Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

Vô đề, Thơ Đường Lý Thương Ẩn, lời bình Ngân Triều

Thứ Bảy, 23 Tháng 2, 2013

Bài [5] Voâ ñeà,  Lyù Thöông Aån

*

Thân tặng các bạn: Võ Công Danh, Võ Hồng Phi, Phạm Thị Hòa, Tô Thị Hằng, Trần Lâm Phát, Từ Thị Cảnh...

Xin cầu chúc các bạn, quý độc giả cùng quý quyến, một năm mới 2013: An Khang, Thịnh Đạt, Thỏa Lòng. Ngân Triều.

Khai bút đầu Xuân, biết viết gì đây?  Tự nhiên, tôi chợt nhớ đến một bài Thơ Đường đã đọc ngày xưa, bài Vô đề của Lý thương Ẩn (      -          ).

Lý thương Ẩn (813 – 858), tự là Nghĩa Sơn, hiệu là Ngọc Khê Sinh.  Người huyện Hà Nội, nay là Phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.  Thiếu thời, giỏi văn chương nên thường giao du với con cái của những người quyền quý bấy giờ.  Năm 837, ông nhờ thế lực, đậu tiến sĩ, được dùng vào việc thư ký, được gả con gái của Quan Trấn Thủ Hà Dương.  Do ở giữa các thế lực đối đầu nhau nên con đường công danh của ông nhiều phen lận đận … Bệnh mất năm 858, lúc đó ông mới 46 tuổi.

                                            

 Ảnh mâm cổ ngày Tết Miền Nam, Google.

                                     Voâ ñeà (VÔ ĐỀ)

                             Lý Thương Ẩn (813-858)

Tương kiến thời nan, biệt diệc nan,

Đông phong vô lực, bách hoa tàn.

Xuân tàm đáo tử ti phương tận,

Lạp chúc thành hôi, lệ thủy can.

Hiểu kính đản sầu vân mấn cải,

Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn.

Bồng lai thử khứ vô đa lộ,

Thanh điểu ân cần vị thám khan.

*

                       

                

                 

               

               

                

                

               

                

*

Dịch nghĩa:

1-    đề – Lý Thương Ẩn, 李商隠 (813-858).

Gặp nhau đã khó mà chia tay nhau lại càng khó hơn,

Cũng như gió Xuân kia, thổi nhẹ nhàng mà muôn hoa tàn héo.

Cũng như con tằm Xuân, đến chết vẫn còn cho tơ,

Cũng như ruột nến kia cứ tuôn lệ sầu cho đến lúc thành tro mới dứt.

Buổi sáng, soi gương, những buồn vì tóc mây đổi màu,

Đêm đến ngâm thơ, mới thấy ánh trăng lạnh lẽo.

Cơ hội mừng vui còn gặp nhau (Bồng Lai) chắc không còn nhiều nữa,

Vậy ân cần cậy người làm mối (chim xanh), xin hãy đưa đón, trợ giúp tôi.

Dịch thơ 1

          Hợp tan muôn thuở dễ đâu!

Gió Đông không sức, hoa rầu xác xơ

        Thác rồi tằm vẫn cho tơ.

Tàn rồi nến mới biết khô lệ sầu.

        Soi gương, buồn tóc đổi màu,

Ngâm khuya hẳn biết trăng thâu lạnh lùng.

        Cõi xa xôi, mấy non Bồng,

Dò đường hỏi lối, cậy cùng chim xanh

         Trần Trọng San, (1930 - 1998) dịch.

*

Dịch thơ 2

Xưa nay hợp tan vạn nan nước mắt,

Như gió Xuân kia phơn phớt, hoa tàn.

Như con tằm Xuân vương tơ đến thác,

Như tim thành tro lệ nến mới tan.

*

Sáng soi gương buồn tóc mây sớm bạc

Ngâm thơ khuya biết trăng nhạt lạnh lùng

Mộng Bồng Lai, giờ chẳng còn cơ hội,

Chim xanh ơi! Đưa lối hộ tôi cùng.

                                                                                      Ngân Triều dịch

***

Dịch sang Tiếng Anh[1]. (Xin xem phần chú thích)

Về đề bài

Đã hơn ngàn năm qua rồi, mà ý tưởng của cổ nhân thật là gần gũi!  Vô đề là không có đầu đề bài thơ.  Tác giả có lẽ dạt dào cảm xúc, chưa kịp nghĩ ra tiêu đề bài thơ, hay đó chính là một cách nói nửa vời, thi vị, gây tò mò cho độc giả[2]… Hơn ngàn năm sau, trong lĩnh vực âm nhạc Việt Nam, có nhạc sĩ cũng đã sáng tác hàng loạt ca khúc có tựa đề là “Bài ca không tên số…” cũng rất được khán thính giả cổ vũ và ưa thích một thời.

Vậy là, “không đề bài” có thể là một sự đề xướng hữu duyên của tiền bối, được người sau sử dụng như một phong cách đưa duyên, trữ tình, thi vị.

·              Hai câu đề: Sự khó khăn của gặp nhau và chia tay nhau:

Tương kiến thời nan, biệt diệc nan,

Đông phong vô lực, bách hoa tàn.

                 

                 

Thiên nhiên và con người như đồng cảm trước cảnh hợp tan.

          Câu đầu tác giả đã đưa ra một sự thật hiển nhiên.  Gặp nhau đã khó, vì ngày xưa, đường đi núi sông cách trở, phương tiện đi lại khó khăn, thì sự tương phùng, người gặp người… quả là thiên nan, vạn nan.

Nhưng đã gặp nhau rồi, biết bao nỗi niềm mừng vui khấp khởi, thỏa lòng. Rồi đến lúc chia tay nhau thì càng khó khăn hơn. Thương người đi xa, dấn thân vào nơi nguy hiểm, tự hỏi không biết có còn gặp nhau nữa không, hay găp nhau lần nầy, kể như là vĩnh biệt. Thật quá bi thương! Khác nào sự tàn úa, rơi rụng của muôn hoa, trong gió Xuân mát lạnh, nhẹ nhàng [3]

Lý Bạch đã tiễn đưa Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng cũng đồng một tâm tình như thế.  Ộng đứng lại rất lâu, mãi nhìn theo cánh buồm lẻ loi (cô phàm) của bạn xa dần…xa dần, chỉ còn là một chấm nhỏ (viễn ảnh), cho đến khi tan biến vào khoảng trời xanh biếc (bích không tận).  Tình bạn thật là cảm kích:

                        Vời trông buồm khuất chân mây biếc,

                              Đồng cảm Trường Giang sóng vẫn xao.

                                                             Ngân Triều dịch (tranh có hỗ trợ của AI)

Toáng Maïnh Haïo Nhieân Chi Quaûng Laêng. Lyù Baïch

(Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Lý Bạch)

Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc Lâu,

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu 

Cô phàm viễn ảnh bích không tận 

Duy kiến trường giang thiên tế lưu 

         *

Nguyên văn:

( )

西

*

Dịch nghĩa:

Tieãn Maïnh Haïo Nhieân Ñi Quaûng Laêng.

(Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng)


Bạn cũ rời xa lầu Hoàng Hạc phía Tây

Đi xuống Dương Châu, vào tháng ba, mùa hoa khói

Cứ mãi nhìn theo cánh buồm lẻ loi (của bạn) cho đến tận cuối chân trời xanh biếc,

(Cuối cùng) Chỉ còn thấy dòng sông dài tuôn chảy đến bên trời.

Dịch thơ 1:

        Bạn từ Lầu Hạc lên đường,

Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng.

        Bóng buồm đã khuất bầu không,

Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.

                                         Ngô Tất Tố, 吳必做, (1893 –1954) dịch

Dịch thơ 2:

Bạn cũ rời chân Hoàng Hạc Lâu,

Giữa mùa hoa khói, xuống Dương Châu.

Buồm ai mất hút trong mây biếc,

Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau.

                                                     Trần Trọng San, (1930 - 1998) dịch

      *

       Dịch thơ 3:

       Bịn rịn, quan hà, Hoàng Hạc lâu

       Trong mùa hoa khói, đến Dương Châu.

       Vời trông buồm khuất chân mây biếc,

       Đồng cảm Trường Giang sóng vẫn xao.

                                                                    Ngân Triều dịch

*

          Hai câu thực: Cụ thể chi tiết con tằm cho tơ và cây nến ứa lệ:

Xuân tàm đáo tử ti phương tận,

Lạp chúc thành hôi, lệ thủy can

                 

                 

          Phải chăng chuyện hợp tan là cái qui luật đau thương của kiếp người, muôn nơi và muôn thuở?

Điều đó, khác nào

        Dẫu rằng sông cạn đá mòn,

Con tằm đến thác cũng còn vương tơ”

                        Kiều, Nguyễn Du, (1766-1820), câu 1975-1976

Hay như ngọn nến kia cứ mãi ứa lệ cho đến khi tim nến cháy hết thành tro tàn, lệ nến mới khô. Hai hình ảnh con tằm và lệ nến được chọn lọc, như một từ nhãn tự, hàm súc, gợi tả tuyệt vời...

          Hai câu luận: Chạnh nỗi niềm riêng

Hiểu kính đản sầu vân mấn cải,

Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn.

                  

                  

Buồn vì thấy mình cao tuổi, già đi khi soi gương. Già đi là một trong bốn cái khổ của thế nhân: Sinh, lão, bệnh, tử. Tứ thơ rất thanh thoát như phần mở đầu của bài thơ Tương Tiến Tửu của Lý Bạch, (701-762):

 

Quân bất kiến

Hoàng Hà chi thủy, thiên thượng lai,

Bôn lưu, đáo hải, bất phục hồi.

Quân bất kiến

Cao đường [4] minh kính bi bạch phát,

Triêu như thanh ty mộ thành tuyết…

*

  

                 

                 

      

                 

                 

*

Anh thấy chăng?

Nước sông Hoàng Hà, từ trời đến,

Tuôn chảy ra tận biển không bao giờ trở lại

Anh thấy chăng?

Gương tỏ Mẹ Cha, buồn tóc trắng

Buổi sáng như tơ xanh, buổi chiều trở thành tuyết.

Ý nói thời gian cũng như tuổi Xuân trôi qua như dòng sông ra biển, không bao giờ trở lại.  Đời người nhanh sao! Mới sớm chiều thôi, mà tuổi già đã sồng sộc đến.

Mặt khác, chi tiết ánh trăng lạnh lẽo hàm ẩn sự vắng vẻ, cô liêu, quạnh quẽ, trong nỗi niềm vắng bạn.

          Hai câu kết: Tâm tình của tác giả

Bồng lai thử khứ vô đa lộ

Thanh điểu ân cần vị thám khan

                  

                  

Với những ý tưởng trên, gặp gỡ - chia tay là khó khăn, buồn khổ thêm, nhưng đời người ngắn ngủi, buồn hiu, trong cô quạnh thì có lẽ cũng nên có những cơ hội mừng vui (họp mặt) gặp nhau cho thỏa lòng. Vậy xin nhờ người đưa đón (sắp xếp, làm mối) tạo điều kiện và trợ giúp cho ta nhé!

Tóm lại,

Vô đề (Lý Thương Ẩn) là môt tiếng ca buồn, nhiều cung bậc về cảnh ngộ hợp-tan của đời người. Cái buồn thật là não nuột. Việc tương phùng đã khó thay mà chia tay càng khó hơn bội phần. Đời người chóng qua, cuộc đời người chỉ trong gang tấc; thời gian người sống trong cõi tạm như bóng con bạch câu lướt qua khe cửa[5], chốc lát mà thôi.

 Vậy mà người sống trong chốn tịch liêu, bạn bè xa cách phương trời, khó có thể gặp nhau… thì hụt hẫng lòng đau, nhớ thương không dứt… Mà khi gặp nhau rồi, chia tay lại càng đau lòng hơn…

Vô đề còn là một thông điệp về lòng hiếu khách, ái hữu, tôn trọng, yêu quý bạn bè rất mực của tác giả.

Kết thúc bài thơ, tôi cứ miên man suy nghĩ:

        Thác rồi, tằm vẫn cho tơ,

Tàn rồi, nến mới biết khô lệ sầu.

Tứ thơ thật là cao nhã!  Tứ thơ không những cao ngất lòng vị tha mà nó còn dạt dào thông đạt một thái độ hiểu lẽ đời, (ý thức rõ cái nghĩa thống khổ, thương đau trong cõi người ta) …của một thức giả, của một bậc minh triết. ֎                                                                                                                        

                                                                                                                        Ngân Triều



Chú thích: 

[1] Dịch sang Tiếng Anh, sưu tầm:

To One Unnameed IV
Time was long before I met her, but is longer since we parted,
And the east wind has arisen and a hundred flowers are gone,
And the silk-worms of spring will weave until they die
And every night the candles will weep their wicks away.
Mornings in her mirror she sees her hair-cloud changing,
Yet she dares the chill of moonlight with her evening song.
It is not so very far to her Enchanted Mountain
O blue-birds, be listening!-Bring me what she says!
English version (Li Shangyin)

[2] gây tò mò cho độc giả: Dẫu sao, cấu tứ cụ thể cũng đã dàn trải trong nội dung của bài thơ hàm súc… Đặt đầu đề hay không khi đọc qua bài thơ thì độc giả cũng hiểu bài thơ chuyên chở điều gì.

[3] Muôn hoa buồn vì cảnh chia ly nên phải lìa cành. Có hay không có gió Xuân, Đông phong, thì đời hoa cũng tán héo rụng rơi. Có thể hiểu cảnh hợp tan trong mùa Xuân, thấy hoa rụng, bách hoa lìa cành cũng chính là nỗi lòng của tác giả khi phải lìa xa người bạn.

 [4] Cao đường là nhà cao; ở đây chỉ cha mẹ.

[5]  Trích sách Trang Tử, 莊子, (369-286 TCN); chương Tri bắc du, 知北游:

人生天地之間,
若白之過隙,忽然而已.
Nhân sinh thiên địa chi gian,

Nhược bạch câu chi quá khích, hốt nhiên nhi dĩ.
Nghĩa:
Đời ngưởi trong khoảng trời đất,
giống như bóng ngựa câu trắng (phi) qua khe cửa, trong chốc lát mà thôi.

Câu: , ngựa non tơ, chạy rất khỏe, rất nhanh. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét