Ngày 18/02/2016 12:40
Bài số [82] Nguyện
Cầu [1]
Thơ Vũ Hoàng Chương, lời bình Ngân Triều (Đăng lại)
Nguyeän Caàu
Thơ: Vũ Hoàng Chương
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.
Lang thang từ độ luân hồi,
U minh nẻo trước xa xôi dặm về.
Trông ra bến hoặc bờ mê,
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương.
Ta van cát bụi bên đường,
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này!
Ðể
ta tròn một kiếp say,
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.
Nói chi thua được
với đời,
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.
Tâm hương đốt nén
linh sầu
Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!
Ðêm nào ta trở về
ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.
Một phen đã nín
cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.
Vũ Hoàng Chương, (1915-1976) {
Trích trong
Thơ Việt Nam Hiện đại, Vũ Hoàng Chương, Rừng phong (1954).
Thơ Việt Nam Hiện đại, Vũ Hoàng Chương, Bút nở hoa đàm (1967), Phần thứ nhất.
Bài thơ này sau cũng
được tuyển trong phần thứ nhất tập Bút nở hoa đàm và tập Cảm
thông.
Nguồn: Rừng phong, Vũ Hoàng Chương, NXB Phạm Văn
Tươi, Sài Gòn, 1954.
Sơ lược tiểu sử: Vũ Hoàng Chương, (1915-1976)
Vũ Hoàng Chương (1915-1976)
Vũ Hoàng Chương (武黃遧; 14 tháng 5 năm 1915 – 6 tháng 9 năm 1976). Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại
làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Văn phong của ông
được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc
thái Đông phương.
Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi
lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.
Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một
năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn
đường Vinh - Na Sầm.
Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để
đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời
gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà
Nội lập "Ban kịch Hà Nội" cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch
công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông
gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người
thành hôn năm 1944.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn
vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn
quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học.
Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về
Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975.
Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng
tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Năm 1959 ông đoạt "Giải Văn học Nghệ thuật
Toàn quốc" của Việt Nam Cộng hòa với tập
thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc
tế tại Bỉ.
Năm 1964 ông tham
dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm sau, 1965 lại
tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông lại
tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d'Ivoire.
Thời gian
1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung
tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai.
Ông còn được vinh danh là "Thi bá" Việt Nam. Đồng thời, cũng vào năm
1972, Vũ Hoàng Chương lần đầu tiên được đề cử giải Nobel văn học nhưng người đoạt
giải là nhà thơ Heinrich Böll của Đức, bản thân
Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới
đoạt được giải. Sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố năm 2023 vì
theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới
công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó.[2]
Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa
Miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Bệnh nặng, đưa về
nhà được 5 ngày thì ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại
Sài Gòn. Mười năm sau, 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa
địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp. [3]
(Theo Wikipedia)
*
Bạn, Hồ Thị Cẩm Vân, Le Thanh Hoang Dan, Duc Tran Phan và 35 người khác thích điều này.
Đặng Thi Trúc Giang Còn gì
không?
Còn! ạ.
Tình người!
Ngọc Hạnh: Hay quá!
*
Lời bình, Ngân Triều:
Một nỗi niềm trăn
trở, băn khoăn:
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.
Đây
là một câu hỏi tu từ, như tự hỏi, không biết sau khi trở về cõi vĩnh hằng, ta
còn để lại gì không cho trần gian nầy, khi hồn ta phiêu du trở về cõi lãng
quên theo qui luật sinh - diệt trần thế? Đó là qui luật tan vỡ, dâu bể, như tác
giả đã trải nghiệm và Người đã chỉ cho ta thấy trước mắt: kìa non đá lở; này
sông cát bồi. Đá lở trên núi thì núi mất đi hình dáng núi cũ. Cát bồi
trên dòng sông thì dòng sông hẹp lại mãi cho đến khi dòng sông biến mất trong
cuộc bể-dâu.[4] Sự
thực là vậy. Thông thường, những sự vật mà người đời thường cho là to lớn bất
biến như nước non, trong câu hẹn thề, thề non, hẹn biển,[5] thì
non và biển đều không bao giờ thay đổi nhưng suy cho cùng, sự vật không thể nào
tồn tại mãi theo thời gian. Do đó, phải chăng, nếu ta để lại cho trần gian nầy
sự việc gì thì nó cũng chẳng bao giờ còn nguyên vẹn.
Tú
Xương, (1870-1907) cũng bùi ngùi hoài niệm về một con Sông Lấp ở quê mình, Nam
Định[6].
Vậy là, hành trình của ta trên đời nầy chỉ là lang thang, tăm tối, xa
xôi?
Lang
thang từ độ luân hồi [7]
U minh nẻo trước xa xôi dặm về.
Lang thang là vơ vẩn, không chủ định đi đâu,
về đâu. Biết bao lần hóa kiếp luân hồi mà con thuyền đời ta đến giờ vẫn chưa đến
đích? Hóa ra, đời ta là một chiếc thuyền bồng bềnh, không lái, không phương hướng,
trôi giạt trên đại dương mênh mông, lang thang, theo một hải trình đắng
cay, bi đát. Phía trước thì mờ mịt, tối tăm, u minh. Muốn quay lại quê
xưa thì đã say bước quá xa miền[8],
xa xôi dặm về. Ôi thật là bất hạnh cho đời ta!
Thêm nữa, giờ đây, thế giới quan
quanh ta đều tăm tối:
Trông ra bến hoặc bờ mê [9]
Nghìn
thu nửa chớp,[10] bốn
bề một phương [11].
Trông
ra bờ bến thì mơ hồ, mờ mờ ảo ảo, ta không sao định vị được mình đang ở
đâu. Và ở đây, chính nơi này, thời gian nhanh chóng lạ lùng và phi lý biết bao!
Khoảng nghìn năm, trời đất cổ kim kim cổ[12] chỉ bằng nửa cái chớp mắt;
bốn bề bao la nơi đây, chỉ có duy nhất một hướng đi, chỉ có một hướng trời mở
ra, sóng dập gió dồi, lênh đênh, bập bềnh xa thẳm; quyết ra tay buồm lái trận
cuồng phong[13] thì
khác nào như con ngựa kia bị che mắt, kéo một chiếc xe thổ mộ, để chỉ mãi kéo
xe, chỉ nhìn thấy đường đi theo một hướng trước mắt; cũng như tầm nhìn của một
con ếch ngồi đáy giếng: “Ai bảo trời to lớn vô cùng, trời chỉ to như cái nắp
vung nồi cơm mà thôi”, cũng như chuyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi[14].
Đã
thế thì mặc kệ nó! Nào! Ta thử van xin:
Ta van cát bụi bên
đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này!
Cát
bụi ơi! Xin hãy để cho gót chân ta, ngay cả chính bản thân ta không vướng vào lớp
bụi trần, cho dẫu bụi trần nầy sạch, nhơ thế nào,[15] mặc cho đời say tỉnh đục
trong,[16] để
cho hồn ta được trong sáng, để hệt như lời van xin của con cò ca dao, đành lòng
với một cái chết thanh cao.[17]
Ôi! Cuộc đời là vô thường[18],
con người sống trong trời đất giống như một người khách trọ, tạm trú một thoáng
trên thế gian, rồi sẽ trở về nhà cũ, nơi bản thân đã ra đi, như sinh hoạt bình
thường của một quán trọ ven đường[19]. Hãy xem kìa! Một con chim nhạn bay qua bầu
trời, bóng nó chìm sâu trong dòng nước biếc. Nhạn chẳng màng lưu lại dấu vết;
dòng nước chẳng màng lưu bóng nhạn bay[20]. Sự hiện hữu trên đời nầy đầy
phi lý; nuối tiếc, băn khoăn về di sản của mình để lại cho đời sau, mà chi?
Thật là đời đáng chán! Đời đáng chán
thì ta hãy quên đời thôi. Thường thì quên đời không chi bằng men rượu:
Ðể ta tròn một kiếp
say,
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.
Ừ ta say! Say để
quên tất cả những hiện thực cay đắng, bận lòng. Nhưng thực ra khi say là ta chỉ
quên sầu não trong lúc say thôi, còn khi tỉnh lại thì Buồn ơi, chào mi[21], buồn
lại càng buồn [22]. Nếu
không được say như thế thì ta chỉ có một nước là liều mạng với tay níu Trời để
ta được thỏa lòng mình thôi.
Còn nữa,
trong cõi trần nầy con người thường sống hoang tưởng, chen nhau lao thân như
điên vào cái bả vinh hoa phú quí, ngu ngốc chui đầu vào cái vòng danh lợi [23] để
cuối cùng như con thiêu thân mù quáng, chết thảm trong ngọn đèn dầu. Ha ha! Điều
đó đối với ta chỉ là hư huyễn [24]:
Nói chi thua được với đời,
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.
Ta không màng việc
thua - được, lên voi - xuống chó, thăng trầm đời nầy. Với ta, điều đó thật là
vô nghĩa. Cho dẫu sòng đời thua đến trắng hai tay,[25] ta chẳng hề quan tâm. Thậm
chí, phải trong lúc “đêm sâu”[26] khi một mình phải đối
diện với bọn đầu trâu mặt ngựa[27], nách
thước, tay đao hống hách, lên mặt, nhạo cười, khinh bỉ, ta cũng chẳng màng.
Tuy
nhiên! Ta vẫn thanh thản nguyện cầu:
Tâm
hương đốt nén linh sầu[28]
Nhớ
quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!
Ta đốt cho hết nén
hương thiêng liêng se thắt trong tâm tưởng để cầu xin Ơn Trên. Ta cầu xin bằng
nỗi niềm khắc khoải trong nỗi nhớ quê hương tha thiết, chơi vơi, ray rứt,
quặn lòng, dằng dặc.
Để rồi
một mai:
Ðêm
nào ta trở về ngôi[29],
Hồn
thơ sẽ hết luân hồi thế gian.
Sự đời, cái gì phải đến, thì nó cứ
lạnh lùng đến [30]. Thế
rồi, bất chợt trong một đêm nào đó, khi hồn tan trong bóng nguyệt mờ, ta như
cánh hoa mỏng manh, cho gió cuốn xa cành[31], hồn ta phải trở về ngôi
cũ, chốn xưa thì từ đó, tiếng thơ của ta sẽ im ắng bặt tăm, sẽ không còn xao động
âm hưởng trầm lắng, réo rắt trần gian.
Tất cả phải như vậy
thôi. Vì:
Một
phen đã nín cung đàn,
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.
Một khi mà cung
đàn đã im hơi, lặng tiếng, đã nín cung đàn; người gãy đàn đã là người
thiên cổ, thì mọi sự đều kết thúc[32].
Sao ta lại bận lòng chi về sự mất-còn của bản thân, tiếc nuối chi về dư âm đồng
vọng[33] của
tiếng tơ lòng muôn điệu cùng tứ thơ ngân nga của ta vang bóng một thời.
♥ Bài thơ Nguyện cầu thể hiện tâm trạng ưu tư, khát
vọng siêu thoát và sự chiêm nghiệm về cõi đời của tác giả. Vũ Hoàng Chương tự
vấn về ý nghĩa sự hiện diện của mình trong cõi nhân gian vô thường, nơi mọi thứ
đều biến đổi: "non đá lở", "sông cát bồi".
Nhà thơ nhận
thức sâu sắc về sự nhỏ bé, mong manh của kiếp người trước dòng chảy luân hồi và
nỗi u minh không điểm dừng. Khát vọng vượt thoát khỏi vòng xoay vô nghĩa của
trần gian được thể hiện qua lời cầu nguyện chân thành:
Ta
van cát bụi bên đường,
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này!
Đây
là lời nguyện cầu được giữ tâm hồn thanh tịnh, không bị vướng bận bởi bụi trần.
Nỗi
nhớ "quê" ám chỉ cõi thanh cao, tuyệt đối mà con người luôn
hướng đến. Khát khao lớn nhất của tác giả là trở về trạng thái an nhiên, siêu
thoát, nơi "hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian" và thoát khỏi
mọi ràng buộc của cõi đời phù du.
Về Nghệ thuật, ngôn ngữ giàu tính triết lý. Từng câu
thơ chứa đựng sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về vòng xoay sinh tử, mang
đậm dấu ấn Phật giáo và tư duy nhân sinh. Cách dùng hình ảnh giàu biểu tượng
như "cát bụi", "cao xanh", "luân hồi",
"quê" để khơi gợi những lớp từ với các tầng nghĩa sâu xa.
Âm
hưởng bài thơ nghe trầm buồn, tha thiết. Nhịp thơ chậm rãi, thể hiện dòng suy
tư lắng đọng, đồng thời tạo nên không khí thiêng liêng của một lời cầu nguyện.
Việc sử dụng các từ ngữ như "u minh", "linh sầu",
"dằng dặc" như để dàn trải những nỗi buồn vời vợi, day dứt, không
nguôi. Sự kết hợp giữa hiện thực và siêu thoát qua hình ảnh "gót này"
hay "cát bụi" gợi lên sự gắn bó với đời thường, trong khi "cao
xanh" và "quê" hướng đến một cõi thanh tịnh, phi vật
chất.
Mặt
khác, thể thơ lục bát cách tân của ông không bó buộc trong niêm luật để tạo
nhịp điệu tự do, phóng khoáng và phù hợp với dòng cảm xúc hiện thực trong cuộc
sống.
Tóm lại, bài
thơ Nguyện cầu là lời tự sự đầy chất suy nghĩ và nhân văn, phản ánh nỗi
lòng của một thi nhân khát khao thanh tịnh giữa cõi đời tạm bợ nầy. Đồng thời,
bài thơ còn là sự hòa quyện giữa tâm hồn nghệ sĩ và triết lý sâu sắc về kiếp
sống, về sự trở về nguồn cội đích thực của tâm linh. ֎
Ngân Triều {
Chú thích:
[1] Bài
thơ nầy trích trang Facebook ngày Feb 18-2016 do thi hữu Phúc Thái ghi với tựa
đề là Còn gì không và chỉ trích đăng có một phần; nay xin trích đăng lại
đầy đủ, bổ sung thêm, đúng theo nguyên tác. (NT).
[2] Vũ Hoàng Chương từng được đề cử Giải Nobel Văn học (Tuổi Trẻ Online. 11 tháng 2 năm 2023).
[3] “Thi sĩ Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương – Những thiên
tài bạc mệnh của Sài Gòn xưa”. Vietluan. Truy cập 14 tháng 02
năm 2023.
[4] Bể dâu: Cuộc thay đổi biển xanh biến
thành nương dâu, chỉ sự biến đổi vô cùng to lớn trong đời mà con người khó
có thể hình dung. Dâu bể chữ Hán là tang hải桑 海hay
thương hải biến vi tang điền: 蒼海
變為 桑田.
Biển xanh biến thành ruộng dâu.
[5] Thề non hẹn biển: thệ hải minh sơn: 誓海盟山, chỉ non thề biển. Dùng để biểu thị tình ái
chân thành.
[6] Sông
kia rày đã lên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình, còn tưởng tiếng ai gọi đò.
Sông Lấp, Tú Xương (1870 - 1907)
Rõ ràng dầu
dòng sông ấy không còn nữa, trong cảnh bể dâu, nhưng vẫn mãi còn một dòng sông
xưa miên man chảy trong tâm tưởng của Tú Xương vì bài thơ có 4 câu mà 3 câu đã
nhắc đến dòng sông một cách thiết tha. (câu 1, 2 và 4).
[7] Luân hồi: 輪迴:
Bánh xe quay, là cái máy quay của tạo hoá. Nhà Phật nói: Chúng sinh ở trong thế
giới, từ khi đầu tiên đến nay cứ bị quay xây vần trong lục đạo六道hết kiếp này đến kiếp kia mãi, như
cái bánh xe quay mãi không thôi. Khi chết đi, người chết đầu thai sang kiếp
khác, liên tục. Chỉ có tu thành Phật mới dứt kiếp luân hồi.
[8] Chinh Nam
say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.
Trích Nhớ Bắc, Huỳnh Văn Nghệ
(1914-1977)
Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977) là một nhà hoạt
động cách mạng và là một chỉ huy quân sự Việt Nam, nổi tiếng về tài thi ca, có
những câu thơ được nhiều người truyền tụng.
[9] bến hoặc bờ mê: mê hoặc, 迷惑, mờ tối, lầm lẫn, không còn phân
biệt được gì. Chỉ cõi tạm đầy dẫy biết bao điều thị phi khó lòng quyết đoán.
[10] Nghìn thu
nửa chớp: thời gian trong cõi tạm vô cùng nanh
chóng; nghìn năm chỉ bằng phân nửa cái chớp mắt.
[11] bốn bề một phương: không
gian tuy rộng nhưng chỉ bó hẹp một phương mà thôi.
[12]Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ,
Mảnh hình hài không có, có không.
Lọ là thiên tứ, vạn chung.
[13] Cũng có lúc mưa dồn, sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong.
[14] Thầy bói xem voi:
Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói mù nói chuyện với
nhau. Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó như thế nào. Chợt
nghe người ta nói có voi đi qua, năm thầy chung nhau tiền biếu người quản voi, xin cho voi dừng lại để cùng xem.
Thầy thì sờ voi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ
đuôi. Đoạn, năm thầy ngồi bàn tán với nhau:
·
Thầy sờ vòi bảo: Tưởng con voi nó thế
nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa.
·
Thầy sờ ngà bảo: Không phải! Nó dài
dài như cái đòn càn.
·
Thầy sờ tai bảo: Đâu có! Nó bè bè như
cái quạt thóc.
·
Thầy sờ chân cãi: Ai bảo? Nó sừng sững
như cái cột đình.
·
Thầy sờ đuôi lại
nói: Các thầy nói sai cả. Chính nó tua tủa như cái chổi xể cùn.
Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng, không ai chịu
ai, thành ra xô xát, đánh nhau toạc
đầu chảy máu. Theo Trương Chính trong tác phẩm
"Bình Giải ngụ ngôn Việt Nam" (Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
năm 1998).
[15] Bụi sạch hay nhơ thế nào, cũng chỉ là cát bụi bên
đường, là một thứ thấp hèn trong cõi trần gian.
[16] Khuất Nguyên (屈原, 340 TCN - 278 TCN), làm
quan đại phu cho đời Hoài Vương nước Sở, bị kẻ sàm báng mà phải bãi chức. Mặt
mũi tiều tuỵ, hình dong khô héo, Khuất Nguyên vừa đi, vừa hát trên bờ đầm.
Có ông
lão đánh cá trông thấy, hỏi rằng:
- Ông có
phải là Tam Lư Đại Phu không? Sao mà đến nỗi khốn khổ như vậy?
Khuất
Nguyên nói: “Cả
đời đục cả, một mình ta trong; mọi người say cả, một mình ta tỉnh; bởi vậy nên
ta phải bị bãi chức”.
Ông lão
đánh cá nói: “Thánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tuỳ thời. Có phải cả đời
đục cả, sao không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục một thể; loài người say
cả, sao ông không ăn cả men, húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải lo xa,
nghĩ sâu, để cho đến nỗi phải phóng khí?”.
Khuất
Nguyên nói: “Tôi
nghe: Mới gội đầu tất phải chải mũ, mới tắm ra tất phải thay áo; có đâu lại chịu
đem cái thân trong sạch mà để cho vật dơ bẩn dính vào mình được? Chẳng thà nhảy
xuống sông Tương, vùi xác vào bụng cá, chớ sao đang trắng lôm lốp, lại chịu để
vấy phải bụi dơ”.
Ông lão
đánh cá nghe nói tủm tỉm cười, quay bơi chèo đi, rồi hát rằng:
“Sông
Tương nước chảy trong veo.
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.
Sông
Tương nước đục phù sa
Thì ta lội xuống để mà rửa chân”.
Hát xong, đi thẳng không nói gì.
Say, tỉnh; Đục,
trong: Cổ học tinh hoa” của hai tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, (1890-1942)
và Tử An Trần Lê Nhân, (1888-1975), được Omega Plus tái bản trong một diện
mạo mới, dựa trên bản in đầu tiên, do Vĩnh Long Thư Quán xuất bản năm
1926-1929.
[17]
Con cò mà đi ăn đêm.
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.
Ông ơi! Ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục,
đau lòng cò con.
Ca dao.
[18] Vô thường 無
常hiểu đơn giản nghĩa là không có gì,
không có sự trường tồn, không gì là mãi mãi, vạn vật sẽ không ngừng đổi thay và
không hề đứng yên ở trạng thái duy nhất. Theo đó, Vô: 無có nghĩa là không, là không có gì. Thường:
常có nghĩa là thường hằng, là vĩnh hằng,
vĩnh cửu, luôn còn mãi và không mất đi. Nên khi ghép lại với nhau sẽ dùng để biểu
thị trạng thái biến động, vạn vật trong thế gian sẽ luôn luôn có sự dịch chuyển
không ngừng.
[19] Nhân sinh thiên địa nhất nghịch lữ,
Có
bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày.
Như chiêm
bao, như bóng sổ, như gang tay,
Sực
nhớ chữ: cổ nhân bỉnh chúc
*Cao
sơn lưu thuỷ, thi thiên trục,
高山流水詩千柚,
Minh
nguyệt thanh phong, tửu nhất thuyền.
明月清風酒一船.
Nhân sinh thắm
thoát, Cao Bá Quát, 高伯适; (1808 – 1855).
-Nhân sinh thiên địa nhất nghịch lữ,
人生天地一逆旅; Đời
người trong khoảng trời đất, như sống trong một quán trọ, (nghịch lữ: 逆旅 là quán trọ). Xem chú thích số
-Cao sơn lưu thuỷ, thi thiên trục, Minh
nguyệt thanh phong, tửu nhất thuyền. 高山流水詩千柚, 明月清風酒一船: Có núi cao nước chảy nên thơ ngàn bài, Nhờ trăng
thanh gió mát mà uống một thuyền đầy rượu.
Trích Đời người thắm thoát, Cao Bá Quát, (1808-1855).
[20] Hương Hải thiền sư,
香海襌師,
(1628 - 1715)- Thời Hậu Lê – Việt Nam
Không
rõ tên thật, tục gọi là Tố Cầu. Tổ quán vốn là người làng Áng Ðộ huyện Chân
Phúc (sau đổi là Chân Lộc rồi Nghi Lộc) tỉnh Nghệ An.
Thiền sư sống vào thời Hậu Lê.
Năm 18 tuổi đỗ cử nhân.
Vào năm 1652 được bổ làm tri phủ Triệu Phong (tỉnh Quảng
Trị).
Năm 1655 từ quan, xuất gia với thiền sư Viên Cảnh được
đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiên Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải.
Năm 1682, ông vượt bể ra Đàng Ngoài và ở hẳn lại miền
Bắc.
Ông nổi
danh qua nhiều nơi hành đạo, sau cùng lập chùa Nguyệt Đường ở Khoái Châu, tỉnh
Hưng Yên.
Ông là người đã chấn hưng thiền phái Trúc Lâm, đã dịch
kinh, chú giải và sáng tác hơn 30 tác phẩm.
Xin giới thiệu một bài thơ hay mang đậm chất Thiền
về lẽ tính không của ông.
無 題
Vô Đề
雁
過 長
空
Nhạn quá trường không,
影
沈 寒
水
Ảnh trầm hàn thủy.
雁
無 遺
跡 之
意
Nhạn vô di tích chi ý,
水
無 留
影 之
心
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.
Hương Hải Thiền Sư
(Trích “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý
Đôn, 1726-1784).
Nhạn vô di
tích chi ý,
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.
Hương
Hải Thiền Sư
(1628 - 1715)
Dịch nghĩa:
Nhạn bay qua bầu trời dài.
Ảnh chìm trong dòng nước lạnh.
Ý nhạn chẳng mong lưu lại vết tích của mình.
Lòng nước chẳng màng lưu giữ bóng nhạn bay.
Dịch thơ:
●Bản dịch [1]
Nhạn bay trên không,
Bóng chìm đáy nước.
Nhạn không có ý để dấu.
Nước không có tâm lưu bóng.
Thượng Tọa Thanh Từ
dịch
●Bản dịch [2]
Tung cánh lượn trời dài,
Bóng nhạn chìm nước rét.
Nhạn chẳng mong lưu vết.
Nước chẳng màng bóng bay.
Ngân Triều dịch
Con
chim nhạn (con người) bay trong bầu trời dài, (đời người trăm năm). Bóng nó
chìm trong dòng nước lạnh, (cái nghiệp cuộc đời); nó không muốn bóng nó lưu lại
trong dòng nước lạnh (vì cuộc đời quá ngắn ngủi, so với thời gian vô cùng).
Cũng như nước (thế gian) nầy không màng, không cần lưu vết chim nhạn bay.
Franҫoise Sagan (1935-2004)
*Buồn
ơi chào mi: Bonjour Tristesse, là cuốn tiểu
thuyết của nữ văn sĩ Pháp, Franҫoise Sagan (1935-2004). Khi xuất bản tác
phẩm nầy, Bà mới 19 tuổi, thể hiện quan điểm triết học về chủ nghĩa hiện
sinh; cuốn sách vừa mới ra mắt bạn đọc lần đầu tiên đã gây tiếng vang rộng
khắp nơi, liên tục tái bản lên đến hàng triệu bản, đã được dịch ra trên 20 thứ
tiếng ở các châu lục.
*Cốt
truyện Buồn ơi chào mi đơn giản xoay quanh 3 nhân vật chính: người kể chuyện là
Cécile, người cha góa vợ và người tình sắp cưới của ông là cô Anne. Cécile là nữ
sinh 17 tuổi, sống phóng khoáng, không thể chấp nhận cô Anne là người phụ nữ
đoan trang, vì một khi Anne thành kế mẫu thì thế nào Anne cũng sẽ sửa đổi tính
tình của Cécile nên Cécile nhờ sự trợ giúp của người bạn trai, quyết tâm triệt
hạ Anne. Họ dàn cảnh để Anne nhìn thấy cha cô đang âu yếm một người đàn bà khác
và Anne đã nhìn thấy. Quá thất vọng về người bạn tình, cô phẫn nộ, phóng xe ra
đường như điên; kết cuộc, bị tai nạn giao thông, tử vong. Bấy giờ, Cécile mới bắt
đầu cảm thấy thấm thía một nỗi buồn…
Sagan
đặt tên cho cuốn tiểu thuyết của mình là Bonjour Tristesse. Nhà báo Nguyễn Vỹ dịch
nhan đề Bonjour Tristesse sang tiếng Việt là Buồn ơi chào mi.
*Sagan đã
để lại cho đời 20 cuốn tiểu thuyết, 3 tập truyện ngắn, 9 vở kịch, 2 tiểu sử và
một số tác phẩm phi hư cấu.
*Bà được
nhà văn François Mauriac, (1885-1970), ca ngợi là "một tiểu
quái quyến rũ", còn cựu Tổng thống Pháp Jacques René Chirac,
(1932 –2019) thì đã nói: "Với cái chết của Sagan, nước Pháp đã
mất một trong những nhà văn xuất sắc và nhạy cảm nhất - một nhân vật lỗi lạc
trong đời sống văn học của chúng ta.".
[22] Dục phá thành sầu tu dụng tửu,
Túy tự túy đão, sầu tự sầu.
[23] Cái
vòng danh lợi cong cong,
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào.
Sự đời nghĩ cũng nực cười,
Một con cá lội, mấy người buông câu.
Ca dao
[24] Hư huyễn: 虛幻:
hư: 虛:
không có thực, trống rỗng; huyễn 幻hư
ảo, hoang tưởng. (Điều nầy, với ta chỉ là điều vô nghĩa vì ta bất cần đời, coi
khinh tất cả).
[25] Nợ tình chưa trả tròn một món,
Sòng đời thua đến trắng hai tay.
Hành Phương
Nam, Nguyễn Bính (1918-1966)
[26] Đêm sâu: đêm khuya khi mọi người
đang đắm chìm vào giấc ngủ sâu lắng; “Thiên hạ dễ thường đang ngủ cả”; Chợt Giấc, Trần
Tế Xương, (1870-1907)
[27]
Người nách thước, kẻ tay đao,
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
ĐTTT, Nguyễn
Du, (1765-1820), câu 577-578
[28] linh sầu: 靈 愁,
nỗi buồn thiêng liêng; có thể là nỗi buồn tác động đến cả phần hồn hay tâm tưởng.
[29] Trở về ngôi: từ trần. Lấy ý tưởng của
câu: Sinh ký, tử quy:
生寄, 死
歸; sống là sống tạm, chết mới là trở
về nơi mà bản thân đã ra đi.
Khiểm khiểm tư quy luyến cố hương,
Hà vi yêm lưu ký tha phương.
Tào Phi :
曹丕;
187 - 226): Yên ca hành 燕歌行)
Lòng buồn buồn, nghĩ trở về, nhớ quê nhà,
Làm sao cứ mãi sống gửi quê người.
[30] Lấy ý câu hát tiếng Pháp: Que
sera, sera. Cái gì sẽ phải đến, thì nó cứ lạnh lùng sẽ đến thôi.
(Dịch thoát).
[31] Những cánh hoa này rất mỏng manh,
Ngày mai cho
gió cuốn xa cành
Và ngày mai nữa
em đi dạo
Sẽ thấy hồn anh trên cỏ xanh…
Đinh
Hùng,
(1920-1967), Đường Vào Tình Sử.
[32] Ô hô! Tam thốn khí tại thiên ban dụng;
nhất đán vô thường vạn sự hưu. 嗚呼!三寸气在千班用, 一旦無常萬事休.
Nghĩa là: Than ôi! Còn ba tấc hơi làm ngàn thứ; một khi chết rồi vạn sự
thôi. Đây là câu nói phổ biến trong sách cổ. Hai chữ thiên và vạn đối nhau, (thiên
ban: ngàn thứ; vạn sự: mười ngàn việc, có nghĩa không xác định; nên
hiểu là vô số).
[33] Đồng vọng: tiếng nghe văng vẳng xa, lúc rõ
lúc không. Đồng nghĩa với văng vẳng.
Tiếng địch thổi nghe
chừng đồng vọng.
Hàng cờ bay
trong bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa.
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chinh Phụ Ngâm Khúc, Đặng Trần Côn, (1710 hoặc 1720 -1745) - Đoàn
Thị Điểm, (1705-1749), câu 49-52
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét