Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

Thơ văn Phạm Thái, chương 2, GỬI CÔ TRƯƠNG QUỲNH NHƯ bài 1, Ngân Triều chú giải

 Quý bạn thân mến, Việc đăng bài rời rạc trước đây để quý bạn đọc tham khảo cũng hơi bất tiện. Kể từ hôm nay tôi xin trích đăng lại lần lượt các bài chọn lọc trong quyển sách của tôi với tiêu đề là THƠ VĂN PHẠM THÁI. Tác giả nầy là một ngôi sao sáng trong nền Văn học thời Tây Sơn. Trước đây truyện thơ SƠ KÍNH TÂN TRANG của Ông đã được đua vào chương trình chứng chỉ Văn chương quốc âm, Đại Học Văn Khoa và thơ văn của ông đã được giảng dạy trong chương trình Trung học phổ thông và tôi biên khảo về tác giả nầy vì ông vẫn chưa được các soạn giả quan tâm nghiên cứu. NT.

***

Thơ văn Phạm Thái, chương 2,  GỬI CÔ TRƯƠNG QUỲNH NHƯ bài 1, Ngân Triều chú giải 

                                                               







Đèn nguyệt trong xanh, mây chẳng bợn,

Xin soi xét đến tấm lòng ai… Ngân TriềuNguồn: Tranh mh bài [1] Thơ Phạm Thái, Google.

[1] GỬI CÔ TRƯƠNG QUỲNH NHƯ bài 1

Dẫy hoa dun lá[1] khỏi tay trời,[2]

Nghĩ lại tình duyên luống ngậm ngùi.[3]

Bắc yến nam hồng,[4] thư mấy bức,

Đông đào tây liễu,[5] khách đôi nơi.

Lửa ân, chẳng trả[6] mà không tắt,

Bể ái, dù khơi[7] cũng chẳng vơi.

Đèn nguyệt ví bằng, mây[8] chẳng bợn,

Xin soi cho tỏ[9] nỗi niềm người.

Nguồn: Sơ Kính Tân Trang, Bản A.1390, trang 17b

Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn:

𢭮姑張琼如, 2

𢩵花搎𦲿塊拪𡗶,

𢣂吏情緣𨻫呤㟴.

北燕南鴻, 書貝幅,

東桃西柳, 客對坭.

, 丕把麻空,

波愛, 𠱋摡共丞潙.

畑月啻, 𩅹𣵲,

𥋸朱訴𦁀𠊚.

Nguồn: Sơ Kính Tân Trang, , bản A 1390, trang 17b

Diễn ý bài thơ

Đóa hoa chán nãn, lá muốn đun đẩy rơi khỏi tay trời,

Chạnh nghĩ đến chuyện tình duyên mà buồn tiếc biết bao nhiêu.

Chim yến phía Bắc, chim hồng phía Nam, ta đã gởi mấy bức thư nhạn,

Cây đào hướng Đông, cây liễu hướng Tây, hai người khách đôi nơi.

Ngọn lửa ân biết bao lần dập vùi mà vẫn hừng hực, không tắt được,

Biển tình khơi mãi cho cạn mà chẳng hề vơi.

Kìa trăng sáng trong xanh, bầu trời quang mây,

Trăng ơi! Xin hãy soi xét cho tấm lòng ai.

       Ngân Triều cảm đề:
Lá hoa ngao ngán, vuột tay trời,

Chạnh tưởng tơ duyên luống ngậm ngùi.

Nam Bắc mây trôi, thư mấy bức,

Đông Tây bèo giạt, khách đôi nơi.

Tắt nguồn ân nghĩa, ân còn mãi,

Vơi sóng thâm tình, sóng chẳng vơi.

Trăng tỏ, quang mây trời lạnh ngắt,
Trăng ơi có thấu tấm lòng ai?

                    ***
[1bis] GỬI CÔ TRƯƠNG QUỲNH NHƯ bài 2

Dắt mối đưa[10] duyên cũng bởi trời,

Vì ai dun dẩy,[11] nghĩ như cười.

Dặn dò lá thắm[12] còn im đấy,[13]

Gắn bó thư[14] vàng đã có nơi.

Nhắc gánh nhân duyên nhường chở nặng,[15]

Dò nguồn ân ái hãy còn vơi.[16]

Miễn rằng vàng[17] đá lòng như một,

Chớ[18] có trăng hoa nữa bẽ người.

Nguồn: Sơ Kính Tân Trang, BẢN A.1390, trang 20b

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

㩫䋦拸緣共𤳄𡗶,

爲埃𢩽, 議如.

𠸕𠻀𦲿𣠒群淹帝,

哏咘書鐄㐌𣎏.

𢲦𨔾𥗾,

紬紬恩愛咳群潙.

㖫鐄𥒥𢙱如沒,

𣎏𦝄姅㤳𠊚.

Nguồn: Sơ Kính Tân Trang, ,

bản A 1390, trang 20b

Diễn ý bài thơ

Buộc hay không cho mối dây duyên số cũng do Ông Trời,

Vì ai đưa đẩy nên đôi ta gặp nhau nghĩ ra rất buồn cười.

Thả chiếc lá thắm của duyên tiền định kia vẫn còn im ắng,

Gắn bó bằng những lá thư vàng, coi như duyên đã định rồi.

Trong tình trường, gánh nhân duyên thường rất nặng,

Tìm hiểu xem nguồn ân ái như vậy vẫn chưa sâu.

Dẫu thế nào, như vàng đá kia, lòng đôi ta như một,

Đừng có thói trăng hoa, trái ý với nhau mà thẹn với lòng.

Ngân Triều cảm đề

Kết hay không kết cũng do Trời,

Đưa đẩy vì ai những cứ cười.

Lá thắm thả duyên còn lặng lẽ,

Thư vàng gắn bó đã nên đôi.

Tương tư nhung nhớ tình sâu nặng,

Diện kiến mong chờ vẫn cứ vơi.

Vàng đá bền gan, cùng một hướng,

Trăng hoa là bội bạc nhau thôi.



[1] Dẫy: 𢩵 hai vợ chồng lục đục, bất hòa rồi bỏ nhau. Ở đây có thể hiểu là chán ngán. Dun: , đun đưa nhẹ nhàng

[2] Bản B ghi: Dãy hoa gieo lá bởi là trời.

[3] Ngậm ngùi: : buồn rầu, thương tiếc.

[4] Nam hồng: Bản B ghi là Nam nhàn.

[5] Đông đào Tây liễu: Xa cách nhau như cây đào, cây liễu, một ở hướng Đông và một ở hướng Tây...

[6] Bản B ghi là chăng nhóm; bản khác ghi là dẹp mãi.

[7] Bản khác khơi mà

[8] Bản khác ghi là gương

[9] Bản khác ghi là thấu.

[10] Bán khác ghi là tơ.

[11] Bản khác ghi là run rủi. Dun dẩy: co lại và thẳng ra, đưa đẩy.

                [12] Lá thắm: Chuyện kể rằng có cung nữ tên Hàn Thị đã đề thơ than thân lên lá đỏ rồi thả xuống dòng nước trong cung cấm. Tình cờ, một nho sĩ tên Vu Hựu nhặt được lá thơ ấy, họa vần đáp lại và thả ngược dòng vào cung cấm và cũng tình cờ Hàn Thị lại nhặt được… Ít lâu sau, vua băng hà, các cung nữ được trả về nguyên quán. Cơ duyên lạ sao! Vu Hựu lại kết duyên cùng Hàn Thị. Đêm động phòng, Hàn Thị đưa cho chồng xem bài thơ trên chiếc lá nhặt được, lập tức Vu Hựu cũng đưa cho nàng xem chiếc lá đỏ có đề thơ. Hai vợ chồng đã nhận ra người viết bài thơ trên chiếc lá trôi nổi trên dòng nước lớn, ròng chảy qua cung cấm đó, đang ở trong tay của người nhận và ngược lại, vô cùng hy hữu… Rõ ràng, chiếc lá thắm là một kết nối tuyệt vời cho một kỳ duyên đôi lứa.

[13] Bản khác ghi là còn ngăn trở.

[14] Bản B ghi là tin và là câu nghi vấn. Cả câu là: Gắn bó thư vàng hãy diễn khơi.

[15] Bản B ghi là xem chửa nặng.

[16] Bản B ghi là thấy còn vơi.

[17] Bản B ghi là sắt đá.

[18] Bản B ghi là đừng.