Những bài thơ hay của Phạm Thái, bài 15, 16, 17, 18, 19 (Tiếp theo)
[15] Chơi
hoa
Chơi hoa nầy đã biết danh hoa,
Nhưng nghĩ tình hoa thẹn với hoa.
Réo rắt[1]
chiều Xuân oanh hót liễu,
Càng thêm ngao ngán khách tìm hoa.
Phạm Thái
Phiên âm Hán Nôm Ngân
Triều soạn:
𨔈花
𨔈花尼㐌別名花,
扔𢣂情花𢢆貝花.
𠰉溧𣋂春鶯𡁾柳,
強添嘵喭客尋花.
Diễn ý bài thơ:
Chơi hoa thì đã biết tên hoa,
Nhưng nghĩ đến tình hoa đã đáp lại cho
mình thì cảm thấy xấu hổ.
Kìa, hãy nghe tiếng chim oanh hót trên rặng
liễu, chiều Xuân,
Làm cho kẻ tìm hoa thêm buồn chán, ngao ngán.
Ngân Triều cảm đề
Chơi hoa để biết
hoa,
Tình hoa luôn khả
ái,
Làm hoa cho người hái,
Tìm hoa thẹn với hoa?
*
Tiếng chim oanh
hót hay,
Xuân trẻ trung
phơi phới,
Lão niên như chiều
tối,
Tìm hoa, buồn vậy thay!
*****
[16] Đề chùa Tiêu
Sơn, Phạm Thái.
Tiếng kình réo rắt giục vầng son,
Đưa khách tầm thanh[2]
tới phạm môn.[3]
Gió thổi hiu hiu vàng cửa động,
Gấm thêu san sát thắm sườn non.
Đá xây chan chứa kinh dài ngắn,
Hoa phấn xôn xao nhạn véo von.
May gặp cao tăng khi giảng đạo,
Khề khà say thú một bầu ngon.
Nguồn:
Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932 trang 6
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
題廚蕉山
㗂鯨坕溧欲暈𣗾,
迻客尋清細范門.
𩙍𠺙咻咻黄𨷯峝,
錦繞山擦嘇傖𡽫.
𥒥搓滇渚涇𨱾短,
花瀵𠮿嗃雁𠶓𠹚.
𢆧趿高僧欺講道,
𠿁呵醝趣沒蔀𤯆.
Diễn ý bài thơ:
Tiếng chày kình nện
chuông vang xa như giục vầng son mau mọc lên, cho ngày mới bắt đầu,
Đưa người khách
tìm chốn thanh cao đến cổng chùa.
Gió thồi nhè nhẹ, hiu hiu, đun đưa với những chiếc lá vàng
rơi vèo ngoài cửa động, gió và lá vàng cùng đùa vui với nhau, như cửa động có
màu vàng.
Trên sườn núi, những
mảng rêu san sát kề nhau, như gấm thêu, rất xanh tươi đẹp mắt, thắm, nghĩa hàm ẩn.
Kìa là những đá xây, dọc bờ kinh, dài hay ngắn, với
nước lênh láng, tràn đầy, chứa chan.
Đó đây, hoa phấn bay đầy, xôn xao; trên không lại có tiếng chim nhạn hót nghe cao mà
thanh, véo von.
Rất may mà được gặp vị cao tăng, khi
cùng ta đàm đạo, khi giảng đạo.
Ta cùng với thiền sư nhắm nháp chút rượu, khề khà, cùng thích thú, say
thú, thưởng thức một bầu rượu ngon, một
bầu ngon.
(Hai câu kết có lẽ
tác giả cường điệu và thi vị hóa mà thôi, không có chuyện sư ông cùng đối ẩm;
vì rượu, kẻ tu hành không dùng)
Ngân Triều cảm tác
Kình buồn trầm bổng
gọi vầng son,
Đùn bước tao nhân
đến phạm môn.
Gió phẩy lá vàng vèo
trước động,
Rêu thêu ngoạn mục, gấm sườn non.
Nước xanh lênh
láng kinh xây đá,
Hoa phấn tung trời,
nhạn véo von.
Mến khách, cao
tăng cười lạc đạo,[4]
Khề khà đắc ý cạn
bầu ngon.
***
Nam
đài, vâng nghĩa dâng thơ thọ,
Phận mọn, ơn sâu, nghĩ vốn dài.
[17] Mừng sinh nhật
Thanh Xuyên hầu[5]
Bẩm tính thông minh, sẵn tính trời,
Bể lân cấu khí[6],
ấy là hai.
Hiếu trung một tiết đều ra sức,
Triều quận[7]
đôi phen đã thấy tài.
Thái ất[8]
vầng hồng thêm rạng bóng,
Trường canh[9]
vẻ thắm lại cao vời.
Nam đài[10],
vâng nghĩa dâng thơ thọ,
Phận mọn, ơn sâu, nghĩ vốn dài.
Phạm Thái
*
Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn
𢜠生日清川侯
稟性聪明, 産性𡗶.
波憐搆氣, 意羅𠄩.
孝忠沒節調𦋦飾,
朝郡對蕃㐌𧡊才.
太乙暈紅添𠓁䏾,
長更𡲈嘇吏高潙.
南臺𢀥義𤼸詩壽,
分㥃,
恩漊,
𢣂本𨱾.
Diễn
ý bài thơ
Trời cho ông trí
thông minh như bản năng từ thuở nhỏ,
Hai nữa là khí
thiêng do địa linh nhân kiệt tạo thành.
Cái khí tiết hiếu
trung là chính là phẩm chất mà ông đã thể hiện công sức,
Đồng liêu trong
triều ngoài quận mấy lần đã thấy được tài năng của ông.
Ông là tôn thần của thiên đế, ở trước sao
Bắc thần, với vua, mặt trời, sáng lên hẳn hoi,
Ông cũng là hậu thân của sao Thái Bạch hay
Trường canh, nên phong cách và tài năng văn chương toàn bích, tuyệt vời.
Ở Nam đài, theo việc nghĩa, dâng thơ mừng
thọ,
Phận hèn mọn nầy, cảm nghĩ ân sâu của ông
vô cùng.
Ngân Triều cảm đề
Bản chất thông
minh, sẵn tính trời,
Địa linh nhân kiệt
đó là hai.
Hiếu trung một mực
lòng chân chính,
Ứng xử bao phen nức
tiếng tài.[11]
Kề cận thái dương
danh hiển đạt,
Văn chương hoa gấm
đỉnh cao vời.
Đài Nam mừng thọ, lòng
nhân hậu,
Hèn mọn ghi ân,
nghĩa trọng dài.
22.09.2019
***
[18] Vô đề
(Thuận nghịch độc)
Đan thanh kẻ ấy độc lòng không!
Lứa bạn ai so sánh với cùng?
Hương nhạt, nhị hồng, cành nhạt biếc,
Án in thơ mực, dấu in phong.
Trang khinh tiếc nhẽ, hư chi phấn,
Phận bạc ghê thay, luống thúy hồng.
Thương nặng bởi tình không ghét bỏ,
Quang phong ấy nhẽ mấy Xuân Đông.
Phiên âm Hán Nôm
Ngân Triều soạn:
無題
丹清仉意毒𢙱空,
侶伴埃搊逞貝共?
香溂 蘂紅 梗溂碧,
案印詩墨 𧿫印封.
奘輕惜𨤧 虚之瀵
分泊稽咍 𨻫翠紅.
愴𥘀𤳄情空恄悑,
光風意𨤧貝春東.
***
Đọc ngược
Đông Xuân mấy nhẽ ấy phong quang,
Bỏ ghét không tình bởi nặng thương.
Hồng thúy luống thay ghê bạc phận,
Phấn chi hư nhẽ tiếc khinh trang[12].
Phong in dấu mực thơ in án,
Biếc nhạt cành hồng, nhị nhạt hương.
Cùng với sánh so ai bạn lứa?
Không lòng độc ấy kẻ thanh đan!
Phiên âm Hán Nôm,
Ngân Triều soạn:
東春貝𨤧意風光,
悑恄空情𤳄𥘀愴.
紅翠𨻫咍稽泊分,
瀵之虚𨤧惜輕奘.
封印𧿫墨詩印案,
碧溂梗紅蘂溂香.
共貝逞搊埃伴侶?
空𢙱毒意仉清丹!
*****
[19] Dịch thơ
Trương Tử Lang [1]
Xanh thắm vì ta độc dạ chăng.[13]
Duyên nay khác trước dễ ai bằng?
Bình kia cành biếc hương phôi nhị,
Án nọ thơ vàng mực ráo ngần.
Phấn sáp khinh thay! Công thúy đại,[14]
Tóc da bạc nhẽ! Phận hồng nhan.
Những thì tính ít ai ghen ghét,
Chỉn xót bình sinh khéo lỡ làng.
Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn:
演詩張子郎 [1]
𩇛嘇爲些毒腋丕?
緣𠉞恪畧易埃甭.
瓶箕梗碧香呸橤,
案奴詩黄墨𣋝垠.
粉蠟輕咍! 工翠黛,
𩯀䏧泊𨤧! 分紅顏.
仍時情𠃣埃慳恄,
㐱㤕平生窖㛎廊.
Diễn ý bài thơ
Anh vui vì ta cô độc trong đêm chăng?
Cơ duyên chúng ta nay đà khác trước, có ai bằng không?
Kia là cái bình với cành hoa xanh biếc,
hương đã phôi pha,
Nọ là bàn án, câu thơ trân quý tựa vàng
nhưng nghiên mực ráo khô, giấy trắng ngần không nét chữ.
Xem phấn sáp nhẹ thay, bỏ công trang điểm,
Da mồi tóc bạc rồi, đó là số kiếp hồng
nhan,
Nhiều lúc thân tình, nên nhiều người mến mộ,
Vẫn xót thương anh ở đời, hãy giữ mình cho
khéo, kẻo thiệt thòi. (lỡ làng).
Ngân Triều cảm đề
Vui vẻ gì đêm lẻ
bóng chăng?
Cơ duyên hơn trước mấy
ai bằng!
Kìa hoa cành biếc
hương phai nhạt,
Án nọ thơ vàng chữ
trắng ngần.[15]
Xem nhẹ phấn son,
công trau chuốt,
Da mồi duyên hết, phận
hồng nhan.
Giao du thưa thớt,
người không chuộng,
Chỉ sợ đường đi bước
lỡ làng.
22.09.2019
***
[19 a] Dịch thơ
Trương Tử Lang 2
[thơ thuận nghịch
độc]
Đọc xuôi:
Đan thanh kẻ ấy
độc lòng không!
Lứa bạn ai so
sánh với cùng?
Hương nhạt nhị hồng, cành nhạt biếc,
Án in thơ mực, dấu
in phong.
Trang khinh tiếc
nhẽ, hư chi phấn,
Phận bạc ghê
thay, luống thúy hồng.
Thương nặng bởi
tình không ghét bỏ,
Quang phong ấy
nhẽ mấy Xuân Đông.
Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932, trang 10.
Phiên âm Hán Nôm bài [19 a],
Ngân Triều soạn
丹青仉意毒𢙱空!
侶伴埃搊𠁔某共?
香溂橤紅, 梗溂碧,
案印詩墨, 𧿫印封.
妝輕惜𥙧, 墟脂粉,
分泊𠺳咍, 𨻫翠紅.
怆𥗾𤳷情空恄悑,
光風意𥙧貝春冬.
***
[thơ thuận nghịch
độc]
Đọc ngược:
Đông Xuân mấy nhẽ ấy
phong quang,
Bỏ ghét không tình
bởi nặng thương.
Hồng thúy luống
thay, ghê bạc phận,
Phấn chi hư nhẽ,
tiếc khinh trang.
Phong in dấu mực,
thơ in án,
Biếc nhạt cành hồng,
nhị nhạt hương.
Cùng với sánh so
ai bạn lứa,
Không lòng độc ấy
kẻ đan thanh.
Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932, trang 10.
Phiên âm Hán Nôm bài [19 b], Ngân Triều soạn
[thơ thuận nghịch
độc]
Đọc ngược:
冬春貝𥙧意風光,
悑恄空情𤳷𥗾怆,
紅翠𨻫咍𠺳泊分,
粉脂墟𥙧惜輕妝.
封印𧿫墨詩印案,
碧溂梗紅橤溂香.
共某𠁔搊埃伴侶?
空𢙱毒意仉青丹
***
Ghi chú:
[1] Réo rắt: Tiếng kêu thanh, vang xa.
[2] Tầm thanh: Tìm cảnh, chốn thanh cao.
[3] Phạm môn: cổng chùa.
[4] Lạc đạo: niềm vui với đạo
[5] Thanh Xuyên Hầu Trương Đăng Thụ, trấn thủ Lạng Sơn thời Tây Sơn, bạn
cùng chí hướng phục Lê với tác giả.
[6] Cấu khí: khí thiêng hun đúc nên nhân tài.
[7] Triều quận: Trong triều, ngoài quận.
[8] Thái Ất thần kinh
hay Thái Ất là
một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn).
Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực. Trong tam thức, Thái Ất
thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái
Đất, đến con người.
Theo một số sách bói kinh điển, Thái Ất là tôn thần của
thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự
đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh đói rét bệnh tật, xem tình hình
trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn
[9] Trường canh: sao Thái Bạch. Tương truyền mẹ Lý
Bạch mơ thấy sao Trường Canh rơi vòa bụng, có thai Lý Bạch. Ý nói có năng khiếu
văn chương.
[10] Nam đài: chỉ nơi Thanh Xuyên hầu đang ở,
Nam Định.
[11] Tiếng tài: Tài năng và thao lược
[12] Khinh trang: Trang điểm đơn sơ, tự nhiên.
[13] Cả câu: trời xanh, dịch chữ “thương
thương” 蒼蒼.
Độc dạ; lòng dạ độc ác. Ý nói trời xanh kia ghét bỏ, hãm hại người ta.
Như câu: Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. (ĐTTT, Nguyễn Du)
[14] Thúy đại: 翠黛, màu xanh biếc và thuốc vẽ lông mày. Chỉ
sự trang điểm
[15] Chữ trắng ngần:
chữ tiệp màu giấy, giấy trắng, chữ trắng, tức là không có chữ; ý nói tờ giấy
không có chữ nào.
(Còn tiếp)
