Thứ Sáu 12 Tháng 7 Năm 2013
Bài [14] Daõ
Traøng (Dã Tràng)
Thơ vhp. Hải Vân - Lời
bình Ngân Triều
Ảnh
con Dã Tràng xe cát, Google
Qua những vần thơ gởi cố
nhân, tôi được vinh hạnh là một độc giả đầu tiên, một độc giả ngưỡng mộ
thơ Chị, đã nghiền ngẫm nhiều lượt tuyển tập để thấm thía, cảm nhận
những ánh trăng vàng mượt mà trong quyển sách. Do đó, tôi rất muốn
bình luận phần lớn tác phẩm đang trình làng nầy hay nói cách khác,
làm một người trang điểm thêm những hoa văn trên một khúc lụa mới dệt, ấp ủ dày
công của một cây bút dệt thơ tài hoa. Điều đó, chẳng qua
là một ý tưởng bất cập, nhiều tham vọng, không thực tế chút nào. Để
hợp lý hơn, có lẽ tôi xin được ghi lại những cảm nghĩ của mình, qua một số bài
thơ chọn lọc một cách chủ quan.
Trước hết, tôi xin mạn đàm hai
từ “cố nhân” đã ghi trên tiêu đề của tập thơ.
Cố nhân là một người thân thiết cũ, hoặc
là một người yêu cũ của bản thân. Tất nhiên, đã gọi nhau là cố nhân
thì sự gắn bó giữa hai người tình không còn tiếp diễn nữa, không còn gì để
nói. Hai tâm hồn yêu đương, đang ở trong một hoàn cảnh dở dang, ngăn
cách, chia ly do có nhiều khó xử, trắc trở, uẩn khúc.
Như đã có một nhà thơ
tiền chiến cảm khái:
Anh đi đường anh, tôi
đường tôi,
Tình nghĩa đôi ta có
thế thôi!
Đã quyết không mong sum
họp mãi,
Bận lòng chi nữa lúc
chia phôi.
Giây phút
chạnh lòng – Thế Lữ, (1907-1989)
Ngôn ngữ của lý trí, quả là khẳng
khái, dứt khoát! Đành vậy. Nhưng khi đã cất cao ca khúc
tuyệt tình:
Em ngơ ngác, em bàng hoàng,
Tình tan theo ánh trăng
tàn, tàn mơ!
Ba đồng tiền- vhp. Hải
Vân
thì
mấy ai mà không xao xuyến, thẫn thờ; mấy ai mà không ngậm ngùi, cay đắng như
hồn mình triền miên nhỏ lệ …
Để rồi, trên bước đường trần, hai con
tim cứ mãi còn vương vấn không nguôi…
Daõ
Traøng (DÃ TRÀNG)
Dã Tràng xe cát uổng công,
Còn em xe mãi chỉ hồng
không săn.
Cánh bằng bặt
dấu trời xanh,
Tơ hồng
đứt đoạn cát đành sóng xao.
Mênh mông dồn
dập ba đào,
Niềm thương nỗi
nhớ dạt dào tràn dâng.
Vấn vương tiếp nối
bâng khuâng,
Dã Tràng xe cát em
hong tơ trời!
Bao năm thương nhớ bời
bời,
Đèo Cao ngút
mắt Chân Trời chờ ai.
Ai về tình lỡ duyên
mai,
Ai về trăm đắng nghìn
cay nát lòng!
Thương ai mang kiếp
long đong,
Thương mình lận đận dám
mong giận hờn.
Đêm đêm đòi đoạn từng
cơn
Tình chung đối
bóng tình đơn não lòng!
Thơ vhp. Hải Vân
CA, April,
28-2011
*
Lời bình, Ngân Triều:
Bài thơ
nầy đã đến với tôi một
cách tình cờ, (Có lẽ nó được tác giả sắp xếp ở vị trí trang trọng và là bài đầu
tiên ?!), tác giả đã dựa vào sự tích Công Dã Tràng (Gói ghém tiêu đề bằng một
câu chuyện cổ tích, làm cho bài thơ giàu sắc thái biểu cảm và gợi
tả). Xin được tóm tắt cốt truyện đó:
Sự tích
con Dã Tràng
Xưa có một người thợ săn tên Công Dã
Tràng, nhà ở bìa rừng già. Trong vườn nhà ông có đôi rắn mảng xà to
sống trong bộng cây cổ thụ sau vườn. Ngày ngày, Ông thường để tâm theo dõi
sinh hoạt của chúng.
Một hôm, lúc rắn đực đang lột da, yếu
đuối, rắn cái ra ngoài ngoại tình và dẫn về một tên rắn đực to lớn, xà nẹo trước
bộng cây. Bất nhẫn, ông giương ná định giết chết tên rắn đực tham
lam, cơ hội, phá hoại gia cang kẻ khác. Thật trớ trêu, mũi tên bay trúng ngay
đầu của con rắn cái, làm cho con rắn đực trộm tình chạy mất.
Một đêm, lúc đang thuật lại chuyện rắn
ngoại tình cho vợ nghe, bổng có một viên ngọc rơi từ xà nhà
xuống. Vừa nhặt lên, ông bỗng nghe:
- Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông trên máng này
chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi. Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ
ràng, tôi mới biết là mình lầm. Xin biếu ông viên ngọc nghe này.
Ngậm nó vào mồm thì có thể nghe được tiếng nói của các loài chim, loài cá, loài
thú ở thế gian.
Rắn báo oán! Từ kinh ngạc đến sung
sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rời. Nghe được tiếng
chim muông thật là thú vị! Lũ thỏ đang làm gì, đàn nai đang ở đâu, chúa sơn lâm
thức, ngủ; chim chóc thông tin và trò chuyện với nhau, ông đều biết
rõ. Điều đó giúp ông săn bắn như ý.
Tuy nhiên ông bị bắt giam oan, bị giải về
kinh về tội giết người do lũ quạ trả thù.
Một hôm, trong tù, nghe lũ kiến báo sắp
có lũ lụt to, mà các kho lương chưa di dời lên chỗ cao. Ông liền báo quan, quan
khẩn cấp ra lệnh cho ba quân phòng bị ngay. Quả nhiên, trời mưa như trút nước
cả ngày, kinh thành bị ngập lụt mà người và lương thực đều an toàn, ông được
đặc xá.
Biết Ông có ngọc nghe, nhà vua liền mượn
ông viên ngọc quý. Chẳng may, khi nhà vua nghe hai con cá dí dỏm nói
chuyện với nhau, vua cười, viên ngọc liền rơi xuống nước.
Tiếc viên ngọc quý, Dã Tràng dời nhà ra
biển, ngày ngày, đợi khi thủy triều xuống, xe cát tìm ngọc. Bao cố
gắng, bao nhọc nhằn, thời gian và công sức, chỉ hoài công thôi. Khác
nào chuyện mò kim đáy biển.
Khi chết, Ông biến thành con còng còng
hay còn gọi là con dã tràng, ngày ngày xe cát để mong được châu về Hợp Phố [1].
Do đó, ca
dao có câu:
Dã Tràng xe cát biển Đông.
Nhọc lòng mà chẳng nên
công cán gì.
Hay là:
Công Dã Tràng hàng ngày
xe cát,
Sóng biển dồn tan tác
còn chi.
Hay là:
Con còng còng dại lắm
không khôn.
Luống công xe cát sóng
dồn lại tan.
Theo vanhoc.xitrum.net
Truyện nầy còn có một số dị bản gắn liền
với sư tích vì sao con ngỗng không ăn tép và vì sao mào ngỗng có một đốm trắng
như để tang cho Dã Tràng đã cứu mạng.
Trong Thần thoại Hy Lạp cũng có một
truyện hoài công tương tự:
Sysiphe một người gian dối, lừa đảo các thần linh, đã bị lãnh phạt một
cực hình khổ sai vô nghĩa, phi lý. Sisyphe [2] phải lăn một tảng đá cực
lớn từ chân núi lên một đỉnh đồi cao rợn ngợp…
Xin hãy quay lại bài thơ Dã Tràng:
Chủ đề bài thơ là dấn thân, chắt
chiu cho một tình yêu vô vọng, Dã Tràng xe cát em hong tơ trời! Và
tâm tình của nhân vật trữ tình. Tình chung đối bóng tình đơn não lòng!
Có thể hiểu nhân vật
trữ tình, “em” trong bài thơ là chính tác giả hoặc tác giả
thay lời cho tha nhân và cả bài thơ là một bức tranh tâm trạng đậm nhạt vài chi
tiết “tự sự”, giai điệu của thơ lục bát dân gian, có bố cục khá cân đối (2 câu
mở/ 12 câu tâm tình/ 2 câu kết).
[1] Hai câu mở:
Dã Tràng xe cát uổng công,
Còn em xe mãi chỉ hồng
không săn.
Giới thiệu nhân vật trữ tình “em” đã
dấn thân, chắt chiu cho một tình yêu đã mất đi một cách đáng tiếc, vô vọng.
Xe cát là con Dã
Tràng làm cho cát dính lại từng viên nhỏ. Xe chỉ là
thủ thuật làm cho các sợi chỉ nhỏ xoắn chặt vào nhau. Khi các sợi
chỉ đã xoắn chặt vào nhau là đạt yêu cầu hay còn gọi là chỉ đã kết, đã
thành, đã săn. Ngược lại là bất thành, là không
săn. Chỉ hồng là xích thằng trong điển tích Nguyệt
hạ lão nhân, Ông già dưới trăng [3].
Câu thơ đầu, chuyện dã
tràng xe cát. Câu thơ sau, tác giả đối chiếu với chuyện mình bằng
biện pháp tu từ so sánh, dã tràng và em. Từ uổng
công ở câu trên và xe mãi chỉ hồng không săn, diễn đạt một ý
nghĩa rất buồn, hoài công và thất bại đáng thương. Sự khác
nhau của hai câu thơ, chẳng qua là hai cách sử dụng của nghĩa tường minh và
nghĩa hàm ẩn, lời ít và lời nhiều, thể hiện một lời thở than cho duyên phận
không may mắn của mình.
Nhưng vì sao nhân vật trữ tình lại thở
than như vậy?
[2]
Mười hai câu tâm tình
Cánh bằng bặt dấu trời xanh,
Tơ hồng
đứt đoạn cát đành sóng xao.
Mênh mông dồn dập ba đào,
Niềm thương nỗi
nhớ dạt dào tràn dâng.
Cánh bằng, biện pháp tu từ hoán
dụ, sử dụng chi tiết chỉ tổng thể, chỉ con chim bằng, giống chim
lớn bay rất cao và rất xa theo truyền thuyết, thường dùng trong văn hoc xưa để
chỉ người anh hùng tạo thời thế, có cơ hội vẫy vùng. Ở đây, còn có
thể hiểu, chàng là một phi công. Bặt, đọc
trại của chữ biệt, không để lại dư âm hay tin tức gì
cả. Cả câu là chàng đã biệt tăm. Do đó, chuyện tình, tơ hồng coi
như đã lỡ làng, kết thúc, bất thành, đứt đoạn; và cũng phải chấp
nhận, không thể nào khác được như làn sóng kia đã cuốn cát trôi đi mất,
cát đành sóng xao. Trong hoàn cảnh rộng lớn như không có mức
giới hạn, mênh mông; liên tiếp nhiều lần trong khoảng thời gian
tương đối ngắn, dồn dập; có rất nhiều cơn sóng to, ba đào,
như những hoàn cảnh chìm nổi, gian nan trong cuộc đời mà lúc nào, tâm hồn nhân
vật trữ tình chỉ biết thương nhớ, dạt dào tràn dâng.
Đau đớn thay, những
biến cố của anh và nỗi lòng của em! Nhưng tình em không phải chỉ có thương
nhớ …
Vấn vương tiếp nối bâng khuâng,
Dã Tràng xe cát em
hong tơ trời!
Bao năm thương nhớ bời bời,
Đèo Cao ngút
mắt Chân Trời chờ ai.
Vậy là, chuyện tình đó,
vẫn cứ luôn nghĩ đến, mãi nhớ hoài trăm năm, không thể nào nguôi, vương
vấn; dạt dào những cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau như ngẩn ngơ
trăm mối bên lòng, bâng khuâng. Tâm tình đó ngày càng tăng
tiến thêm, ngày càng trải rộng ra, đến mức như vượt ra ngoài tầm mắt, tận chân
trời, ngút mắt, trong biết bao năm tháng mòn
mỏi chờ ai.
Nào thấy tăm
hao! Hơn một lần, nghệ thuật điệp ý được vận dụng hợp lý, nhấn mạnh nỗi
đau xót duyên kiếp, thân phận, không may mắn trong cuộc tình, Dã Tràng
xe cát, đối chiếu với một công việc liên tưởng đầy sáng tạo, ảo
vọng, em hong tơ trời: người ta hong tơ tằm cho khô, cho óng, cho
vàng, thành chất liệu dệt có giá trị. Riêng em, chỉ một mình em đã
làm một công việc lẩn thẩn, ngớ ngẩn là đi hong tơ trời. Tơ
trời là một thứ tơ nhện trên rừng do bão tố cuốn đi muôn phương.
Khi bão tan, bình gió, nó ở trên trời từ từ rơi xuống đất, những mảng tơ trắng,
đứt đoạn, bay lang thang trên khắp ruộng đồng. Dân gian gọi thứ tơ
nhện vô tích sự đó là tàn lan hay gọi
một cách sáng tạo, thi vị hơn là tơ trời như đã đề cập ở trên.
Tơ trời thì làm sao mà hong, nó đã khô sẵn; với lại tơ trời bay và rơi xuống
đất trong một không gian trải rộng, khó có thể gom lại. Dã tràng xe cát, cũng
như em hong tơ trời là để đời mình gắn kết vào công việc phù du, vô tích sự,
nếu không nói là vô ích, hoài công.
Vẫn chưa hết ý, người
đọc như cảm nhận một thời gian đằng đẵng, vô tận bao năm thương nhớ bời bời;
lồng trong một không gian rộng lớn vô cùng của hình ảnh gian nan hiểm trở, đầy
thử thách của đèo cao ngút mắt tận chân trời của sự chờ
ai vời vợi của nhân vật trữ tình.
Rõ ràng là một tấm lòng
chung thủy điểm chút thương thân của người trong cuộc. Để rồi:
Ai
về tình lỡ duyên mai,
Ai về trăm đắng nghìn cay nát lòng!
Thương ai mang kiếp long đong,
Thương mình lận đận dám
mong giận hờn.
Lỡ
duyên mai [4] là người con gái đã lỡ
cuộc tình hẹn ước vì đợi chờ quá lâu; có thể là nàng đã luống tuổi hoặc đợi chờ
trong mòn mỏi nên đã có gia đình riêng. Khi người
xưa trở lại thì chuyện tình đã hết vì ván đã đóng thuyền. Có ai ngờ, cánh
bằng bặt dấu trời xanh, mà lại trở về mái nhà
xưa(?!). Một hiện thực xé lòng! Biết bao trăm
đắng, nghìn cay! [5] Chàng
đã bản lĩnh vượt qua một kiếp sống long đong [6] đáng
thương. Hai cặp từ tố thể hiện một cách vừa bóng bẩy, vừa khắc
họa về nhân thân của chàng, một cánh bằng bạt gió, gãy cánh. Ba câu
thơ với ba phiếm chỉ đại từ vừa là điệp từ ai minh họa một
cách cụ thể-khái quát về chàng. Đặc biệt, thương
ai là thương chàng, tấm lòng đoái thương của người con gái. Thương
mình cũng chính là chàng thương thân mình, hữu thân hữu khổ. Tác
giả đã để cho chàng tự cảm nghĩ về thân phận, để chấp nhận
những hoàn cảnh nghiệt ngã của số phận an bài.
Thật là trớ trêu, ngỡ ngàng và đáng
thương!
Hai câu kết:
Lẻ bóng, não lòng.
Đêm đêm đòi đoạn từng cơn
Tình chung đối
bóng tình đơn não lòng!
Hai câu kết nghe như những tiếng lòng thổn
thức, đành phận về duyên kiếp hẩm hiu, dâu bể, trong nỗi xót xa cô đơn miên
man, qua nhịp thơ 2/2/2 và 4/4, dịu êm, cân đối, hài hòa như một giai điệu tỏ
lòng, kể khổ. Nỗi đau cứ trào dâng từng cơn để rồi sẽ kết thúc, chấm hết
bằng một dấu cảm bức xúc như nước mắt ứa ra, nghẹn ngào, tuôn trào rồi rơi lệ
của cả hai phía, giữa tình chung và nỗi
niềm riêng của hai nhân vật trữ tình…
Cụ thể là người đọc có
thể cảm nhận hai câu kết nầy là tâm trạng của chàng vì tình
chung giờ đây chỉ là đối bóng, đối diện với bóng
mình, là lẻ bóng, đơn côi. Sự thật chỉ là, đối diện với cái bóng
mình, ảo ảnh, không có thực, là tan vỡ, lỡ làng.
Tình riêng là tâm
trạng não lòng trong đau thương chất ngất, trong lỡ bước, để
lỡ một chuyến đò tình.
Còn nếu căn cứ vào chủ
đề bài thơ và chi tiết tự sự ở hai câu mở bài, hai câu kết nầy cũng có thể hiểu
là tiếng lòng thở than của người con gái trong chuyện
tình đứt đoạn, hoài công.
Và điều đó, chính là
một trong những điểm cô đọng mà hàm súc của tứ thơ.
Cuối cùng, có thể nói,
Dã Tràng của vhp. Hải Vân, với mười sáu
dòng
thơ mượt mà là cả mười
sáu cung bậc đoạn trường của một tình khúc trắc trở, thời thế, bể dâu!
֎
[1] Châu về Hợp
Phố có nghĩa là những cái quý giá của bản thân, không mất được, sớm muộn
cũng sẽ quay trở về với chủ nó. Hợp Phố, quận xưa của Giao Châu thuộc tỉnh Quảng
Đông ngày nay. Tương truyền đời Hậu Hán, có viên Thái Thú tàn bạo. bắt dân lấy
hạt châu quá ngặt, châu bỏ đi hết qua quận Giao Chỉ. Khi Thái Thú Mạnh Thường
thay thế, ông bỏ hết tệ cũ, cho dân tự do tìm kiếm thì châu lại trở về.
Từ tích này, mới
có thành ngữ châu về Hợp Phố để chỉ vật quý trở lại chốn cũ; hay người
đánh mất của quí
sẽ được nhận lại những vật quí đã mất. Truyện Kiều có câu:
Thoa nầy bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về.
Kiều,
Nguyễn Du, (1766-1820), câu 305-306
(Kim Trọng nói
với Thúy Kiều rằng biết chiếc thoa nầy của ai mà mong đem trả về cho chủ).
[2] Sisyphe:
Trong thần thoại Hy Lạp, Sisyphe là vị vua cả gan chọc giận thần Zeus
quyền lực. Ông đã bị các vị thần trừng phạt vì sự xảo quyệt và gian dối bằng cách lăn tảng đá. Biết bao khó nhọc và thời
gian! Biết bao nghị lực và công sức! Khi lăn tảng đá lên
đến đỉnh đồi, Ông phải xô cho nó rơi xuống chân núi. Rồi Ông phải tiếp
tục xuống núi, miệt mài lăn tảng đá lên đỉnh núi lần nữa và đẩy cho tảng đá
rơi xuống núi. Lăn lên, cho rơi uống, lại lăn lên nữa…và cứ
liên tục như thế mãi, trong cái vòng lẩn quẩn, trong vô vọng, trong ngu ngốc, dại
khờ!
Sisyphe
là hình ảnh con người vô thần, tự do và có ý thức; tảng đá là nan đề và gánh
nặng cuộc đời của mỗi chúng ta.
[3] Tích Vi Cố đời Đường, một thư
sinh văn hay chữ tốt. Một hôm đi dạo dưới trăng, chàng chợt gặp một
cụ già đầu chích khăn đỏ, đang xe những sợi chỉ đỏ bên cạnh có một cuốn sổ thật
to. Thấy lạ, chàng đến gần lễ phép hỏi chuyện, mới biết cụ già là một
vị thần xe duyên cho trai gái ở thế gian. Đã xe duyên rồi thì dẫu thế
nào đôi trai gái cũng sẽ thành duyên giai ngẫu. Tò mò thưa bẩm chuyện
mình, Vi Cố được cụ già tiết lộ thiên cơ là đã xe duyên cho chàng cùng với một
cô bé mới ba tuổi hiện là con gái của một lão bà ăn mày mù dưới chợ. Nói
xong cụ già biến mất.
Thật
sững sờ khi biết mình sẽ có một người vợ, hiện là con gái của lão ăn mày mù dưới
chợ. Đó là một bé gái, khoảng 3 tuổi xấu xí, dơ bẩn, rách rưới, đang ngồi khóc
vì đói rét ở một góc chợ hôi hám. Bi phẫn sinh ác, chàng liền thuê bọn
côn đồ thủ tiêu bé gái…những mong thoát khỏi thiên cơ…và có tiền việc đó xong
ngay…
Mười lăm năm sau, Vi Cố mới đỗ Thám
Hoa, được một người vợ trẻ đẹp như tiên nga, ái nữ của một vị quan to sắp sửa về
quê nghỉ hưu... Một hôm, tan chầu về nhà, vợ đang gội đầu, chàng đến giúp thì
thấy trên đầu vợ, ẩn sau mớ tóc đen tuyền, bóng mượt, có một cái sẹo to…Lời thuật
lại của vợ làm Vi Cố vỡ lẽ. Người vợ, cô bé xấu xí ngày xưa, do ông
nguyệt lão xe tơ, chàng đã cho thủ tiêu hòng cải lại “duyên thiên” … và người vợ
hiện thời, chỉ là một...
Mới biết chuyện gì, trời đã định thì không bao giờ
thoát khỏi.
Phiếu hữu mai, Kì thực
thất hề. Cầu ngã thứ sĩ, Đãi kì cát hề
Phiếu hữu mai, Kì thực tam hề. Cầu ngã thứ sĩ, Đãi kì kim hề
標有梅, 其實七兮. 求我庶士, 迨其吉兮
標有梅, 其實三兮. 求我庶士, 迨其今兮
Nghĩa là:
- Quả mai rụng xuống, trên cây chỉ
còn lại bảy phần. Chàng trai có lòng tìm đến em để cưới, nhân ngày tốt mà mang
lễ vật tới.
- Quả mai rụng xuống, trên cây chỉ
còn lại ba phần. Chàng trai có lòng tìm đến em để cưới, kịp ngày nay chớ chờ đợi
nữa.
Bài Phiếu hữu Mai, Kinh Thi, chương Thiệu Nam 召南.
Câu nầy dùng điển mai rụng, nhưng còn bảy phần, ba phần. Người
con gái lấy chồng chưa muộn lắm đâu.
Lỡ duyên mai: không còn cơ hội kết duyên. (như trên)
[5] Tác giả sử dụng cặp từ
ghép, cắt đôi, đan chéo, nhấn mạnh ý tưởng đắng cay.
[6] Long đong là vất vả, khó nhọc, gian nan
vì đã gặp nhiều điều không may. Lận đận là vất vả, chật
vật vì đã phải trải qua nhiều trắc trở, gian lao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét