Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

Bài 16, chương 2, Đề Chùa Tiêu Sơn, Phạm Thái; chú giải, Ngân Triều.

 


Ảnh minh họa: Cổng chùa Tiêu Sơn, Bắc Ninh, Google.

[16] Đề chùa Tiêu Sơn, Phạm Thái.

Tiếng kình réo rắt giục vầng son,

Đưa khách tầm thanh[1] tới phạm môn.[2]

Gió thổi hiu hiu vàng cửa động,

Gấm thêu san sát thắm sườn non.

Đá xây chan chứa kinh dài ngắn,

Hoa phấn xôn xao nhạn véo von.

May gặp cao tăng khi giảng đạo,

Khề khà say thú một bầu ngon.

         Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932 trang 6
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

題廚蕉山

鯨坕溧欲暈𣗾,

迻客尋清細范門.

𩙍𠺙咻咻黄𨷯,

錦繞山擦嘇傖𡽫.

𥒥搓滇渚涇𨱾,

𠮿嗃雁𠶓𠹚.

𢆧趿高僧欺講道,

𠿁趣沒蔀𤯆.

Diễn ý bài thơ:

Tiếng chày kình nện chuông vang xa như giục vầng son mau mọc lên, cho ngày mới bắt đầu,

Đưa người khách tìm chốn thanh cao đến cổng chùa.

Gió thồi nhè nhẹ, hiu hiu, đun đưa với những chiếc lá vàng rơi vèo ngoài cửa động, gió và lá vàng cùng đùa vui với nhau, như cửa động có màu vàng.

Trên sườn núi, những mảng rêu san sát kề nhau, như gấm thêu, rất xanh tươi đẹp mắt, thắm, nghĩa hàm ẩn.

Kìa là những đá xây, dọc bờ kinh, dài hay ngắn, với nước lênh láng, tràn đầy, chứa chan.

Đó đây, hoa phấn bay đầy, xôn xao; trên không lại có tiếng chim nhạn hót nghe cao mà thanh, véo von.

Rất may mà được gặp vị cao tăng, khi cùng ta đàm đạo, khi giảng đạo.
Ta cùng với thiền sư nhắm nháp chút rượu, khề khà, cùng thích thú, say thú, thưởng thức một bầu rượu ngon, một bầu ngon.

(Hai câu kết có lẽ tác giả cường điệu và thi vị hóa mà thôi, không có chuyện sư ông cùng đối ẩm; vì rượu, kẻ tu hành không dùng)

Ngân Triều cảm đề:

Kình buồn trầm bổng gọi vầng son,

Đùn bước tao nhân đến phạm môn.

Gió phẩy lá vàng vèo trước động,
Rêu thêu ngoạn mục, gấm sườn non.

Nước xanh lênh láng kinh xây đá,

Hoa phấn tung trời, nhạn véo von.

Mến khách, cao tăng cười lạc đạo,[3]

Khề khà đắc ý cạn bầu ngon.



[1] Tầm thanh: Tìm cảnh, chốn thanh cao.

[2] Phạm môn: cổng chùa.

[3] Lạc đạo: niềm vui với đạo

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

Bài 14, chương 2, Ngày Xuân uống rượu, Phạm Thái; Ngân Triều chú giải.

                                  Có rượu, có thơ Xuân ý vị,

                                  Ngày nào trời cũng ánh thiều quang.

                                         Ngân Triều, Tranh có hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo AI.

[14] Ngày Xuân uống rượu

Hơi Xuân hây hẩy động rèm dương[1],

Thổi gợn lăn tăn nước rượu vàng.

Rạng rỡ tiên hoa[2] khoe tử sắc[3],

Nồng nàn thánh tửu tỏa mê hương[4].

Đầu xanh trước gió lao đao[5] chuyển,

Tóc bạc sau mày lỏa tỏa[6] vương.

Có rượu, có thơ, Xuân có mãi,

Trăm năm ba vạn sáu thiều quang[7].
                                            Phạm Thái, (範泰, 1777-1813)

Phiên âm Hán Nôm,

Ngân Triều soạn:

𣈜𠶖

唏春希海動帘陽,

𠺙湎漣渃溜黄.

𠓁仙花恗茈色,

濃難聖酒鎖醚香.

𩇛𩙍撈忉轉,

𩯀𢖕𣭒蠡鎖𥿁.

固溜, 固詩, 春固買,

𤾓𢆥𠀧𦒹韶光.

範泰, (1777-1813)

Diễn ý bài thơ

Hương mùa Xuân theo gió nhẹ, lay động bức rèm che nắng,

Làm gợn sóng lăn tăn trên nước rượu màu vàng trong chun rượu. (E là rượu Cúc)

Tươi sáng, hoa tiên đẹp tuyệt vời, như tiên, khoe sắc tía,

Đậm đà, rượu thánh tỏa mùi ngất ngây.

Đầu xanh trước gió, cử động cách nhọc mệt,

Tóc rối đã bạc sau mày phất phơ.

Ta có rượu, có thơ thì mãi có mùa Xuân,

Vậy là đời người ngày nào cũng là ngày của mùa Xuân.

          Ngân Triều cảm đề

Hương Xuân khe khẽ lay rèm nắng,

Gợn sóng lăn tăn cốc rượu vàng.

Ngoạn mục hoa tiên khoe sắc tím,

Đậm đà rượu thánh ngất ngây hương.

Đầu xanh trước gió nghe hưng phấn,

Tóc bạc rối dài phơ phất vương.

Có rượu, có thơ Xuân ý vị,

Ngày nào trời cũng ánh Thiều quang.

 

                           *****
[14bis]

Bài họa “Ngày Xuân uống rượu” của Phạm Thái

Trương Quỳnh Như

 (Hoạ nguyên Vận)

Rực rỡ trời xuân ánh thái dương,

Xuyên qua chén rươu nhuốm màu vàng.

Hoa xuân kín đáo thầm phong nhụy,

Men rươu nồng nàn ngát tỏa hương.

Má phấn say xuân hây ửng đỏ,

Thơ tình thiếu rượu rối vân vương,

Tìm vần trong rượu vần không thấy,

Chỉ thấy xuân đầy vẻ diễm quang.[8]

Nguồn:

-Trích Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưng, chương 46: Kén Rể.

-Trích Phạm Thái và Sơ Kính tân trang, trang 177, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng, Saigon, 1973.

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

       𣈜𠶖

                     張瓊茹

𤊧𡗶春映太陽,

串過𡓥酒洳牟黄.

花春謹到啿封蕊,

𥾃酒濃難吃鎖香.

𫑹春希怏𧹥,

詩情少酒𦆹𥿁.

尋韻𥪝酒韻空𧡊,

𧡊𡲈.

          *

 Ngân Triều cảm đề

Rực rỡ trời xuân ánh thái dương,

Lóng lánh tỏa trên chén rượu vàng.

Hoa Xuân e ấp thầm phong nhụy,

Men rượu thơm lừng bát ngát hương.

*
Má phấn ngây Xuân hừng ửng đỏ,

Thơ tình thấm rượu bút mây vương ngovương,

Cho hay trong rượu vần đâu nhỉ?

Ngân ngất Xuân đầy ánh diễm quang.



Chú thích:

:[1] Rèm dương: Rèm có bóng mặt trời chiếu vào nhà.

[2] Tiên hoa: hoa đẹp như hoa cõi tiên.

[3] Tử sắc: sắc tía.

[4] Mê hương: mùi hương ngất ngây, mê say.

[5] Lao đao: nhọc mệt, choáng váng.

[6] Lỏa tỏa: lôi thôi, lòng thòng.

[7] Thiều quang: ánh sáng của sao Thiều, là sao chiếu sáng trọn mùa Xuân ba tháng.
Ngày Xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chin chục, đã ngoài sáu mươi.
ĐTTT, Nguyễn Du

[8] Diễm quang: ánh sáng tươi đẹp, rực rỡ. 

Bài 13, Chương 2, Đề Nghĩa lư nàng Long Cơ, Phạm Thái; Ngân triều chú giải.

 Khi chồng là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ, từ trần, vợ là nàng Long Cơ dựng một mái chòi bên mộ chồng để cư tang, thờ phượng, cúng tế. Phạm Thái là bạn của ông vô cùng cảm kích mới làm 2 bài thơ nầy:

                                    [13] Đề nghĩa lư nàng Long Cơ [1] Phạm Thái.

 

                                                        Hoa tươi mộ mới tình sâu nặng

                                                        Trăng chiếu chòi sơ tiết ánh trong.

                                                            Ngân Triều. Tranh có hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo AI.

*

[1]

Cuồn cuộn xe mây kiếp ruổi rong,

Dễ mà theo hỏi chốn hành tông [2].

Khêu sầu chín khúc chùng dây sắt [3],

Diễn thảm năm canh chạnh giọt đồng [4].

Niệm đảo[5] mơ màng hồi thú cổ [6],

Sinh tiêu[7] nghe lắng tiếng thiền chung [8].

Huyền thương[9] ví chẳng thù hồng phấn[10],

Chi kiếp trần hoàn trả chửa xong.

[2]

Gió thu hiu hắt khóm phương tùng [11],

Thổi rụng hàng châu, nghẹn má hồng.

Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng[12],

Trúc vàng [13] thà điểm giọt Ngu cung.

Hoa kề cổ trủng [14] đeo tình nặng,

Trăng rạng cô lư sáng tiết trong.

Dệt gấm Thanh Nê [15] câu nhất tiếu,

Thêu nền Thúy Ái [16] chữ tam tùng.

Phiên âm Hán Nôm,

           Ngân Triều soạn

[1]

題義庐娘龍幾

滚淃車𨗠𨆷𨀐,

易麻蹺噲坉行踪.

挑愁𠃩𦇮𦀊,

演惨𠄼𢤜湥銅.

唸倒𢠩咴戍皷,

笙簫𦖑𠻴禅鐘.

玄蒼啻丕讐紅粉,

之刧塵寰把渚衝.

[2]

𩙋秋咻迄芳松,

𠺙梇行珠, 喭媽紅.

苦碧丕招魂楚帳,

竹黄時點湥虞宮.

花倛古塚, 𥘀,

𦝄𠓁孤廬, 𠓇𤄯.

𦂾錦清坭句一笑,

𡋂𡨸三從.

[1]

 Xe mây cuồn cuộn, đưa hồn chàng đi mất,

Dễ gì biết được chàng đi về đâu.

Muốn tỏ lòng sầu đứt ruột, dây đàn đã chùng,

Thể hiện nỗi đau đớn xót xa thâu đêm, giọt đồng cùng nhỏ lệ.

Khấn vái vong linh chàng tưởng chừng như nghe vang vọng hồi trống nơi biên ải,

Tiếng sênh và tiêu vang lên nghe như tiếng chuông chùa lắng đọng.

Phải chăng Trời đã thù ghét người má phấn,

Đã vậy làm chi, cho kiếp trần hoàn nầychưa trả xong được.

 [2]

Gió thu se sẻ thổi vào khóm phương tùng,

Làm rơi những giọt châu đọng trên lá, làm cho lòng nghẹn ngào không nói được.

Thân phận hèn mọn như cỏ biếc, ta không thể chết theo vua Sở như nàng Ngu Cơ,

Thà như hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh, khóc vua Thuấn mà lệ còn đọng mãi trên rặng trúc vàng.

Làm hoa bên mộ chồng, tình hoa sâu nặng lắm thay,

Trăng soi vào lều cỏ, sáng ngời phẩm chất thủy chung của vợ hiền.

Dệt bức gấm ở Thanh Nê, quê chồng nàng là một thiếu phụ đẹp,

Thêu nền ở Thúy Ái, chết theo chồng chết trận, nàng Phan Thị Thuấn ngời sáng chữ tam tùng.

Ngân Triều cảm đề

[1]

Dong ruổi xe mây vùn vụt khuất,

Về đâu há biết nẻo về đâu?

Đoạn trường gióng nhạc tơ chùng phím,

Đồng nhỏ thâu đêm suối lệ sầu.

Cúng vái thì thùng mơ trống thú,

Sanh tiêu trầm lắng mộng chuông mầu.

Ông Xanh sao ghét thân bồ liễu?

Dang dở nợ trần trả được đâu!

[2]

Gió thu phơn phớt ngọn phương tùng,

Lệ nhỏ hàng cây, lệ má hồng.

Bèo bọt chẳng theo dòng thác đổ,

Lệ hoa thà thổn thức hương cung.

Hoa tươi mộ mới tình sâu nặng,

Trăng chiếu chòi sơ tiết ánh trong.

Dệt gấm Thanh Nê trang quốc sắc,

Cùng gương Thúy Ái vẹn tam tùng.

                                                         Ngân Triều

22.09.2019



[1] là lều, chòi; nghĩa là có nghĩa; nghĩa lư là lều của nàng Long Cơ, lều dựng cạnh mộ chồng để cư tang.

(Nàng Long Cơ là vợ của Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ, bạn đồng chí hướng Phục Lê, chống Tây Sơn với Phạm Thái. Bấy giờ ông đang làm trấn thủ Lạng Sơn mời Phạm Thái đến Lạng Sơn bàn bạc việc khởi binh, việc bại lộ; ông bị triệu về Phú Xuân, trên đường đi bị đánh thuốc độc chết. Phạm Thái đưa thi hài về an táng ở quê là làng Kiến Xương Nam Định. Tại đây, Phạm Thái gặp gỡ, đem lòng yêu thương Trương Quỳnh Như (em gái Trương Đăng Thụ) và viết nên câu chuyện tình đầy nước mắt trong văn học Việt Nam).

[2]Hành tông, hành tung:  行踪 Lý do của hành động, việc làm.

[3] Dây sắt: 𦀊, đàn sắt thường sánh với đàn cầm chỉ tình nghĩa phu thê.

[4]Giọt đồng: , giọt đồng hồ nước, chỉ thời gian trôi qua.

[5] Niệm đảo: 唸倒, đọc lời khấn trong lễ cầu siêu cho chồng.

[6] Hồi thú cổ: 咴戍皷, thú là biên ải, cổ là trống; ẩn dụ nàng Long Cơ theo chồng là Trương Đăng Thụ lúc ông làm trấn thủ ở Lạng Sơn.

[7]Sinh tiêu: 笙簫sênh và tiêu: hai loại nhạc khí.

[8]Thiền chung: 禅鐘, chuông chùa.

[9]Huyền thương: 玄蒼, huyền là huyền nhiệm; thương là xanh; ý nói Trời xanh huyền nhiệm,

[10] Hồng phấn: 紅粉, phấn hồng chỉ người đàn bà.

[11] Phương tùng: 芳松 Một giống cây tùng thơm.

[12] Sở trướng: 楚帳 Trong trướng của Sở Bá Vương, Hạng Vũ. Khi ông bị vây ở Cai Hạ, vợ là Ngu Cơ tự vận để ông khỏi vướng bận.

[13] Trúc vàng: 竹黄, giống trúc có vân ngoằn ngoèo; người đời cho rằng đó là nước mắt của hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh, khóc chồng là vua Thuấn, lệ rơi xuống mà thành ra như vậy.

[14] Cổ trủng: 古塚 Gò mả xưa.

[15] Thanh Nê 清坭, là quê hương của Thanh Xuyên Hầu, chồng bà Long Cơ là người thủ tiết trong Nghĩa lư, thuộc trấn Sơn Nam tức tỉnh Nam Định bây giờ. Câu nhất tiếu: nói tắt của câu nhất tiếu thiên kim, nụ cười đáng ngàn vàng, nghĩa hàm ẩn là ca tụng người phụ nữ đẹp.

[16] Thúy Ái: 翆愛 Thúy Ái là tên con sông thuộc huyện Thanh Trì tỉnh Hà Đông, nơi bà Phan Thị Thuấn vợ thứ ba, mới 20 tuồi, tuẩn tiết theo chồng là Thu Lĩnh hầu Ngô Cảnh Hoàn đời Hậu Lê. (nay là phường Thúy Ái, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội), Thu Lĩnh hầu Ngô Cảnh Hoàn, thống lĩnh thủy binh chống Tây Sơn và chết trận. (Theo Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại, Truyện Bà Phan Thị Thuấn).

***