng
còn trong tầm mắt nữa, mà chỉ còn thấy một cõi trong khoảng không, ngàn dặm, mịt
mù …
“Tôi”
chỉ còn thấy những tầng mây trắng lơ lửng bay bay tận cuối chân trời.
Mây
trắng[5] hay mây bạc còn bao gồm một nghĩa hàm ẩn, là
tấm lòng nhung nhớ cha mẹ, quê hương vời vợi, xa xôi.
-Bốn
phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc,
biết đâu là nhà.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1787-1788
*
De
tous les côtés, les nuages étaient nuancés d’une couleur blanche.
Regardant
le pays natal, au loin, elle ne savait pas òu était sa maison.
Histoire de Thúy
Kiều, traduction française en vers libres par Lưu Hoài
Hoặc:
-“Cách
năm mây bạc xa xa,
Lâm Tri, chàng phải
liệu mà thần hôn”.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1599-1600].
*
“Une
année passée,vous vous étiez séparé de votre vieux père.
Revenez-vous
à Lâm Tri pour le soigner du matin au soir”
Histoire de Thúy
Kiều, traduction française en vers libres par Lưu Hoà
Hai câu 7-8, có thể là bộc trực
lòng mình một cách trữ tình:
Mây ơi! Xin nhắn lời ta gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi nhớ nhà.
Ai đã từng lữ thứ, tha hương mới thấm
thía nỗi nhớ nhà, da diết:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu (? – 754)
Nghĩa
là:
“Chiều tối, biết quê nhà nơi đâu?
(Nhìn) khói sóng trên sông, (mà) lòng
khách se buồn”
日 暮 鄉 闗 何 處 是
烟 波 江 上 使 人 愁
黃 鶴 樓 , 催 顥
Quê hương khuất
bóng hoàng hôn,
Trên sông khói
sóng cho buồn lòng ai!
Tản Đà dịch
Hoặc cách điệu và tân kỳ hơn, kiếp
sống lữ thứ, tha hương, không có ngoại cảnh ước lệ, mỗi khi chiều về là nhớ nhà
da diết không khuây:
Lớp lớp mây cao
đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh
nhỏ, bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời
con nước,
Không khói hoàng
hôn cũng nhớ nhà.
Tràng giang, Huy cận
III-Khổ thơ thứ ba: câu
(9-12): Nhớ
hình ảnh mẹ hiền, trong giây phút chia phôi.
Rồi bỗng mơ về thấy mẹ tôi: (câu 9)
Cỏ may giăng tím, chạy quanh đồi,
Run run Mẹ lặt từng hoa cỏ,
Lòng đắng chia lìa, giọt lệ rơi!
Trong
giây phút ơ thờ đó, tôi bỗng mơ về thấy mẹ
tôi. Hình ảnh người Mẹ hiền suốt đời tần tão, lúc nào Mẹ cũng chăm lo, vun
vén hạnh phúc cho từng đứa con. Hạnh phúc hay sự nghiệp của con yêu chính là niềm
vui của Mẹ.
Giăng
tím
là nỗi nhớ vương vấn không dứt. Cỏ may…chạy
quanh đồi là chi tiết lúc về thăm phần mộ lần cuối của tác giả, trước lúc “phiêu linh trên biển”. Điều nầy, không
những là một nét riêng khả ái của cá nhân, mà nó còn thể hiện sự gắn bó thiêng
liêng của gia tộc họ hàng mà lớp hậu duệ cháu con, dù sống ở nơi đâu, cũng không
bao giờ vong thân mất gốc, không bao giờ quên cội, quên nguồn.
Nhất là một chi tiết mà mỗi lần nhớ lại, không thể
không mềm lòng:
“Trước
khi từ giã Mẹ và người thân, đón xe về Saigon để rồi đánh liều, dấn bước phiêu
linh trong một hành trình vô định; có thể chuyến đi đó là một chuyến đi, tôi đã
giao nộp sinh mệnh cả gia đình tôi cho tử thần trên biển cả, cho dẫu lúc đó tôi
đang ở tuổi yêu đời phơi phới, tuổi 38; lúc đó, Mẹ tôi và tôi đối diện nhau,
cùng lặt những bông cỏ may ở phần mộ tổ tiên; những bông cỏ may ấy đã lặng lẽ trang
trí những hoa văn ngẫu nhiên, ngộ nghĩnh trên hai ống quần dài đen cũ kỹ của
tôi. Tôi rưng rưng nhìn bàn tay Mẹ run run. Mỗi bông cỏ may, Mẹ lặt đến hàng mấy
lần mới được một, rồi “mắt lệ đắm trong miền cách biệt (Thế Lữ)”, trong thổn thức
quặn lòng. Hai mẹ con, nhìn nhau, thật lâu, Mẹ lau nhanh những giọt lệ rơi rơi.
Khi ấy, lòng tôi bỗng xót xa, cay đắng cho giây phút “sinh ly tử biệt” của bản
thân biết là ngần nào! (VKN)”.
Chỉ 4 dòng thơ tự nhiên, hàm súc, gợi
tả, MH đã nhập vai nhân vật trữ tình trong một tâm trạng, một hoàn cảnh như thế,
quả thật rất tuyệt vời. Cho hay, cảnh biệt ly nào, cũng đắng lòng, cũng bồi hồi
rơi lệ:
Ôi! Cảnh biệt ly, sao mà buồn vậy!
(Quốc Văn giáo khoa thư).
Và cũng như:
Rồi bỗng ngừng vui
cùng lẵng lặng
Nhìn nhau bình thản
lúc ra đi
Nhưng trong khoảnh
khắc ơ thờ ấy,
Thấy cả muôn đời hận
biệt ly.
Giây phút chạnh
lòng, Thế Lữ
III- Khổ thơ cuối (câu 13-16): Tự hỏi và nỗi lòng.
Sao đã lạc loài giữa biển khơi, (câu 13)
Còn năm hoa cỏ,[6]
vướng chân tôi?
“Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng một hướng trời” (*)
Hai câu 13-14, tác giả MH muốn nói thay lời cho nhân vật trữ tình,
trong bút ký Bông Cỏ May của VKN.
“Quả
là một sự ngạc nhiên, thú vị đến ngẩn ngơ! Tôi đã lìa xa quê hương, xứ sở, đã
đành phận mình. Có thể, hiểu theo một góc độ nào đó, một cách chủ quan về hoàn
cảnh là “tôi đã từ bỏ quê hương, sống lạc loài như một người vong quốc, vong bản,
lưu đày”…nhưng “ hồn quê (vẫn) thắt chặt
bước chân tôi” như những “Bông Cỏ
May” kia, vẫn “quyến luyến, dìu dặt bước chân tôi” như duyên số, như một khẳng định hùng hồn trong lòng của triệu
triệu người Việt Nam đồng hội đồng thuyền. “Việt Nam ! Việt Nam! Nghe từ vào đời, Việt Nam hai câu nói trên
vành nôi, Việt Nam nước tôi. Việt Nam! Việt Nam! Tên gọi là Người, Việt Nam hai
câu nói sau cùng khi lìa đời! (Ca từ Việt Nam! Việt Nam của Phạm Duy)”.
Đó chính là một giây phút ngỡ ngàng, xúc động mãnh liệt, khi tình cờ phát hiện 5 Bông cỏ may đã lặng lẽ găm
chặt trong trang phục ly hương của tác giả.
Cuối
cùng, MH đã copy hai câu kết bài thơ
của VKN làm 2 câu kết trong bài thơ cảm đề của mình:
“Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng
khuâng một hướng trời”
Phiêu
linh là
trôi nổi lênh đênh như những chiếc lá bị sóng dập gió dồi, nổi trôi vô định
trong dòng nước cuồn cuộn, vô tình. Man
mác là tâm trạng đượm buồn kéo dài như không bao giờ dứt. Bâng
khuâng là cảm xúc luyến tiếc và nhớ thương đan xen lẫn nhau. Một hướng trời là thiên nhất phương, chỉ quê hương
yêu dấu, trăm mến ngàn thương (Xin
xem thêm chú giải của NT ở phần cuối Truyện BCM của VKN)
Đó là nỗi lòng và là những tình cảm
tha thiết đầy tự hào về cội nguồn, về quê hương xứ sở, về bản sắc của CON NGƯỜI
VIỆT NAM vẫn canh cánh bên lòng.
Tóm lại, Cỏ May còn tím của Mặc Hiền
Phạm Văn Rã, là bài thơ cảm tác mượt mà, đồng cảm, thác lời tác giả BCM để
góp phần cất cao tiếng lòng đồng điệu, nâng cao và khái quát hóa tứ văn, tạo
thêm một chút hương quyến rủ, đưa duyên cho tác phẩm. Riêng Ngân Triều có thể
là một người chấp bút ngẫu hứng trong
tập truyện nầy… như một gã lãng tử, lang
thang trên một bãi biển hoang vắng, nhặt những vỏ sò lấp lánh nhiều màu sắc đẹp,
có nhiều hình thù lạ mắt…của sóng biển đánh giạt vào bờ… cắp nắp đem về tặng những
người bạn mà Ngân Triều quý mến.
Những người bạn quý mến ơi! Đây là
một món quà mọn tinh thần, một quà tặng trân quý của chúng tôi, những chiếc vỏ sò khả ái, bắt được một cách ngẫu nhiên; những nét đẹp chủ quan, như giai điệu của tiếng lòng ai ngân nga…
Hậu
Nghĩa ngày 08/08/2014,
Thân
ái,
Ngân
Triều
[1] Lục
Viên, tên một ấp nay thuộc xã Đức Lập hạ, Đức Hòa, Long An. Tên Lục
Viên là xóm có sáu khu vườn của 6 gia đình đến đây khai phá, lập nghiệp; tiền
hiền có họ hàng với Ông Ngoại của VKN.
[2] Hai câu cuối, trích thơ của Võ Kim Ngân:
Bông
Cỏ May! Bông Cỏ May ơi!
Hồn
quê thắt chặt bước chân tôi.
Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng một hướng trời.
Mặc Hiền Phạm Văn Rã
[4]
Lục Viên: Ấp Lục
Viên, nghĩa là ấp mới đầu khai phá, nơi đây chỉ có 6 khu vườn nhà, nay là ấp Đức
Hạnh 2, xã Đức Lập Hạ, giáp ranh với Thị Trấn Hậu Nghĩa, Huyện Đức Hòa, Long An.
[5] Mây
trắng: Theo điển cố “Bạch vân tư thân”, 白 雲 思 親 mây trắng nhớ cha mẹ : Địch
Nhân kiệt đời Đường, làm Tham Quân ở Tinh Châu. Vì việc quan cấp tập, nhiều năm
trời không được về thăm song thân. Một hôm, nhân lên núi Thái Hàng, nhìn thấy một
đám mây trắng phía Hà Dương, mới chỉ đám mây trắng ấy, đanh tròng mắt lệ, nghẹn
ngào, nói cùng tả hữu:
“Kìa! Dưới đám mây trắng xa xa… là nhà của song thân ta”:
***
(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét