Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

Thơ hay chọn lọc, trích Lưu Hương Ký của HXH, bà 3 và 4 (tiếp theo)

 Thơ hay chọn lọc, trích Lưu Hương Ký của HXH, bà 3 và 4 (tiếp theo)

Bài số 3:
 Döõ Sôn Nam thöôïng,

Hieäp Traán quan Traàn Haàu xöôùng hoïa (baøi 1)

              (Dữ Sơn Nam thượng, Hiệp Trấn Quan Trần Hầu xướng họa, bài 1)

Xuân Hương xướng:

                                      

Biệt ly bịn rịn tình lưu luyến,/ ảnh minh họa, Google

Bình  thủy tương phùng, nguyệt hạ tôn,     

Cương trường phiến phiến thuộc nan ngôn.

Khiêu cầm hữu ý minh hoàng xướng,        

Nhiễu thụ vô đoan ngữ thước huyên.

Thùy tục già thanh quy Hán Khuyết,          

Tự tu liên bộ xuất Hồ môn.

Bán diên biệt hậu tình đa thiểu,                  

Mạch mạch không ly sảnh nữ hồn.

Câu 7, hậu , trong Lưu Hương Ký chép là hận

Văn bản chữ Hán, Ngân Triều soạn, bài 3:

            ,

苹 水 相 逢 月 下 樽    

剛 膓 片 片 属 難 言

挑 琴 有 意 明 皇 唱

𣗳 無 端 語 鵲 喧

誰 續 𡂪 聲 歸 熯 闕   

自 羞 蓮 歩 岀 胡 門

半 沿 别 後 情 多 少

陌 陌 空 離 清 女 魂

Chú giải:

Bình  thủy  苹水= bèo và nước.

tương phùng    = cùng gặp nhau.

nguyệt hạ   = dưới trăng.

tôn = chén rượu.

Cương trường    = ruột cứng , tấm long quả quyết, tấm long son.

phiến   = khúc, đoạn, mảnh.

nan ngôn  = khó nói nên lời.

Khiêu cầm    = đàn lên.

hữu ý      = có  ý, chủ ý.

minh hoàng xướng      =tơ  khúc Minh  Hoàng, nhạc thiều Minh Hoàng.

Nhiễu thụ     𣗳=quanh gốc cây.

  đoan    = không biết vì sao.

ngữ thước huyên   =chim khách réo vang.

Thùy tục = ai tiếp nối.

già thanh  𡂪  = tiếng xen vào.

quy Hán khuyết  歸熯闕 =về cửa cung nhà Hán

Tự tu     =tự xấu hổ, lòng buồn.

liên bộ     =bước chân như hoa sen; gót sen, bước chân mỹ nhân.

xuất Hồ môn   = đi qua cửa “rợ” Hồ.

bán diên 沿 = noi theo nửa cái cũ.

Biệt hậu   =sau khi cách biệt.

Tình đa thiểu   = tình nhiều ít, biết bao.

Mạch = con đường nhỏ.  

Không ly    = xa rời vô nghĩa, lìa tan.

sảnh  nữ  hồn  = hồn của người con gái đáng thương, lạnh lùng.

Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 3:

Thân bèo nước gặp nhau nâng chén rượu dưới trăng.

Tấc lòng son sắt thật là khó nói.

Gọi đàn, vì có ý mà gảy khúc Cầu Hoàng.

Quanh cây không cơn cớ gì mà chim thước réo vang. (chim khách).

Ai chuộc tiếng kèn Hồ trở về cung Hán.(Ai tấu lên bài Quy Hánđó!)

Tự thẹn về việc gót sen  đi qua khỏi cửa rợ Hồ.

Sau phút ly biệt, còn lưu luyến biết bao tình.

Lớp lớp khôn rời hồn người con gái đáng thương.

Thơ của Ô.Trần Thanh Mại:

Gặp gỡ dưới trăng chuốc chén mời, 
Lòng son đòi đoạn chẳng nên lời. 
Khúc đàn ai gảy đà đưa ý, 
Ngoài ngõ khách kêu chẳng thấy người. 
Ai chuộc tiếng kèn về Hán đó ? 
Tủi lê gót ngọc đất Hồ rồi! 
Biệt ly dở tiệc tình lưu luyến, 
Hồn Sảnh sầu đau mạch mạch khơi.

Bèo nước cùng nhau, chén dưới trăng,

Ruột gan, lòng muốn tỏ, sao đang?

Ngân Triều, Ảnh Google.

Ngân Triều cảm đề

Bèo nước mời nâng chén dưới trăng, 

Ruột gan, lòng muốn tỏ, sao đang?

Tiếng tơ, réo rắt Minh Hoàng khúc, 

Chim khách cớ gì bay réo vang?

Ai tấu lên bài Quy Hán đó? 

Thẹn nhìn  mỹ nữ cống Hồ man!

Biệt ly bịn rịn sầu muôn nỗi,[1]

Hồn nữ lâm ly[2] lệ ướt  khăn.[3]

***
Tham khảo một số bài họa của Hồ Xuân Hương:

Xướng hoạ cùng ông Trần Hầu - quan Hiệp trấn Sơn Nam thượng. Trấn Sơn Nam thượng gồm đất của hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên sau này. Trị sở đặt ở Châu Cầu (Phủ Lí).

Bài này cũng được chép trong sách Tục Hoàng Việt thi tuyển, nhưng lại được coi là bài thơ Hồ Xuân Hương hoạ thơ ông Hiệp trấn. Còn Lưu hương kí thì cho rằng đây là bài xướng của Xuân Hương. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn căn cứ theo Tục Hoàng Việt thi tuyển.

                                   

Văn chương diện kiến tiếng hằng mong,

Ghé bến thuyền mơ lúc rạng đông.

Ngân Triều.Ảnh minh họa, Google.

    /胡春香

 名 久      
近 接  光          
 

       

 

               Döõ Sôn Nam Thöôïng, Hieäp trn quan Trn Haàu

               (Dữ Sơn Nam thượng, Hiệp Trấn Quan Trần Hầu)

Xướng hoạ kỳ 5 

Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng, 
Cận tiếp quang nghi nhật chính đông. 
Hậu ý thuỷ giao tri thuỷ đạm, 
Tình hoài sơ ẩm giác thuần nùng. 
Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng, 
Ngã bối tài tình chính sở chung. 
Ác thủ đàm tâm quân mạc quái, 
Lục giang nhất khứ thuỷ thiên trùng.

Hồ Xuân Hương

Bài xướng của Hiệp trấn quan Trần Hầu

Gửi bởi Vanachi ngày 22/08/2008 10:55

Hoa viện hoa nhân thử độ phùng, 
Lĩnh mai hàn ảnh nhập sơ đông. 
Vị tằng đổ diện tâm tiên mộ, 
Khởi dẫn liên thi ý thuỷ nồng. 
Xuân tịch vị ly song nhãn lệ, 
Phật đài thuỳ hoán sổ thanh chung. 
Ân cần lưu thủ thiên biên nguyệt, 
Nhất biệt tây nham hựu vạn trùng. 

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn 

Người đẹp nhà hoa lại gặp cùng, 
Mai non bóng lạnh buổi đầu Đông. 
Chưa từng gặp mặt lòng đà mến, 
Há phải trao thơ ý mới nồng. 
Chưa khỏi tiệc xuân đôi mắt lệ, 
Ai khua đài Phật tiếng chuông rung. 
Ân cần lưu lại trăng trời biển, 
Một biệt non tây lại vạn trùng.

Chú giải:

Tiêu đề: Xướng họa cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng.

Trấn Sơn Nam thượng gồm đất của Hà Nội và Hưng Yên ngày nay. Lỵ sở đặt ở Châu Cầu (Phủ Lý).

Bình thủy tương phùng,    逢, bèo và nước gặp nhau, chỉ sự gặp gỡ ngẫu nhiên. Theo thơ Vương Bột, (Vương Bột, tự Tử An là một nhà văn nổi tiếng thời kỳ đầu nhà Đường, 6 tuổi đã biết viết văn chương, 14 tuổi đã sáng tác thơ ca, 15 tuổi thi đỗ cử nhân):

"Quan san nan việt,

Thùy bi thất lộ chi nhân?

Bình thủy tương phùng,

Tận thị tha hương chi khách".

關山難越

誰悲失路之人

萍水相䙜

盡是他鄕之客

Nghĩa là:

Quan san ngàn dặm mòn chân bước,

Biết có ai thương nhỡ độ đường?

Gặp nhau khi bèo giạt bờ nước,[4]

Mới hay đều là khách tha hương.

*

          Gặp nhau bèo nước liêu xiêu,

Biển đời trôi giạt trăm chiều, tha hương.

Ngân Triều

Bình thủy tương phùng, bèo nước gặp nhau, trong văn chương còn để chỉ thân phận người phụ nữ như cánh bèo trôi trên dòng nước:

          Vì ai rụng cải rơi kim!

Để con bèo nổi mây chìm vì ai?

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 769-770

          Ngọn bèo chân sóng lạc loài,

Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly.

 ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2871-2872

Nhất Uyên dịch nghĩa: 

. Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương nay mừng được gặp mặt 
          . Lại được tiếp cận dung nghi vào lúc hừng đông 

. Vốn sẵn nhã ý, nên dù trước chưa từng gặp nhau nhưng đã biết tính tình thanh đạm. 

. Vừa nhấp chén đã thấy cái tình nồng nàn, đôn hậu dâng lên.

. Thanh khí của cả vùng vẫn còn được ưa chuộng .

. Tài, tình của chúng ta được chung đúc chính nơi đây.

. Cầm tay thổ lộ nỗi lòng, xin chàng chớ ngại,

. Vì sau khi chàng qua sông Lục Đầu, lại muôn trùng xa cách.

(1)

Bản dịch của Điệp Luyến Hoa

Gửi bởi Vanachi ngày 10/08/2007 20:17

Nghe danh ngưỡng mộ, gặp vui mừng, 
Được tiếp dung nghi lúc chính đông. 
Ý hậu chưa qua hay nước đạm, 
Tình hoài vừa nhắp đã hương nồng. 
Tài tình chung đúc cho hai kẻ, 
Thanh khí mến yêu khắp một vùng. 
Tỏ dạ cầm tay xin chớ lạ, 

 Lục Đầu một bước đã nghìn trùng.

(2)

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Gi bi Vanachi ngày 22/08/2008

Lâu nghe danh tiếng gặp nhau mừng, 
Gần ngó dung quang nắng giữa đông. 

Ý đậm vừa quen hay nước đạm, 
Tình mong vừa chuốc biết men nồng. 
Châu ta thanh khí thêm ưa chuộng, 
Cùng hội tài tình nhẽ vốn chung. 
Tay nắm lòng trao người chớ lạ, 
Một đi sông Lục nước ngàn trùng.

            *

Lục Đầu xuôi, mãi nhớ muôn trùng, Ngân Triều/

Ảnh Cồn Kiếm trên Lục Đầu Giang, Google.

(3)

Ngân Triều cảm đề:

Văn chương diện kiến tiếng hằng mong,

Ghé bến thuyền mơ lúc rạng đông.

Chưa biết, biết chung lòng đạm bạc,

Nhắp môi, môi đắm đuối tình nồng.

Giao tình lễ giáo hằng trân trọng,

Xướng họa thanh cao ý chữ đồng.

Chớ ngại nỗi niềm khi đã tỏ,

Lục Đầu xuôi, mãi nhớ mênh mông.

***

Bài số 4:
Ñoä Hoa Phong

                            (Độ Hoa Phong)

  Hồ Xuân Hương

                               

Buồm thơ thong thả lượn Hoa Phong, Ảnh Google

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,

Tiểu bích đan nhai xuất thủy trung.

Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,

Sơn hình tà kháo thủy môn thông.

Ngư long tạp xử thu yên bạc,

Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.

Ngọc động vân phòng tam bách lục,

Bất tri thùy thị Thủy tinh cung.

Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn.

  


 
 
 
 

 

Nhất Uyên phiên âm Độ Hoa Phong 

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong, 
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung. 
Thủy thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển, 
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông. 
Ngư long tạp xử thu yên bạc, 
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
 
Ngọc động vân phòng tam bách lục 
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Chú giải:

Trong sách Phượng Sơn Từ chí lược cũng như Đại Nam dư địa chí ước biên, chép 5 bài thơ, không có tiêu đề riêng cho từng bài, chỉ đề Chu thử Hoa Phong tức Cảnh bát thủ.

Tháng 2 năm 1962, Ông Trần Văn Giáp đã giới thiệu 5 bài trên báo Văn Nghệ.

Năm 1983, Gs Hoàng Xuân Hãn đã đặt tên cho từng bài thơ có phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ…và được ông công bố trong Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long, tập san KHXH Paris, 1984, như sau:

Độ Hoa phong

Trạo thanh ca

Nhãn phóng thanh

Thủy Vân Hương

Hải ốc trù

 (Do sắp xếp tiêu đề  thơ theo ABC, nên có thể các bài trên không liên tiếp nhau.

Xin thành thật cáo lỗi cùng quý vị độc giả, Ngân Triều).

Vũng Hoa Phong, tức Vịnh Hạ Long, lấy tên từ địa danh huyện xưa, sau đổi thành Nghiêu Phong, vì huyện nầy có nhiều đảo nhỏ.

Cá rồng, chỉ tên l loài thủy tộc. Riêng ở đây, theo huyền thoại, xưa có rồng giáng xuống cho nên được gọi là Hạ Long.

Trong thời cận đại,các thủy thủ, kể cả hải quân Pháp, đã từng thấy hình dạng của rồng uốn khúc, nổi trên mặt biển, dài khoảng 30 mét, được gọi là “rắn biển”.

Ảnh minh họa rắn biển khổng lồ, Google.

Ảnh rắn biển khổng lồ tấn công tàu biển,

bản đồ của Chef Van Duzer, 1539, Google.

Âu, là giống chim biển, đầu giống chim bồ câu, chân giống chân vịt, còn được gọi là chim hải âu.

Ảnh chim mòng biển (trên) cướp mồi

của chim hải âu (dưới), Google.

Câu 7: Người xưa tin rằng, con người có thể tu luyện ở những nơi thanh tịnh, trong các hang động, thường có mây phủ, theo Tiên pháp để trở thành bất tử. HXH ghi là có 306 động Tiên, có thể Bà muốn chỉ số lượng rất nhiều của tiên giới nhưng trong các văn thơ khác, thường chỉ nói có 36 động tiên.

Thủy Tinh cung, , chỉ cung điện, nơi tiên ở, ngoài biển.

Nhất Uyên dịch nghĩa:

Qua Vũng Hoa Phong, (Vịnh Hạ Long).

Lá buồm không vội vượt qua Vũng Hoa Phong,

Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chói dựng lên.

Thế nước tùy chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.

Bình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.

Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.

Âu cò cùng bay trong ráng đỏ trời chiều.

Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây

Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh

                               Dịch thơ:

(1)Bản dịch của Gs Hoàng Xuân Hãn

Gửi bởi Vanachi ngày 28/04/2006 07:30

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong. 
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng. 
Dòng nước lần theo chân núi chuyển, 
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông. 
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt, 
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng. 
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc, 
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

(2) Bản dịch của Trương Việt Linh

Gửi bởi vietlinh11 ngày 26/07/2016 11:12

Mảnh buồm thong thả vượt Hoa Phong 
Vách đứng bờ son dựng giữa dòng 
Thế nước đổi thay tuỳ núi chuyển 
Hình non nghiêng lại để dòng thông 
Trời chiều bóng nhạt soi le nhạn 
Khói toả hơi thu khuất cá rồng 
Động ngọc phòng mây ba sáu chỗ 
Biết đâu là chốn Thuỷ Tinh cung

(3) Ngân Triều cảm đề:

Buồm thơ thong thả lượn Hoa Phong,

Đá  đứng, sườn son, nổi giữa dòng.

Sóng tỏa dạt dào ôm ấp núi,

Bóng lồng nghìn núi đợi chờ trông.

Cá rồng lẩn khuất dòng thu nhạt,

Âu diệc cùng bay với ráng hồng.

Nghe nói Cõi Tiên băm sáu động,

Thủy Tinh có phải chốn nầy không?



Chú thích:

[1] Biệt ly, , bịn rin, quyến luyến, như không nỡ rời xa; đứt ruột, tình cảm ấy, không bút mực  nào tả xiết.

[2] lâm ly: 淋漓, buồn thảm, thổn thức không ngăn được suối  lệ tuôn trào, ràn rụa như mưa.

[3] Sảnh nữ hồn: 倩女魂, tâm hồn người con gái phải cống Hồ đáng thương. Trong văn cảnh nầy xin thay bằng “lệ ướt  khănnhư trên.

[4] bờ nước: chỗ phân giới giữa bờ và nước. Câu (1) ý nói, thân phận như cánh bèo trôi giạt giữa dòng nước cuốn trôi, lênh đênh. Khi tạm thời ổn định, gặp nhau, mới biết là cùng chung cảnh ngộ, phải sống lạc loài nơi đất khách, xa quê hương dấu yêu.