Xin mời quý bạn tham khảo một số bài thơ hay của Hồ Xuân Hương,
Bài
số 1:
Baïch Ñaèng Giang taëng bieät
Hồ Xuân Hương
Với nhau tình nghĩa sao là trọn,
Chớ thói lưng vơi cỡ nước Đằng. Ảnh Google
*
Khấp
khểnh đường mây bước lại dừng
Là
duyên là nợ phải hay chăng?
Vịn
hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục nước
xem mà động bóng giăng.
Lòng
nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời
kia này đã núi giăng giăng.
Với
nhau[1] tình nghĩa sao là trọn,
Chớ
thói lưng vơi cỡ nước Đằng .
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều
soạn:
白籐江贈 别
泣耿塘𩄎𨀈吏踭
𪜀縁𪜀𧴱沛咍庒
援花窖矯𢯦梗錦
扑渃䀡麻動𣈖𦝄
𢙱奴渚𠺘𩄎𤁕𤁕
𠳒箕尼㐌𡶀綾綾
買憢情義𫳵𪜀侖
渚𢟔𠦻潙舉渃籐
Cấu trúc một số từ Hán-Nôm & chú giải
Tiêu đề:Tặng
bạn khi tiễn biệt ở sông Bạch Đằng.
Đằng 籐 từ HV; khấp 泣 từ HV; khểnh 耿 từ HV GT âm cảnh; khấp khểnh 泣耿= gồ ghề, lởm chởm khó đi; đường 塘 từ HV; mây 𩄎 HT vũ+mi; đường mây là vân trình 雲程, đường lên mây, đường công danh, ở đây còn có thể hiểu là con đường hạnh phúc, tràn đầy niềm vui.
***
Đường mây cười tớ ham
dong ruỗi,
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng
Giã vợ đi làm quan, Phan Thanh Giản
Vịn 援 từ
HV; = Đặt bàn tay
dính vào như vịn vai. Cũng có nghĩa
như vin =
đưa tay sờ, níu kéo nhẹ nhàng sự vật gì:
Công anh đắp nấm trồng chanh,
Chẳng được ăn quả vin
cành cho cam.
Xin đừng ra dạ Bắc Nam,
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề,[2]
Huống tam thu như bất kiến hề,
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.
Ca dao
cành
gấm, 梗
từ HV GT âm ngạnh=cành cây; gấm 錦
từ HV ĐN âm cẩm là gấm=thứ
hàng dệt, có hoa, nhiều sắc, rất đẹp, khá đắt tiền:
Học thời
như gấm thêu hoa,
Có văn
có chất mới ra con người
Ca dao
Vục 扑
từ HV GT âm phác; vục nước 扑渃=
đưa
tay xuống dưới nước để tìm kiếm, nắm bắt vật gì.
Lưng vơi cỡ nước Đằng,
凌 潙 舉 渃 籐= Nước Đằng là một nước nhỏ thời
Xuân Thu Chiến Quốc, bị ép giữa 2 nước lớn là Tề và Sở nên luôn phải giữ gìn.
Tác giả dùng điển này để chỉ nỗi khổ của một người có hai vợ:
Ngoảnh mặt sang Tề
e Sở giận,
Quay đầu về Sở sợ Tề ghen,
*
Đại ý:
(1-2),
Con đường vui và con đường tình.
(3-4-5-6),Trong
tình yêu, cần phải đứng đắn và chung thủy.
(7-8),
Lời cuối tỏ lòng.
*
Diễn ý bài 1, Nhất Uyên:
-
Trên con đường vui, gồ ghề, lúc bước, lúc dừng.
- (Cùng đi một đường,
cùng đăng trình), mà biết có thành duyên nợ chi không?
- Như khi yêu một đóa hoa, không tham lam yêu tất cả
hoa đẹp khác trên cành, (Cành gấm, hiểu là cành hoa có nhiều hoa đẹp).
- Và cũng như
không nên có những cử chỉ sỗ sàng, thô bạo không đẹp.(ngắm bóng trăng trong nước,
rất ngoạn mục; thò tay vục nước để bắt lấy bóng trăng, là rất thô bạo. Chớ nên
thả mồi, bắt bóng; đứng núi nầy, trông núi nọ; tham đó, bỏ đăng; tính cách của
kẻ ăn xổi ở thì, không chung tình).
- Thời gian càng
dài lâu, tấm lòng chàng cũng không nên nhạt nhạt như những thức mây nổi trên trời
kia.
- Riêng với những
lời thề ước vàng đá, thiếp nguyện mãi tạc dạ không phai như hình ảnh những dãy
núi sừng sững, vĩnh cửu, giăng giăng.
- Tình nghĩa với
nhau, miễn sao trọn ven là thỏa lòng,
- Đừng nên như
thói đời, nửa vời, cái thói của kẻ ở nước Đằng ngày xưa.
*
Dịch thơ bài 1, Ngân Triều:
Đường
vui, cất bước, lại dừng.
Đồng hành chưa biết vội mừng hay không.
Yêu
hoa, xác tín một bông,
Trước vờ trang nhã; chầy mong sỗ sàng!
Bẽ bàng[3]
mây nhạt thời gian,
Đá vàng lòng núi giăng giăng, vĩnh hằng,
Vẹn
tình nhân nghĩa, lẽ hằng,
Ai đành như thói nước Đằng trớ trêu[4]?
***
[1] Có lẽ
là chữ nhau: 憢. Văn
bản gốc chép sao: 𫳵
Thư Viện Online
[3] bẽ bàng: thẹn với cảnh, với tình.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
ĐTTT, Nguyễn
Du, câu 1037-1038
Mái tây để lạnh
hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng,
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 517-518
[4] trớ trêu: lừa gạt, trêu cợt, không chủ động, không chân thành.
