Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

Bài đăng lại nhằm thương nhớ bạn Trần Văn Sửu, khóa 1 SPSG 1962-1964, đã từ trần cách nay hơn 1 tháng tại Sanjose

 

Bài [100]  Nhớ Quê

Thơ Trần Văn Sửu, k1 SPS; lời bình Ngân Triều, K2 SPS.

Đăng ngày: 08:19 20-03-2012

http://vn.360plus.yahoo.com/nhungnguoibanspsg

          Xin giới thiệu một chút, bài thơ nầy từ 1 cựu giáo sinh SPSG khóa 1, ly hương, bày tỏ lòng mình khi mơ về quê cũ và một bài bình thơ của một thân hữu, nguyên là CGS.SPS, khóa 2.

          Mời các bạn xem... tâm trạng và nỗi niềm của một người khách ly hương... NT.

 Ảnh có chứa bầu trời, ngoài trời, hoàng hôn, tối

Mô tả được tạo tự động

Khói sương rừng núi, chim bay mỏi

Quê cũ, vời trông, một mái nhà. Ảnh Google.

 Nhôù Queâ

Toùc roái bay bay, chiu thöông nhôù,

Raùng vng giaêng la, cui trôøi xa.

Khoùi söông röøng ni, chim bay mi,

Queâ c, vôøi troâng, mt maùi nhaø.

                                Chiu bun Sanjoseù (1997)

                                                      Trn Vn Söûu ֎

                                                                                  CGS k 1. SPS  62-64

Lời Bình Ngân Triều:

          Bài thơ nầy được sáng tác trong thời điểm tác giả vừa mới rời xa quê hương, sống nơi xứ lạ quê người. Cuộc sống bước đầu, chắc là khó khăn và gieo neo lắm! (1997).

          Tóc rối bay bay chiều thương nhớ, câu 1, không những là chi tiết chọn lọc, trữ tình, cảm khái, còn đượm phong cách thơ chữ Hán của Nguyễn Du, (1766- 1820), hoàn cảnh sống lúc ấy cực kỳ khó khăn khi ở quê vợ Quỳnh Côi:

                                        Sinh vị thành danh thân dĩ suy [1]

          Tiêu tiêu [2] bạch phát mộ phong xuy                                             

Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn

Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri.

                                                                      Tự thán kỳ 1, Nguyễn Du, (1765- 1820)


.

.

         Chưa có danh gì, thân yếu hẳn,

                                        Gió chiều tóc bạc gió miên man.

                                        Tính thành chân hạc sao đành ngắn?

                                        Mệnh tựa lông hồng chẳng biết thân.

                                           Ngân Triều dịch

           Như vậy, có thể hiểu những khó khăn trong vạn sự khởi đầu nan ở xứ người đã được gỡ rối dần dần. Kết hợp với “khói sương’’ không sáng sủa, còn mờ mịt của cuộc sống tương lai phía trước và hình ảnh “chim bay mỏi’’là rã rời, đuối sức …để ta hình dung tâm trạng và sự phấn đấu vượt bậc của tác giả, nơi xứ lạ, quê người.

          Ráng vàng giăng lụa cuối trời xa câu 2, là một câu tả cảnh, một bức tranh ngoạn mục, đậm nhạt về màu sắc, hình ảnh cổ điển như 2 câu thơ trong bài Đằng Vương các tự của Vương Bột, (650–676), một trong tứ kiệt đời Sơ Đường:

        Lạc hà dữ cô vụ tề phi [3]

       Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.

                                       落霞與孤鶩齊飛,

                                     秋水共長天一色.

        Ráng chiều xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,

                                       Làn nước Thu với nền trời nối dài một sắc.

                                               Đằng Vương các tự, Vương Bột, (650–676).

           Ở đây, tác giả hạ bút “Ráng vàng giăng lụa” vừa nhân hoá, vừa tạo một hình ảnh thẩm mỹ, tổng hợp được tính chất vừa cổ điển vừa tân kỳ. Cũng có thể hiểu mục đích và hoài bảo phải lìa xa quê hương, còn quá xa vời.

          Về nhịp thơ, tác giả sử dụng 3 câu nhịp 4/3 đều đặn, dịu êm…để câu kết, bất ngờ đổi nhịp 2/2/3 như nức nở, nghẹn ngào của tâm trạng bâng khuâng, ray rứt, ai hoài của một con người cô lữ.

          Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy dụng ý kín đáo của tác giả về nỗi lòng và tâm tình thương nhớ quê hương qua 2 nhóm từ “chiều thương nhớ’’ (cuối câu 1) và “một mái nhà” (cuối câu 4). Đó là một tấm lòng hoài mong vời vợi về quê hương ở một phương trời, nơi có hình bóng cha mẹ già, những người thân trong gia đình, những bạn bè quen thuộc…

          Vời trông, câu 4, là nhìn ra thật xa, xa tít, xa vô cùng, xa tận cuối chân trời. Quê cũ bây giờ đường đi diệu vợi, muôn trùng xa cách. Nhìn thấy “một mái nhà”, nơi “quê cũ’’ là những hình ảnh không có thực, đó chỉ là hình ảnh trong tâm tưởng để lòng khát khao một mái ấm nơi làng quê xa xăm, vút cao những giây phút chạnh lòng trong nỗi niềm thương nhớ quê hương một cách thiết tha; đồng cảm:

  Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

    Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

       

                                           Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu, (704 – 754) [4]

                                               Quê hương khuất bóng hoàng hôn

             Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

                                                                                          Tản Đà, (1889 - 1939) dịch

          Mặt khác, ý thơ thể hiện chỉ là những  cái nhìn tuy bình thường nhưng gợi cảm: nhìn lại bản thân, nhìn tận cuối trời xa, nhìn qua rừng núi nhạt nhoà trong sương, thấy những cánh chim bơ vơ, lạc loài, bạt gió, mỏi cánh bay về đâu…và nhìn  thấy một mái nhà trong tâm tưởng … chắc là rất buồn để ao ước một hạnh phúc sum họp đơn sơ của gia đình trong mỗi buổi chiều tà…nỗi niềm đó, chỉ một mình mình biết, một mình mình hay… như một tâm tình:

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta

                                                         Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan, (1805 – 1848)

          Tôi lúc nhỏ, cùng học chung, chơi chung với tác giả, thời êm đềm tuổi mộng Bào Trai.[5] Khi lên trung học thì mỗi đứa cầu học theo mỗi hướng khác nhau. Tôi học TrườngTrung Học Tây Ninh, tác giả học Trường Trung Học Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn. Ở chặng cuối đời học trò áo trắng, chúng tôi lại gặp nhau ở Trường Sư Phạm Sài Gòn (Sửu, khoá 1 và Triều, khoá 2).

Khi ấy, sau những lần lãnh học bổng xong, được 200 đồng/tháng, hoặc được trả thù lao đi dạy kèm ban đêm, chúng tôi thường rủ rê nhau đi ăn nghêu luộc sả ớt ở đường Nguyễn Tri Phương, có 2 đồng/ thau nhỏ = 1 tô lớn, uống bia trâu Larue 5 đồng/ chai <quá rẻ>; hoặc sang trọng hơn, ghé mấy quán bia 33 ướp lạnh đường Bùi Viện; thường thì kèm món bò lúc lắc, vài miếng fromage “La vache qui rit” cùng với một dĩa đậu phộng da cá “Hưng Ký’’.

Nhiều lúc, sau khi xem phim ở Rex, Đại nam, Eden, Lê Lợi…chúng tôi vào Thanh Bạch ở đường Lê Lợi, thưởng thức món Pâté chaud, càfé đá…thư giãn, chuyện khào và ngắm những “bóng hồng … nhác thấy nẻo xa’’ để cùng liếc mắt, để cùng lòng ưa…

Sau nầy, khi có gia đình riêng, chúng tôi ở cùng một khu phố, nhà cách nhau chừng một trăm mét, lại cũng thường rủ rê, cà phê cuối tuần. Nối nghiệp nhà, ngoài việc đi dạy, nhà thơ còn có mở một tiệm may, tên Bảo Tịnh. Đến bây giờ, dù đã không còn tiệm may đó nữa nhưng người ta vẫn gọi con hẻm dọc hông nhà tác giả là Hẻm Bảo Tịnh, rồi tên đường mới lại là Đường Hẻm Bảo Tịnh. (Nào ai biết, con đường đó, nguồn gốc do chính tác giả đã đặt tên cho tiệm may của mình).

Chúng tôi đã từng là Hiệu Trưởng và sau nầy dạy lớp Trung Học. Tác giả dạy Toán rất hay, nổi tiếng ở trường, vì trường đó có rất nhiều học sinh giỏi Toán. (Ngay cả khi giải những bài toán nâng cao, các giáo viên trẻ thường xính vính, nhưng khi đến tay tác giả, thì được giải liền, một cách thông suốt như nước chảy)

Tôi muốn nói dông dài như vậy để cho các bạn biết thêm phần nào về mối quan hệ thân thiết của chúng tôi và nhận ra ý nầy: giáo viên dạy Toán, hay những môn tự nhiên khác, không phải không thể làm thơ mà còn có thể làm thơ hay. Thơ hay thì một bài cũng được nhiều người ngưỡng mộ, và cũng có thể nổi tiếng.

          “Nhớ quê’’, một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, với nhiều hình ảnh, thủ pháp nghệ thuật chọn lọc, cân nhắc, ý tứ mạch lạc, đậm nhạt ý tưởng cổ điển-tân kỳ.

Quả là một bài thơ hay. Vì sao bài thơ nầy hay? Bởi lẽ, nhà thơ đã suy nghĩ trong bối cảnh chân thực của mình, cảm xúc trái tim, đậm đà những tình cảm quê hương tha thiết và chọn lọc hài hoà những giai điệu thi tứ chặt chẽ, trữ tình vì “Thơ là tiếng lòng sâu thẳm, mênh mông, bao la, tuôn trào qua ngôn ngữ dạt dào, cảm xúc của trái tim”.

Tôi đọc đi đọc lại bài thơ để ngưỡng mộ, khâm phục, khẳng định và xin giới thiệu:

Đây là một bài thơ hay đến ngỡ ngàng.

                                                                                                   Ngân Triều {

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Nguyên văn chữ Hán:


?

Danh chưa thành thân đà xơ xác,
Ngọn gió chiều tóc bạc phất phơ.
        Lẽ nào chân hạc đem cưa,
Mệnh kia ai biết lửng lơ lông hồng.
                                         Quách Tấn, (1910 – 1992) dịch.

          Nguyễn Du (1766- 1820), tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Đó là một gia đình có truyền thống yêu chuộng văn chương và nghệ thuật.

[2] tiêu tiêu là âm thanh tiếng gió thổi.

[3] Nguyên văn chữ Hán:

   落霞與孤鶩齊飛,

  秋水共長天一色.

  Lạc hà dữ cô vụ tề phi [3]

  Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.

Nghĩa là:

  Ráng chiều xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,

  Làn nước Thu với nền trời nối dài một sắc.

       Vương Bột (王勃) (650–676), tự Tử An, người Long Môn, Giáng Châu (ngày nay là Hà TânSơn Tây) thời nhà Đường. Vương Bột được xem là một trong "Sơ Đường tứ kiệt" (bốn nhà thơ kiệt xuất giai đoạn đầu của nhà Đường), 3 nhà thơ còn lại là: Dương Quýnh (), Lư Chiếu Lân () và Lạc Tân Vương (骆宾).

[4] Nguyên văn chữ Hán:

使

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

        Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu, 崔顥, (704 – 754)

         Quê hương khuất bóng hoàng hôn

 Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

                                     Tản Đà (傘沱, 1889 - 1939) dịch

Thôi Hiệu, , (704 – 754), quê ở Biện Châu, phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, ông đỗ tiến sĩ năm 723, sau đó làm quan đến chức Tư huân viên ngoại lang. – Ông sáng tác rất nhiều thơ với những đề tài khác nhau, nổi tiếng nhất là bài Hoàng Hạc lâu (Lầu Hoàng Hạc) được truyền tụng rộng rãi qua hàng ngàn năm.

[5] Trường làng Bào Trai, ngày ấy tên trường với chữ “Bào” viết o là vậy.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét