Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

Bài [14] Daõ Traøng (Dã Tràng), Thơ vhp. Hải Vân - Lời bình Ngân Triều

Thứ Sáu 12 Tháng 7 Năm 2013

Bài [14] Daõ Traøng (Dã Tràng)                                   

Thơ vhp. Hải Vân - Lời bình Ngân Triều

 

Ảnh có chứa trong nhà, đóng, vài

Mô tả được tạo tự động

                                                                                   Ảnh con Dã Tràng xe cát, Google

 Nói thật lòng mình, tôi rất mến mộ Chị Hải Vân, một bút danh biểu tượng những hình ảnh khoáng đãng, cao vời của biển xanh, mây trắng; thanh tú, ngoạn mục trong những cơn mưa đầu mùa hè, nhiệt đới.  Những vần thơ của Chị thường là những tiếng lòng réo rắt, những cung bậc trầm lắng, mong nhớ, đợi chờ, chạnh lòng, buồn thương, lỡ làng, rất đa dạng trong tình yêu đôi lứa.  Những giai điệu thơ của Chị thường biến thể sáng tạo: giản dị mà ngân nga; tự nhiên mà hàm súc; nhẹ nhàng mà sâu lắng trong tim; đậm nhạt những tố chất trữ tình, duyên dáng, thi vị của ca dao, dân ca và chuyện xưa tích cũ diệu kỳ; sắc sảo những từ ngữ tinh chọn như điểm nhãn cho hồn thơ bay bổng, dạt dào; những tứ thơ tạo hình như bừng sáng, lóng lánh, vút cao thêm, trải rộng hơn, điểm trang cho những cảm xúc chân thành.

Qua những vần thơ gởi cố nhân, tôi được vinh hạnh là một độc giả đầu tiên, một độc giả ngưỡng mộ thơ Chị, đã nghiền ngẫm nhiều lượt tuyển tập để thấm thía, cảm nhận những ánh trăng vàng mượt mà trong quyển sách.  Do đó, tôi rất muốn bình luận phần lớn tác phẩm đang trình làng nầy hay nói cách khác, làm một người trang điểm thêm những hoa văn trên một khúc lụa mới dệt, ấp ủ dày công của một cây bút dệt thơ tài hoa.  Điều đó, chẳng qua là một ý tưởng bất cập, nhiều tham vọng, không thực tế chút nào.  Để hợp lý hơn, có lẽ tôi xin được ghi lại những cảm nghĩ của mình, qua một số bài thơ chọn lọc một cách chủ quan.

Trước hết, tôi xin mạn đàm hai từ “cố nhân” đã ghi trên tiêu đề của tập thơ.

Cố nhân là một người thân thiết cũ, hoặc là một người yêu cũ của bản thân.  Tất nhiên, đã gọi nhau là cố nhân thì sự gắn bó giữa hai người tình không còn tiếp diễn nữa, không còn gì để nói.  Hai tâm hồn yêu đương, đang ở trong một hoàn cảnh dở dang, ngăn cách, chia ly do có nhiều khó xử, trắc trở, uẩn khúc.

Như đã có một nhà thơ tiền chiến cảm khái:

Anh đi đường anh, tôi đường tôi,

Tình nghĩa đôi ta có thế thôi!

Đã quyết không mong sum họp mãi,

Bận lòng chi nữa lúc chia phôi.

                                     Giây phút chạnh lòng – Thế Lữ, (1907-1989)

          Ngôn ngữ của lý trí, quả là khẳng khái, dứt khoát!  Đành vậy.  Nhưng khi đã cất cao ca khúc tuyệt tình:

        Em ngơ ngác, em bàng hoàng,

Tình tan theo ánh trăng tàn, tàn mơ!

                                  Ba đồng tiền- vhp. Hải Vân

thì mấy ai mà không xao xuyến, thẫn thờ; mấy ai mà không ngậm ngùi, cay đắng như hồn mình triền miên nhỏ lệ …

          Để rồi, trên bước đường trần, hai con tim cứ mãi còn vương vấn không nguôi…

               Daõ Traøng (DÃ TRÀNG)                       

        Dã Tràng xe cát uổng công,

Còn em xe mãi chỉ hồng không săn.

Cánh bằng bặt dấu trời xanh,

Tơ hồng đứt đoạn cát đành sóng xao.

Mênh mông dồn dập ba đào,

Niềm thương nỗi nhớ dạt dào tràn dâng.

Vấn vương tiếp nối bâng khuâng,

Dã Tràng xe cát em hong tơ trời!

Bao năm thương nhớ bời bời,

Đèo Cao ngút mắt Chân Trời chờ ai.

Ai về tình lỡ duyên mai,

Ai về trăm đắng nghìn cay nát lòng!

Thương ai mang kiếp long đong,

Thương mình lận đận dám mong giận hờn.

Đêm đêm đòi đoạn từng cơn

Tình chung đối bóng tình đơn não lòng!

                                               Thơ vhp. Hải Vân

CA, April, 28-2011 

*

Lời bình, Ngân Triều:

Bài thơ nầy đã đến với tôi một cách tình cờ, (Có lẽ nó được tác giả sắp xếp ở vị trí trang trọng và là bài đầu tiên ?!), tác giả đã dựa vào sự tích Công Dã Tràng (Gói ghém tiêu đề bằng một câu chuyện cổ tích, làm cho bài thơ giàu sắc thái biểu cảm và gợi tả).  Xin được tóm tắt cốt truyện đó:

Sự tích con Dã Tràng

Xưa có một người thợ săn tên Công Dã Tràng, nhà ở bìa rừng già.  Trong vườn nhà ông có đôi rắn mảng xà to sống trong bộng cây cổ thụ sau vườn. Ngày ngày, Ông thường để tâm theo dõi sinh hoạt của chúng.

Một hôm, lúc rắn đực đang lột da, yếu đuối, rắn cái ra ngoài ngoại tình và dẫn về một tên rắn đực to lớn, xà nẹo trước bộng cây.  Bất nhẫn, ông giương ná định giết chết tên rắn đực tham lam, cơ hội, phá hoại gia cang kẻ khác. Thật trớ trêu, mũi tên bay trúng ngay đầu của con rắn cái, làm cho con rắn đực trộm tình chạy mất.

Một đêm, lúc đang thuật lại chuyện rắn ngoại tình cho vợ nghe, bổng có một viên ngọc rơi từ xà nhà xuống.  Vừa nhặt lên, ông bỗng nghe:
- Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông trên máng này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi. Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là mình lầm. Xin biếu ông viên ngọc nghe này. Ngậm nó vào mồm thì có thể nghe được tiếng nói của các loài chim, loài cá, loài thú ở thế gian.

Rắn báo oán! Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rời. Nghe được tiếng chim muông thật là thú vị! Lũ thỏ đang làm gì, đàn nai đang ở đâu, chúa sơn lâm thức, ngủ; chim chóc thông tin và trò chuyện với nhau, ông đều biết rõ.  Điều đó giúp ông săn bắn như ý.

Tuy nhiên ông bị bắt giam oan, bị giải về kinh về tội giết người do lũ quạ trả thù. 

Một hôm, trong tù, nghe lũ kiến báo sắp có lũ lụt to, mà các kho lương chưa di dời lên chỗ cao. Ông liền báo quan, quan khẩn cấp ra lệnh cho ba quân phòng bị ngay. Quả nhiên, trời mưa như trút nước cả ngày, kinh thành bị ngập lụt mà người và lương thực đều an toàn, ông được đặc xá.

Biết Ông có ngọc nghe, nhà vua liền mượn ông viên ngọc quý. Chẳng may, khi nhà vua nghe hai con cá dí dỏm nói chuyện với nhau, vua cười, viên ngọc liền rơi xuống nước.

Tiếc viên ngọc quý, Dã Tràng dời nhà ra biển, ngày ngày, đợi khi thủy triều xuống, xe cát tìm ngọc.  Bao cố gắng, bao nhọc nhằn, thời gian và công sức, chỉ hoài công thôi.  Khác nào chuyện mò kim đáy biển.

Khi chết, Ông biến thành con còng còng hay còn gọi là con dã tràng, ngày ngày xe cát để mong được châu về Hợp Phố [1].  Do đó, ca dao có câu:

        Dã Tràng xe cát biển Đông.

Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

Hay là:

Công Dã Tràng hàng ngày xe cát,

Sóng biển dồn tan tác còn chi.

Hay là:

Con còng còng dại lắm không khôn.

Luống công xe cát sóng dồn lại tan.

                                         Theo vanhoc.xitrum.net

Truyện nầy còn có một số dị bản gắn liền với sư tích vì sao con ngỗng không ăn tép và vì sao mào ngỗng có một đốm trắng như để tang cho Dã Tràng đã cứu mạng.

          Trong Thần thoại Hy Lạp cũng có một truyện hoài công tương tự:

          Sysiphe một người gian dối, lừa đảo các thần linh, đã bị lãnh phạt một cực hình khổ sai vô nghĩa, phi lý.  Sisyphe [2] phải lăn một tảng đá cực lớn từ chân núi lên một đỉnh đồi cao rợn ngợp…  

          Xin hãy quay lại bài thơ Dã Tràng:

          Chủ đề bài thơ là dấn thân, chắt chiu cho một tình yêu vô vọng, Dã Tràng xe cát em hong tơ trời! Và tâm tình của nhân vật trữ tình. Tình chung đối bóng tình đơn não lòng!

Có thể hiểu nhân vật trữ tình, “em” trong bài thơ là chính tác giả hoặc tác giả thay lời cho tha nhân và cả bài thơ là một bức tranh tâm trạng đậm nhạt vài chi tiết “tự sự”, giai điệu của thơ lục bát dân gian, có bố cục khá cân đối (2 câu mở/ 12 câu tâm tình/ 2 câu kết).

[1] Hai câu mở:

        Dã Tràng xe cát uổng công,

Còn em xe mãi chỉ hồng không săn.

Giới thiệu nhân vật trữ tình “em” đã dấn thân, chắt chiu cho một tình yêu đã mất đi một cách đáng tiếc, vô vọng.

Xe cát là con Dã Tràng làm cho cát dính lại từng viên nhỏ.  Xe chỉ là thủ thuật làm cho các sợi chỉ nhỏ xoắn chặt vào nhau.  Khi các sợi chỉ đã xoắn chặt vào nhau là đạt yêu cầu hay còn gọi là chỉ đã kết, đã thành, đã săn.  Ngược lại là bất thành, là không săn.  Chỉ hồng là xích thằng trong điển tích Nguyệt hạ lão nhân, Ông già dưới trăng [3].

Câu thơ đầu, chuyện dã tràng xe cát.  Câu thơ sau, tác giả đối chiếu với chuyện mình bằng biện pháp tu từ so sánh, dã tràng và em.  Từ uổng công ở câu trên và xe mãi chỉ hồng không săn, diễn đạt một ý nghĩa rất buồn, hoài công và thất bại đáng thương.  Sự khác nhau của hai câu thơ, chẳng qua là hai cách sử dụng của nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn, lời ít và lời nhiều, thể hiện một lời thở than cho duyên phận không may mắn của mình.

Nhưng vì sao nhân vật trữ tình lại thở than như vậy?

[2] Mười hai câu tâm tình

         Cánh bằng bặt dấu trời xanh,

Tơ hồng đứt đoạn cát đành sóng xao.

         Mênh mông dồn dập ba đào,

Niềm thương nỗi nhớ dạt dào tràn dâng.

Cánh bằng, biện pháp tu từ hoán dụ, sử dụng chi tiết chỉ tổng thể, chỉ con chim bằng, giống chim lớn bay rất cao và rất xa theo truyền thuyết, thường dùng trong văn hoc xưa để chỉ người anh hùng tạo thời thế, có cơ hội vẫy vùng.  Ở đây, còn có thể hiểu, chàng là một phi công.  Bặt, đọc trại của chữ biệt, không để lại dư âm hay tin tức gì cả. Cả câu là chàng đã biệt tăm. Do đó, chuyện tình, tơ hồng coi như đã lỡ làng, kết thúc, bất thành, đứt đoạn; và cũng phải chấp nhận, không thể nào khác được như làn sóng kia đã cuốn cát trôi đi mất, cát đành sóng xao. Trong hoàn cảnh rộng lớn như không có mức giới hạn, mênh mông; liên tiếp nhiều lần trong khoảng thời gian tương đối ngắn, dồn dập; có rất nhiều cơn sóng to, ba đào, như những hoàn cảnh chìm nổi, gian nan trong cuộc đời mà lúc nào, tâm hồn nhân vật trữ tình chỉ biết thương nhớdạt dào tràn dâng.

Đau đớn thay, những biến cố của anh và nỗi lòng của em! Nhưng tình em không phải chỉ có thương nhớ …

        Vấn vương tiếp nối bâng khuâng,

Dã Tràng xe cát em hong tơ trời!

        Bao năm thương nhớ bời bời,

Đèo Cao ngút mắt Chân Trời chờ ai.

Vậy là, chuyện tình đó, vẫn cứ luôn nghĩ đến, mãi nhớ hoài trăm năm, không thể nào nguôi, vương vấn; dạt dào những cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau như ngẩn ngơ trăm mối bên lòng, bâng khuâng. Tâm tình đó ngày càng tăng tiến thêm, ngày càng trải rộng ra, đến mức như vượt ra ngoài tầm mắt, tận chân trời, ngút mắt, trong biết bao năm tháng mòn mỏi chờ ai.

Nào thấy tăm hao! Hơn một lần, nghệ thuật điệp ý được vận dụng hợp lý, nhấn mạnh nỗi đau xót duyên kiếp, thân phận, không may mắn trong cuộc tình, Dã Tràng xe cát, đối chiếu với một công việc liên tưởng đầy sáng tạo, ảo vọng, em hong tơ trời: người ta hong tơ tằm cho khô, cho óng, cho vàng, thành chất liệu dệt có giá trị.  Riêng em, chỉ một mình em đã làm một công việc lẩn thẩn, ngớ ngẩn là đi hong tơ trời.  Tơ trời là một thứ tơ nhện trên rừng do bão tố cuốn đi muôn phương.  Khi bão tan, bình gió, nó ở trên trời từ từ rơi xuống đất, những mảng tơ trắng, đứt đoạn, bay lang thang trên khắp ruộng đồng. Dân gian gọi thứ tơ nhện vô tích sự đó là tàn lan hay gọi một cách sáng tạo, thi vị hơn là tơ trời như đã đề cập ở trên. Tơ trời thì làm sao mà hong, nó đã khô sẵn; với lại tơ trời bay và rơi xuống đất trong một không gian trải rộng, khó có thể gom lại. Dã tràng xe cát, cũng như em hong tơ trời là để đời mình gắn kết vào công việc phù du, vô tích sự, nếu không nói là vô ích, hoài công. 

Vẫn chưa hết ý, người đọc như cảm nhận một thời gian đằng đẵng, vô tận bao năm thương nhớ bời bời; lồng trong một không gian rộng lớn vô cùng của hình ảnh gian nan hiểm trở, đầy thử thách của đèo cao ngút mắt tận chân trời của sự chờ ai vời vợi của nhân vật trữ tình.

Rõ ràng là một tấm lòng chung thủy điểm chút thương thân của người trong cuộc.  Để rồi:

         Ai về tình lỡ duyên mai,

  Ai về trăm đắng nghìn cay nát lòng!

        Thương ai mang kiếp long đong,

Thương mình lận đận dám mong giận hờn.

Lỡ duyên mai [4] là người con gái đã lỡ cuộc tình hẹn ước vì đợi chờ quá lâu; có thể là nàng đã luống tuổi hoặc đợi chờ trong mòn mỏi nên đã có gia đình riêng. Khi người xưa trở lại thì chuyện tình đã hết vì ván đã đóng thuyền.  Có ai ngờ, cánh bằng bặt dấu trời xanh, mà lại trở về mái nhà xưa(?!).  Một hiện thực xé lòng!  Biết bao trăm đắng, nghìn cay! [5]  Chàng đã bản lĩnh vượt qua một kiếp sống long đong [6] đáng thương.   Hai cặp từ tố thể hiện một cách vừa bóng bẩy, vừa khắc họa về nhân thân của chàng, một cánh bằng bạt gió, gãy cánh.  Ba câu thơ với ba phiếm chỉ đại từ vừa là điệp từ ai minh họa một cách cụ thể-khái quát về chàng. Đặc biệt, thương ai là thương chàng, tấm lòng đoái thương của người con gái. Thương mình cũng chính là chàng thương thân mình, hữu thân hữu khổ. Tác giả đã để cho chàng tự cảm nghĩ về thân phận, để chấp nhận những hoàn cảnh nghiệt ngã của số phận an bài.

          Thật là trớ trêu, ngỡ ngàng và đáng thương!

           Hai câu kết:

           Lẻ bóng, não lòng.

        Đêm đêm đòi đoạn từng cơn

Tình chung đối bóng tình đơn não lòng!

 Hai câu kết nghe như những tiếng lòng thổn thức, đành phận về duyên kiếp hẩm hiu, dâu bể, trong nỗi xót xa cô đơn miên man, qua nhịp thơ 2/2/2 và 4/4, dịu êm, cân đối, hài hòa như một giai điệu tỏ lòng, kể khổ. Nỗi đau cứ trào dâng từng cơn để rồi sẽ kết thúc, chấm hết bằng một dấu cảm bức xúc như nước mắt ứa ra, nghẹn ngào, tuôn trào rồi rơi lệ của cả hai phía, giữa tình chung và  nỗi niềm riêng của hai nhân vật trữ tình…

Cụ thể là người đọc có thể cảm nhận hai câu kết nầy là tâm trạng của chàng vì tình chung giờ đây chỉ là đối bóng, đối diện với bóng mình, là lẻ bóng, đơn côi.  Sự thật chỉ là, đối diện với cái bóng mình, ảo ảnh, không có thực, là tan vỡ, lỡ làng.

Tình riêng là tâm trạng não lòng trong đau thương chất ngất, trong lỡ bước, để lỡ một chuyến đò tình.

Còn nếu căn cứ vào chủ đề bài thơ và chi tiết tự sự ở hai câu mở bài, hai câu kết nầy cũng có thể hiểu là tiếng lòng thở than của người con gái trong chuyện tình đứt đoạn, hoài công.

Và điều đó, chính là một trong những điểm cô đọng mà hàm súc của tứ thơ. 

Cuối cùng, có thể nói, Dã Tràng của vhp. Hải Vân, với mười sáu dòng   

thơ mượt mà là cả mười sáu cung bậc đoạn trường của một tình khúc trắc trở, thời thế, bể dâu! ֎



[1] Châu về Hợp Phố có nghĩa là những cái quý giá của bản thân, không mất được, sớm muộn cũng sẽ quay trở về với chủ nó. Hợp Phố, quận xưa của Giao Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay. Tương truyền đời Hậu Hán, có viên Thái Thú tàn bạo. bắt dân lấy hạt châu quá ngặt, châu bỏ đi hết qua quận Giao Chỉ. Khi Thái Thú Mạnh Thường thay thế, ông bỏ hết tệ cũ, cho dân tự do tìm kiếm thì châu lại trở về.

Từ tích này, mới có thành ngữ châu về Hợp Phố để chỉ vật quý trở lại chốn cũ; hay người đánh mất của qu‎‎‎‎í sẽ được nhận lại những vật quí đã mất. Truyện Kiều có câu:

Thoa nầy bắt được hư không,

      Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về.

                                         Kiều, Nguyễn Du, (1766-1820), câu 305-306

(Kim Trọng nói với Thúy Kiều rằng biết chiếc thoa nầy của ai mà mong đem trả về cho chủ).  

[2] Sisyphe: Trong thần thoại Hy Lạp, Sisyphe là vị vua cả gan chọc giận thần Zeus quyền lực. Ông đã bị các vị thần trừng phạt vì sự xảo quyệt và gian dối bằng cách lăn tảng đá. Biết bao khó nhọc và thời gian!  Biết bao nghị lực và công sức!  Khi lăn tảng đá lên đến đỉnh đồi, Ông phải xô cho nó rơi xuống chân núi.  Rồi Ông phải tiếp tục xuống núi, miệt mài lăn tảng đá lên đỉnh núi lần nữa và đẩy cho tảng đá rơi xuống núi.  Lăn lên, cho rơi uống, lại lăn lên nữa…và cứ liên tục như thế mãi, trong cái vòng lẩn quẩn, trong vô vọng, trong ngu ngốc, dại khờ!

Sisyphe là hình ảnh con người vô thần, tự do và có ý thức; tảng đá là nan đề và gánh nặng cuộc đời của mỗi chúng ta. 

[3] Tích Vi Cố đời Đường, một thư sinh văn hay chữ tốt.  Một hôm đi dạo dưới trăng, chàng chợt gặp một cụ già đầu chích khăn đỏ, đang xe những sợi chỉ đỏ bên cạnh có một cuốn sổ thật to.  Thấy lạ, chàng đến gần lễ phép hỏi chuyện, mới biết cụ già là một vị thần xe duyên cho trai gái ở thế gian.  Đã xe duyên rồi thì dẫu thế nào đôi trai gái cũng sẽ thành duyên giai ngẫu.  Tò mò thưa bẩm chuyện mình, Vi Cố được cụ già tiết lộ thiên cơ là đã xe duyên cho chàng cùng với một cô bé mới ba tuổi hiện là con gái của một lão bà ăn mày mù dưới chợ.  Nói xong cụ già biến mất.

                Thật sững sờ khi biết mình sẽ có một người vợ, hiện là con gái của lão ăn mày mù dưới chợ. Đó là một bé gái, khoảng 3 tuổi xấu xí, dơ bẩn, rách rưới, đang ngồi khóc vì đói rét ở một góc chợ hôi hám.  Bi phẫn sinh ác, chàng liền thuê bọn côn đồ thủ tiêu bé gái…những mong thoát khỏi thiên cơ…và có tiền việc đó xong ngay…

Mười lăm năm sau, Vi Cố mới đỗ Thám Hoa, được một người vợ trẻ đẹp như tiên nga, ái nữ của một vị quan to sắp sửa về quê nghỉ hưu... Một hôm, tan chầu về nhà, vợ đang gội đầu, chàng đến giúp thì thấy trên đầu vợ, ẩn sau mớ tóc đen tuyền, bóng mượt, có một cái sẹo to…Lời thuật lại của vợ làm Vi Cố vỡ lẽ.  Người vợ, cô bé xấu xí ngày xưa, do ông nguyệt lão xe tơ, chàng đã cho thủ tiêu hòng cải lại “duyên thiên” … và người vợ hiện thời, chỉ là một...

Mới biết chuyện gì, trời đã định thì không bao giờ thoát khỏi.

 [4] Cây mai, trông giống cây mơ, nhưng cành có vẻ khẳng khiu, cứng cát hơn. Mai qua bài thơ Phiếu Mai, “Mai rụng” trong Kinh Thi có câu:

Phiếu hữu mai, Kì thực thất hề. Cầu ngã thứ sĩ, Đãi kì cát hề

Phiếu hữu mai, Kì thực tam hề. Cầu ngã thứ sĩ, Đãi kì kim hề

 標有梅其實七兮求我庶士迨其吉兮

標有梅其實三兮求我庶士迨其今兮

Nghĩa là:

- Quả mai rụng xuống, trên cây chỉ còn lại bảy phần. Chàng trai có lòng tìm đến em để cưới, nhân ngày tốt mà mang lễ vật tới.

- Quả mai rụng xuống, trên cây chỉ còn lại ba phần. Chàng trai có lòng tìm đến em để cưới, kịp ngày nay chớ chờ đợi nữa.

Bài Phiếu hữu Mai, Kinh Thi, chương Thiệu Nam 召南

Câu nầy dùng điển mai rụng, nhưng còn bảy phần, ba phần. Người con gái lấy chồng chưa muộn lắm đâu.

Lỡ duyên mai: không còn cơ hội kết duyên. (như trên)

[5] Tác giả sử dụng cặp từ ghép, cắt đôi, đan chéo, nhấn mạnh ý tưởng đắng cay.

[6] Long đong là vất vả, khó nhọc, gian nan vì đã gặp nhiều điều không may.  Lận đận là vất vả, chật vật vì đã phải trải qua nhiều trắc trở, gian lao. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét