Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 22, 23, 24 (tiếp theo)
Baøi 22: (Bài 22)
Mười bài thơ năm 1814 vẫn chưa đủ, Tốn Phong làm tiếp
mười bài nữa.
Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 22:
人 面 不 知 何 處 去
桃 華 依 舊 笑 東 風
Mặt
người không biết đi đâu mất
Vẫn vậy, hoa đào cười gió Đông./Ngân Triều
*
.Kiếp đời trôi nổi như bèo nước, sáu năm xưa (1807) đã từng gặp gỡ
nàng,
.Tốn Phong đã nhiều lần đến thăm Cổ Nguyệt Đường nơi nàng sinh trưởng.
.Gian phía trái là nơi tiếp khách, có chậu hoa nở rộ tươi mát nàng
mới tưới hương còn ẩm,
.Tiếng chim ríu rít giữa sân bên hòn non bộ, Tốn Phong tả nước
trong hòn non bộ thành khói bốc lên cho thi vị chăng ?
Khí hậu làng Nghi Tàm có đủ lạnh để khói bốc như thế chăng, tôi (TS
Phạm Trọng Chánh) ngờ rằng phía sau hòn non bộ đặt vài ông táo để nấu nước, pha
trà đun củi khói bốc lên. Hai chữ tả viện cho phép ta suy diễn: ngôi Cổ Nguyệt
Đường được Tốn Phong gọi là đình, hay viện, khá lớn cất theo hình chữ khẩu
(hình vuông) có tả viện nơi tiếp khách, bán giấy bút cho học trò, tất nhiên có
hữu viện là phòng ngủ, khuê phòng, thư phòng, với gỗ chạm khắc cho ánh sáng đủ
vào. Tiền viện là gian nhà dạy học và hậu viện là nơi bàn thờ thờ phụng. Chính
giữa là sân gạch có hòn non bộ, chậu kiểng, khi cần dùng có thể biến thành sân
phơi thóc. Gian tả viện và tiền viện phía trong không có vách để có ánh sáng,
có tấm phản cho thầy ngồi, học trò trải chiếu ngồi chung quanh. Gian tả viện có
một vài bộ trường kỷ (ghế dài chạm xa cừ), có bàn đặt bình trà. Gian nhà thờ
phía sau, có cửa ván, khi có giổ chạp hay tang lễ mở cửa ra. Con cháu, học trò
đông đúc đứng tràn ra sân.
.So với ngày trước, nàng có gầy đôi chút
.Làm cho cốt cách nàng thanh thoát.
.Sắc đẹp nàng mặn mà hơn xưa, mười phân vẹn mười. Chỉ tiếc rằng sáu
năm qua đi ở không viết thư cho nhau,
.Nay gặp lại người cũ, hoa xưa lòng vui mừng xiết bao.
*
Nhất
Uyên phiên âm Hán Việt, bài 22:
Bình ngạnh
tương phùng lục tải tiền,
Đã tằng kỷ độ phỏng đào nguyên.
Hoa khai tả viện hương do thấp.
Điểu lộng hàn sơn thủy dục yên.
Nhất dạng mai trang thanh triệt cốt
Thập phần xuân sắc hảo liên thiên.
Chỉ kim quy khứ vô tiêu tức,
Y cựu đào hoa nhận túc duyên.
*
Ngân Triều soạn bản chữ Hán,
bài 22:
苹 梗 相 逢 六 載 前
拖 曽 幾 渡 訪 桃 源
華 開 左 院 香 由 濕
鳥 弄 寒 山 水 浴 煙
一 樣 梅 莊 青 澈 骨
十 分 春 色 好 連 篇
只 今 歸 去 無 消 息
依 舊 桃 華 認 宿 縁
*
Nhất Uyên dịch thơ, bài 22:
Gặp gỡ bèo hoa
trước sáu năm,
Nguồn đào mấy độ đã về thăm.
Hoa đơm tả viện hương còn ẩm,
Chim hót non hàn khói biếc dâng.
Thanh thoát vẻ mai gầy cốt cách,
Rỡ ràng xuân sắc vẹn mười phân.
Đã lâu đi ở không tin tức,
Người cũ hoa xưa gặp gỡ mừng.
*
Ngân Triều cảm đề, bài 22:
Bèo
nước lênh đênh những sáu năm,
Đã từng
mấy bận đến tìm thăm.
Dải
hoa tươi thắm hương còn quyện,
Chim
hót, hòn non khói tỏa lan.
Cốt
cách mai gầy thanh quý tuyệt,
Xuân
dung sắc sảo vẹn mười phân.
Hôm
nay tái ngộ, không ngờ nhỉ?
Vẫn
vậy, hoa đào[1] nở
túc căn[2].
*****
Baøi 23: (Bài 23)
Nhất Uyên dịch nghĩa, bài
23:
Mùa Xuân sang, biết tìm thần hoa xứ nào,
Mười độ Xuân về chín độ nhớ thương nàng.
Tiếc rằng thân phận thư sinh chưa đỗ đạt sớm gặp người tri kỷ.
Dù ngàn vàng cũng không mua được tấm thân thanh Xuân của nàng.
Ánh hồ trong leo lẻo thấy suốt đáy,
Vầng trăng tròn sáng soi Cổ Nguyệt Đường.
Rặng liễu nơi bờ hồ hãy vì ta mà nhắn lời rằng:
Hoa mai đã rực rỡ khắp núi mây ngàn.
*
Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 23:
Xuân lai hà xứ
mịch hoa thần,
Thập độ Xuân lai cửu tích quân.
Bạch diện tao phùng tri kỷ khách,
Hoàng kim nan nại thiếu niên thân.
Hồ quang liễm liễm thanh vô để,
Đình nguyệt đoàn đoàn mãn thập phần,
Vị ngã truyền ngôn giang thượng liễu,
Mai hoa dĩ chiếm lĩnh đầu vân.
*
Chú thích:
Bạch diện 白 面, bạch diện thư sinh, người học trò chưa thi đỗ.
*
Ngân Triều soạn bản chữ Hán,
bài 23:
春來何處覔華神
十渡春來久昔君
白面遭逢知己客
黃金難奈少年身
胡光歛歛青無㡳
亭月團團滿十分
未我傳言江上柳
梅華巳占領頭雲
*
Bến sông! Ơi liễu! Cho ta nhắn:
Mai chiếm trời Xuân chiếm ráng cao
Ảnh minh họa, Google
*
Nhất Uyên dịch,
bài 23:
Xuân sang nào
biết chốn hoa thần,
Mười độ Xuân về chín nhớ thương.
Mặt trắng gặp người tri kỷ sớm,
Nghìn vàng khôn chuộc tuổi thanh Xuân.
Hồ trong leo lẻo soi lòng thẳm,
Đình nguyệt tròn xoe sáng ánh rằm.
Dặm liễu hãy vì ta nhắn bến,
Hoa Mai rực rỡ núi mây ngàn.
*
Ngân Triều cảm đề, bài 23:
Xuân đến, thần hoa ở xứ nào?
Nhớ thương chín, mười độ nôn nao?
Tủi thân hèn mọn si tri kỷ,
Cho dẫu ngàn vàng dễ chuộc đâu.
Hồ sáng lung linh, soi đáy nước,
Trăng Đình vành vạnh rạng đêm thâu.
Bến sông, ơi liễu, cho ta nhắn:
Mai chiếm trời Xuân chiếm ráng cao[3].
Ngân
Triều
*****
Baøi 24: (Bài 24)
Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 24:
Một cánh hoa bay luống ngẩn ngơ/ Ngân Triều/ Ảnh minh họa, Google
. Xuân đã về, đi dạo chơi khắp chốn kinh thành thấy hồn thơ lai
láng.
. Một cánh hoa bay cũng làm buồn lòng người, Tốn Phong dùng chữ hoa
bay ý nói tên Phi Mai làm cho chàng thương nhớ,
. Ngoài trời bóng mây trôi như người lữ khách bao năm phiêu bạt.
. Sóng thông reo khúc nhạc êm đềm cho người ngồi bên bến nước lắng
nghe,
. Có nhàn rỗi tâm hồn mới yên tịnh lắng nghe những cảnh sắc đẹp.
. Càng giao du với nàng càng lâu càng thân thiết.
. Còn nhớ những đêm thanh cùng nhau xướng họa thơ nơi đình mai,
. Một bầu trời trăng sáng ngần như bạc.
*
Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 24:
Mãn thành xuân
sắc tứ phân phân,
Nhất phiến hoa phi não sái nhân.
Vân ảnh sạ tòng thiên ngoại khứ,
Tùng đào như hưởng thủy biên văn.
Đình tri thế sự nhàn như hảo,
Thả giác giao tình cửu cánh thân.
Thượng ức mai đình thanh dạ hứng,
Trường thiên nhất sắc bạch như ngân.
*
Ngân Triều soạn bản chữ Hán, bài 24:
滿城春色思分分
一片華飛惱灑人
雲影乍從千外去
松濤如響水邊聞
停知世事閒如好
且覺交情久竟身
上憶梅𠅘青夜興
長天一色白如银
*
Làn nước Thu, bầu trời dài nối liền một sắc. Ảnh Google
*
Nhất Uyên dịch thơ, bài 24:
Khắp thành Xuân
sắc tứ thơ vương,
Một cánh hoa bay ai nhớ thương.
Thoáng bóng mây xa ngàn dặm đó,
Thông reo tiếng sóng bến bờ tương.
Việc đời mới hiểu nhàn nên tốt,
Càng đậm tình sâu biết tỏ tường.
Còn nhớ đình mai vui thuở ấy,
Trời cao một sắc trắng như gương.
*
Ngân Triều cảm đề, bài 24:
Khắp thành Xuân đến rộn hồn thơ,
Một cánh hoa bay luống ngẩn ngơ[4].
Mây nổi chạnh lòng ngàn dặm mỏi[5],
Sóng thông réo rắt vọng xa bờ.
Việc đời biết bỏ, nhàn thanh thản,
Mải miết giao du tủi hững hờ[6].
Còn nhớ đình mai, đêm xướng họa,
Trời dài một sắc đẹp như mơ.[7]
Ngân
Triều
[1] Tốn Phong mượn ý 2 câu thơ của Thôi Hộ:
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.
人 面 不 知 何 處 去
桃 華 依 舊 笑 東 風
Mặt người không biết đi đâu mất
Vẫn vậy, hoa đào cười gió Đông.
Thể hiện một tâm trạng u hoài trong ngỡ ngàng, tiếc nuối vì không gặp lại giai nhân, ngỡ là nàng đã đi lấy chồng.
[2] Túc căn 宿 根, cây cối khô héo trong mùa Đông, còn rể dưới đất, đến mùa Xuân tiếp theo, đâm chồi nẫy lộc, gọi là túc căn hay túc duyên.
Ở đây, nở túc duyên, 𦬑 宿 根, có thể hiểu, Hồ Phi Mai có duyên mới, sắp thành duyên cùng quan Tham Hiệp, Trấn Yên Quảng, Trần Phúc Hiển.
[3] Nghĩa của câu 8 bài thơ diễn ra là “Hoa Mai đã chiếm cà vầng mây”, tức là Hồ Phi Mai đã chiếm mất hồn tác giả, người đắm đuối, si mê Phi Mai. Nhưng chữ “mây” để thế thì không tròn vần. Do đó, người dịch xin đổi thành chữ “ráng”= “mây chiều” và thêm chữ “cao”, khái quát lên để hợp vần. NT.
[4] Sao tác giả có tình ý với Hồ Phi Mai mà không hạ bút “Nhất
phiến phi mai”=một cánh mai bay, có tên người tình si nhỉ? (Hồ Xuân Hương tức là
Hồ Phi Mai). Tức là trong bài thơ sao tác giả viết “Nhất phiến hoa phi”, 一片華飛, một cánh hoa
bay; mà không viết “Nhất phiến mai phi”, 一片梅飛, Một cánh Mai
bay, Mai là tên Hồ Phi Mai. Hay là tam sao thất bổn?
[5] Nhớ bài điếu văn bất hủ của Lưỡng quốc Trạng nguyên, Mạc Đỉnh Chi ứng khẩu đọc điếu văn cho
một nàng công chúa bên Tàu:
Thanh thiên nhất
đóa vân.
Hồng lô nhất điểm tuyết.
Thượng uyển nhất chi hoa.
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y! Vân tán! Tuyết tiêu! Hoa tàn! Nguyệt khuyết!
青 天 一朶 雲
紅 爐一點 雪
上 苑一之 華
瑤池 一 片 月
噫! 雲散! 雪 消! 華戔! 月 缺!
Một vầng mây trên trời xanh.
Một điểm tuyết trên lò hồng.
Một đóa hoa của vườn thượng uyển.
Một mảnh trăng trong ao sang.
Than ôi! Mây tán! Tuyết tiêu! Hoa tàn! Trăng mất!
[6] Chẳng hững hờ, tức là thân quen, có nhiều cảm tình với nhau hay thân thiết.
[7] Tác giả lấy ý nguyên văn 2 câu thơ trong bài phú Đằng Vương Các tự của Vương Bột:
Lạc hà dử cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色
Ráng chiều ươm, cùng cánh cò đơn chiếc đều
bay;
Làn nước thu, bầu trời dài hài hòa một sắc.
***
(Còn tiếp)


