Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

Tự thán/ Thơ Hồ Xuân Hương/ Ngân Triều chú giải

Bài số  10
Tự thán  (1)
Hồ Xuân Hương


I
Con bống đi về chốc bấy nay,  (1)
Chữ duyên nào đã chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt,  (3)
Trông suốt nhân tình dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,  (5)
Một đời riêng mấy kiếp chua cay.
Nỗi mình, nỗi bạn dường bao nả,  (7)
Dám hỏi han đâu những cớ nầy.
(Theo Thư Viện Online)
     
Văn bản chữ Nôm
    [ ]

𡥵 𩸮𧗱 祝 昞
𡦂   𠺵  𥪝 
擬 窮世事𢙱 𤋿
𥊛 人 情 腋 㦖   
閍 劫 别     縁 𢀧  
𢚶   𨉟 𢚶 伴 𠍵 包 𥭵
㦑  𠳨  𠻃兠 仍  故 尼
                               Ngân Triều soạn
            Chú giải:
Con bống, 𡥵 𩸮, loại cá nhỏ nước ngọt, quen thuộc gần gũi trong dân gian,
như  chuyện cổ tích Tấm-Cám: Tấm có nuôi  một con cá bống ở một cái giếng. Ở đây, hình tượng con bống được tác giả so sánh ngầm, ví với thân phận mình.
Chữ duyên, 𡦂   , S việc coi như trời định, trong mối nhân duyên vợ chồng; tình yêu đôi lứa.
kiếp, 劫,Đời người, khi chết đi, hóa thành 1 đời sống khác,trong một thân xác khác, có quan hệ nhân quả với nhau, theo thuyết luân hồi của đạo Phật. Ở đây có thể hiểu như những cơ hội của con người trong đời.
nả, 𥭵,khoảng thời giờ ngắn ngủi. Bao nả, 𥭵 ,thời gian ngắn  ngủi biết bao.
(1-2), Những băn khoăn về cuộc tình:
Đi về trong (hò hẹn) biết bao lần, thân ta như là một con cá bống.
Chuyện tình nầy, chưa có gì chắc chắn.
(3-4-5-6), Chuyện thời thế và chạnh lòng:
Nghĩ đến chuyện thế sự (bấy giờ tình hình trong nước bất ổn), lòng ta sao có thể an tâm.
Chạnh tưởng người tình, nhân tình, ta như mê say trong dạ.
Có phải đây là cuộc tình hạnh phúc, tâm đắc của đời ta chăng, trài qua trong muôn kiếp luân hồi?
(So với cuộc đời đã qua), ta đã từng lận đận, mấy bận chua cay.
(7-8), Tâm trạng của tác giả:
Tình cảm của ta và của chàng (thắm thiết biết bao!), thời gian (bên nhau) thật là ngắn ngủi!
          Ta nào dám nhắc đến những chuyện nầy, với chàng.


*Ngân Triều diễn thơ, Bài [1]:
Bao lần hò hẹn, thân như bống.
Có chắc gì chưa hỡi cuộc tình!
Thế sự sục sôi chân đạp lửa,
Trời thương chất ngất nghĩa ba sinh.
Lần nầy bến mộng trong muôn kiếp?
Hay dấu xe xưa, những gập ghềnh!
Khoảnh khắc bên nhau sao thắm thiết!
          Dám đâu bộc bạch chuyện riêng mình?

*****

 II


Lẩn thẩn đi về mấy độ nay,  (a)
Vì đâu đeo đẳng với nơi vầy.
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng,  (c)
Chén rượu mừng Xuân dạ thấy say.
Điểm lữ trông chừng mây đạm nhạt  (e)
Dòng thu xem cỡ nước vơi đầy.
Thương ai hẵn lại thương lòng lắc,  (g)
Này nợ này duyên, những thế này.
                                         Theo Thư Viện Online

     
           Văn bản chữ Nôm

    [ ]

     𧗱   𠉞
    
𤋾 茶 焇    𦖑 
𥗜   𢜠 春 腋 𧡊 
點 旅 𥊛 𩄎 𤁕
𣳔    𢤫     𣹓
愴 埃 𠳾  吏 愴 𢙱 𢳝
  𡢻          
                            Ngân Triều soạn
Chú giải:
Lẩn thẩn, , dở hơi, như mất trí.
Điểm lữ, 點旅, ở một nơi quán khách trọ nào đó. Lữ, , quán khách trọ.
đạm, ,  lạt, nhạt, trái với chữ nùng, , là đậm.
nhạt, 𤁕,nói về cái vị, cái màu không còn đúng với bản gốc. Cái vị đã thiếu đậm đà, cái màu đã phai.
Dòng thu, 𣳔  , dòng nước mắt của người con gái, Con mắt được ví như sóng mùa thu:
Dòng thu như  xối cơn sầu,
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên.
                     ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2533-2534
lòng lắc, 𢙱 𢳝, lòng như quả lắc, đưa qua đưa lại. Lòng dạ không chung thủy.
Nợ, 𡢻, s việc mà bản thân phải đền, phải trả, phải bận lòng không dứt khi đã dính vào, khi đã nhận củatha nhân một món gì.
Chồng con là cái nợ nần,
Thà rằng ở vậy, nuôi thân béo mầm.
                                          Ca dao
Nợ tình chưa trả cho ai,
Hồn nầy thác xuống tuyền đài chưa tan.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 709-710

(a-b),Nỗi niềm trong cuộc tình:
Tại sao ta cứ đi về, lao vào cuộc tình say đắm như điên.
Vì sao thân ta bỗng dính dáng đwến nơi nầy?
(c-d-e-f),
Hết cả ấm trà, không còn khát nữa, nhưng vẫn nhớ tiếng nói của chàng.
Cạn chén rượu mừng Xuân, lòng nghe say đắm, ước ao.
Ở quán khách ấy, phải chăng mây trời đã nhạt?
Nhìn nước dòng sông vơi đầy ( do ảnh hưởng thủy triều), mà nước mắt tuôn rơi.
(g-h),
Khi thương ai, sao thương được con người có lòng dạ thay đổi, như nắng sớm mưa chiều.
Phải chăng là duyên nợ (tiền định), cho nên ta mới thế này đây!
*
Ngân Triều diễn thơ Bài [2]:

 Lẩn thẩn đi về xơ xác thay!
 Vì đâu đeo đẳng mãi nơi nầy?
 Chén trà, tiêu khát còn đâu giọng?
 Chén rượu xuân nồng mơ ước say.
 Cho dẫu thói đời nay nhạt thếch,
 Dòng thu cay đắng mãi vơi đầy.
 Thương thân  nào biết ai chung thủy?

Duyên kiếp ai xui phải thế này?
Ngân Triều
*****
Phụ lục:
Tham khảo bài thơ Tự Thán (1) của Nguyễn Du:
自嘆 (其一)

生未成名身已衰
蕭蕭白髮暮風吹
性成鶴脛何容斷
命等鴻毛不自知
天地與人屯骨相
春秋還汝老鬚眉
斷蓬一片西風急
畢竟飄零何處歸
Phiên âm: Tự thán (kỳ nhất)

Sinh vị thành danh thân dĩ suy
Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy
Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn (1)
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri
Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng
Xuân thu hoàn nhữ lão tu mi
Đoạn bồng nhất phiến tây phong (2) cấp
Tất cánh phiêu linh hà xứ quy
Dịch nghĩa: Tự thán

Sinh ra chưa làm nên danh phận gì, thân đã suy yếu
Tóc bạc phơ phơ, gió chiều thổi
Chân hạc tánh vốn dài, cắt ngắn làm sao được
Mệnh trời nhẹ như lông hồng mà không tự biết
Trời đất phú cho người cái cốt tướng gian truân
Xuân thu đưa về cho mày bộ râu già cỗi
Một ngọn cỏ bồng lìa gốc trước trận gió tây thổi gấp
Cuối cùng, không biết trôi nổi về xứ nào?
Dịch thơ: Tự thán

Sống chửa nên danh đã yếu mòn
Phơ phơ tóc bạc gió chiều hôm
Vốn như chân hạc dài sao cắt
Mệnh tựa lông hồng nhẹ biết không
Trời đất phú cho thân lận đận
Xuân thu đem lại mặt già hom
Gió tây thổi bật thân lìa gốc
Phiêu giạt về đâu ngọn cỏ bồng



Chú thích:
(1) Hạc hĩnh: Ống chân hạc. Trang Tử nói: "Chân le dù ngắn, nối thêm thì nó lo, chân hạc dù dài, chặt bớt thì nó xót" (Phù hĩnh tuy đoản, tục chi tắc ưu, hạc hĩnh tuy trường, đoạn chi tắc bi 鳧脛雖短, 續之則憂, 鶴脛雖長, 斷之則悲, Trang Tử 莊子, Biền mẫu 駢拇). Ý nói không thể làm trái tánh tự nhiên.
(2)Tây phong: Gió tây. Trong văn thơ, Nguyễn Du thường nhắc đến gió Tây, để ám chỉ nhà Tây Sơn.

Trích Nguyễn Du, Thơ chữ Hán
Link:
nguyendu.com.free.fr/langues/thohan/thtt-003.htm
/o:p>

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét