Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Phần 1: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều. Bài đăng tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, Sydney.

 

Boâng   coû   may  

Truyện Võ Kim Ngân

Ngân Triều phóng tác

 Nhôù …

Tôi đã trải qua một tuổi thơ hồn nhiên rất đẹp với nhiều kỷ niệm của thuở học trò trường Tiểu học Bào Trai Hậu Nghĩa (Ngày xưa, Trường Tiểu học Bào Trai[1], viết chữ o như thế nầy). Đó là năm học 1954 – 1955 và 1955 –1956, lúc ở tuổi choai choai 13, 14, 15. Hồi đó, mỗi tuần lễ học sinh miền quê phải đi học 6 ngày. Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu là học nguyên ngày, còn những ngày còn lại, học một buổi. Những ngày học hai buổi, học sinh ở xa như chúng tôi phải giở theo cơm đựng trong một cái“mo cơm” làm bằng bẹ tàu cau, ăn trưa, ngay lớp học của mình, hoặc rủ nhau ăn chung từng nhóm, nơi hành lang, lớp học, hoặc dưới gốc cây điệp to ở hai bên cổng trường.

Sau bữa cơm trưa lúc tan học sáng 10h30, chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống đám rừng chồi của con Suối Bào Trai[2] (Hậu Nghĩa) để vui chơi.  Chúng tôi thường tản ra thành nhiều nhóm thân quen để cùng chơi chung những trò chơi nhỏ, lùng sục, các lùm bụi, học ôn bài…vì buổi chiều vào học lúc 2giờ.

Có nhóm đi hái những trái dại, tìm kiếm những loại trái cây rừng mà có thể học sinh bây giờ, khó lòng biết được. Chẳng hạn như trái nhãn lồng, trái nhãn chài có vị mát miệng; trái bời lời, trái cò ke làm đạn bắn ống thụt bằng trúc, đạn nổ lốp bốp vui tai, chia phe bắn vào nhau rất hồi họp. Trái nhăn chín màu đỏ như cái nanh heo rừng; lủng lẳng trên những dây leo mảnh mai; ngọt ngọt. Trái kim cang từng chùm đính trên một dây gai, lá to bằng bàn tay, ăn lờ lợ, nhớt nhớt. Trái chùm gởi từng ổ, trên những cành cây trăm cao, nhỏ như trái cùm nụm ăn vui miệng. Trái mây rắc (mây rừng) ăn chát chát; trái chùm mòi, trái dấm chua chua. Trái mua có 5 cánh hồng, khi chín mở thân ra làm hai với năm múi tím đen ngọt ngọt thường có nhiều kiến hôi. Trái đu đủ rừng (trái đ.. chó), trái và lá có nhiều lông tơ trị ho, chát chát, ăn không khéo, mắc nghẹn. Trái táo rừng chua ngọt khắp nơi trên những nhánh nhỏ nằm ngang, đầy gai nhọn và nhiều nhất là trái cà na trong mùa mưa, cà na đắng, cà na chua, trái nù mới ngon và trái trăm đen sẫm khi chín, trăm móc, trăm sắn; mùa trăm chín rộ là sau Tết Nguyên Đán. Những trái to thì có những trái Bình Bát, chín vàng trên những cành cây khó trèo, tàng cây de ra hai bên bờ suối. Những trái Dứa Gai thơm lừng lựng nhưng không ăn được vì rất ngứa miệng. Những trái Ồi rừng, Ổi lộn kiếp, cơm mỏng hạt nhiều, chẳng đứa nào muốn hái ăn và những trái điều[3], điều nếp màu vàng và điều đỏ trông rất đẹp mắt.

Nhóm con gái chúng tôi thường bẻ những hoa dại xinh xinh. Hoa Dù Cồn đầu có một núm tròn nâu trên một cọng ngồng cao, điểm những cánh hoa vàng nhỏ xíu, mọc bạt ngàn trong các vũng nước. Hoa Cây Nổ màu xanh biếc, cánh hoa mỏng manh, trái từng chùm như chân gà con; khi thả chùm trái khô vào nước, trái nở ra và phát ra những tiếng nổ lách tách như tiếng pháo chuột. Hoa Bí Bái màu trắng thơm thơm đặc trưng. Hoa Cắt Lồi thân thẳng như một cái roi mây. Trên đầu roi có một búp hoa tròn màu đỏ kết một chùm trái bằng nắm tay, nở hoa trắng liên tục, hết hoa nầy đến hoa khác, thường có mấy chú ong bầu chui vào hút mật. Hoa Dây Chiều màu xanh tím, gắn trên một thân dây leo có một lớp lông tơ cứng. Hoa Cúc Rừng nho nhỏ như đôi hoa tai, màu cam lấm tấm thơm thơm. Hoa trắng tím của dây Chùm Bao (Lạc Tiên) rất dễ thương; những trái chín tròn màu vàng trong một cái bao lưới trắng, ăn chua chua ngọt ngọt.

 Trái Thù Lù chín, v ngt thanh

trong mt cái bao rng nhn, kín mít.

Bông và trái cò ke 

Ống thụt và đạn bắng trái Cò ke.

Trái và bông Chùm Bao, (Lạc Tiên)

Hoa bìm bìm leo lên những bờ thấp, cười duyên

Hoa Mua với 5 cánh hồng, với chùm sợi nhị vàng, trái chín mở thân ra làm hai…

Bông Cắt Lồi

Hoa Lẹo nhiều bông nhỏ kết thành một chùm to màu đỏ, màu đỏ của miền quê may mắn, thanh bình… 

Có mấy bạn thường rút những tàu lá Dứa gai để thắt những chiếc chong chóng dứa, những trái banh dứa để đánh đũa, đôi dép dứa, chiếc đồng hồ đeo tay bằng dứa, cả những sợi dây nịch dứa và chiếc kèn bằng dứa nữa.

Cũng có bạn đi tìm những tổ Ong Lá, mang về làm mồi đi câu cá rô. Bạn bắt tổ Ong Lá rất tài. Chỉ cần một mảnh giấy xếp dọc, rón rén đặt giấy phía dưới tổ ong, châm lửa đốt. Khói lửa bốc cao, bầy ong bảo vệ tổ sợ lửa bay xa, còn trơ tổ không là bạn thò tay bắt lấy (ha ha... chiều mai mình sẽ câu được một đục cá rô đấy!) Hoặc có bạn cao hứng bứt những dây Bòng Bong và những sợi tơ hồng để kết làm chiếc mão đội làm tướng, huơ tay múa chân, vuốt râu, lắc nghiêng cái đầu mới học được trong tuồng hát bội của đoàn Sơn Đông mải võ lưu động đi bán thuốc quảng cáo:

-Ải ải…Ta là Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê[4] đây!

-Xin hỏi Tiết Đinh San, cầu Phàn Lê Huê ở đâu vậy?

-Thì ở Cầu Phàn Lê Huê, chớ ở đâu!

-Cầu Phàn Lê Huê chắc là một cái cầu có trồng nhiều cây “lê”.

-Chắc là ở miền “quê” rất xa…

-Bậy nào! Chắc là ở tiệm tạp hóa “Mai Huê” gần trường mình đó mà…

-Ừa hén! Cái cầu thì phải có suối, có sông. Tiết Đinh San ở cầu nào, ở đâu cũng được mà…

-Hát tiếp đi!  Đinh San ơi!

-Ải ải…

Có nhóm bạn đằm thắm hơn, rủ nhau leo lên cây trăm  học bài, nhìn các bạn khác chơi, nhìn trời, nhìn đất, tán chuyện vu vơ  rất vui:

-Ước gì mình có cánh như tiên, bay lên trời cao chắc là vui lắm!

-Bạn có cánh, tụi nầy không cánh. Bay một mình, đâu vui! Tui ước cái cây trâm nầy hoá thành cây đa, tụi mình bay lên trời như Chú Cuội…Cây nó chở mình bay chầm chậm, nghiêng qua nghiêng lại…bay lên mặt trăng luôn…đêm đêm nhìn xuống thế gian …

-Ý! Không được đâu!  Lên trên ấy, làm sao mà về… nhớ nhà, nhớ cha mẹ, bà con…và nhớ đứa em mình nữa…

-Chắc là mình mượn cái thang của Chú Cuội và Chị Hằng leo xuống, về nhà, đi học mà…

-Thôi đi bạn! Tui không chịu đi đâu! Biết sao không! Nếu tụi mình leo xuống, về nhà thì trần gian sẽ bị biến đổi hết. Chuyện Từ Thức lên Tiên mới có một năm mà khi về trần thì ở trần gian đã trải qua mấy trăm năm lận…Coi chừng, tụi mình cũng như vậy à nghen!

-Còn tui thì tui muốn có con ngựa sắt, chiếc roi sắt…như Phù Đổng Thiên Vương[5]…đi đánh giặc Ân xâm lược, cứu nước, cứu dân…[6]

-Hay đó! Cô mình kể, Thánh Gióng đã lên ba tuổi, cứ nằm chờ sứ giả, không thèm nói năng gì hết. Giặc Ân xâm lược nước mình, tiếng nói đầu tiên trong đời của ông là “tiếng nói yêu nước, thương dân”, tiếng nói xin đi đánh giặc cứu nước…

 *

-Giặc phương Bắc điêu trá, hung tàn. Muôn đời, lúc nào lũ nó cũng lăm le thôn tính nước mình. Nước mình tuy nhỏ hơn chúng nhưng vua biết nghe theo ý dân, biết trọng nhân tài, dân mình đoàn kết một lòng… nên một khi chúng nhào vô nước mình kiếm ăn, vơ vét thì đều bị đánh tan tành, thê thảm…

-Như Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, chặt đầu Thái Tử Hoàng Thao. Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên, chiến thắng Bạch Đằng; Thoát Hoan cùng đường, sợ chết vì cung tên tẩm độc nhà Trần, phải chui vào ống đồng cho tàn quân kéo chạy về nước.

-Năm 1789, Hoàng Đế Quang Trung đánh tan giặc nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị hồn xiêu, phách lạc; đại bác nước Nam sao đặt được trên lưng voi (?); quân nước Nam từ dưới đất xông lên, hay trên trời bay xuống; đến nỗi thân hắn  không kịp mặc áo giáp, lưng ngựa không kịp thắng yên, không kịp đem theo ấn tín…

-Kinh hồn bạt vía, quân giặc khiếp đảm, giẫm đạp lên nhau, cố chạy thoát thân, chạy cong đuôi như chó, hoảng loạn quang quác như gà…, thây phơi thành núi, máu chảy thành sông…

-Các bạn thuộc bài giảng của cô mình khá đấy! Đố bạn nào còn nhớ cô mình giảng một câu đối của sứ nước ta, hạ nhục Vua Tàu Nhà Minh không?

-Ờ ờ…Tui chỉ nhớ vua Tàu nhà Minh muốn sỉ nhục nước Nam trước các chư hầu, mới ra câu đối:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục[7]

Sứ nước mình[8] khảng khái liền “chơi lại” ngay:

            "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng[9]

-Hóa ra “gậy ông đập lưng ông” nhục nhã trước chư hầu, mới hạ lệnh giết sứ nước mình đó.

-Quả là anh hùng tử, khí hùng nào tử! Cao cả như Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma[10] nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.

(Trước thời điểm đó khoảng 300 năm, trong bài Bạch Đằng Giang phú 白 藤 江 , Ông Trương Hán Siêu [?-1354] cũng đã hạ bút hai câu ngời ngời thiên cổ…

     

     

Chí kim giang lưu,

Chung bất tuyết sỉ. 

Đến nay sông nước tuy chảy hoài, 

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi. 

-Bạn con thầy giáo, nói hay quá, chắc là…chắc là sau nầy sẽ “hổ phụ sanh hổ tử”! “Con thầy giáo, sẽ làm thầy giáo”.

-Còn bạn thì không phải là con thầy giáo chắc? “Cái mộng ngành y, nhân đạo cứu người”, có giấu được ai…

-Ha ha…

….. 

Khi hơi chán thì ngồi xúm xít dưới những tán cây cao hay những đám cây mặt cật, nói chuyện gẫu rù rì. Thời gian như ngừng đọng, lặng im. Thỉnh thoảng có tiếng cất lên, gọi tên nhau ơi ới và nhiều lúc nói cười vang rân.

Dòng suối Bào Trai hiền hòa, không sâu, nhiều chỗ nước ngang đến bụng, có thể lội băng qua được. Tôi rất sợ lội qua suối vì suối có rất nhiều đỉa. Muốn biết có đỉa không thì lấy cây khoắn xuống nước, rồi chờ xem. Đỉa mén lội phăng phăng ngang dọc hàng chục con; mấy con đỉa trâu, dài hơn gang tay, màu đen, có sọc vàng hai bên lưng, túa ra tìm mồi. Trông nó vẫy đuôi dợn sóng mà ớn lạnh xương sống … 

Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc tắm suối. Đứa thì biểu diễn “thả ngữa”, đứa thì “lội ếch”, đứa thì “lội chó”, đứa thì “lội đứng, lội sải, lội đập”, rồi bất chợt chia phe té nước vào nhau, nước văng tung tóe. Chơi chán, từng đứa leo lên bờ, co giò, bịt mũi, nhảy ùm xuống nước, lặn đua... Tiếng la hét hòa lẫn với tiếng cười sằng sặc, in ỏi, bất kể câu nói cảnh giác của ai đó:

- Mấy đứa! Coi chừng đỉa chun lỗ tai !

 Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc (!) tắm suối

Đến đây, tôi chợt nhớ đến một chuyện kể, cảnh giác về đỉa mà tôi được nghe hồi đó. Và câu chuyện này, chính là lý do làm cho tôi sợ đỉa.[11] 

Ghê quá!  Biết nhóm nữ chúng tôi sợ đỉa, còn có một vài bạn “rắn mắt” bắt đỉa để nhát hoặc bắt đỉa “lộn thinh”[12] trong cành cây nhỏ rồi vừa quăng đỉa về phía chúng tôi vừa la to “Đỉa đó”!  Không biết phản ứng như thế nào, chúng tôi hét lên “Oái”, rồi xanh mặt chạy thật xa, không dám ngoái lại và để nghe phía sau lưng, một tràng cười dài đắc thắng.

Như vậy đó!

Những buổi đi chơi giữa giờ buổi chiều thường nhiều màu sắc như vậy đó!

Những cuộc đi chơi rất vui, giúp chúng tôi gần gũi, thân thiết nhau. Chúng tôi không sợ trễ giờ vì có trống trường “kêu gọi” bằng một hồi dài và 3 tiếng báo hiệu trước chừng 5 phút. Chỉ cần chạy một mạch là về kịp lúc sắp hàng vào lớp. Thường thì chúng tôi thả lần về trước, nhưng cũng có vài lần, đang mải mê vui chơi, bỗng nghe trống điểm, phải ù té, hào hễn chạy về trường, quăng bỏ hết dọc đường những “chiến lợi phẩm” của mình đã làm ra hoặc kiếm được, mệt muốn đứt hơi, mà vui.   

Những ngày học một buổi, nghỉ buổi chiều, chị Tám rủ chúng tôi đi vào nhà một số bạn bè trong xóm chơi; thường thì chúng tôi kéo về nhà chị ở xóm Gò Cao, khoảng giữa hai làng Đức Lập – Tân Phú Thượng. Chúng tôi ham vui và hiếu kỳ, nên đi ngay, sau khi xin phép gia đình. Nhóm chúng tôi; trai có, gái có, ở chợ có, ở xóm khác có; thường khoảng hơn chục bạn, cùng đi theo chị.

Có lúc đi ăn xoài chua, chấm mắm đường tán; đường tán được gọt bằng một cái lưỡi hái; tham ăn xót ruột. Có lần, rủ nhau đi ăn trái trăm, trăm sắn hoặc trăm móc để rồi môi và lưỡi đứa nào đứa nấy đều tím đen. Có khi đi ăn điều chín, điều đỏ, điều vàng ngọt ngọt, chát chát để rồi sau đó, chị gom góp hạt điều cũ, nướng mẻ hạt điều, xịt khói cháy đen, rồi đập vỏ lấy ruột ăn, béo lạ. Có dạo cùng đi hái trái cà na, trái nù mới chua ngon, ăn với mắm ruốc, chát chát, chua chua rất ngon. Số cà na còn lại, chừng một rổ, cả nhóm ăn chán rồi, chị Tám và chúng tôi lấy dao khía dọc thân trái mấy đường, đem ngâm muối với cam thảo, khi đi học chị lại đem theo vào lớp để “nhấm nháp” trong giờ chơi, vui miệng. Hái cà na, vui nhất là cảnh, một bạn trai, làm người hùng, “leo cây hái trái”. Can đảm lắm! Nhưng khi bạn leo lên cây thì cành động. Cành động thì lũ kiến vàng túa ra tấn công. Kiến vàng tấn công cắn bạn đỏ ở tay chân, ở cổ, cả mặt mũi… Lũ kiến đặc nghẹt, “mãnh tướng nan địch bầy kiến vàng”! Bạn phải lật đật tuột xuống gốc cây như bay, như nhảy xuống đất, nhăn nhó để các bạn trai khác xúm nhau…phủi kiến. Và buồn cười nhất là bạn đó phải ba chân bốn cẳng chạy ra chỗ khuất, chắc là có mấy con Kiến Vàng xung phong cắn vào…chỗ kín! 

Nhớ có lần, để tổ chức bữa trưa, chị Tám đảm đang, phân công người nào việc nấy rất khoa học.

Nhóm nam đi kiếm rau: rau muống, rau nhút, rau dừa, nhổ bông súng đỏ và bông súng chỉ, nổi dưới ao nhà; hoặc nhổ rau chóc, lá hẹ, rau bợ ngoài ruộng nước; hái rau tiêu (rau càng cua) ngoài bờ tre; kiếm rau dền cơm, dền gai, dền điều, (không hái dền voi) rau đầu rìu quanh nhà, bẻ đậu rồng, mồng tơi ngoài rào và có khi đào trùng câu cá hay câu ếch trong ao. Câu ếch thì rất dễ! Mấy bạn đi bắt một con nhái sọc ngoài ruộng, móc vào lưỡi câu trê, không quên ngắt một đoạn ngồng cỏ mần chầu làm một cọng “lông hồng”, để lưỡi câu không dính vào bụi cỏ. Bung sợi nhợ hướng vào lùm cỏ ở góc bờ ao, nhấp nhấp… hễ có ếch là ếch nhảy đến ăn mồi liền. Nó rất tham ăn. Nó đã ăn mồi! Đừng vội! Chờ một tí cho nó ngậm mồi vào trong cái miệng rộng của nó xong, giật ngược hướng ngồi của nó hoặc giật bổng là không sẩy con nào cả. Trong khi đó, có mấy bạn đi móc ếch, hoặc móc cua trong hang cua.

Vào mùa mưa, nước ngập ruộng, mới vào vụ cày lật, các bạn trai đi nhũi một lát là được một nồi kho: nào là cá lòng tong, cá trào cửng, cá ròng ròng, cá trê con, nào là cá chạch nhỏ, cá sặc rằn, cá sặc trắng, cá bãi trầu, nhiều nhất là cá rô binh tích hay cá rô hạt bí và cua con. Đôi lúc được rất nhiều con bù niễng, con ăn mày, con đòn gánh, con cà cuống… và cả mấy con đỉa trâu nữa! Bỏ rong rêu, rác rến, chỉ bắt những đối tượng ngon lành…và chuẩn bị chế biến kho quéo...

Nhớ có lần nghe các anh chị công cấy hò đối đáp với nhau:

-Hò ơ ớ…Thương anh em bẹt cẳng ra,

Để anh đứng giữa…đẩy mà một hơi!

-Hò ơ ớ…Sỗ sàng, bất nhã…những lời,

Trông anh thanh tú, coi trời bằng vun!

-Hò ơ ớ…Câu đố tục, đâu phải khùng,

Giảng thanh không đúng… em “tùng xẽo”[13] anh!

Hò ơ ớ…Vậy sao, thì đáp cho nhanh,

Nếu mà lố bịch ta đành…xa nhau.

-Hò ơ ớ…Đây nè, anh giải đáp mau,

Anh đố cái Nhũi…em đâu có ngờ!

Ai trong sáng, ai lờ mờ?

 Cái Nhũi, đi nhũi cá, Google-images

(Giải câu đố tục giảng thanh về cái nhũi:

-Thương anh em bẹt cẳng ra; là hai cái gọng nhũi.

Để anh đứng giữa…đẫy mà một hơi; là thao tác đi nhũi cá.)

*

Chị Tám và chúng tôi chắt ruột cá lớn, gỡ bỏ mai cua lớn, đánh vải cá lớn, bẻ cánh bù niễng, cà cuống và ngắt mỏ nó, rửa sạch, làm đồ kho, ướp muối, ướp nghệ, nước mắm, nửa tán đường, bỏ hành, bỏ tiêu, một ống bột ngọt, năm bảy trái ớt Xiêm đỏ, kho quéo…thơm  ngon hết ý…

Nhóm nữ chúng tôi trổ tài làm nước chấm tỏi ớt, lấy nước mắm trong một cái “tĩn”, (một loại hũ bằng sứ thô nung, hình quả bóng đá, miệng và đít tóp lại, miệng tròn, có thể đưa bàn tay vào và miệng có trám lại bằng một cái nắp vũm thường bằng sứ thô màu đỏ bằng  đất  nung, có dung tích chừng 5 lít), hay nước chấm tương hột có trộn đường, có món mắm  chua cá con do chị làm sẵn và nấu canh rau với tôm khô, bột ngọt hoặc mấy con cá, mấy con ếch câu được trong ao nhà. Nhiều bữa cơm “cây nhà lá vườn” tại nhà bè bạn hoặc nhà chị, thường đơn sơ đạm bạc; “ba tay chụm lại”, mỗi bạn một tay; sao mà ngon miệng lạ lùng. 

               Tĩn nước mắm đang đóng nắp, chờ phân phối

(Google images)

Nhớ có bận, chị Tám, các bạn và tôi, về quê ngoại tôi ở Lục Viên, mùa mây rắc và gùi. Trên đường đi, có biết bao tiếng chim ca lúc nhặt, lúc khoan nghe rộn ràng, thanh thản. Nhạc khúc đồng quê thân thương của những loài chim bay lượn đầy trời, khắp nơi trong các hàng cây, bụi rậm, trên những con đường mòn, đường mồi,[14] chúng tôi đi ngang qua…như những âm thanh ngân nga, say đắm của một thời đất nước thanh bình, trong lịch sử xa xăm.

Kìa, có con chim chiền chiện nào, cứ khoe tài ca hát. Nó bay vút lên trời thật cao rồi nghiêng cánh cho thân mình rơi xuống đất từ từ, đồng thời cất lên một liên khúc dài trong trẻo, ríu rít, nôn nao. (Có đứa bảo đó là chim sơn ca).

Chim Chiền Chiện

Chim cưởng

Phía bên hàng tre cao nhà ai, chim sáo, chim cưởng bay từng đàn, gọi nhau lảnh lót. Tôi cứ tưởng như mình đang ngậm viên ngọc rắn của Công Dã Tràng nghe xem loài chim nói chuyện thế nào. Tiếng chim hoành hoạch cất tiếng “học… học …học… nhớ nghe bạn…nhớ nghe bạn…” bằng một hơi rất nhanh như tiếng nói của Ông Thiện từ bi, trong khóm dây chùm bao rậm rạp, (học mà chơi…chơi mà học! Học thời như gấm thêu hoa, Có văn, có chất mới ra con người). Tiếng Chim Cu thư thả, giục giã: “cực cứ tu…thì tu”, “cực cứ tu…thì tu” hoặc “tu chửa được…tu chửa được…”  như tâm trạng của ai, muốn thoát tục, lánh chốn bụi hồng mà hãy còn tiếc nuối

-À! Đố các bạn giải được câu ca dao:

“Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”

-“Ngu” là rất kém về nhận thức, ứng xử, ngây ngô, dại dột …để có thể bị mắng chửi, bị nhận lãnh trách nhiệm vô cớ…điều mà bản thân chẳng nên  nhập cuộc, dính vào.

-Nói rõ vì sao ngu đi!

-Vầy nè: Một là “làm mai mối”, môi giới cho đôi trai gái nên vợ, nên chồng.

-Đó là xe duyên tốt phúc. Sao ngu?

-Đành rằng đó là việc nghĩa, tốt phúc. Nhưng “chén úp trong sống chén còn khua” huống chi vợ chồng trăm năm, dễ dầu gì gia đạo cứ mãi thăng hoa, mà “không tiếng chì tiếng bấc”, không to tiếng cãi nhau…

-Và khi ấy người làm mai mối bị đem ra mắng chửi…là ngu, đúng không?

-Đúng rồi! Làm mai mối chi mà phải bị chửi, bị mang tiếng là ngu si. Đại để “Tiên tổ cha đứa nào mối lái kết duyên x…với y… mà sự thể thế nầy”. “Mẹ kiếp cái thằng cha z đó, chớ ai?”

-Ha ha…

-Còn lãnh nợ thì rõ ràng rồi. Tự nhiên đứng ra lãnh nợ cho người thứ ba. Người ta không trả nổi hay quịt nợ thì bản thân mình phải trả vì người chủ nợ chỉ biết người vay nợ là mình mà thôi…Vậy là ngu, “thầy pháp ăn, bắt thầy chùa chịu”. Tình ngay lý gian, phải đem tài sản mình ra gán nợ, mà mình có tiêu xài gì cho cam, lắm lúc cười ra nước mắt![15]

-Ờ hén! Còn chuyện đi “gác cu” hay bẫy cu?

-Các bạn biết đó, người đi bẫy cu, có đồ nghề là một “cái lụp” hai ngăn có ngụy trang, ngăn trong đặt con cu mồi, ngăn ngoài để mở, có một nút bẫy. Cái lụp được gắn chặt với một đầu của một cây trúc đá làm sào, dài khoảng 5-6 mét. Đến điểm gác cu, chỉ cần đưa cái lụp đó lên cành cây hay cành tre cao, đầu sào còn lại, cắm vào mặt đất cho chắc để cố định cái lụp phòng khi có gió mạnh, cái lụp bị ngả xuống đất, con chim mồi hoảng sợ, tâm lý không tốt, khó có thể bình thường được trong mấy buổi (Thế là phải xách lụp về nhà, dang dở cuộc chơi).

Khi đã đặt xong cái lụp trên cao là yên chí núp ló, ngồi rình, chờ đợi trong một cái thum (chỗ  núp, ngụy trang sơ sài bằng cành cây gần đó). Việc gác cu bắt đầu có hiệu quả. Đã được huấn luyện, khi ấy, con cu mồi bắt đầu cất tiếng gáy vang. Đám cu bổi (cu đối tượng đánh bẫy) nghe tiếng gáy liền bay đến tìm con cu mồi để đánh đuổi. (Đứa nào, ở đâu…mà dám xâm nhập lãnh địa của ta?!). Nó bay đến chỗ chim mồi, chui vào cửa của cái lụp đó, hung hăng, xù lông cổ, xòe cánh, giương mỏ tác chiến…nhưng vừa quay qua, quay lại…chân chạm vào nút bẫy…cửa ngoài của cái lụp liền sập xuống, chú cu bổi quay đão lung tung, cố tìm đường thoát ra trong vô vọng. Chỉ chờ có thế, người gác cu chạy đến hiện trường, nhẹ nhàng hạ sào xuống, một tay vừa mở cửa ngăn ngoài của cái lụp ra, tay kia thò vào tóm con cu bổi ngu dại, cho vào một cái lồng không. Thế là được một con cu bổi, một cách dễ dàng. Ngăn ngoài cái lụp lại được mở ra, cài chốt bẫy và được đặt lại vị trí cũ…Người gác cu quay lại “cái thum” (chỗ núp ngụy trang), chờ đợi, ngồi rình…

-Như vậy, gác cu, đâu có nghĩa gì…là ngu?

-Ngu chớ sao không! Này nhé, nông dân mình thường cư trú tại đất nhà, trong một vuông rào có lũy tre bao bọc, vuông rào nhỏ thì khoảng 30-50 cao, vừa vừa thì 70-80 cao, rộng lớn thì 1-2 mẫu đất, (30 cao là 3.000m2, một mẫu là 10.000m2). Ngoài khu vực nhà ở, chuồng trâu bò, chuồng gà vịt, chuồng heo…là vườn rau, vườn cây ăn trái, ao cá…Vườn cây yên ắng, thanh bình, rậm rạp,“đất lành chim đậu”nên có nhiều loài chim cư trú, làm tổ, cả ngày tiếng hót líu lo… nhất là có nhiều bầy cu về ở…

Từ sáng sớm tinh mơ, người chủ gia đình đã ra đồng cày ruộng, đắp bờ, tát nước, rải phân cho lúa…trẻ em đều đi học trường làng, ở nhà chỉ có người già hoặc vợ nhà nội trợ…Gác cu thì núp ló, rình rập chim gần hay trong vuông rào nhà người ta…khiến cho người ta nghi ngờ là phường đạo chích giả bộ gác cu …để sẽ làm một “ phi vụ” (một đêm ăn trộm…bằng ba năm làm!) như trộm gà, trộm vịt, trộm cá, trộm những công cụ nhà nông, trộm vặt…mà tệ hại nhất là lợi dụng người chồng bận rộn công việc đồng áng, không có ở nhà, giả bộ gác cu, vào nhà xin nước uống, hòng tán tỉnh, ve vản vợ người ta…Cho nên, người chủ gia đình, khi có mất trộm món gì đều nghi ngờ nhắm ngay đối tượng người gác cu…Như vậu gác cu thiệt thòi cho danh dự và đạo đức của mình…chưa kể là bị chửi lén huyên thuyên…Bị chửi là ngu…đúng không?

-Rất chí lý! Rất hay! Chắc là thầy ở nhà đã giải nghĩa phải hôn?

-Đâu có, khi hầu rượu cho Ba mình và Thầy Ba láng giềng, mỗi chiều, nghe chuyện “trà dư tửu hậu”, đàm đạo mà biết đó thôi.

-À! cái ngu cuối nữa, “cầm chầu là sao?

-Bồ nói nghe chơi!

-Cầm chầu là đánh trống khen chê, hay dở về cách trình diễn của diễn viên trên sân khấu trong một đám hát dân gian như là đoàn hát bộ lưu động đến làng mình hoặc hát trong các dịp kỳ yên, cúng đình. Người cầm chầu đám hát là một trong 12 hương chức trong ban hội tề. Ban nầy, nếu không có ai cầm chầu thì cử người có uy tín, giàu có… sành điệu hát tuồng. Đó là người lèo lái cảm hứng dân gian, phẩm bình hay dở thay cho công chúng qua tiếng trống.  Khi các vai diễn thể hiện câu ca, lời hát, điệu bộ, pha trò hay… thì người cẩm chầu đánh trống khen hay, bằng cách hai tay gõ trống, vừa đủ nghe, một hồi trống ngắn dài trên mặt trống, “tung tung…tung tung”, như cho điểm khen, nhiều hay ít. Ngược lại là trống chê dở cách trình diễn chưa đạt hoặc dở tệ bằng một hồi ngắn hoặc dài, trên tang trống, lắc cắc… lắc cắc… để tạo không khí hào hứng và để các diễn viên điều chỉnh màn trình diễn của mình…

-Mình chưa hiểu, sao như vậy là ngu.

-Nói dài dòng là vậy. Ba mình nói, “thiên hạ, trăm người ngàn ý, làm người khó lắm, vi nhân nan, vi nhân nan...

-Hí hí…vi mo nan… vi mo nan…làm cái mo cau khó lắm…

-Ha ha…Ha ha…

-Do đó, khi người cầm chầu đánh trống khen hoặc chê, thì thế nào cũng có nhiều người phản bác, bất bình chửi thầm. (Thằng cha già lãng nhách, vô duyên, ngu ngốc…dở như vậy mà cũng khen! Hoặc người ta diễn hay như vậy…mà lại chê! Như vậy, đó là bị chửi…là ngu…

-Hiểu rồi! Trong bốn cái ngu ấy có ba cái ngu bị mắng chửi. Tuy bị chửi nhưng vô hại. Chuyện qua rồi thì thôi. Còn cái ngu “lãnh nợ” thật là thảm hại! Mất tài sản vì chuyện tình cảm…thương người, động lòng trắc ẩn nên bị lường gạt…bản thân có vay đâu…mà có trách nhiệm phải trả nợ?

-Thực ra, bài ca dao trên, có giá trị đạo đức, cảnh giác, hướng tới một thái độ sống tốt ở đời. Nhưng phê phán, đánh giá, ứng xử theo “bốn cái ngu” ấy thì phải tùy việc, tùy hoàn cảnh, tùy người mà áp dụng một cách linh hoạt, hợp lý, hợp tình. Quyết định không dính vào bốn cái ngu trên…là một điều thái quá; mà sự gì thái quá thì không tốt.[16]

-Hay quá hén! Sao chữ “ngu”có nghĩa không hay như thế mà đời nhà Hồ lại đặt quốc hiệu nước mình là Đại Ngu vậy cà? Hồi đó, dân nước mình “ngu” lắm phải không?

-Đâu phải vậy. Quốc hiệu “Đại Ngu” có nghĩa “an vui”, “tên một triều vua nước Tàu”. Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, Hồ Quý Ly đặt quốc hiệu như vậy với hoài bảo xây dựng một nước Đại Việt mới, như nước Ngu thời Ngu Thuấn, một trong ngũ đế thời thượng cổ, lấy dân làm gốc, hùng cường, thịnh vượng, an vui. Tiếc thay, vì chế độ nhà Hồ,(1400-1407) không được lòng dân (vì cướp ngôi nhà Trần) nên sớm bị tiêu vong.

( Đại Ngu  : an vui, hòa bình, thịnh vượng khác với ngu không thông minh).

Vừa đi đường vừa chuyện gẫu cho quên đường xa. Còn tôi cứ như tiếp tục ngậm ngọc…

Kìa! Có tiếng chim Tu Hú “thuyết pháp”, hô hào, còn chần chờ chi nữa, mà không đi tu: “tu hú… tu hú…tu hú!...” Nghe lạ tai và buồn là tiếng Chim Mồ Côi kêu thương không ngớt như lạc đàn, như bơ vơ vang vọng, như nức nở tìm kiếm người thương trong gia đình: “Ba…má…anh…đâu mất tiêu rồi!
Ba…má…anh…đâu… mất  tiêu  rồi!

Chim Tu Hú

Chim Cu Cườm (Cu Đất)

Đàn Cò trắng bay

 Xa xa, đàn cò trắng nào đậu rải rác trên những đám ruộng hay đứng trên lưng trâu rình mồi.  Cò ma vàng sậm thường kiếm ăn chung với cò trắng hoặc gật gù trên những cành mềm trên bờ ao. Khi giật mình bay bổng, luôn luôn xưng danh nó ra, (mầy tưởng không ai biết tên “cò” chắc?!): “Cò…à! Cò à! Cò à!…” tiếng kêu của nó khàn khàn, khô khốc. Mấy chú Chim Chài Chài mỏ nhọn dài, lông cánh màu xanh biếc-ức vàng sậm, canh mồi chăm chỉ trên các cành cây lộ thiên, sát bên mộ cái ao cứ chú mục vào mặt nước ao với cai mỏ gật gù. Kìa! Nó lao xuống nước như chớp rồi bay lên chỗ cũ. (A! nó bắt được một con mồi tươi rói, một con cá lòng tong ngon lành).

Chim Bói Cá (Chài Chài)

Chim đa đa hót: “Coi chừng giặc…xa xa…”

Lũ Quạ thì khác, lúc nào cũng la hét, thở than: “họa…hoạ mà…”, “họa…hoạ mà…”, như hãy còn nguyền rủa cho nỗi nhục nhã đau thương của đất nước trong dĩ vãng 1000 năm đô hộ. Có tiếng chim quốc kêu: quốc…quốc…quốc…”, khắc khoải, đau lòng. Tiếng chim đa đa nghe như tiếng Hồn Quê luôn cảnh giác, nhắc nhở: “Coi chừng giặc…xa xa…”, “Coi chừng giặc…xa xa… Tham vọng thôn tính láng giềng truyền kiếp của giặc phương Bắc.[17]  Tiếng chim bìm bịp như bổ sung cho những câu nói liên tưởng, cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi, như phỉ báng lũ tàu khựa tham tàn. Bọn cầm quyền mập ú, núc ních đó, dẫu bề ngoài thơn thớt nói cười nhưng trong huyết quản của chúng, lúc nào, bọn chúng cũng chỉ là một lũ gian trá, thâm độc. Phải chăng con chim bìm bịp nôn nao giục giã kêu lên, như một hồi trống trận dài… cho con nước, lúc “con Nước” Sông Vàm Cỏ Đông chuyển dòng từ “nước lớn” sang “nước ròng” ?!:

“Đồ  bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…”

Bìm bịp kêu Nước lớn hỡi ai!

Hiểm sâu, độc hại! Tẩy chay đếch cần. 

Chim bìm bịp

Chim chích chòe

Tiếng chim chích chòe cất cao lời phê phán bằng một tràng dài huyên thuyên lảnh lót như “trăm[18] tiếng Tây”. Con chim chích nhỏ xíu, bay bay chớp chớp theo mỗi lượt vỗ cánh lên cao như “nhảy cừu”, cũng hô hào “ghét…ghét…ghét…”,

“bết…bết…bết…”.

Bầy chim se sẻ trên những đọt cây cau cứ rộn ràng đấu khẩu với nhau: “nè…nè…nè…”,

 “thù…thù…thù…”.

Thỉnh thoảng, khi chúng tôi đi ngang qua mấy bụi rậm, vài con chim mỏ nhác, hay con chim cút nào thấy người sợ hãi, bay vù, làm mấy đứa yếu vía, giật mình, đánh thót, phì cười…

(Tôi cứ ngỏn ngoẻn cười thầm một mình, hoang tưởng coi như đang ngậm viên ngọc nghe tiếng loài vật của Công Dã Tràng, nghe chúng nói lên tâm trạng và cảm nghĩ của chúng và thả hồn theo những trang sử cảnh giác, quật khởi của bản lĩnh Việt tộc, qua tiếng chim có ý nghĩa thú vị, bên tai).

…..

Khi lúa phất cờ, trổ đều trên tấm thảm lúa mênh mông khắp đồng, những bông lúa cong trái me, nhấp nhô theo từng cơn gió thoảng, trông thật đẹp mắt. Những bông lúa chín vàng như ươm tơ! Hương đồng ngào ngạt, thơm thơm mùi lúa chín. Sắp đến mùa thu hoạch của nhà nông! Khi ấy, không biết từ đâu bay vể, từng bầy chim lá rụng, chim sắc, chim áo già, chim giòng giọc, chim manh manh… khắp những cánh đồng… rậm rật ăn lúa. Mỗi khi có tiếng ai đó “hù…hù…” một hơi là bầy chim bay lên rần rần…một đàn có thể khoảng vài trăm con

(Thế là có nhừng ông bù nhìn được đem ra trấn giữ khắp nơi trên những cánh đồng. Thường thì Ông mặc môt chiếc áo đen rách, áo tơi, nón lá. Tay cầm một cái dây trúc dài… những bầy chim tinh khôn, mới đầu còn e ngại…Sau đó, chúng nó phớt lờ, tỉnh bơ, chúng nó vẫn sà xuống, xông vào trước mặt Ông bù nhìn canh gác…mà ăn lúa như đi ăn đám giỗ! Xót ruột, nhà nông phải thay thế hoặc đem vứt đi, để rồi đích thân ra ruộng, đuổi lũ chim bay đi nơi khác)

Trơ mắt ngó, chim kéo vào đục khoét,

Bù nhìn[19] kia, sao không kíp quăng đi!

***
Phụ lục:
Thằng bù nhìn & Thằng phỗng

Nguyễn Dư

-------------------------

 

Sở dĩ dám gọi đùa là "dở ông dở thằng" là bởi vì không phải lúc nào và ở đâu người ta cũng gọi bù nhìn và phỗng là thằng. Thỉnh thoảng hai "thằng" này cũng được gọi thân mật, kính trọng là bác là ông.

Thằng Bù Nhìn

Quyền trọng ra uy trấn cõi bờ 
Vốn lòng vì nước há vì dưa 
Xét soi trước mặt đôi vừng ngọc 
Vùng vẫy trên tay một lá cờ 
Dẹp giống chim muông xa phải lánh 
Dể quân cày cuốc gọi không thưa 
Mặc ai nhảy nhót đường danh lợi 
Ơn nước đầm đìa hạt móc mưa

                                Lê Thánh Tông

          Bài thơ này được đặt tên là Thằng bù nhìn, không rõ tác giả là ai. Người thì cho là của vua Lê Thánh Tông, người khác lại cho là của Hồ Xuân Hương, người khác nữa lại kết luận rằng bài thơ này là của người đời sau làm (Hoàng Xuân Hãn, tập 3, Giáo Dục, 1998).

Còn một thằng bù nhìn khác, gốc gác tương đối chắc chắn hơn, nằm trong Hồng Đức quốc âm thi tập (Văn Học, 1982) . Bài thơ mang tên Cảo nhân, nội dung gần giống bài thơ chép bên trên.

Chỉ có thằng bù nhìn thứ ba mới đích danh là thằng bù nhìn, được chính Tản Đà (1889-1939) đặt tên:

Lơ láo kìa ai đứng cạnh bờ 
Trần ai tri kỷ đã ai chưa? 
Ba thu mưa gió người trơ mộc 
Bốn mặt giang sơn áo phất cờ 
Được việc thế thôi, cày chẳng biết 
Khinh đời ra dáng, gọi không thưa 
Lâu nay thiên hạ văn minh cả 
Bác mấy ngàn năm vẫn thế ư? 
         ( Thăm thằng bù nhìn - Tản Đà ) 

          Cả ba bài thơ đều tả thằng bù nhìn đứng ngoài cánh đồng, đuổi chim.

        Xem vậy thì nhân vật bù nhìn đã có mặt tại nước ta ít ra cũng hơn năm thế kỉ rồi. Chúng ta lại được biết thêm rằng người xưa, đời Hồng Đức (1470-1497 , gọi thằng bù nhìn là Cảo nhân ( nghĩa là người làm bằng cành cây khô, hay bằng rơm rạ ) .

        Ngày nay dường như chẳng còn ai nhắc đến tên Cảo nhân nữa. Mọi người, từ thành thị đến thôn quê, chỉ biết có thằng bù nhìn thôi. Biết mặt nhưng chưa chắc đã biết tên. Đúng hơn là không biết cái tên bù nhìn kia từ đâu đến nhập cư về thôn quê Việt Nam? Mời các bạn cùng chúng tôi thử đi tìm quê quán của thằng bù nhìn.

        Trong bộ sưu tập tranh dân gian của Oger có tấm Dũng hình, Nguyễn Mạnh Hùng Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ 20, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh,1990) dịch là Bù nhìn. Tưởng là nắm được lí lịch của đương sự, nhưng xét kỹ thì thấy có điều đáng ngờ.

        Trước hết là ý nghĩa của tên tranh. Chữ dũng (hoặc dõng) được Thiều Chửu (1942) và Đào Duy Anh (1932) dịch là:

- tượng gỗ 

- cái tượng gỗ, tục xưa dùng để chôn theo người chết

Ngoài chữ dũng, tiếng Hán còn có từ quỷ lỗi (cũng đọc là ổi lỗi hoặc khổi lỗi) được hai học giả dịch là:

- tượng gỗ (Thiều Chửu). 
- người bằng gỗ. Bu bê (poupée) (Đào Duy Anh) . 

Như vậy thì, theo Thiều Chửu và Đào Duy Anh, dịch Dũng hình là cái tượng gỗ.

Tượng gỗ muốn giới thiệu ai?

Tấm tranh vẽ một cô gái tươi cười, đầu đội nón ba tầm, khoác tấm áo tơi bằng lá gồi còn lành lặn. (xem hình trên). Cô gái thật là xa lạ đối với thằng bù nhìn đầu đội nón mê, áo quần tả tơi, đứng giữa trời phất cờ đuổi chim của nông dân. Cô không thể là một "chị bù nhìn" như Nguyễn Mạnh Hùng đã ngộ nhận!

        Tượng gỗ cũng không phải là hình nhân (con nộm) của tín ngưỡng dân gian, bởi vì hình nhân không được làm bằng gỗ. Hình nhân luôn luôn được đan bằng tre, phất giấy, để khi đốt dễ cháy, thành tro. Vả lại, người ta không chôn chân hình nhân xuống đất, hoặc dầm dưới nước, như trong tranh vẽ.

        Tôi cho rằng tượng gỗ này là một con rối của sân khấu múa rối nước, thủ vai một chị chăn vịt, được nghệ nhân trang điểm đẹp đẽ, điều khiển di động trên mặt nước.

        Bây giờ xin bàn đến nguồn gốc hai chữ bù nhìn.

-Thằng bù nhìn bắt đầu có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam từ lúc nào?

-Khó trả lời chính xác. 

        Một điều chắc chắn là hai tiếng bù nhìn đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam trễ nhất cũng là từ năm 1926, năm bài thơ Thằng bù nhìn được đăng trong sách Văn Đàn Bảo Giám (Mặc Lâm, Saigon, 1968) của Trần Trung Viên. Cũng vào thời kì này, năm 1928, Nguyễn Văn Ngọc soạn sách Tục ngữ Phong dao (Sống Mới, Hoa Kỳ, 1978), đã sưu tầm được thành ngữ bù nhìn giữ dưa. Thành ngữ này nằm chung với nhiều câu tục ngữ phong dao cổ xưa của Việt Nam, khiến nhiều người nghĩ rằng bù nhìn cũng đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam từ lâu rồi?

-Rất có thể là như vậy. 

Nhưng bên cạnh những câu tục ngữ phong dao cổ, Nguyễn Văn Ngọc còn sưu tầm cả những thành ngữ mới có của thời đó như thày cung, thày cò. Từ cò của miền Nam và từ cẩm của miền Bắc đã đến từ chữ commissaire của tiếng Pháp.

        Trong mục câu đố, Nguyễn Văn Ngọc đưa ra câu:

Để im thì nằm thin thít 

Hễ động liếm đít, là chạy tứ tung

và giải là cái tem dán thư (timbre). Rõ ràng là Nguyễn Văn Ngọc đã sưu tầm cả những câu mới có từ khi người Pháp đến cai trị nước ta, trong đó biết đâu lại chả có câu bù nhìn giữ dưa?

        Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) cũng đã chép rải rác một vài tiếng mới đến từ tiếng Pháp như: 

- cúp (tóc): hớt tóc, cắt tóc.

- cái cúp: cái chén có quai. 

        Chúng ta có thể nói rằng ngay từ cuối thế kỷ 19, một số tiếng Pháp đã được Việt hóa và đã đi vào ngôn ngữ Việt Nam.

Tuy nhiên, Huỳnh Tịnh Của vẫn chưa biết đến thằng bù nhìn.

        Do đó, dựa vào mốc thời gian của hai bộ sách tôi đoán rằng hai tiếng bù nhìn có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam vào khoảng giữa năm 1895 và năm 1926.

        Tự điển Việt-Hoa-Pháp của Gustave Hue (Trung Hòa,1937) có từ bù nhìn và được dịch sang tiếng Pháp là mannequin pour effrayer les animaux (hình nộm dùng để dọa súc vật) .Định nghĩa này gần giống định nghĩa của từ épouvantail trong từ điển Laroussemannequin mis dans les champs, les jardins, pour effrayer les oiseaux (hình nộm đặt ngoài cánh đồng, ngoài vườn, để dọa chim) . Sự trùng hợp của hai định nghĩa khiến tôi nghĩ rằng tên bù nhìn của ta đã được đến từ chữ épouvantail của Pháp. Chữ  là âm Việt của pou (cũng như poupée được Đào Duy Anh ghi là bu bê). Chữ nhìn có thể được hiểu là động tác nhìn, canh giữ của thằng bù nhìn, nhưng cũng có thể chỉ là biến âm của chữ nhân nghĩa là người.

        Gần đây, Hoàng Văn Hành (Từ láy trong tiếng Việt, KHXH, 1985) đã thử xếp hai chữ bù nhìn vào loại từ kép, từ láy của tiếng Việt. Nhưng khi đi tìm hiểu ý nghĩa của từ, tác giả phải thừa nhận rằng "các từ, kiểu như bâng quơ, bù nhìn là những từ mà người bản ngữ hoàn toàn không còn có thể nhận hiểu được nghĩa của từng yếu tố tạo thành. Hơn thế nữa, người ta cũng không thể căn cứ được vào bất kỳ đặc điểm nào về hình thái hay về ngữ âm để giải thích nghĩa của từ cả. Quan hệ âm-nghĩa ở các từ này rõ ràng là quan hệ võ đoán, quan hệ không có lý do.".

        -Phải chăng chỉ vì thằng bù nhìn của ta vừa lai Pháp, vừa có họ hàng bên Tàu, nên quê quán của nó mới mù mờ, tên của nó mới khó hiểu, vô lí như vậy?

        Ngày nay, bù nhìn và con rối thường được dùng với nghĩa bóng để chỉ một loại nhân vật chính trị. Người Trung quốc và Đại Hàn gọi thằng bù nhìn đuổi chim của họ là đạo thảo nhân (người làm bằng rơm rạ) , nghĩa cũng giống như cảo nhân.

Thằng phỗng, ông phỗng

Có lẽ Nguyễn Khuyến (1835-1909) là người để ý đến nhân vật phỗng nhiều nhất. Ông là tác giả của hai bài thơ được nhiều người biết:

Tượng sành trên non bộ

Ông đứng làm chi đấy hỡi ông 
Trơ trơ như đá vững như đồng 
Đêm ngày coi sóc cho ai đó 
Non nước vơi đầy có biết không?

*** 
Ông phỗng đá

Người đâu tên họ là gì? 
Khéo thay trích trích tri tri[20] nực cười. 
Dang tay ngửa mặt lên trời, 
Hay còn lo tính sự đời chi đây?

* 
Thấy phỗng đá lạ lùng muốn hỏi. 
Cớ làm sao len lỏi đến chi đây? 
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này, 
Chí cũng rắp dang tay vào hội lạc[21]
Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,

                       
Thương hải thùy tri ngã diệc âu.[22]

                      
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu, 
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác. 
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác, 
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác, 
Cuộc tỉnh say, say tỉnh cùng nhau. 
Nên chăng đá cũng gật đầu!

*

Phỗng còn là tượng dân gian bằng đất, bằng sành hay bằng sứ, cỡ nhỏ, dáng to béo, sắc diện lạc quan, để bày chơi trong các gia đình.Tuỳ theo tượng nặn một người lớn hay một trẻ con và tuỳ theo tượng được đặt ở nơi thờ tự hay làm đồ chơi mà dân gian gọi là ông phỗng hay thằng phỗng.-Tên phỗng từ đâu ra? Căn cứ vào hai tấm tranh dân gian có chữ Nôm, một tấm vẽ ông phỗng bưng nến, tấm

kia vẽ thằng phỗng đội nến (lạp), chúng ta thử đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.

- Chữ phỗng (ông phỗng) được viết bằng chữ bổng và dấu nháy, một kí hiệu để chỉ rằng đây là chữ nôm.

Bổng nghĩa là bổng lộc, tiền lương của quan lại. Nghĩa này không thích hợp với nhân vật phỗng của tấm tranh.

Vì vậy, phải hiểu rằng chữ nôm phỗng ở đây không phải là được viết với chữ bổng, mà đã được viết bằng bộ nhân và chữ phụng (nhân+phụng=bổng). Bộ nhân chỉ người. Phụng nghĩa là hầu hạ, vâng lời, dâng biếu. Nghĩa này thích hợp với nhân vật phỗng, một kẻ đứng hầu nơi thờ tự, giữ việc đội hoặc bưng nến, còn gọi là dâng nến.

- Chữ phỗng trong tranh thằng phỗng đội nến viết hơi khác chữ phỗng của tranh ông phỗng. Người viết chữ nôm dùng bộ nguyệt làm kí hiệu thay cho dấu nháy, phần còn lại thì giống nhau (bộ nhân và chữ phụng) .

Bảng tra chữ nôm (khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1976) viết chữ phỗng bằng chữ phỏng nghĩa là bắt chước, phỏng theo. Nghĩa này cũng có vẻ xa lạ đối với thằng phỗng của dân gian Việt Nam.

Ngôn ngữ Việt Nam còn có thêm hai chữ phỗng khác:

- phỗng tay trên: lấy hớt của người khác.

- phỗng: gọi ăn trong một ván bài tổ tôm, tài bàn, một con bài thứ ba của bất cứ người nào khi trong tay mình có hai con như thế.

Xét theo nghĩa thì hai chữ phỗng này có thể đến từ chữ phủng, nghĩa là bưng, dâng, biếu.

- thành ngữ ngồi im như phỗng và đứng im như phỗng đực, có nghĩa là ngồi và đứng không động đậy, giống pho tượng đồ chơi của trẻ con, hoặc giống ông phỗng nơi thờ tự.

*

Ông phỗng đá thứ nhất của Nguyễn Khuyến đứng trơ trơ, “đêm ngày coi sóc cho ai đó”, chắc phải là ông phỗng đứng bưng nến hay đội nến ở chùa chiền, đền miếu.

*

Ông phỗng đá thứ nhì dang tay ngửa mặt lên trời, có vẻ lạc quan, thiếu trang nghiêm, hẳn phải là ông phỗng đồ chơi.

*

Chữ phỗng không có trong tự vị của Huỳnh Tịnh Của. Có thể đây cũng là một chữ mới có từ đầu thế kỉ 20. 

Theo Nguyễn Dư

13/4/2000. 

***

Chim & tổ giòng giọc mái

Tổ chim giòng giọc trống

Chim giòng giọc luôn ồn ào giành nhau những vị trí tốt trên các cành cây xoài cao, những đọt tre ngất nghểu. Chúng đan những tổ chim khéo léo và rất xinh đẹp bằng những sợi cỏ khô mềm. Những tổ chim giòng giọc ngoạn mục, lủng lẳng, đong đưa theo gió nhẹ, trang điểm cho bức tranh quê vào mùa lúa chín, thật là một vẻ mỹ quan khó quên. Chim mái làm tổ có vòi dài rất đẹp mắt. Chim trống cũng tự đan một tổ nhỏ đơn sơ hình tròn, lớn hơn nắm tay người lớn, có dây ngang làm chỗ đứng, canh gác, tránh nắng, tránh mưa. Đây là mùa sinh sản, duy trì nòi giống của loài chim giòng giọc để hết mùa lúa chín, chúng bay đi vùng khác.

Nhớ có bận, các bạn và tôi đi vào trong rừng Miểu Lục Viên, gần nhà ngoại tôi để hái gùi. Cái miểu chỉ là một cái chòi tranh nhỏ, vách bằng phên tre, tiền diện để trống. Trên một cái bàn gỗ cũ đơn sơ có một tấm bài vị với mấy chữ Nho sơn son thiếp vàng đã phai màu, một lư hương ở giữa, hai bên bài vị đặt một cái chò để chưng trái cây và một bình hoa bằng sành. Miểu Lục Viên là nơi thờ phượng người có công đức với làng xóm, quê hương.

-Dây gùi là vầy sao?!

Một bạn nào chợt cất tiếng. Dây nó to bằng bắp chuối, sần sùi, cong queo. Nó bám vào một cây cám hay cây gì to cao, nhìn lên trật ót. Chúng tôi ngồi lên những dây gùi nằm sõng soài dưới gốc cây nghỉ chân. Có bạn rắn mắt cưỡi ngựa, đánh đu, đong đưa như ngồi trên võng. Có một bạn nào dạn dĩ ôm bám dây gùi leo lên rất cao để hái mấy trái gùi chín vàng trên đọt cây. Dây gùi cứ lắt la lắt lẻo…Trái gùi còn xa lắc tầm tay. Những trái gùi dễ hái, người ta đã hái hết, chỉ còn sót lại mấy trái thách thức trên cao. Sợ rủi ro, Chị Tám ra lệnh:

-“Xuống đi, Tarzan ơi! “Ne pas pouvoir” rồi! Xuống đi, đi hái mây!”.[23]

Thế là không hái được một trái gùi nào cả, loại trái cây rừng mà chúng tôi háo hức muốn ăn cho biết vị. Vòng vo, lùng sục một lúc quanh mấy bụi mây rừng tua tủa gai, chúng tôi chỉ còn hái được hai quài mây rắc chín và một rổ quài mây rắc còn xanh.

Theo hướng nhà ngoại tôi gần đó, chúng tôi rảo bước đi, một hơi là đến. Gặp Ngoại, các bạn lễ phép, khoanh tay, cúi đầu: “Thưa Bà Ngoại”. Riêng tôi đứng ra giới thiệu bạn bè với Bà. Ngoại tôi mặc một chiếc áo túi trắng, tóc bạc phơ, mắt đã lòa, nhưng tai còn tỏ và hãy còn sõi lắm. Bà vỗ nhẹ lên đầu các bạn với giọng cười hiền lành và giục tôi bắt gà làm cơm, nhưng cả bọn thưa rằng đã ăn trưa rồi, chỉ muốn ăn mây cho vui thôi.

Nhanh như tép nhảy, Chị Tám lẹ làng suốt những trái mây ra một cái rổ long mốt, xối nước, rửa cho hết bụi bám vỏ, đâm giập “mây xanh”, để nguyên vỏ, trộn nước mắm, một ít đường, một ống bột ngọt, một ít tiêu và ớt bột cay cay…Trộn đều, thế là xong! Chị và mấy đứa con gái chúng tôi trịnh trọng đặt giữa bàn tròn một thau tráng men đầy trái mây xanh đã chế biến và một chồng chén dĩa, muỗng, đũa.

-Mại dzô! Mại dzô! Các bạn ơi! Ngon lắm!

-Mây xanh nóng hỗi, vừa thổi vừa ăn nè!

-Ăn mây…là ngậm, là nuốt mây, cưỡi mây như Tôn Tẫn, Bàng Quyên…

-Như đằng vân, đứng trên đám mây, mây bay vùn vụt hén!

-Xí! Làm sao bay được…Dụ con nít, xưa rồi!

-Ha…ha…

-Mây nào cũng mây mà!

-Khác nhau là cái chắc. Mây trời có hái, có ăn được đâu!...

-Đố các bạn, vật gì mà “chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy?”

-Khó à nghen!

-Là tên bạn Thu Thủy, là nước đúng không?

-Chắc là tên của bạn Triều, nước thủy triều đó!

-Hay là tên của 2 bạn Vân, Vân Đặng, Vân Trương, vân là mây, mà mây cũng từ hơi nước mà ra thôi…

-Phải tên bạn Ngọc, bạn Thoa (Khanh)…đâu ai dám đem đồ trang sức quí giá của mình mà chặt, mà phơi…

-Có lẽ là tên của bạn Thu Hương, Xuân Lan…Hương không nắm được, Lan đâu dám nâng mạnh tay…

-Vậy là tên các bạn Xuân, Sĩ, Sửu, Hầu, Lợi, Nhơn, Đức, Nhuần (Văn), Minh Tân, Nhính, Lý (Ba), Chạng, Cuống, Thu (Yếu) Chị Tám và Ngọc Chân, em út của Kim Ngân… tên có nghĩa riêng, bứt chữ rời ra thì không thể được…

-À, vậy, cũng như tên Lê Kim Quynh, Nguyễn Thị Nhiên, tên hai lớp trưởng, của tụi mình, chắc là phải gắn ví nhau suốt đời, làm sao bứt rời ra được…

-Ờ hén! Cũng như tên của 2 bạn Ngân nè, Ngân Võ và Ngân Nguyễn, âm thanh làm sao lấy được mà chặt, mà phơi…

- Ờ! Hay quá! Hay quá! Đủ một số tên các bạn hay chơi chung với nhóm bọn mình …Tên một số các bạn ở hai lớp nhứt A,B…Câu đố nầy rất có ý nghĩa…

-Vậy là nhóm mình có nghĩa “Chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy” nhen!

-Hi vọng là như vậy đi! Ha…ha…

-Kha …kha…

…..

-Còn tui đố các bạn nhen. “Cha tôi đi giết người. Mẹ tôi đi cứu người”[24], có nghĩa là gì nè!

-Ghê quá!

-Cứu người thì có, chứ giết người …Ai mà dám làm chuyện ác?

-Giết người là hung tàn, “hại nhân, nhân hại”, sẽ bị ở tù, xử tử.

-Không phải vậy đâu!  Hiểu theo nghĩa hàm ẩn, chứ đâu phải nghĩa tường minh.

-Để coi… Giết người là hại người, độc ác. Cứu người là ngược lại…

- “Xuất gì” đi chớ!

-Xuất công việc nhà nông.

-À! Có phải làm đất, trồng trọt không?

-Ráng suy nghĩ thêm đi. Gần đến “đáp số” rồi.

-Vậy là, đi cày và đi cấy.

-Chính xác!

-Cha tôi đi giết người là đi làm đất, giết cỏ: đi cày. Mẹ tôi đi cứu người, là tạo nguồn lương thực cho người. Có lương thực, người ta có cơm ăn mới sống là đi cấy.

-Très bien! Très bien! (Giỏi lắm!)

-Ha ha…

Ghi chú:

[*] TheoTruyện Vũ Công Duệ, Nam Hải Dị Nhân, Phan Kế Bính:

VŨ CÔNG DUỆ

   Công Duệ người làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi làm ruộng vắng nhà, Công Duệ chơi với một bọn trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bươm bướm làm hai tai, cắm con đĩa làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra con voi đất mà vẫy được tai, vòi co lên quắp xuống và chân đi được, ai trông thấy cũng cho là tinh quái.

   Một khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:

            - Bố mày đâu?

   Đáp lại:

            - Bố tôi đi giết người.

            - Mẹ mày đâu?

            - Mẹ tôi đi cứu người.

   Người đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi thì nói rằng:

            - Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ cho mà biết.

   Người kia mới dỗ bảo rằng:

            - Mày cứ nói cho thật đi, tao sẽ tha nợ cho nhà mày không đòi nữa.

   Công Duệ sẵn cầm một cục đất dẽo, bảo người kia in tay vào đấy để làm tin.

   Người kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao. Công Duệ mới nói rằng:

            - Cha tôi đi nhổ mạ mà mẹ tôi thì đi cấy.

[Nhổ mạ thì phải nhổ đôi ba ngày trước khi cấy, công cấy thì phải nhổ mạ, một buổi mạ là (300-400 bó mạ, tùy theo hương ước địa phương). Thiết tưởng đi càyđi cấy sẽ hợp lý hơn: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” Chú giải NT].

   Người kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước ra, và nói rằng:

            - Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?

Người kia đứng ngẩn mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công Duệ cho đi học, và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua sách.

Công Duệ học thông minh lắm, nội các sách vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm Hồng Đức thứ 23 đời vua Thánh Tôn nhà Lê, Công Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng nguyên khoa ấy.

Lúc làm quan, tính khí cương trực, vua cất lên làm Đô ngự sử, các quan ai cũng kính sợ.

Đến khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình thần nhiều người a dua về Mạc Đăng Dung, ai không nghe phải giết. Đăng Dung sai người dụ Công Duệ theo về làm quan với mình, Công Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch thần; nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự sử đâm đầu xuống cửa bể Thần Phù mà chết.

Cách 60 năm sau đó, nhà Lê Trung Hưng, khôi phục được kinh thành Thăng Long, sai đúc ấn Ngự sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn, mới sai người lặn xuống cửa bể Thần Phù tìm quả ấn ngày xưa. Khi người lặn xuống đến nơi thì thấy Công Duệ vẫn còn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn ở dưới đáy bể , uy nghi như thuở sinh thời.

Người ấy sợ hãi, lên tâu chuyện với vua Trang Tôn. Vua lấy làm lạ, cho là thần khí trung với nước của Công Duệ đã khiến cho ông đã hóa thần, mới sai quan làm lễ khấn bái, rồi sai người đem xác Công Duệ lên, dùng lễ trọng, khâm liệm, bỏ vào áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình Xá an táng, truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.

Theo Wikipedia

…..

-Đố bạn nào giải được:

“Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu điu lại nở ra giòng liu điu”.

-Là theo nòi giống. Ai tài giỏi, bao dung… thì con cháu tài giỏi, bao dung... Ai hèn hạ, độc ác, ngu ngốc… thì con cháu hèn hạ, độc ác, ngu ngốc…

-Theo truyền thuyết và lịch sử, dân tộc mình là con rồng cháu tiên, khí phách anh hùng, có lòng nhân nghĩa. Chẳng hạn, Giặc Minh vô cùng tàn ác, thế mà khi chiến thắng vẻ vang bọn chúng, Ta chẳng những không trả thù, chẳng những tha mạng không giết hại mà còn cấp lương thực, ngựa xe, thuyền bè…để chúng về nước, đoàn tụ người thân…Chúng cứ nghĩ Ta giả vờ như vậy nhưng trên đường về…hạ thủ độc thủ như bản chất của chúng (suy bụng ta, ra bụng người)…cho nên tán đỡm kinh tâm, thất kinh hồn vía, đâu biết, đó là tinh thần đại nghĩa , chí nhân của dân tộc ta.

-À! Tui nhớ rồi, Cô đã giảng như vậy và đọc cho lớp mình nghe mấy câu trong bài Bình Ngô Đại cáo. Vầy nè:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn.

Lấy chí nhân mà thay cường bạo…

*

Mã Kỳ, Phương Chính, cp cho năm trăm chiếc thuyn,

Ra đến bin mà hn bay phách lc,

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cnga,

Vđến nước mà tim đp chân run…

*

-Dân tộc mình thật là bản lĩnh…

-Đoàn kết, yêu nước, có lòng trắc ẩn…

-Các nhà viết lịch sử đã sử dụng rất nhiều…rất nhiều từ ngữ và hình ảnh hoa mỹ để ca ngợi bản sắc Việt Nam…

-À! Có phải rắn liu điu có nọc độc, có đuôi thật dài, ám chỉ sự thâm độc và cái đuôi chệt của giặc phương Bắc, “ba tàu”?

-Rõ như ban ngày, ai mà chẳng biết!

-Dân mình thì có lòng quảng đại như rồng, bay tận chín tầng mây. Bọn giặc ở phương Bắc thâm độc, như là loài bò sát dưới đất, rắn liu điu, chui rúc ở những nơi dơ bẩn, hôi thối…

-Chưa hết đâu, Cô mình nói, khi đô hộ nước mình, bọn giặc Minh rất là độc ác, thối tha… bài Bình Ngô Đại Cáo còn rành rành ra đó:

Độc ác thay! Trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay! Nước Đông Hải khôn rửa sạch mùi

Lẽ nào trời đất dung tha!

Ai bảo thần dân chịu được.

-Phải chăng dân ta kêu nó là “Tàu khựa” hay “Chệt khựa”; “Đồ dơ dáy, hôi tanh, tỡm lợm”?

-Chắc là…có thể là …đúng vậy!

-Thầy mình đã giảng, bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, xưa nay chúng nó đều có âm mưu thôn tính nước ta nhưng dân Việt mình rất bản lĩnh, rất yêu nước, rất anh hùng…trẻ già, nữ giới, thiếu nhi một lòng hi sinh, quật khởi đấu tranh nên Tổ quốc Việt Nam mình mới trường tồn, mới không bị đồng hóa, không thể nào mất gốc…

-Thật vô cùng tự hào Tổ quốc Việt Nam nước ta!

-Tổ tiên mình…muôn năm!

-Ha ha…

[Ngân Triều bổ sung: Mãi sau nầy tôi mới đọc được mấy câu thơ hào sảng về Tổ quốc Việt Nam, cũng không nhớ tên bài thơ và hoàn cảnh sáng tác, xin được ghi lại để tham khảo:

Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững,[25]

Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.

Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng,

Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa.

Huy Cận.

Tứ thơ như tổng kết lịch sử đấu tranh oai hùng, bản sắc, tâm hồn Việt Nam và khẳng định nước ta, một đất nước “sừng sững”trường tồn vĩnh cửu, sánh vai cùng các nước quốc tế trong năm châu, bốn biển; một dân tộc hiên ngang, bất khuất, nhân ái, bao dung]

 Liu điu lại nở ra giòng liu điu.

Vừa ăn vừa tán gẫu. Bầu không khí tở mở, đầy tiếng nói cười rôm rã, quên luôn lời khen lịch sự cho món “mây xanh”. Song, tôi không thể nào quên cái hương vị đậm đà của nó hơi chát chát, ngọt ngọt, mặn mặn, ăn trệu trạo, nhai nhai nhè nhẹ luôn cả hột, khi nuốt vào, cảm nhận cái dư vị ngọt ngọt của nó, đọng lại nơi thực quản, ngon ơi là ngon. Tuổi mới lớn, ăn gì cũng ngon…Nhất là bữa ăn đơn sơ lồng trong một bầu không khí vui tươi, rộn rã tiếng cười giòn tan không dứt…

Nhớ có lần, chúng tôi rủ nhau đi nhổ nấm tràm ở vạt tràm cháy của Nội tôi tận ấp Đức Ngãi (Làng Đức Lập, Đức Hòa, Chợ Lớn). Rất hên! Chúng tôi đi hái nấm đúng mùa. (Tức là vào thời điểm sau những cơn mưa chập chũm của tháng ba âm lịch, nắng nóng có sao,  đồng ruộng khô cằn. Trên những đám ruộng, chỉ còn trơ gốc rạ ngả nghiêng, trên những bước đi trên con đường cỏ may cát trắng, gió làm tung bụi mịt mù). Gió chướng buổi chiều xa đưa, sau những chiếc xe bò trên đường đất, cuồn cuộn những vầng bụi cát trắng, bay thấp thoáng qua những dãy ruộng và tan biến sau lũy tre xanh.

Khi đến nơi đã định, chúng tôi tỏa ra, lùng sục nấm tràm với nhãn quang của Tề Thiên Đại Thánh(!), đôi mắt sáng cứ chăm chăm chú mục vào những gốc tràm. Cuối cùng, chúng tôi thu hoạch được rất nhiều nấm tràm, đựng đầy trong những chiếc nón lá và các nón bàng con trai. Mỗi lần gặp một ổ nấm tràm, tiếng reo mừng tở mở, vang rân…

Đến nhà, dồn đi dồn lại, “chiến lợi phẩm” nấm tràm rất nhiều, đầy 5 chiếc nón lá và một số nón bàng. Để riêng ra một số nấm làm quà đem về gia đình, còn lại, lặt gốc, bỏ đất dơ, ngâm rửa với nước muối… Rồi chúng tôi lấy cái nồi to nhất của Nội, thường dùng nấu cơm cho công cấy ăn, hoặc sử dụng riêng cho ngày giỗ, nấu được khoảng nửa nồi cháo nấm tràm, thơm ngon  hết ý, “khao quân”. Nấm đen đen, trắng trắng, búp búp; có gạo rang thơm; có đậu xanh hòa quyện; có mấy con cá lóc cựu còn sót lại trong cái ao sâu của nhà, nay đà cạn nước; mấy bạn nam quậy nước đùng đùng rồi thò hang bắt được; tóm thêm ba con ếch bự nằm “mà” dưới đống “rơm nhao” trên bờ ao; có “bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”; có đường, có bột ngọt, có muối, có gừng…

(Chị Tám rất thạo việc nấu ăn, đứng bếp. Chắc là chị thường đi phụ đám tiệc ở quê nên mới có những chiêu làm bếp tuyệt vời như thế. Sau nầy có gia đình riêng, chắc là thế nào chị cũng một “nội tướng” đảm đang. Mà thật vậy, tôi thấy ở chị có những phẩm hạnh tốt của người phụ nữ nông thôn như: xinh đẹp, vui vẻ, mến khách, chu đáo, ngăn nắp, quán xuyến, tháo vát, tài ba…)

Chẳng mấy chốc, mùi cháo nấm tràm thơm ngon lan tỏa khắp nhà, nghe cồn cào trong bụng. Sau khi múc ra để dành phần cho Nội, Chị Tám với khuôn mặt ửng hồng, do đứng bên bếp lửa, khả ái, tươi cười, đon đả:  

-Ăn đi các bạn, cháo nhiều lắm, nấm tràm mát lắm, học bài mau thuộc!

Thế là một nồi cháo to, một thoáng hết sạch. Bữa ăn còn gắn với những chuyện vu vơ, trêu ghẹo lẫn nhau, những câu chuyện têu tếu, vô thưởng vô phạt…và những tràng cười hồn nhiên, hể hả.

Chị Tám rất dễ thương qua nụ cười và giọng nói hiền lành. Chị quả là một “đầu đàn” của bọn tôi thuở ấy. 

Nhà tôi ở, ngay ngã tư Đức Lập, còn gọi là Ngã Tư Mây Tàu, thuộc ấp Mây Tàu, giáp ranh với Rẫy Ông Ầm.[26]

Mỗi ngày tôi thường đi bộ theo đường tắt để đến trường Tiểu Học Bào Trai. Bộ ba “tam sênh” của chúng tôi gồm chị Tám, Thoa và tôi luôn luôn đi chung với nhau. Có bạn hỏi chúng tôi đi học bằng phương tiện gì, tôi cười đáp vui là đi bằng xe “lô ca chưn”. (Mặc dù bấy giờ còn có xe thổ mộ, lộ trình Đức Lập- Bào Trai, khách lên đầy xe thì xe lóc cóc khởi hành. Dân chúng và học sinh đi xe đạp, rất hiếm thấy).

Mỗi sáng, Khanh và tôi đi từ Đức Lập đến nhà chị Tám (Gò Cao) đường đá lởm chởm, hơn 1km. Rồi ba đứa chúng tôi tiếp tục đi khoảng 1km đường đá đó (TL 8) mới đến đường tắt. Con đường nầy thực ra là một “lối mòn”, do nhiều người đã từng đi qua mà thành. Hai bên lối mòn ấy giăng đầy bông cỏ may, men theo rừng chồi của bờ suối Bào Trai, dọc theo vuông rào lớn của ông Bộ Tao, đi qua một vạt đất trồng đậu phộng, băng qua một mương nước cập lộ 10, qua cống suối Bào Trai là đến trường, độ chừng 1,5 km.

Đi bộ tổng cộng 3,5 km.

Có lần tôi thử tính đường đi học của mình:

-Đường đi học và về mỗi ngày 2 lượt:                                       3,5km x 2 =7km.

-Đường đi học và về trong 1 tuần, 6 buổi là :7km x 6 =                            42km. 

-Đường đi học và về trong 1 năm, 32 tuần là: 42km X 32=                 1.344km.

*Đáp số: Trong một năm học, một nữ sinh tên Võ Kim Ngân đi được 1.344km.

          Thật là một kỷ lục khá lớn! Đường đi học trong một năm của tôi dài xấp xỉ bằng đường dài từ Sài Gòn đến Hà Nội, mặc dù, bấy giờ tôi chỉ biết Sài Gòn, Hà Nội, và cả cố đô Huế, qua quyển sách Địa Dư, do cô mua, phát ra vào dịp đầu năm học. Bộ ba chúng tôi đi bộ như vậy chẳng nhằm nhò gì, vì hãy còn gần, khi so với phần lớn các bạn ở vùng trên:  Tân Mỹ, Gò Sao, Rừng Muỗi, La Cua … Đường xa gấp đôi,  gấp ba lần đường đi của chúng tôi,  mà vẫn… lon ton… ôm cặp cuốc bộ. 

Đường xa thì mặc đường xa… chúng tôi cũng có những trò vui nhỏ trên đường đi học về. Thú vị nhất là ngắm và bắt những côn trùng bay quanh bờ suối. Dễ phát hiện nhất là mấy chú ong bầu. Lưng nó màu vàng nghệ, bụng màu đen. Khi bay, nó kêu o… o…rầm rì.

 Ong bầu hút mật

-Kìa! Nó đang chui vào hoa cắt lồi hút mật! Để tui bắt, đem về cho nó hát bội nghe chơi!

- Nó chích đau lắm đó!

-Để tui bắt cho coi! Nè! Biết cách bắt thì dễ ợt hè!

Chị Tám chuẩn bị cái khăn tay (mouchoir), khi ong bầu chui vào đài hoa ngang của hoa cắt lồi hút mật, chị lấy khăn túm lại như làm một cái túi tròn, đặt sẵn ở bên ngoài. Khi hút mật xong, ong chui nhanh ra khỏi hoa, là nó rơi ngay vào cái túi khăn ấy. Chị liền lẹ làng túm khăn lại. Thế là được một chú ong bầu trong chiếc khăn tay.

(Ngày nay trẻ em thường dùng túi nilon đề bắt ong bầu).

Rồi hai chú, ba chú…Chỉ cần một con cũng đủ. Nhiều ong hơn thì hát bội vui hơn, con nầy hát mệt thì con khác thay...Có khi hai ba con cùng hát một lúc, trẻ em rất ưa thích…

-Nhưng làm sao cho nó “hát bội” hả chị?

-Đem về đựng mỗi con trong một cái ve chai nhỏ, hay chai nước ngọt rỗng, nhớ làm lỗ thở cho nó. Muốn cho nó hát thì lấy cọng bàng làm que chọc vào nó là nó khắc hát o…o…ò…ò…ọ…ọ….như hát bội rất vui tai. “Tiếng hát” của nó rất đơn điệu, lâu dần sẽ nhàm chán và gây buồn ngủ.

-Vậy à! Cũng hay! Thôi thả nó ra đi chị! Tội nghiệp quá! Mất nó, gia đình nó chắc là buồn lắm!  Nó có cha mẹ, anh em, chắc là nó cũng giống như con người!

-Tui biểu diễn bắt ong bầu chơi thôi, chớ ở nhà, tìm một cái ve chai không, đâu phải là chuyện dễ. Cho em bé chơi thôi…chớ mình mà chơi gì nữa! Thỉnh thoảng tui cũng có bắt chuồn chuồn trâu cho tụi nó hoài…

“Thi hành nghị quyết”, chị liền mở khăn ra, tức thì mấy con ong bầu tung cánh bay vút cao lên và bay xa tít. Chúng tôi cứ nhìn theo vòng bay của chúng nó. Ô! Tự do! Có gì vui sướng bằng tự do. Chắc là chúng nó rất vui thích, bay vút một mạch, lượn tít lên cao, rồi khuất dạng trong khóm cây um tùm xa xa.

-Ha haTụi mình vừa thể hiện một niềm vui cho gia đình con ong bầu, phóng thích “tù binh”, cũng như ngày rằm, người ta mua chim, mua cá đến Chùa cúng dường, phóng sinh…

- Chắc là gia đình nó làm tổ ở hướng đó. Mà bắt chuồn chuồn chắc là khó lắm?

 Chuồn chuồn trâu xanh

-Dễ ợt thôi! Nhưng về nhà đã. Là vầy: Giống như bắt ve sầu hay hay bẫy chim sắc. Lấy nhựa cây sung hay cây mít, đem nhựa bôi lên đầu cây trúc cao chừng “một với”[27] …rồi đem cắm ở chỗ có chuồn chuồn bay…Bay một hơi, chúng thường tìm chỗ đậu nghỉ cánh. Chuồn chuồn thích đậu trên cao để nhìn tám hướng…Đậu vào…đầu trúc có thoa nhựa cây…là dính bẫy. Hạ cây trúc xuống là bắt…Biết cho con nít chơi sao không? Lấy sợi chỉ buộc vào chân chuồn chuồn. Lúc nắm sợi chỉ, chuồn chuồn bay vòng tròn rất vui. Tụi nhóc thích thú như chơi bong bóng bay. Nhưng bắt kiểu nầy, chân chuồn chuồn dính nhựa, sau dính thêm đất nên chơi không được lâu. Không bằng thò tay bắt nó.

-Nghe nói mình cho con chuồn chuồn cắn rún, khắc mình biết bơi... biết có đúng không?

-Làm sao tin được! Nó cắn đau lắm! Trò lừa dụ con nít xưa rồi! Đâu phải là phép mầu của chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa! Có tập bơi, khắc biết bơi, có học võ nghệ, khắc biết nghề. Có nghề, hễ ai ỷ mạnh, ăn hiếp, đánh mình…thì mình dư sức dùng “miếng trả miếng với nó”. Bộ không nhớ Cô đã giảng cho mình ở bài Đức Dục, Tự lực tự cường sao?

-Ờ hén! Hãy luôn cảnh giác với Giặc Phương Bắc. Lúc nào chúng cũng lăm le xâm chiếm nước mình qua cái bản chất tham tàn, điêu trá …ẩn sâu trong đầu óc quỷ quyệt của chúng. Từ đời Nhà Đinh, Nhà Trần…Ông cha ta lúc nào cũng đã nhắc nhở sâu và di huấn cho hậu sinh.

a/-Thời Đinh Tiên Hoàng (968 -980), có câu:

“Bắc môn tỏa thược”[28]

                 

 Cổng vào đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế 

còn ghi chữ “Bắc môn tỏa thược” 北門

 b/-Di chúc của Vua Trần Nhân Tông[29] (1279 – 1293). Lập ra hơn 700 năm trước, đã từng cảnh giác cho muôn đời sau:

“Nếu chúng (Giặc Tàu) không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ (Tàu khựa) gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.

Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

“Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.

-Bạn thuộc bài và tiếp thu lời giảng của cô mình y boong! Cô còn liên giảng gì nữa, nhớ không?

-Đó là hai câu ca dao lịch sử răn đời:  Hãy xem cái hèn mạt, phản quốc: “Nước loạn, không cứu; theo giặc, cầu vinh” như Trần Ích Tắc”.

“Cỏng rắn về cắn gà nhà”, như Vua Lê Chiêu Thống, chết lưu vong nhục nhã ở tuổi 28. Đời cha ông anh hùng mà con cháu chẳng ra gì…Ô nhục muôn đời:

“Trăm năm bia đá thì mòn,

Nghìn năm bia miệng hãy còn …trơ trơ”.

-Tui “ghét cay, ghét đắng…ghét vào tận tâm”…những bè lũ bù nhìn, phản dân, hại nước, “theo giặc, cầu vinh”.

…..

Buồn cười, nhớ có lần, Cô Thu dạy thêu “mũi xương cá” trong giờ nữ công. Thoa và tôi, vừa may xong áo bà ba trắng mới, chúng tôi liền thực hành, tự thêu vào bâu áo, trang trí vạt áo của mình bằng những xương cá màu đỏ, rất dễ thương. Có một bạn nam lớp A nào, để ý, gọi hai chúng tôi là “hai nàng tiên cá”.  Một cái tên rất ngộ nghĩnh, hay hay. Cũng như có một số bạn nam lớp A gọi bộ ba chúng tôi (Thoa, Tám và tôi) là “ Ba người đẹp Mây Tàu”, (Đức Lập). Phương danh đó rất đúng với hai bạn kia, nhưng với tôi thì chưa đúng lắm. Tôi được Thầy và các bạn nói là hiền thục, dễ thương và các bạn đã từng trêu tôi là Ngân Tóc Hoe.

Hồi đó, thú vị nhất là những ngày được nghỉ học để rủ nhau tùy tiện đi chơi… Nhưng vui nhất là nghỉ lễ Tết Âm Lịch khoảng hai tuần, thường có đoàn hát bộ đến hát. Chúng tôi có dịp đi xem những trò vui dân gian chốn quê trong những ngày Tết.

Sáng mùng một, sau khi mừng tuổi Ba Mẹ, tôi dạo quanh chợ Đức Lập để thấy chợ vắng hoe, người ta nghỉ bán để ăn Tết. Bên hông đình làng, rất đông người; những sòng đỏ-đen cho bà con thử thời vận may mắn đầu xuân. Nào là hai ba sòng lúc lắc “bầu cua cá cọp”, một sòng đánh bong vụ, mấy sòng đánh bài cào, bài cách tê, xì phé bài tam cúc. Sôi nổi nhứt là “trường đá gà nòi” cá độ.

 Cảnh đá gà ngày nay

            Có lần, Triều, chị Tám, Ngân, Ngọc, Khanh và tôi cùng đi xem “hát bộ”. Rạp dựng trong sân đình làng, người ta trét vách đất cho kín, rất nóng nực mà cũng rất đông khán giả. Hình như người dân rất khao khát món ăn tinh thần nầy. Chúng tôi chưa hiểu nhiều về sự tích tuồng hát và nghệ thuật của “hát bộ” nhưng xem hát rất vui. Khi vãng hát, chúng tôi dạo quanh những hàng quán lèo tèo trước rạp hát. Đó là những lều che tạm bằng cột tre, kèo tre, mái lều là những tấm liếp xắt thuốc lá. Những điểm dưa hấu, với một đống dưa cao, từ Tây Ninh chở về; quầy hàng nước mía, chủ quán ép mía với hai trục lăn nhôm; sạp nước giải khát là bán nhân sâm ,“sưng sáo”, đười ươi, hột é, đá đậu, bánh lọt, sương sa hạt lựu. Hàng nước giải khát đóng chai thì có xá xị con nai, Limonade, nước bạc hà, bia con cọp Larue. Hàng ăn thì có cháo lòng heo, cháo gỏi vịt, bì bún-chả giò, hột vịt lộn, hủ tiếu mì, bánh canh, cơm tấm và có quán nhậu đặc sản bán rượu “ Đà quốc tửu ”[30] ký hiệu NN, có rất nhiều bác nông dân đến uống. 

Cuối cùng, chúng tôi lắc cắc mấy gói đậu phộng rang, mỗi đứa một ly nước mía, ngắm nhìn thiên hạ vui chơi, bàn luận về tuồng hát và giang tay ra về.  

Hãy quay lại với con đường đi học của tôi. Cây cỏ may thường mọc trên gò, trên lề đường đá, trên bờ ruộng, nơi nghĩa địa và bạt ngàn trên các lối mòn dọc theo con đường tôi đi học. Cây cỏ may có sức sống mãnh liệt cũng như các loại cỏ khác nhưng khác nhất là mỗi bụi có một cọng cỏ ngồng cao, ngồng cỏ thân tròn, cao khoảng 1,5 đến 2 gang tay. Trên đọt ngồng cỏ đó, có đính một chùm bông cỏ may, khi còn non màu tím, khi trưởng thành đổi màu trắng. Mỗi bông đều có một cái cuống dài khoảng 2 – 3mm rất dẽo dính vào chùm bông. Khi ấbông khô và già, nó sẵn sàng “may” một cách nhiệt tình vào những ống quần dài nào lướt ngang qua nó. Nếu bông cỏ may “găm” vào quần dài chừng 5-10 bông thì không sao. Nhiều hơn, dày đặc hơn là vô cùng khó chịu vì những cái mũi của nó “găm” tiếp vào ống chân, rất ngứa và xót chân. Cho nên, tôi rất ghét bông cỏ may và luôn luôn đi né tránh những bụi cỏ may trên đường đi học. Vậy mà ngày nào cũng như ngày nấy, tôi thường bị những bông cỏ may “quá giang” trên ống quần tôi, theo mỗi lượt đi về. Có lúc, không còn đủ thì giờ nhổ bỏ từng bông, tôi phải dùng bề sống của con dao mỏng cào nhẹ trên vải quần để loại trừ nó cho nhanh…Tuy vậy, việc gì không tốt gắn với ta lâu dần, nó cũng trở thành thân quen. Tôi xem những bông cỏ may như những người bạn đồng hành bé xíu, duyên dáng, dễ thương, của một thời tiểu học nhiều kỷ niệm trong sáng, vô tư.

Bông cỏ may, bông cỏ may ơi!

Duyên đâu mà dệt bước chân tôi?

Mỗi bông găm một niềm vui nhỏ?

Hay nỗi sầu, vương vấn, cuộc đời?

 ***

Chú thích:

[1] Bào Trai: Tôi còn nhớ, đối diện Trường Tiểu Học Bào Trai của chúng tôi là một cái đồn Tây có tấm bảng La poste de BaoTrai, trên mái ngói của một dãy nhà sát lộ của đồn Tây, có vẽ chữ BaoTrai bằng sơn trắng rất lớn; sát bên trường là một cái chợ nhỏ, mặt tiền nhà lồng chợ chó chữ Chợ Bào Trai. (Chữ Bào được viết với chữ o cuối).

Ngày nay, chữ Bàu Trai viết với chữ u cuối, theo từ điển Tiếng Việt.

[2] Suối Bào Trai, nay thành kinh Bàu Trai, có cầu Bàu Trai (xưa là một cái cống, với 3 ống cống to thoát nước ra sông Vàm Cỏ Đông); có ghe thuyền miền Tây và miền Đông lui tới buôn bán những đặc sản theo mùa, như mua lúa, mua đậu phọng; bán tro cho nhà nông; bán cây chiết cành; bán đồ sành sứ…

[3] Trái điều, còn gọi là đào lộn hột, ngọt ngọt mà chát, nước trái điều dính vào áo, giặt không ra. Hột điều nằm phía dưới trái điều. Tụi con trai thường lấy hột điều chơi đánh đáo. Hột điều nướng, ăn béo và bùi, vị ngon khó quên.

[4] Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê: tên một tuồng hát Bội, viết theo truyện Tàu, khuyết danh; Tiết đinh San chinh Tây. Tiết Đinh San khi ấy gặp Phàn Lê Huê, nữ tướng Tây Liêu có tài cao, si mê Tiết Đinh San, đầu phục nhà Đường, được kết duyên cùng Đinh San. Hai vợ chồng có công trong việc chinh Tây.

“cầu” là tìm, là cầu hôn.
Do các bạn không biết chuyện tuồng…nên đối đáp ngây ngô rất buồn cười như vậy.

 [5] Ghi chú[*]Truyện Phù Đổng Thiên Vương,: Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ toàn thư, kỷ Hồng Bàng thị ghi chép lại về Thánh Gióng như sau:

Đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông bà lão nghèo chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức thế mà họ vẫn chưa có con. Một hôm bà ra đồng thấy 1 vết chân rất to liền ướm thử xem thua kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai và 12 tháng sau sinh được 1 cậu bé khôi ngô tuấn tú.

Kì lạ thay, cậu bé ấy lên ba mà vẫn không biết nói cười, đặt đâu nằm đấy. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, có giặc Ân tàn ác sang cướp phá nuớc ta. Vua sai sứ đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời sứ giả vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một áo giáp sắt và một con ngựa sắt, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ vươn vai hóa thành người cao lớn, liền phi ngựa vung gươm ra trận, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Trâu. Con ngựa sắt cũng phun lửa đốt cháy quân giặc. Bọn giặc giẫm đạp lên nhau mà chay cũng không thoát chết. Tan giặc, Thánh Gióng đến chân núi Sóc Sơn, cởi áo giáp, phi ngựa lên trời mà đi.

Để tưởng niệm, Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).

[6] Cốt truyện Phù Đổng Thiên Vương

Chuyện kể rằng:

Vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.

Bấy giờ có giặc Ân phương Bắc, xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói:

-Mẹ ra mời sứ giả vào đây!

 Sứ giả vào, đứa bé bảo:

-Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này.

Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ săt ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.

Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng nấu nướng bao nhiêu thức ăn cũng không đủ cho con ăn no, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc, thức ăn nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.

Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến

nơi có giặc, lao vào thiên binh vạn mã toát lên bá khí cường liệt dị thường, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Thánh Gióng dập đầu lạy mẹ cha, tạ ơn công nuôi dưỡng sinh thành rồi lên đỉnh núi Sóc Sơn cưỡi ngựa bay về trời. Vua nhớ công ơn, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.

Tượng Phù Đổng Thiên Vương

Tương truyền, Cao Bá Quát khi viếng đền thờ của Phù Đổng Thiên Vương, có cảm đề ,2 câu đối kiệt xuất, được người đời tán tụng -nay còn bút tích (?):

    

-Phá tặc đản hiềm tam tuế vãn,

Đằng vân do hận cửu thiên đê.

-Đánh giặc lên ba, e quá muộn,

Tung mây còn bực chín trời gần.

                                                  Ngân Triều dịch

Hiện nay, đền thờ người anh hùng diệt giặc cứu nước vẫn còn ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội linh đình. Người ta kể rằng những bụi tre màu ngà, ngả nghiêng.rải rác ở huyện Gia Bình vì bị ngựa phun lửa bị cháy sém, mới ngả màu vàng óng như thế, dân làng gọi là những “bụi tre pheo”;còn những dấu chân ngựa sắt ngày xưa, nay đã thành những hồ ao liên tiếp, trải dài. Người ta còn nói khi ngựa phun lửa giết giặc, vòi lửa vô tình đã làm cháy một ngôi làng, cho nên làng đó, dẫu đã được xây dựng từ lâu đời, tục nay vẫn còn gọi là Làng Cháy.

Theo Wikipedia 

[7] Đồng Trụ đến giờ, rêu vẫn lục! (xanh lục)”.

[8] Anh hùng sứ giả nước Nam tên là Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Lê Trung Hưng. Ông được mệnh danh là vị sứ thần "Bất nhục quân mệnh"       (Không để nhục mệnh vua) vì đã hiên ngang, bất khuất, thẳng thừng đối lại câu đối của vua Minh Tư Tông nhục mạ nước ta, trong một buổi lâm triều, có đầy đủ sứ bộ các nước. Nhục nhã, bất chấp thị phi, vua hạ lệnh hành hình ông  vào năm 1638, thọ 65 tuổi.

Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mang (vừa công nhận nhà Hậu Lê và vừa công nhận nhà Mạc) với mục đích muốn cho cuộc chiến tranh Lê-Mạc cứ tiếp diễn vì hai chế độ đều có chính thống. Khi ấy, Trưởng đoàn sứ bộ ngoại giao của Nhà Hậu Lê là Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.

Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông , Chu Do Kiểm (tức Sùng Trinh) lấy lý do "Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ" với mục đích là chưa công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê cũng như vẫn “ lập lờ” công nhận nhà Mạc.

Đồng thời, trong buổi lâm triều, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn, sỉ nhục nước ta nên đã ra một vế đối như sau:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

             

Nghĩa là:

Đồng trụ đến giờ, rêu vẫn lục. [màu xanh lục]

Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột  đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong).

 Mộ Thám Hoa Giang Văn Minh (1573 – 1638) Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã kiên cường đối lại thẳng thừng như mộ cái tát tay vào mặt kẻ ngạo mạn, hống hách:

Đằng Giang tự cổ huyết do hồng

           

Nghĩa là:

Đằng Giang muôn thuở, máu còn hồng.

Vế đối này không những đối một cách chan chat về ý mà về hình thức nghệ thuật rất sắc sảo, chính xác, từ với từ, còn có ý nhắc lại việc người Việt đã hai lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.(Máu của giặc đã chết trận tự ngàn xưa, do đại bại ở Sông Bạch Đằng, đời Nhà Ngô, Nhà Trần, hòa nước sông, tuôn ra biển cả, đến bấy giờ  vẫn còn màu hồng, như  rửa trôi chưa hết.- NT)

Vào lúc đó, câu đối này được xem như là một cái tát “đòn hằn”, và “hạ gục” vào mặt hoàng đế nhà Minh, trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước chư hầu. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận, quá nhục nhã, quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã ra lệnh giết ông bằng cách cho trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem "Sứ thần An Nam to gan, lớn mật đến đâu".(!!!)

Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Tuy nhiên, cuối cùng, khibình tâm, Minh Tư Tông vẫn kính phục một bậc trung thần nghĩa sĩ, hết lòng vì vua vì nước, cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và cho đưa thi hài ông về nước.

Khi thi hài của Ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đều vô cùng thương tiếc, bái kiến linh cữu và truy tặng Ông chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, với sắc phong:

使        ,           .

"Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng"

 (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).

Cuối cùng Ông được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này hiện còn có một cái quán (như một ngôi nhà nhỏ) là nơi linh cữu ông đã được quàng lại một thời gian ngày xưa để các quan lại, sĩ phu và nhân dân thương tiếc bái biệt, được gọi là Quán Quàng. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa. ‎

Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội.

[9] Đằng Giang muôn thuở, máu còn hồng.

Vế đối nhắc lại Sông Bạch Đằng là mồ chôn giặc phương Bắc. Ngô Quyền chôn cọc gỗ lim trên sông Bạch Đằng, đánh tan quân Nam Hán, chém đầu Hoằng Thao, tk X, năm 938; Trần Hưng Đạo cũng chôn cọc gỗ lim trên sông Bạch Đằng đánh tan quân Nguyên, tk XIII, năm 1288. Thuyền giặc bị vướng cọc ngả nghiêng, không nhúc nhích, quân ta thừa thế giết giặc máu nhuộm đỏ cả khúc sông. Các tướng giặc đều bị quân ta bắt sống như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc…

[10] Thiết tưởng từ “ma nước Nam” ở đây hợp lý hơn “quỷ nước Nam”. Ma có vẻ hiền lành, quỷ hung ác. NT

[11] Xưa có một nàng dâu của một gia đình nghèo. Để “làm dâu”, ngày ngày chị phải đi bắt cua, bắt cá quanh suối. Chị nấu cơm, kho cá, luộc rau, nấu canh, chiên cá đều tốt. Sau một thời gian, chị bỗng “dở hơi”, ngẩn ngẩn ngơ ngơ và nhất là lần nào nấu cơm cũng sống cả. Để ý, người mẹ chồng rình xem thì thấy khi cơm sôi, chị lấy nắp vun nồi cơm đặt trên đầu mình một cách liên tục, có vẻ rất thoải mái. Thấy vậy, người mẹ chồng bước ra, quát:

-Mầy nấu cơm gì kỳ vậy? Hèn gì cơm sống!

Thuận tay, đang cầm chiếc đũa bếp, bà gõ vào đầu nàng dâu. Nàng dâu chỉ kêu “Á!” một tiếng rồi ngã lăn ra chết. Bà mẹ chồng hốt hoảng, nhìn xem thì thấy chỗ vết thương tét sọ, đỉa bò ra lúc nhúc. Bà mới vỡ lẽ là nàng dâu đã bị đỉa chun lỗ tai và đỉa đã sinh sôi nẩy nở trong đầu con dâu…

[12]Lộn thinh đỉa: Là lấy 1 que dài hơn đỉa, luồn vào 1 đầu đỉa, cho đến lhi que qua đầu kia. Con đỉa bị lộn ngược, phơi bụng ra ngoài, nắng nóng khô lại và nó sẽ chết tiệt.

[13] tùng xẽo là hình phạt thời Trung cổ rất ghê gớm. Tội phạm gian ác bị lột trần, cột vào một trụ đứng. Khi một tiếng trống “tùng” vang lên là bị “xẽo” một miếng thịt…cho đến chết. Hoặc nướng đỏ các loại dao, kiềm…đem áp vào tội nhân, kiểu như vậy.

[14] Đường mồi là một con đường đất nhỏ, ăn vào một con đường khác lớn hơn.

[15] Trần Tế Xương 1870-1907, năm 1900, thi trượt và cũng vì tin bạn, lãnh nợ dùm bạn, cho nên phải mất nhà…Ông đã tâm sự trong một bài thơ bi lụy, ngao ngán tình đời:

Gần Tết than việc nhà

Bố ở một nơi, con một nơi,

Bấm tay tháng nữa hết năm rồi!

Văn trường ngoại hạn, quan không chấm,

Nhà cửa giao canh, nợ phải bồi.

Tin bạn hóa ra người thất thổ[15]

Vì ai nên nỗi quyển đâm vôi.

Ba mươi mốt tuổi đà bao chốc,

Lặn suối trèo non đã mấy hồi

Bài nầy được sang tác vào cuối năm Canh Tý, 1900, khi đã hõng thi. Lúc ấy gia đình Ông bị Mụ Hai An tịch biên đoạt ngôi nhà 247 Phố Hàng Nâu, phải đi tá túc nhà người bà con là Trần Đăng Chu. Sau đó, Mẹ vợ, Bà Hai Sửu thương tình, mới nhường cho gia đình Ông ngôi nhà 280 Phố Hàng Nâu.

Trích Thơ Trần Tế Xương, nxb Văn Hóa-Thông Tin, 1998.  (NT chú giải)ái thum

 [16] Cái gì quá đáng thì không tốt. Dịch theo một câu tục ngữ Pháp: Ce que est de trop, c’est mauvais.

[17]Vua Trần Nhân Tông (陳仁 ; 1258 – 1308) nói:

Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu…  (trích từ chương 14 tiểu thuyết Huyền Trân công chúa của nhà văn Hoàng Quốc Hải)

[18] trăm là nói, “trăm hay không bằng tay quen”= nói hay khộng bằng làm giỏi.

[19] Có bạn giải thích “tếu”; bù là thua; nhìn là xem, ngó, canh giữ. Vậy bù nhìn là không nhìn được; canh giữ là thua. Phải chăng cũng đúng?

[20] Trích trích trơ trơ, từ láy, ý nói trơ lỳ mặt ra, chẳng có phản ứng chi hết/ Nguyễn Công Trứ cũng đã viết:” Cũng trơ trơ trích trích không nao” (Con Tạo ganh ghét)/ Trăng thề còn đó tri tri (Hoa Tiên)

[21] hội lạc: Đời Tống, Văn Ngạn Bác mời 12 sĩ phu, có tài, có tuổi dự tiệc rượu sang trọng ở nhà Phù Bật. Tương truyền là Lạc Dương kỳ anh hội, Hội các bậc kỳ anh ở Lạc Dương

[22] Hai câu thơ chữ Hán: Nhìn núi xanh, ta tự cười đầu ta bạc trắng; Trước cảnh biển xanh (tượng trưng cho cảnh dâu bể khôn lường), ai có biết rằng ta cũng như con chim âu.(Chim âu tượng trưng cho người ẩn dật, không màng đến thế sự thăng trầm).

Phỗng được định nghĩa là tượng người bằng đất, đá, đặt ở đền chùa, miếu mạo, được coi là người đứng hầu nơi thờ tự.( NT )

[23] (Hồi đó, ở lớp nhì và lớp nhất chúng tôi được học Tiếng Pháp, ne pas pouvoir, có nghĩa là không được, không thể. Tarzan là nhân vật chính, giỏi đu giây và leo trèo, trong bộ phim Tarzan, người rừng, mà chúng tôi đã được xem bấy giờ)

 [24] -Cha tôi đi giết người là đi làm đất, giết cỏ: đi cày. Mẹ tôi đi cứu người, là tạo nguồn lương thực cho người. Có lương thực, người ta có cơm ăn mới sống là đi cấy.

[25]Trích Đi trên mảnh đất này- Huy Cận

 [27] “Một với” là số đo khoảng cách chiều cao của một người và một cánh tay giơ lên; biến thể từ một vói tay.

[28] Bắc môn tỏa thược nghĩa là Cửa Bắc đóng chặt, hiện nay còn ghi ở cổng vào đền thờ của Vua Đinh Tiên Hoàng. Ý nói nước ta phải luôn cảnh giác với cái họa mất nước từ phương Bắc, nên, khóa chặt cửa hay luôn luôn đề cao cảnh giác với chúng. (Xem ảnh)

 [29]Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Vả lại, phải xem đây là mưu của người Trung quốc. Chỉ người Trung quốc mới nghĩ ra các thứ mẹo vặt ấy. Ngoại trừ những điều nhân nghĩa ra, thì các nhà cai trị Trung Hoa không việc gì là họ không làm. Từ những việc kinh thiên động địa đến việc táng tận lương tâm, miễn sao họ có lợi. Cũng nên nhớ, đây còn là quốc sách truyền thống của người Hoa Hạ (Người Trung quốc xưa thường cho dân tộc mình là nòi giống đẹp đẽ nhất hoàn vũ, nên gọi là Hoa Hạ); từ ngày họ mới lập nước tới nay. Các người có nhớ hồi đánh giặc Thát, ta chỉ ngại cái đám mưu sĩ người Tống, đầu hàng nhà Nguyên, lẩn vào trong đó. Cho tới khi trừ được bọn Lý Hằng, Lý Quán rồi ta mới yên tâm đánh bọn Thoát Hoan, Tích Lệ Cơ Ngọc. Bọn người Thát, trước sau gì cũng không nuốt nổi Trung Hoa. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.

                Trước đây, trên mạng chia sẻ cho mọi người, nói rằng đây là di chúc của Vua Trần Nhân Tông. Thực ra, đoạn văn trên chính là lời nói của Vua Trần Nhân Tông, trích từ chương 14, tiểu thuyết “Huyền Trân công chúa” của nhà văn Hoàng Quốc Hải. (Ngân Triều ghi chú).

[30]“ Đà quốc tửu” NN: là rượu đế Đức Hòa, Long An, Nước Nếp, được dân Lưu Linh đối ẩm một thời. Gọi vui là vậy.
***
Cáo lỗi vì bài có rất nhiều hình nên không thể tải được. Mong quý bạn thông cảm.
Ảnh minh họa:                                     

 (1)                                                     (2)                                                           (3) Tổ chim giòng giọc mái

Hoa Cắt lồi

  
                                Bắc môn tỏa thược (Thời Nhà Đinh)                                                       
                                       
                                                                                                                                                                                                                             
(4) Bãi chất tĩn nước mắm                                                                                                               (5) Tắm suối
   

 

                                                                   
                   





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét