Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo. Bài 19, Họa nhân, HXH

Bài số 19:
 
Hoïa nhaân

                                                           Hồ Xuân Hương

Thời gian xa cách thắm thoát đã hai năm. Nguyễn Du vẫn biền biệt nơi Hồng Lĩnh. Mẹ Xuân Hương thúc ép nàng lấy chồng.  Có anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, con cụ Lang, cậy người mai mối. Nhân có người về Hà Tĩnh,  Hồ Xuân Hương gửi thơ cấp báo:

Vài hàng viết thư gửi chàng mà chạnh lòng nước mắt rơi,

Tưởng rằng thức suốt năm canh ánh trăng vẫn còn đó, tưởng rằng em (nguyệt) có thể chờ đợi anh lâu hơn,

Nhìn lá nhuộm sương mai buổi sớm mà lòng thẹn (vì đã hẹn với chàng),

Màu sương khói chỉ làm rộn ràng nỗi buồn,

Bước ra ngoài nhà thẩn thơ trước gió,

Xa xa tiếng địch ai thổi chói tai (lời anh Lang xóm Tây theo ve vản nàng),

Muốn hỏi trăng già sao khe khắc với tình duyên đôi ta,

Trêu nhau làm chi mà xe mối tơ không trọn vẹn để đôi ta xa nhau.

Phạm Đình Hổ đã chứng kiến, việc mẹ gã Xuân Hương cho anh thầy Lang, có lẽ cũng là học trò cụ Đồ Diễn, thư sinh ngày xưa không thi cử làm quan thì cũng hành nghề: Y, Lý, Bốc, Số, anh Lang không thi cử, trở về tiếp tục nghề nghiệp của cha. Bài Hoài Cổ. (Nhớ xưa) Phạm Đình Hổ viết về Xuân Hương, tôi dịch như sau: 

Năm xưa hoa đào nở,

Em tôi học cài trâm.

Năm nay hoa đào nở. 

Mẹ gả xóm Tây gần.

*

Năm nay hoa đào nở,

Gió Xuân sao lạnh lùng.

Em nhìn hoa mà khóc.

Sầu vương nét mi cong.

*

Năm nay hoa đào nở,

Cỏ xuân mượt trời mơ.

Bên hoa em cười nụ,

Ngâm thành tự đề thơ.
            *

Phạm Đình Hổ là người ham học hỏi, thấy người tài là đến chơi, thấy nhà ai có nhiều sách hay thì đến đọc, thấy việc gì cũng ghi chép. Trong thơ văn ông, tôi khám phá, ông chứng kiến mối tình Xuân Hương với Nguyễn Du, với anh Thầy Lang, với Mai Sơn Phủ, và cho Xuân Hương mượn tiền để mở quán sách Phố Nam thành Thăng Long, cạnh đền Lý Quốc Sư và trường ông Nghè Phạm Quý Thích, sau khi Xuân Hương dứt tình với Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Xuân Hương không tự đề thơ, mà viết bài thơ cuối cùng cho Nguyễn Du.

*
Họa nhân

Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu; 
Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lâu. 
Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn, 
Sương pha khói biếc rộn thêm sầu. 
Thẩn thơ trước viện, nhà khoe gió, 
Đồng vọng bên tai, địch thét đâu, 
Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy, 
Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.

Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương. Lưu Hương ký

*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn:

和 人

𠄧洚𡨸䌝𢤜惗珠

𢣂想𠄼更月嚱婁

𦲿染式籃沾𡲈𢢆

霜波𤌋碧吨沾愁

矧𠽔𠓀院茄誇𩙍

同望边𦖻笛𠯦兜

嚈𠳨綾𦓅慀吃悲

嘲饒之仍𥿥箕裘

*
   

Trăng già sao nỡ duyên khe khắc!

       Xe mối tơ xa, biết có tròn? Ngân Triều

                                                                  Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI.

*

Ngân Triều cảm đề, bài Họa nhân:

Thư gởi đến chàng rơi nước mắt,
Năm canh cứ tưởng nguyệt luôn còn. 
Sương mai lá nhuộm lòng thêm thẹn, 
Khói trắng giăng giăng rộn nỗi buồn, 
Thơ thẩn ngoài sân trời nổi gió, 
Xa xa tiếng địch hú buồn nôn.
Trăng già sao nỡ duyên khe khắc!
Xe mối tơ xa, biết có tròn?

***

Tham khảo:

Hồ Xuân Hương, Bà Lang khóc chồng.

Lo lắng trước tình duyên của con gái, đã hai mươi bốn tuổi mà vẫn còn chờ đợi Nguyễn Du, ngày cưới hỏi vẫn chưa thấy đâu. Xóm Tây, con thầy Lang làng Nghi Tàm cậy mai mối đến hỏi cho con trai, cũng làm nghề thầy lang, cũng là học trò cụ Đồ Diễn. Gả con về Hà Tĩnh cách trở xa đường, còn con thầy Lang dầu sao cũng xóm làng gần. Hồ Xuân Hương gửi thơ bao lần thúc dục Nguyễn Du, Bài thơ nguyên là một ghi chú dài dòng nhân có ông ... về Hồng Lĩnh gửi thơ cho chàng:

Vài hàng viết thơ gửi chàng mà nước mắt rơi lai láng, nghĩ tưởng rằng em sẽ chờ đợi chàng được lâu. Nhìn lá nhuộm sương buổi ban mai mà lòng thêm thẹn, màu sương khói chỉ làm rộn thêm nỗi sầu. Em thờ thẩn trước nhà, nhà đang sửa soạn chưng diện đám hỏi, lòng em trống trải, như nhà chưng diện để khoe với gió. Vì lòng em đã chán nghe những lời tán tỉnh của anh Lang như tiếng địch (tiêu, sáo dọc) thét bên tai, anh chàng thổi sáo dở, lại cứ đem địch thổi bên tai nghe chói như tiếng thét (ngày nay, mang đàn vĩ cầm đi tán gái, không cần người yêu than chói tai, hàng xóm cũng lấy trộm mất cây đàn vĩ cầm). Muốn hỏi trăng già sao khe khắt với tình yêu đôi ta, trêu nhau chi mà se những mối tơ không trọn vẹn để cho đôi ta phải xa nhau !

*

Nguyễn Du bặt tin. Hồ Xuân Hương không còn lối thoát đành lên kiệu hoa về nhà chồng, thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.

Theo Gs Hoàng Xuân Hãn, tương truyền người chồng thứ nhất Hồ Xuân Hương là một thầy thuốc, con một thầy lang, đám cưới chưa được bao lâu thì thầy lang đi chữa bệnh chẳng may bị nhiễm bệnh mất. Xuân Hương viết bài Bà Lang Khóc Chồng. Bản Quốc Âm Thi Tuyển chữ nôm tựa Khóc Chồng Làm Thuốc.

Bà lang khóc chồng:

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì ?
Thương chồng nên khóc tỉ tì ti.
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo,[1]
Cay đắng chàng ơi vị quế chi.[2]
Thạch nhủ,[3] trần bì [4] sao để lại,
Qui thân,[5] liên nhục [6] tẩm mang đi.
Dao cầu,[7] thiếp biết trao ai nhỉ ?
Sinh ký chàng ơi, tử tắc quy. [8]

*
 Bản chữ Nôm: (Ghi theo Hồ Xuân Hương thi tập, bản chép tay, Quán Ven Đường mượn của Viện Đại Học Yale, USA, trang IX; phần mềm Winvnkey và Đại Từ Điển Chữ Nôm, Vũ Văn Kính).

  [Xin tham khảo bài 2, chương III trang 166]       

                            Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:

       妑 俍  哭   𫯰

                   永    永    腮    𦖑   㗂    哭   夷

                   傷    𫯰    𦖑    哭   比    砒   絲 

                                           𤮿   裴    妾    𫺈    味   甘   草

                   咳    噔   払     喂    味   桂   枝

                   石    乳    陳    皮    燒    底   吏

                   歸   身    連     肉    浸   茫   𪠞

                   刀    梂    妾    别    牢   埃   咡

                   生   寄    払     喂    死   則   歸

Chú giải:

 Tỉ tì ti: 比 砒  絲 ,hài thanh, tiếng khóc thê thảm, đau đớn, láy ba.

(1-2) :Giới thiệu bà lang khóc chồng

(3-4): Hồi tưởng những cảnh sung sướng và khổ sở;  ngọt bùi, cay đắng; cùng chia sẻ với nhau trong đời sống vợ chồng.

Chơi chữ dùng 2 món thuốc cam thảo: 甘 草 vị ngọt và quế chi: 桂 枝vị cay. Vừa là 2 vị thuốc Bắc, vừa chỉ những kỷ niệm về hạnh phúc và khổ sở cùng nhau.

(5-6): Trách chồng để lại và mang đi:

Chơi chữ dùng 2 vị thuốc thạch nhũ: 石 乳: nhũ: 乳: bộ phận cho sữa nuôi con lúc bé chưa ăn được; trần bì 陳 皮; bì: da, cái đẹp thứ 2 của người phụ nữ: nhất dáng, nhì da).

Như vậy, 2 chi tiết thạch nhũ và trần bì chỉ cái đẹp mà người chồng để lại, tức là chính người vợ, tu từ hoán dụ, chi tiết - tổng thể).

Quy thân, 歸 身, liên nhục, 連 肉: vị thuốc, mà còn chỉ  chi tiết,  người chồng mang theo.

Quy thân, quy: 歸vừa là tên 1 vị thuốc, vừa là cục  hạch, glande;

liên nhục: 連 肉tên thuốc là hạt sen đã bóc vỏ, bỏ mầm rồi; có thể  ẩn dụ đến chi tiết đặc trưng về giới tính của người chồng. Thật rất hóm hỉnh, thanh và tục chứa chan.

(7) Dao cầu:  刀 梂: dụng cụ dùng để cắt mỏng thuốc, vừa có ý nghĩa trái cầu để kén chồng. Ý nói sau nầy người vợ biết lấy ai.

Mặt khác, anh Jean Sary, giải thích câu "Dao cầu/ thiếp/ biết/ trao/ ai nhỉ": "Ngoài ẩn dụ về chiếc dao cầu của ông lang, tác giả còn thêm vào một cách chơi chữ: nếu đổi dấu thanh của chữ thứ hai, ta sẽ có dao cấu, đọc như giao cấu". Nếu lưu ý rằng quê Hồ Xuân Hương ở Nghệ An, chúng ta sẽ thấy lý giải của Jean Sary rất thú vị.

Theo Jean Sary - nhà thơ Pháp dịch thơ Hồ Xuân Hương, Ngô Tự Lập

(8) Tự an ủi:

Đời người thì sống gởi, thác về .

Đó là định mệnh, là qui luật, trên đời không ai tránh khỏi.

          Xuân Hương không yêu thầy lang nên đùa bỡn, mượn tên các vị thuốc : Cam thảo, quế chi, thạch nhủ, trần bì, qui thân, liên nhục và Dao cầu để sắc thuốc bắc, từ nay thân phận thiếp biết trao cho ai. Hồ Xuân Hương không cho mối tình này nằm trong tình sử của mình nên cũng không chép trong Lưu Hương Ký.

*****



[1] Cam thảo : 甘草thân cây có chất ngọt.

[2] Quế chi : 桂 枝cành vỏ quế có quế vị cay, có quế vị đắng.

[3] Thạch nhũ: 石 乳,  một loại lá trà, cũng có nghĩa là vú đá trong hang động.

[4] Trần bì : 陳 皮,   vỏ quýt phơi khô, nghĩa bóng cái giống người nữ hay người nữ trần truồng.

[5] Qui thân : 歸 身, tên 1 một loại thuốc, nghĩa bóng là qui đầu, dương vật.

[6] Liên nhục : 連 肉,  hột sen nghĩa bóng là thân thể.

[7] Dao cầu : 刀  梂,  một loại dao xắt lát thuốc Bắc.

[8] Cả câu: Sinh ký tử qui : 生 寄 死歸Sống gửi thác về, lấy từ sách Hoài Nam Ký.

 


Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND, tiếp theo. Bài 18: Thu nhật ký hứng, Nguyễn Du.

 Thiên tình sử của HXH & ND, tiếp theo.

Bài số 18:
Thu nhaät kyù höùng.
(Thu nhật ký hứng)
Nguyễn Du
Nguyễn Du lại viết một bài thơ Thu nhật ký hứng, mở đầu bằng chữ Tây Phong đáp lại bài thơ Thu nhật tức sự của Hồ Xuân Hương:
Gió Tây mới đến, anh vẫn chưa về
Mà đã thấy khí trời lạnh lắm.
Non sông nước cũ ngắm trông buổi chiều tà.
Dù có xa em thân thế mặc như đám mây trôi nổi.
Giật mình sợ cái cảnh già đến,
Đêm qua tiếng gió thu ở đâu nổi lên.
Cười mình đầu bạc mà còn vụng thu xếp,
Để lá vàng rơi rụng đầy sân.
Gió Tây ám chỉ Tây Sơn, bài thơ còn ký thác tâm sự Nguyễn Du:
Vì Tây Sơn ra Bắc nên chàng chưa về Thăng Long, không khí chính trị làm cho lòng dạ tái tê. Nhìn non nước cũ nhà Lê thời vận đã tàn, ở quê mình mà cũng như quê người, thân phận tha hương vẫn như đám mây trôi nỗi (khóc cười theo thời thế, im lặng giữ thân) Sợ rằng tuổi ngày một cao mà chưa làm nên việc gì, Đêm trước có nghe gió thu, từ phương Nam
Lạy trời cho chóng gió Nồm,
Để thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra
mọi người đều hay biết.
Tự trách mình bạc đầu còn vụng tính, để cho lá vàng rơi rụng đầy sân.
Ngày thu cảm hứng
Thu nhật ký hứng
Gió Tây mới đến khách chưa về,
Khí lạnh mười phần dạ tái tê.
Nước cũ non sông trời lặng ngắm,
Quê người thân thế gửi mây che.
Cái già chợt sợ nay đà đến,
Thu đến nơi nơi đêm trước nghe.
Tự trách bạc đầu ta vụng tính,
Lá vàng rơi rụng, rụng đầu hè.
*
Tây phong tái đáo bất qui nhân,
Đốc giác hàn uy dĩ thập phần.
Cố quốc hà sơn khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân.
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị,
Hà xứ thu thanh tạc dạ vân,
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu thập
Mãn đình hoàng lạc diệp phân phân.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.
Chú giải:
Bạch đầu: 白 頭, Nguyễn Du thường tả mình đầu bạc, có lẽ ông bị bệnh bạc tóc sớm. Thế kỷ 18,19 tuổi thọ trung bình người Việt Nam chỉ trên năm mươi. Đặc biệt làng Tiên Điền có tục ăn lão năm 53 tuổi, trên tuổi này được xếp vào hạng trưởng lão, ăn trên ngồi trước trong làng. Anh em Nguyễn Du chỉ sống trên dưới 55 tuổi.
Tha hương: 他 鄉, Nguyễn Du còn ở Hà Tỉnh, đang nghĩ chuyện tha hương, vào Nam theo Chúa Nguyễn Ánh.
Tham khảo Bản chữ Hán, Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ dịch thơ, bài số 111, trang 238,NXB Văn Nghệ, 2007.
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋 日 寄 興
Thu Nhật Ký Hứng
西 風 再 到 不 歸 人
Tây phong tái đáo bất quy nhân
頓 覺 寒 威 已 十 分
Đốn giác hàn uy dĩ thập phân
故 國 河 山 看 落 日
Cố quốc hà sơn khan lạc nhật
他 鄉 身 世 托 浮 雲
Tha hương thân thế thác phù vân
忽 驚 老 景 今 朝 是
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị
何 處 秋 聲 昨 夜 聞
Hà xứ thu thanh tạc dạ văn
自 哂 白 頭 欠 收 拾
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu thập
滿 庭 黃 葉 落 紛 紛
Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân.
*
Dịch nghĩa: Ghi hứng ngày Thu
Gió thu tới chưa được về,
Chợt nghe rét mướt sắt se gấp mười.
Chiều tà non nước trông vời,
Quê người thân thế nổi trôi không nhà.
Sáng nay chợt sợ cảnh già,
Tiếng thu xào xạc đêm qua chốn nào.
Trách mình vụng tính bạc đầu,
Lá vàng lả tả xạc xào đầy sân.
*
Gió thu lại về, nhưng tác giả chưa được nghỉ ngơi. Cái lạnh như lạnh thêm gấp mười. Niềm nhớ quê làm người xa quê thấy mình như mây nổi, thấy sợ cảnh già, chẳng còn biết tiếng thu ẩn náu nơi nào. Chỉ còn trách mình vụng tính. Đầy sân lá vàng rơi lã tã.
*
Nước cũ chiều tà như gấm vóc, /Tha hương thân thế, mây lê thê.
Ngân Triều/ Ảnh minh họa Google
*
Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI:
Ngân Triều cảm đề bài Thu Nhật Ký Hứng:
Gió Tây mới đến, vẫn xa quê,
Lãng đãng khí trời lạnh tái tê.
Nước cũ chiều tà như gấm vóc,
Chạnh lòng thân thế, mây lê thê.
Cảnh già sợ lắm nay đà biết,
Tiếng gió thu đâu lại trở về.
Đầu bạc tự trào còn vụng tính,
Lá vàng rơi xào xạc đầy hè.
Ngân Triều.
***