Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 28, 29, 30 (tiếp theo)
Baøi 28: (Bài
28)
(a) Vẫn vậy, đìu hiu bóng liễu râm. Ngân Triều, Ảnh Google
Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 28:
Từ lúc chia tay mỗi người mỗi ngã,
Đường đời bao chặng trải nhiều nỗi thăng trầm.
Phi Mai ba lần lầy chồng (lần thứ nhất với Thầy Lang xóm Tây
làng Nghi Tàm, lần thứ nhì với Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, và lần thứ ba Tham Hiệp
trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển)
Còn khách (Tốn Phong) vẫn vậy sáu năm nay.
Quen xem phong cảnh đời trôi nổi,
Ngán nỗi tình đời khi ấm khi lạnh.
Quay lại nơi Đồng Giang, bến sông Hồng nơi chia tay nhau năm 1808,
Rặng liễu đìu hiu tỏa bóng râm.
*.
Nhất Uyên phiên
âm, bài 28:
Tự tòng biệt hậu
các phân khâm,
Thế lộ hành hành lịch thiển thâm.
Mai thực đã tằng tam độ kết,
Khách tình dĩ thị lục niên câm (kim)[1]
Quán khan phù thế phong quang thái,
Đố sái thời nhân lãnh noãn khâm.
Hồi thủ Đồng Giang[2]
phân quyết xứ,
Y y dương liễu dĩ thành âm.
*
Bản chữ Hán bài 28
Ngân Triều soạn:
自從别後各分襟
世路行行厯淺深
梅實㐌曽三渡結
客情已是六年今
慣看浮世風光太
妒灑時人冷暖襟
回首同江分決處
依依楊柳已成蔭
*
Xa rồi, ly biệt nỗi phân tâm,
Dặm thế dần qua dẫu bổng trầm/ Ngân Triều/ Google
*
Nhất Uyên dịch thơ, bài 28:
Từ khi cách biệt nỗi phân ly,
Sầu cạn từng phen trải lối đi.
Mai quả đã từng ba độ kết,
Khách tình vẫn vậy sáu năm nay.
Quen xem phong cảnh: đời trôi nổi,
Ngán cõi người ta : ấm lạnh rồi.
Quay lại Đồng Giang nơi tiễn biệt,
Đìu hiu rặng liễu bóng đơn côi
*
Ngân Triều cảm đề, bài 28.
Xa rồi, ly biệt nỗi phân tâm[3],
Dặm thế dần qua dẫu bổng trầm.
Mai đã từng qua ba bước dở[4],
Lòng son vẫn vẹn, sáu năm thầm[5].
Đã quen cõi tạm truân chiên đắng,
Đã ngán tình đời bạc bẽo thâm[6]!
Trở lại Đồng Giang, nghìn thuở nhớ[7],
Đìu hiu vẫn vậy, liễu râm râm[8].
***
Phụ lục bài thơ Đồng Lung Giang, Nguyễn Du.
*
Trần Văn Nhĩ phiên âm chữ
Hán:
Đồng Lung Giang, Nguyễn Du.
Đồng Lung Giang thủy khứ du du,
Kim cổ nhân sầu bất trụ lưu.
Sa chủy tàn lô phi bạch điểu,
Lũng đầu lạc nguyệt ngọa hàn ngưu.
Loạn sơn thúy tiếp cô thành mộ,
Thủy trúc hàn sinh tiểu điểm thu.
Tiễn nhĩ dã âu tùy thủy khứ,
Phù sinh lao lục kỷ thời hưu.
*
Ngân Triều soạn bản chữ Hán
同 蘢 江,阮 攸
同 蘢 江 水 去 悠 悠
今 古 閒 愁 不 住 流
沙 嘴 殘 蘆 飛 白 鳥
隴 頭 落 月 臥 寒 牛
亂 山 翠 接 孤 城 暮
水 竹 寒 生 小 店 秋
羨 爾 野 鷗 隨 水 去
浮 生 勞 磟 幾 時 休
*
Trần Văn Nhĩ dịch nghĩa:
Sông Đồng Lung, Nguyễn Du
Nước
sông Đồng Lung chảy xa thăm thẳm,
Mối
sầu man mác về kim cổ cũng trôi theo dòng nước không ngừng.
Đàn
cò trắng bay trên đám lau tàn ở cuối mỏm cát,
Dưới
bóng trăng tà lạnh lẽo đầu ghềnh con trâu lạnh nằm nghỉ.
Buổi
chiều những ngọn núi xanh lởm chởm tiếp liền với tòa thành trơ trọi,
Đương
tiết thu, những khóm thủy trúc tỏa hơi lạnh quanh chiếc điếm nhỏ.
Thèm
được như đàn âu kia lềnh bềnh trôi theo dòng nước,
Cảnh
phù sinh vất vả (của ta) đến bao giờ mới thôi?
*
Trần Văn Nhĩ dịch thơ:
Sông Đồng Lung, Nguyễn Du
Đồng Lung sông nước lững lờ xuôi
Kim cổ sầu thương mãi chảy trôi
Mỏm cát lau tàn cò trắng liệng
Đầu ghềnh trăng xế trâu gầy ngơi
Núi chiều lởm chởm thành trơ trụi
Thu trúc lạnh lùng điếm nhỏ nhoi
Thèm được như âu theo dòng nước
Phù sinh lận đận bao giờ thôi.
*
Cảnh Sông Đồng Lung, TQ, Google
Ngân Triều cảm đề bài thơ Đồng Lung Giang, Nguyễn Du:
Đồng Lung dòng chảy xa vời vợi,
Kim cổ thành sầu cũng cuốn trôi.
Cò trắng lau tàn bay cuối mõm,
Trăng ghềnh lạnh lẽo trâu nằm ngơi.
Núi chiều lởm chởm quanh thành quạnh,[9]
Thu trúc lạnh trùm điếm lẻ loi.
Muốn sống đời âu trên sóng nước
Phù sinh lao nhục bao giờ thôi?
*****
Baøi 29:
Nhất Uyên dịch nghĩa:
.Ngàn dặm ra đi nơi trường đình lau nước mắt,
.Người ở người đi không nói năng gì,
.Đã từng nghe non mai báo tin xuân.
.Mấy lần thấy sóng lớn đập vào cửa biển.
Tốn Phong mấy lần đi qua cửa biển Thần Phù, sóng cao nguy hiểm đối
diện với cái chết:
“Lênh đênh qua cửa
Thần Phù,
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.”
Ca dao
.Lòng nhớ nước cũ bao giờ tan được như hồn vua Thục hóa thành
chim đỗ quyên kêu quốc quốc.
.Chìm sông Mịch Giang hồn Khuất Nguyên vẫn còn mãi thơ Ly Tao ai
oán muôn đời. (Đây là hai câu thơ duy nhất Tốn Phong nói lên tâm sự thời thế của
mình. Lòng Tốn Phong còn nhớ đến nhà Lê, chúa Trịnh, tiếc rằng Vua Sở không
nghe những lời ngay thẳng của Khuất Nguyên mà nước mất nhà tan).
.Thôi nói chi việc đời nay có rượu nên cùng say,
.Hương vị rượu Hoàng Cúc càng uống càng thắm môi nồng nàn.
*
Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 29:
Nay đây có rượu cùng nghiêng ngả, Ngân Triều/Ảnh minh họa, Ảnh Google
*
Thiên lý trường đình phất lệ ngân,
Nhân lai nhân khứ lưỡng vong ngôn.
Tằng văn mai lãnh truyền xuân tín,
Tỷ kiến triều thanh hám hải môn.
Vọng đế hà niên tiêu Thục phách,[10]
Mịch giang[11]
chung cổ oán Tao hồn.
Như kim hữu tửu tu đồng túy,
Nhương thục Hoàng hoa[12] vị
cánh ôn.
*
Ngân Triều soạn bản chữ Hán, bài 29:
千里長𠅘拂淚狠
人來人去两亡言
曽聞梅冷傳春信
比見潮聲憾海門
望帝何年消蜀劈
汨江鐘皷怨騷魂
如今有酒須同醉
攘蜀黄華味更温
*
Nhất Uyên dịch thơ, bài 29:
Ngàn dặm trường
đình lệ thắm khăn,
Người ở người đi chẳng nói năng.
Từng thấy non mai Xuân báo thiệp,
Đã quen cửa biển sóng thăng trầm.
Bao năm Hồn Thục còn thương nước,
Ngàn thuở Ly Tao oán Mịch Giang.
Nay có rưọu thơ, cùng thưởng nhé,
Men say Hoàng
Cúc rượu nồng nàn.
*
Ngân Triều cảm đề, Bài 29:
Như tưởng triều dâng, lớp sóng trào.Ngân Triều/ Ảnh minh họa, Google
Ngàn dặm, trường đình, nước mắt lau,
Người đi kẻ ở nói chi nhau?
Vui Xuân mới biết, tin mai báo[13],
Cau đắng triều dâng, lớp sóng trào!
Nhớ nước chưa tan hồn Thục Đế[14],
Mịch Giang còn oán hận Ly Tao.
Nay đây có rượu cùng nghiêng ngả,
Hoàng Cúc say hương, vẫn ngọt ngào.
***
Baøi 30: (Bài 30)
Mong
mãi trời Xuân, Xuân chẳng khứng,
Đời
nầy mây nổi, bến mênh mông/ Ngân Triều/Ảnh Google
*
Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 30:
Đầu thành có tiếng sáo thổi từ bên sông vọng sang,
Nghiêng lắng tai nghe giọng buồn thương ai oán.
Nhìn những cánh nhạn đứt đàn trong sương mây,
Ngựa trạm rong ruổi trên đường mùa xuân như đang đùa với mai trên
núi.
Dạ sầu như tuyết bay đi không trở lại.
Thi tứ khách giống như hoa giữ mãi nụ không nở,
Ngậm ngùi muốn lưu mùa xuân, xuân không dừng lại,
Đời người như mây nổi mờ mịt thế thôi.
*
Nhất Uyên phiên âm, bài 30:
Thành đầu xuy địch
quá giang lai,
Trắc nhĩ như văn vận vận ai .
Vọng đoạn sương mê vân tế nhạn,
Dịch trì xuân hí lũng đầu mai.
Sầu trường tự tuyết phi nan phản,
Khách tứ như hoa bảo bất khai.
Trù trướng lưu xuân xuân bất tụ,
Phù vân diểu diểu dĩ yên tai.
*
Ngân Triều soạn bản chữ Hán bài 30:
城 頭 吹 笛 過 江 來
仄 耳 如 聞 運 運 哀
望 段 霜 迷 雲 蔽 雁
役 馳 春 戲 壟 頭 梅
愁 長 自 雪 飛 難 返
客 思 如 華 保 不 開
躊 悵 遛 春 春 不 聚
浮 雲 渺 渺 已 煙 哉
*
Nhất Uyên dịch, thơ bài 30:
Đầu thành tiếng
địch vọng bên sông,
Nghiêng lắng tai nghe khúc nhạc buồn.
Mờ mịt sương lam mây khuất nhạn,
Nhởn nhơ ngựa hí nẻo mai vàng.
Sầu dài tựa tuyết bay bay mãi,
Nỗi khách như hoa chẳng thở than.
Đau xót xuân về xuân chẳng ở,
Thì thôi mây mấy độ lang thang.
*
Ngân Triều cảm đề, bài 30:
Ai oán buồn nghe giọng não nùng/ Ngân Triều/Ảnh Google
*
Đầu thành sáo vọng bên kia sông
Ai oán buồn nghe giọng não nùng.
Kìa nhạn lạc đàn sương khuất nẻo,
Đùa mai ngựa trạm, lũng xuân nồng[15]
Dạ sầu tựa tuyết bay đi mất,
Thi hứng như hoa mãi nụ không,
Mong mãi trời Xuân, Xuân chẳng khứng[16]
Đời nầy mây nổi, bến mênh mông[17].
*
Năm 1814, khi Xuân Hương đã quyết định ưng Quan Tham Hiệp Yên Quảng
Trần Phúc Hiển thì tình yêu của Tốn Phong với nàng chỉ còn như tiếng sáo ai
oán, bi thương.
Tình yêu say đắm ấy đã hóa thành phù du, thất vọng, bi thương. Cuộc
tình bao năm, bỗng chỉ còn là kỷ niệm thoáng qua, như ngựa trạm phi nhanh, như
đùa với mai trắng bên lũng mai. Tình yêu của chàng sẽ mãi mãi là đóa hoa nguyên
nụ, héo hon, không bao giờ nở nữa.
Xuân Hương không có duyên trang điểm đời chàng, mà mỗi người, mỗi
ngã ly tan, đời chàng mờ mịt như mây, như
khói vô định, bay lang thang.
[1]
Câm: 今Chữ kim là nay, vì tránh tên húy Nguyễn Kim ông Tổ họ Nguyễn nên đọc
thành “câm”= nay.
[2] Đồng Giang:
Nguyễn Du có bài thơ Đồng Lung giang 同 蘢 江, Sông Đồng Lung:
Xem phụ lục bài thơ Đồng Lung Giang, Nguyễn Du trong bài viết nầy.
[3] phân khâm: chia bụng, dịch thành phân tâm = cắt tấm lòng ra = đau đớn.
[4] Ý nói
Hồ Xuân Hương đã có 3 đời chồng
không trọn vẹn: (a), Thầy lang làng Nghi Tàm; (b), Tổng Cóc, Nguyễn Công Hòa
hay Nguyễn Bình Kình; (c) Tham Hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển hay ông Phủ
Vĩnh Tường(?)
[5] Câu nầy rất
khó diễn thơ. Tác giả đã thầm yêu HPM đã sáu năm.
[6] thâm, 深, tức thâm hiểm,
深 險, sâu sắc, hiểm độc.
[7] Chuyển tứ thơ
của Thế Lữ trong bài “Lời than thở của
nàng mỹ thuật”:
Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Nghìn năm chưa dễ đã ai quên.
Hồ Phi Mai là mối
tình đầu của Tốn Phong.
[8] âm, 蔭, = tối, chỗ không có bóng nắng. Dùng “ râm”= do không có bóng nắng hay trời đầy mây hoặc do không
có nắng chiếu, cũng đạt.
Nhưng ở đây còn có thể hiểu râm=
đen tối, cực tả mối tình đầu không thuận lợi, không may mắn, trớ trêu, dang
dở, của tác giả, dù ông đã tận nhân lực,
dày công theo đuổi Hồ Phi Mai.
Vẫn còn đây cảnh
cũ,
Người xưa biệt
phương trời!
Bóng liễu râm,
bóng liễu!
Sầu giăng giăng chơi vơi!
[9] quạnh,
quạnh quẽ: vắng vẻ.
-Bến Tầm Dương
canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
Tỳ
bà hành, Bạch Cư Dị, bản dịch của Phan Huy Thực.
-Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh
quẽ, vách mưa rã rời.
ĐTTT,
Nguyễn Du, câu 2745-2746
[10]Thục phách: 蜀劈 Thân xác Vua Thục.
Vua Thục vì dâm ô với vợ Biết Linh, bị lộ nên giao ngôi
lại cho Biết Linh. Sau Biết Linh làm ngặt, phát lương cho ăn thiếu thốn, khổ cực.
Thục Đế mới buồn bỏ xứ ra đi, chết hóa ra chim đỗ quyên, tiếng kêu quốc quốc thảm
thiết. Người đời nói vua Thục Đế tiếc nước nên tiếng kêu bi thương.
Khúc đâu êm ái
xuân tình,
Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên?
ĐTTT,
Nguyễn Du, câu 3201-3202
-Bà Huyện Thanh Quan, (Nguyễn thị Hinh), Qua Đèo Ngang:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
-Nguyễn Khuyến, Cuốc kêu cảm hứng.
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục Đế
thác bao giờ.
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc
Xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước
vẫn nằm mơ?
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.
[11] Mịch giang: 汨 江, Khuất Nguyên khuyên vua Sở không nghe đến mất nước, viết tập thơ Ly Tao để lại cho đời và trầm mình xuống sông Mịch Giang…
[12] Hoàng
hoa: 黄華cúc vàng nở mùa thu, còn là một loại danh tửu ngày xưa, Hoàng hoa tửu.
[13] Tác
giả nghe tin Hồ Phi Mai bước thêm bước thứ tư, về với quan Tham Hiệp Trấn Yên
Quảng, thấy nghẹn lòng như lênh đênh trên sóng to gió lớn.
[14] Ngoài tứ thơ phản ánh thời thế,
hoài cổ, tác giả đã thể hiện mỗi lòng mình, vẫn yêu Hồ Phi Mai, vẫn yêu nàng,
yêu mãi ngàn năm.
Nợ tình chưa trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa
tan.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 709-710.
[15] lũng, 壟 dải đất hay mô đất nhô
cao trên ruộng, còn gọi là giồng. Bấy giờ, trời Xuân tươi thắm, hoa cười
muôn sắc khắp nơi nơi. Khi ấy, trên lũng mai, những cành mai trắng rực rỡ đong
đưa, (bấy giờ miền Bắc chưa có mai vàng), cùng lúc ấy có ngựa trạm nào phi
ngang qua, tác gỉa tưởng như hoa và ngựa trạm đang vui đùa với nhau. Tứ thơ thật
óng mượt!
[16] khứng; ưng,
chịu, đồng ý. Có thể hiểu Xuân là Xuân Hương. Tác giả đã say đắm Hồ Xuân Hương
nhưng tình yêu đó không thành, Xuân chẳng khứng=HXH không đồng ý.
[17] mây
khói, lan tỏa; mênh mông: 溟 濛 rộng lớn đến mức như không có giới hạn,gây
cảm giác mung lung, mờ mịt. Cả câu ý nói cuộc đời phù du, ngắn ngủi; chiếc thuyền
tình lênh đênh mờ mịt, lỡ bến nầy, biết ghé bến nào đây!
Chợt nhớ mấy câu thơ xưa, quên cả nguyên
tác, của Quách Phác:
Chàng như mây
mùa Thu
Thiếp như khói trong lò.
Cao thấp tuy có khác,
Một thả* cũng tuyệt vời!
(*)
thả, bay cao một cách thoải mái, không bị kềm
chế, tự do.
(Còn tiếp 1 bài 31)
***






