Lời hiểu dụ Tướng sĩ của Hoàng Đế Quang Trung trước khi xuất quân đánh tan quân Thanh 1789.
Lời bình Ngân Triều
Ñaùnh cho ñeå daøi toùc!
(Đánh cho để dài tóc)
|
-Đánh cho để dài tóc, \Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ. (Lời hiểu dụ Tướng sĩ của Vua Quang Trung trước khi kéo quân ra Bắc đánh tan quân Thanh). * -Đánh cho để dài tóc, -Đánh cho để đen răng. -Đánh cho nó chích luân bất
phản. -Đánh cho nó phiến giáp bất
hoàn. -Đánh cho sử tri Nam Quốc
anh hùng chi hữu chủ. (Lời
hiểu dụ Tướng sĩ của Vua Quang Trung trước khi kéo quân
ra Bắc đánh tan quân Thanh). Bản Hán Nôm Ngân Triều soạn: -打朱抵𨱾𩯀, -打朱抵黰𪘵. -打朱 奴隻輪不返. -打朱奴片甲不還. -打朱史知南囻英雄之有主”. |
*
Tạm dịch:
Hai
câu đầu:
Mục đích, chính nghĩa của Ta
là quyết
tâm đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi để giữ gìn phong tục, tập quán truyền thống ngàn đời của cha ông.
-Đánh
nó để ta được dài tóc,
-Đánh nó để
ta được nhuộm răng đen.
Ba câu
cuối:
Tinh
thần quyết chiến, quyết thắng và lòng tự hào về một dân tộc anh hùng; quyết
tâm đánh giặc xâm lăng.
-Đánh cho nó tan tác, không còn một bánh xe ngựa nào về xứ;
-Đánh
cho nó chẳng còn một manh giáp nào che tấm thân đầy thương tích trốn về.
-Đánh cho rạng danh thanh sử, cho nó biết mặt, nước Nam anh
hùng đà có chủ.
. Lời bình,
Ngân Triều
( I ) Xuất xứ
& chủ đề:
Lời
tuyên bố đanh thép, bất hủ trên là lời hiểu dụ Tướng sĩ tại Thành Thọ
Hạc[1],
nay là thành phố Thanh Hóa. Trước khi tiến quân, Vua Quang Trung cho
làm lễ “thệ sư”[2],
cho quân sĩ tuyên thệ một cách vô cùng trang trọng. Vua Quang
Trung hiểu dụ tướng sĩ với những lời tuyên bố hào hùng; khẩu
khí của một vị anh hùng dân tộc, ngời sáng tinh thần độc lập tự chủ; nung
nấu ý chí chiến đấu, tự hào; khẳng định mạnh mẽ niềm tin tất thắng
về uy lực dũng mãnh, hùng tráng của đoàn quân, của dân tộc; một lời thề khẳng
khái quyết thắng, quyết tâm tiêu diệt giặc thù.
. Năm
1804, vua Gia Long hạ chiếu chỉ di dời lị sở
của trấn Thanh Hoá từ làng Dương Xá, xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa đến làng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn (nay thuộc phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa), đồng thời tiến hành xây dựng thành trấn lị[3].
Cụ
thể nói về Hạc Thành, Đồng Khánh dư địa chí viết[4]:
Giống như các hào lũy xây dựng đầu triều Nguyễn Gia Miêu, thành có kiến
trúc Vauban. Kiểu cấu trúc phòng ngự lợi hại, từng được thử thách ở Diên Khánh trước quân Tây
Sơn và ở Quy thành Sài Gòn trước chính quân đội Triều Nguyễn.
(I) Lời Bình
Ngân Triều
Hai câu đầu:
Mục đích và chính nghĩa của Đại Quân Tây Sơn, của Nước Nam:
-Đánh cho để dài tóc,
-Đánh cho để đen răng.
-打朱抵𨱾𩯀,
-打朱抵黰𪘵.
Dài tóc: 𨱾 𩯀 tức là để tóc
dài. Lịch sử mái tóc, hàm răng của dân ta cũng đã trải qua nhiều cuộc
thăng trầm, đổi thay như vận nước.
Tóc bỏ đuôi
gà[5] với
hàm răng đen nhánh là model thời trang duyên dáng của người phụ nữ xưa:
Nhưng các sách chỉ ghi chép một
cách tổng quát. Đại khái chúng ta được biết:
Về thời Hùng Vương, ai cũng xăm mình. Ai cũng búi tóc hoặc cắt
tóc ngắn (nhưng cũng có người bỏ xoã tóc hoặc tết đuôi sam). Ai cũng thích
đeo hoa tai và nhiều vòng tay. Người ta nhuộm răng, ăn trầu.
Uỷ ban Khoa Học Việt Nam, Lịch
sử Việt Nam, tập 1, Khoa Học Xã Hội, 1971, tr. 48.
Thời
nhà Trần, người trong nước đều cạo đầu, cho nên trong Sứ Giao Châu thi tập của
Trần Cương Trung nhà Nguyên chua rằng:
"Con trai đầu trọc, người nào có quan chức thì trùm đầu bằng khăn xanh,
nhân dân đều như sư cả".
Tục
cắt tóc này đến Hoàng Phúc nhà Minh mới cấm, nay dân ở Kiên Lao và Trà Lũ huyện
Giao Thuỷ (Nam Định ngày nay) vẫn còn giữ tục ấy.(…) Đàn bà cắt tóc để lại 3 tấc
tết ở trên đỉnh đầu, buộc lấy đầu sợi tóc rồi búi chặt lại và cài bằng trâm, ở
đằng sau gáy không có tóc, cũng không xoa dầu xoa sáp gì cả. (…) Tôi nhận thấy,
đấy là phong tục triều nhà Trần, đến bản triều ngày nay thì tục đội khăn xanh,
mặc áo thâm, cắt tóc và xăm mình đã thay đổi rồi.
Lê Quý Đôn, Kiến
văn tiểu lục, Khoa Học Xã Hội, 1977, tr. 68-70.
Lê Quý Đôn cho biết thời nhà Trần người trong nước đều cạo đầu,
nhân dân đều như sư cả, nghĩa là dân ta gọt tóc hay ít nhất cũng là cắt tóc ngắn.
Đến thời thuộc Minh (1414-1427) Hoàng Phúc ra lệnh cấm dân
ta cắt tóc.
Rồi giặc (chỉ quân Minh) chia châu đặt huyện, đắp thành đào hào; đóng
quân trấn giữ, hơn hai chục năm, biến phong tục thành tóc dài răng trắng, hóa
làm người Ngô cả. Than ôi! Họa loạn tột mực đến như thế ư?
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư.
Sử sách không cho biết từ năm 1428, năm Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh
và lên làm vua, thì đầu tóc dân ta ra sao? Chỉ biết rằng năm 1470, Lê Thánh
Tôn cấm người không phải là sư sãi không được gọt tóc.
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư
Lê
Thánh Tôn bắt dân chúng phải để tóc dài. Năm Lê Quý Đôn viết sách Kiến văn
tiểu lục (1777), thì tục cắt tóc và xăm mình đời nhà Trần đã
thay đổi, nghĩa là dân ta vẫn còn để tóc dài.
Tóm
lại, từ năm 1470 đến khoảng vài năm sau năm1777 dường như dân ta liên tục
để tóc dài. Nếu suy đoán thêm thì có thể nói rằng từ thời thuộc Minh đến gần cuối
đời nhà Lê dân ta để tóc dài.
Theo Wikipedia
.
Đen răng 顚 𪘵 là phong tục nhuộm răng đen để răng bền chắc, không bị sâu răng.
Đây là một nét văn hoá xưa, xuất phát từ tinh thần độc lập, tự cường chống lại
mưu đồ đồng hoá nhân dân ta từ thời kỳ bị đô hộ ngàn năm.
Như vậy, Vua Quang Trung tuyên bố một cách hùng hồn về mục đích đánh đuổi
quân giặc xâm lược Mãn Thanh là để độc lập, tự cường để lưu giữ phong tục, tập
quán truyền thống của dân tộc Việt. “Đánh cho để dài tóc, Đánh
cho để đen răng”.
Tuyên
ngôn mở đầu trong Bài Đại Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi năm 1427, sau khi chiến
thắng quân xâm lược Giặc Minh, ngời sáng như một áng thiên cổ hùng văn, đã minh
định lập trường nhân nghĩa truyền thống của dân tộc:
Cái văn:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.
Duy ngã Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bang.
Sơn xuyên chi phong vực ký thù,
Nam bắc chi phong tục diệc dị.
Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,[6]
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.
Đại cáo Bình Ngô – NguyễnTrãi.
*
Nguyên văn chữ Hán
蓋 聞 ﹕
仁 義之 舉, 要 在 安 民,
弔伐 之 師 莫 先 去 暴 。
惟, 我 大 越 之 國,
實 為文 獻 之 邦 。
山 川 之 封域 既 殊,
南 北 之 風 俗亦 異 。
自 趙 丁 李 陳 之肇 造 我 國,
與 漢 唐 宋元 而 各 帝 一 方 。
雖 強弱 時 有 不 同
而 豪 傑 世未 常 乏 。
*
Nghĩa là
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Bình Ngô đại cáo – NguyễnTrãi -
Bản dịch Ngô Tất Tố
*
Như
vậy, mục đích quật khởi tiêu diệt Quân Mãn Thanh xâm lược lần nầy là để giữ được
phong tục tập quán muôn đời của cha ông, của dân tộc Việt. Đó là lập
trường chính nghĩa xác đángcủa Đại quân Tây Sơn, của Hoàng Đế Quang Trung Nước
Ta.
Ba câu sau:Tinh thần quyết chiến, quyết thắng và lòng tự hào về đại quân
và dân tộc anh hùng
Đánh cho nó chích luân bất phản,
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn.
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.
打朱奴隻輪不返 .
打朱奴片甲不還
打朱史知南囻英雄之有主 .
Chích luân bất
phản, 隻 輪 不 蹯 : [xe còn] một bánh, không [tài nào] quay lại,
trở về xứ sở.
-Phiến giáp bất hoàn,
片 甲 不 㶎 :
[còn] một manh giáp, [đầy thương
tích] khó về. (binh tướng thua trận, giáp nát te tua, thảm
hại)
-Sử
tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ,
史 知 南 囻 英 雄 之 有 主.
Cho
lịch sử ghi, Nước Nam anh hùng, đây có chủ. Hay khái quát nâng cao
lên, nhấn mạnh khẩu khí, có thể hiểu cả câu:
“Đánh cho nó một
trận lừng danh thanh sử, để nó “biết mặt”, Nước Nam anh
hùng, đây có chủ.
Giá trị nghệ thuật của những lời hiểu dụ khẩu khí, quyết liệt, đầy sức
thuyết phục ở chỗ sử dụng những điệp từ đặt ở đầu câu, dồn dập, hùng hồn như
réo rắt kêu gọi; như nung nấu can trường; như một lời thề xung trận ào ạt, dạt
dào. “Đánh cho để...”, “Đánh cho để...”; “Đánh cho nó...” ,
“Đánh cho nó...”.
Có người nói,
về một số từ ngữ Hán Việt và cú pháp trong những lời hiểu dụ đó, có phần nào
chưa mang tính đại chúng.
Có thể tạm thời
ghi nhận điều trên. Đó là những nhóm từ:
Chích luân bất phản,
隻 輪 不 返 ,
Phiến giáp bất hoàn,
片 甲 不 還,
Sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ,
史 知 南 囻 英 雄 之 有 主.
Tuy nhiên, để cảm thụ những ý nghĩa sâu sắc của tuyên ngôn đó, chúng ta
phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, tức là đặt nó trong bối cảnh, trong
thời điểm, những giờ phút thiêng liêng, lúc Đại quân tuyên thệ,“thệ sư”, hừng hực
máu nóng sục sôi, trên dưới một lòng, vâng mệnh tuyệt đối, bừng bừng khí thế quật
khởi ngất trời. Trong những lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm
thêu đó, nếu chúng ta quá chú trọng đến tiểu tiết thì e rằng
chuyện đi vạch lá tìm sâu là một tính cách thiếu tinh tế của sự cảm
thụ văn chương.
Riêng tôi, khi đọc những lời hiểu dụ Hán-Nôm, có sử dụng lớp từ Hán
Việt trang trọng đó, thì không những nghe hơi văn sang sảng như thác đổ sóng gầm,
cuồn cuộn, quyết liệt tỏ lòng mình trước ba quân, tướng sĩ mà nó còn toát lên một
nét đẹp văn chương truyền thống, óng mượt như tơ vàng giữa đất trời như một
bài thơ khẩu khí đường bệ, đanh thép của một thiên tài quân sự tầm cở
thế giới, của một trang anh hùng dân tộc, Đấng Chủ Tể Nước Nam anh hùng.
(Tiếc rằng, Triều đại Vua Quang Trung ngắn ngủi, chính sự đa đoan, chưa
kịp cho biên soạn bản anh hùng ca siêu quần tuyệt luân, thần tốc, chiến thắng
vẻ vang quân giặc xâm lược Mãn Thanh thì đã sụp đổ. Nhà Nguyễn Gia Long, vốn
có thâm thù với Vua Quang Trung, một mặt diệt những chứng nhân (những đại thần
thời Vua Quang Trung, một mặt tiêu huỷ toàn bộ những sách vở(!), cho nên, đời
sau, muốn nghiên cứu, muốn hiểu biết tường tận chiến công hiển hách nầy thì
trong nước không còn tài liệu bao nhiêu (Chỉ còn có tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí, một số bản chép tay và một số tài liệu nước ngoài).
Tóm lại, để kết luận, năm câu nói hiểu dụ Tướng sĩ của Vua Quang
Trung chính là năm lời tuyên bố hùng hồn, chắc nịch, chủ động quyết
chiến và tự tin chiến thắng, tiên đoán như thần. Điều đó là một sự kiện lịch sử
huy hoàng của Việt tộc, để Người Anh Hùng áo vải cờ đào thiên cổ lưu danh. (
Xin mời đọc mẩu “Mạn đàm” trong một dịp “Trà dư tửu hậu” giữa hai bạn văn
chương ngẫu hứng sau đây):
[II] Maïn ñaøm
--Nghe anh có một bài thơ cảm đề
hay thơ dịch gì đó. Bài thơ chắc là hay lắm?
-- Cảm đề hay thơ dịch đều
đúng. Tôi xin đọc bốn câu đầu:
Đánh cho tan nát, vang trời,
Đen răng, dài tóc muôn đời, muôn nơi.
Ngựa xe gãy gọng tơi bời,
Tả tơi manh giáp rụng rời loạn quân.
Tôi cứ đắn đo cân nhắc lớp từ
"xơ xác", “xéo về” ,“chạy về”,“trốn về” hay“thoát về”. Cuối cùng ưng
ý như vậy.
-- Từ “xéo” là khẩu ngữ, phương ngữ và
cũng có nghĩa thông tục, coi khinh: giẫm bừa lên, chạy trốn, mất tăm. (Cũng được
đấy nhưng hạn chế vì phương ngữ nên phải bỏ).
“Thoát” là “thoát thân”, lấy hết sức bình sinh chạy
trốn, mong muốn mau mau ra khỏi tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mình. Về vần,
nó còn hợp vần với câu trên (tan nát) làm cho điệu thơ lấp láy, du dương.
“Tan nát”: bị
phá tan hoàn toàn, chỉ còn là mảnh vụn. Còn từ “tan tác”là vỡ ra, phân tán tứ
phía, mỗi nơi một mảnh. “Tơi bời”: không còn ra hình thù gì nữa, do bị tấn công
vô cùng mạnh mẽ, bất ngờ, dồn dập.
"Xơ xác": xơ và xác, tình trạng thảm hại,
không còn nguyên vẹn, lành lặn.
-- Hay lắm! Anh đã dịch rất đúng với nguyên tác. Còn phần còn lại?
-- Hơi kỳ kỳ! Góp ý coi!
Kình Nghê, chệt khựa gian giun,
Đánh cho bây tởn uy hùng Nước Nam.
Có mấy ý cần giải thích.
“Kình Nghê”: hai loại cá hung dử nhất ở Đại Dương, ám chỉ toàn
thể Triều Đại phong kiến phương Bắc, cụ thể Triều đại
Nhà Mãn Thanh.
“Chệt” biến
trại từ âm “chuột” có đuôi dài do người khách trú, khi mới sang Việt Nam, theo
phong tục Tàu, tóc để dài như đuôi chuột. Cái đuôi sam dài đó được “kết” hay “tết”
lại gọn gàng. Trong giao tiếp, ta thường nói “người khách trú có tóc đuôi chuột”;
cho thuận thanh âm và nói rút thành “cắc chú đuôi chệt”, rồi là “chú chệt”. Cuối
cùng biến trại thành “chệt”; chỉ những người Tàu lưu trú tại Việt
Nam kể từ thời Vua Minh Mạng trở đi. Cộng đồng Người chệt tỏa ra khắp hang cùng
ngõ hẻm trên đất nước ta, với đôi quang gánh trên vai tha hương cầu thực. Khẩu
ngữ dân gian đặt tên họ là “thằng cha chệt”, nói rút thành “thằng chệt” hay “chệt”
chỉ Người Tàu gốc Minh - Mãn Thanh đó.
Còn từ “khựa”,
theo phiên thiết của Từ điển Trung Quốc là gồm hai từ khắm+bựa. “Khắm” là mùi
hôi thối; “bựa” là mảng bám hôi hám trong răng miệng, trong vùng kín của thân
thể. Nói chung, “khựa” được dùng với ý miệt thị, khinh bỉ là thối tha, dơ bẩn.
Thuở còn học
trường làng, cứ vào trung tuần trăng sáng, những bọn nhóc chúng tôi thường chơi
trò chơi “ột ệt thằng chệt có đuôi”, ôm eo nhau, đồng thanh theo nhịp chân,
nghiêng qua ngã lại, tiếng cười vang rân rất ấn tượng.
Gian giun: Gian giun từ láy âm đầu, có sáng tạo, kết hợp theo kiểu “lao
lung”, “não nùng”, “ngại ngùng”, “vẫy vùng”,”bập bùng”,”đì đùng”,”hãi hùng””tứ
tung””trẻ trung”... gian giun là dối trá, thâm độc, khó hiểu như con
giun ẩn sâu trong đất.
Tởn: phương ngữ, đồng nghĩa với “kệch” là rất hãi hùng, khiếp đảm không
bao giờ dám tái phạm nữa .
Từ nay tôi kệch (cạch)
đến già.
Tôi chẳng dám lấy ruộng Bà nữa đâu.
Ruộng Bà vừa xấu vừa sâu,
Vừa bé hạt thóc vừa lâu đồng tiền
Ca dao
*
Một lần tôi tởn tới
già,
Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân.
Ca
dao
--Rất hợp lý. Nhưng nhắc anh hãy thận trọng trong sử
dụng từ “Tàu khựa” hay “chệt khựa”.
--À! Văn chương thì bay bổng, hư cấu. Nhất là bài
thơ đâu đá động gì đến thời sự hiện giờ (actualité) mà chỉ là sống lại
những trang sử huy hoàng của dân tộc mình. Những yêu ghét qua hồi tưởng hiện thực
lịch sử bấy giờ là những bồi hồi, xao xuyến của lòng tự hào. “Tàu khựa” hay “chệt
khựa” chỉ là ám chỉ giặc xâm lược Mãn Thanh mà thôi. Còn cả một dân tộc, mình
không có ý “quơ đũa cả nắm”. Bài xích, thì bài xích một chế độ có âm mưu và
hành động phương hại cho tổ quốc mình, bài xích cả một dân tộc thì đó là cái
quá đáng hay quá khích của người cầm bút. Như thế là sai và không hay
đâu. Ce qu’ est de trop, c’est mauvais.( Sự việc gì quá đáng
thì không hay).
--Vậy anh nên sửa lại như thế nào, cho thanh hơn đi!
Hình như có nhiều người dị ứng khi nghe từ “khựa”đó lắm.
--Thôi thì bỏ hết vậy! Sửa lại hai câu cuối
như vầy, bạn nghe thử, xem có được không:
Giặc Ngô lề thói gian tham,
Sử ghi, bây tởn
Nước Nam anh hùng.
Tôi chọn giặc Ngô chỉ giặc
Thanh,vì hai lẽ: một là Nguyễn Trãi đã sử dụng “Bình Ngô đại
cáo”; hai là:
Chẳng phải Ngô, chẳng
phải ta,
Đầu thì trọc
lóc, áo không tà.
Oản dâng trước
mặt, năm ba phẩm,
Vãi mọp sau
lưng sáu bảy bà.
Nhà
sư, Hồ Xuân Hương
“Lề”: Thói quen
đã thành nếp, thành lệ, khó thay đổi, như tục ngữ “Đất có lề, quê có
thói”.
“Thói”: cách sống,
hoạt động không tốt, lâu ngày thành quen thuộc, gắn bó, khó lòng bỏ được như
“thói đời”, “thói du côn”, “thói hư tật xấu”, “thói quen”, “thói thường”…“Lề
thói” tôi sử dụng ở đây không những nó là định ngữ cho “Giặc Ngô”, mà nó còn hợp
vần với”thoát về” ở câu trên:
“Cho bây
không manh giáp thoát về”;
“về” và “lề” vần với nhau.
--Ô! Đáng mười điểm! Không chê vào
đâu được! Hãy cẩn thận anh à! Mình già rồi! Tôi đi pha thêm một bình trà Ô Long
nữa nhé! Anh ráp lại bài thơ đó xem!
-- Tóm lại, để kết luận,năm câu
nói hiểu dụ Tướng sĩ của Vua Quang Trung chính là năm lời tuyên bố
hùng hồn, chắc nịch, chủ động quyết chiến và tự tin
chiến thắng, tiên đoán như thần, tôi sửa và ráp lại như vầy, xem được không:
Đánh cho tan nát, long trời,[7]
Đen răng, dài tóc muôn đời muôn nơi.
Ngựa
xe gãy gọng, tơi bời,
Tả tơi manh
giáp, rụng rời sài lang[8].
Sấm
sét quét sạch ngoại xâm,
Vẻ vang thanh
sử, Nước Nam anh hùng.
-- Ô! Tuyệt vời như hương vị
trà Ô Long! Đúng không?
--Có tuyệt vời chi đâu! Mạn đàm,
trà dư tửu hậu, tán gẫu[9] thôi
mà! ֎
Ngân
Triều
Chú thích:
[1] Theo Wikipedia, Thành
Thọ Hạc hay Hạc Thành, còn gọi là Trấn thành Thanh Hóa, là trấn lị
của trấn Thanh
Hóa thời nhà Nguyễn
[3] Trấn thành Thanh Hóa hình lục lăng, có chu vi 630 trượng (gần
2,6 km), cao 1 trượng (4 m), có hào bao quanh mặt ngoài. Thành mở 4 cửa: Cửa
tiền phía Nam, cửa hậu phía Bắc, cửa tả phía Đông Nam, cửa hữu phía Tây Nam.
Trong Thành là nơi ăn ở, trị vì của các quan đầu tỉnh.
[5] Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo
bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn
ngoan,
Tám thương ăn nói dịu dàng thêm xinh.
Chín thương em ở một
mình,
Mười thương con mắt hữu tình với ai
Ca dao
[8] Sài lang:chó sài và chó sói; chỉ quân giặc xâm lược phương Bắc độc ác,
hung tàn.
[9] tán gẫu: chuyện
không có chủ đích, chỉ cốt cho vui và đưa duyên trong thì giờ gặp nhau.
