Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Bài 8, Nhãn phóng thanh, thơ chữ Hán, trích trong Lưu Hương ký của HXH; Ngân Triều chú giải.

 Bài số 8:

Nhaõn phoùng thanh

Nhãn phóng thanh (Nhìn bao quát)

Hồ Xuân Hương

*


               Phảng phất mây giăng trời sụp tối, 

Cao tăng tĩnh tọa tụng Di Đà. Ngân Triều. 

                                    Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn 

Nhãn phóng thanh (Nhìn bao quát)                                       

          

  

 
 
 
 
 
 
仿
 

*

Phiên âm:

Nhãn phóng thanh 

Vi mang loa đại tháp thương minh       (1)
Đáo thử tu giao nhãn phóng thanh 
Bạch thuỷ ma thành thiên nhẫn kiếm    (3)
Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh 
Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp                 (5)
Thần lực hề dung tạc Ngũ Đinh 
Phảng phất vân đồi đầu ám điểm           (7)
Cao tăng ưng hữu toạ đàm kinh.

Dịch nghĩa 

Nhìn bao quát.

Màu lam nhạt mờ mờ nối trời xa với bể xa. 
Đến đây, tưởng như trong mắt toả sắc xanh ra 
Nước bạc mài đá thành nghìn mũi gươm nhọn 
Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa xuống. 
Vách đá hình kì quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại khoa, 
Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như vậy. 
Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã xẩm tối, 
Chắc đã có vị cao tăng ngồi yên lặng tụng kinh.

*

(1) Thơ của Gs Hoàng Xuân Hãn

Gửi bởi Vanachi ngày 27/04/2006 09:03
Bể xanh lấp loáng tận trời xa, 
Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra. 
Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm, 
Đầm im rơi xuống một sao sa. 
Quái hình chưa dễ đề khoa bảng, 
Thần lực đâu đà tạc tượng ma. 
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối, 
Cao tăng đang tụng chốn chiền già.

*

(2) Dịch thơ của Trương Việt Linh

Gửi bởi vietlinh11 ngày 25/08/2016 15:01

Biển xanh mịt mịt trời xa 
Màu xanh từ mắt tỏa ra khắp vùng? 
Nước mài thành vạn mũi gươm 
Một ngôi sao rụng giữa đầm nước thanh 
Quái hình đâu chỗ đề danh 
Tượng kỳ ắt bởi sức thần tạc ra 
Đầu non mờ mịt mây sà 
Cao tăng ngồi đó đang là tụng kinh

*

(3) Dịch thơ của Ngân Triều

Chân trời giáp bể nhạt mờ xa, 
Cứ tưởng màu xanh mắt toả ra. 
Nước bạc đá mài nghìn mũi nhọn, 
Giữa đầm lóng lánh ánh sao sa.

Đá hình bảng hổ ai làm được?

Ai dễ  sức phàm kiến tạo ra?
Phảng phất mây giăng trời sụp tối, 
Cao tăng tĩnh tọa tụng Di Đà.

Ngân Triều

Nguồn:Theo tài liệu của TS Phạm Trọng Chánh, Paris.

 

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Bài 7: Ngư Ông Khúc Hành, thơ chữ Hán, HXH, trích trong Lưu Hương Ký; Ngân Triều chú giải

 Bài số 7:

Ngö oâng khuùc haønh

Hồ Xuân Hương

      

Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô! Ngân Triều

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

漁翁曲行 
野翁淡泊亦繁花 
錯認桃是薜蘿 

寄語挳舟從釣子 
過江應不聽琵琶 
*

過江莫聽琵琶 
高聲不似胡笳悽涼 
桃源水闊山長 
漁翁一棹仙堂半開 
萬重春鎖天台 
琴聲樂角聲哀不同 
寒山草色蔥蔥
蘇溪幾到清風自閑

*

Ngư ông khúc hành 

Dã ông đạm bạc diệc phồn hoa, 
Thác nhận Đào Nguyên thị bệ la.[1]
Ký ngữ khinh chu tòng điếu tử, 
Quá giang ưng bất thính tỳ bà. 
                 *
Quá giang mạc thính tỳ bà, 
Cao thanh bất tự hồ già thê lương. 
Đào nguyên thuỷ khoát sơn trường, 
Ngư ông nhất trạo tiên đường bán khai. 
Vạn trùng xuân toả thiên thai, 
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng. 
Hàn sơn thảo sắc thông thông, 
Tô khê kỷ đáo thanh phong tự nhàn.
                    *

Nguồn: 
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp

Chú giải:
dã ông
野翁, ông già ở chốn quê.
đạm bạc  
淡泊, nhạt nhẽo, vô vị.
diệc  
 cũng, cũng thế.
Phồn hoa  
繁花, náo nhiệt, xinh đẹp.
Thác nhận  
錯認, tự nhận, đành lòng.
Đào Nguyên 
桃源, nguồn đào,chỗ tiên ở.
Trong bài Đào Hoa nguyên ký, Đào Tiềm nói có người đánh cá chèo thuyền lạc lối đến Đào Nguyên là chỗ động tiên. Do đó, đào nguyên thường dùng để chỉ động tiên:

        Rước mừng đón hỏi dò la,

Đào nguyên lạc lối đâu mà tới đây?

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 191-192, bản Bùi Kỹ và Trần Trọng Kim

Ký ngữ  寄語, gởi lời.

khinh chu 挳舟, chiếc thuyền nhẹ.

tòng điếu tử 從釣子, theo người đi câu.

Quá giang  過江, qua sông.

Ưng  應, nên, bằng lòng.

bất thính tỳ bà不聽琵琶, Không nghe tiếng đàn tỳ bà.

Mạc 莫, tuyệt nhiên, chẳng ai không

Quá giang ưng bất thính tỳ bà và Quá giang mạc thính tỳ bà: bất thính = mạc thính, ( không nghe= chẳng nghe), hai câu nầy sử dụng từ khác nhau nhưng cùng một nghĩa: Qua sông chớ đam mê, lụy, tiếng tỳ bà.

Cao thanh 高聲, Tiếng ngân cao.

bất tự 不似, không giống giống như thế. (à peu près semblable) 

hồ già thê lương  胡笳悽涼, cái kèn lá lạnh lẽo bi ai.

Thủy khoát: sơn trường  水闊山長, biển rộng núi, 

toả Thiên Thai  鎖天台,Thiên Thai đã khóa.

Thiên Thai 天台,Một hòn núi ở tỉnh Chiết Giang bên Tàu. Đời nhà Hán, có Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai hái thuốc và gặp tiên. Do đó, Thiên Thai dùng để chỉ cảnh tiên,

         Xắn tay mở khóa động đào,

Rẽ mây trong tỏ lối vào Thiên Thai.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 391-392, bản Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

giốc thanh ai 角聲哀, tiếng thổi sừng trâu nghe bi ai.

Bất đồng  不同, không hòa quyện thuận thanh cùng nhau, chói tai. 

thảo sắc thông thông  草色蔥蔥, sắc cỏ xanh ngắt.

Tô khê 蘇溪 khe suối chảy về sông Tô Châu bên Tàu.

kỷ đáo 幾到 mỗi lần đến.

*

Ngân Triều dịch nghĩa:


Ông già ở quê nhạt nhẽo, cũng cảm thấy như ở nơi thành thị,

Cứ ngỡ chốn thần tiên, Đào Nguyên, là những bệ rêu xanh.


Nhắn gởi người đi câu trên chiếc thuyền nhẹ,


Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông.

     *

     Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông. 

      Tiếng ngân cao của đàn không giống tiếng kèn lá bi ai của người Mán. 

      Động tiên trên  biển rộng, núi dài mênh mang.

      Ngư ông chèo một mình tìm cửa tiên hé mở.

      Vạn vạn năm, đường  vào Thiên Thai đã khóa chặt,

      Tiếng đàn rụng, tiếng tù và bi thảm, không hòa tấu cùng nhau.

      Kìa trên núi lạnh, sắc cỏ xanh ngắt,

      Mỗi lần đến sông Tô, hóng gió mát, tức là đã nhàn hạ rồi.

*

(1) Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Gửi bởi Vanachi ngày 23/08/2008

Già quê đạm bạc cũng phồn hoa 
Lầm tưởng đào non là dây hờ
 
Nhắn nhủ người câu đò nhẹ lướt
 
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà
 

*

Qua sông đừng lắng tỳ bà 
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương
 
Nguồn đào trời nước mênh mang
 
Nhà tiên hé mở, chèo buông đò chài
 
Muôn trùng xuân khoá Thiên Thai
 
Tiếng ốc buồn, tiếng đàn vui chả cùng
 
Cỏ bời lợp, núi lạnh lùng
 
Sông Tô hầu tới thung dung gió nhàn

*

(2) Ngân Triều dịch thơ:

Khúc hát Ngư ông

Già quê cảnh nhạt, vẫn nguy nga,

Ngỡ chốn thần tiên rêu bệ hoa.

Nhắn gởi  ông câu, thuyền nhẹ lướt,
Sang sông, chớ  lụy tiếng tỳ bà.
 

*

Sang sông, chớ lụy tiếng tỳ bà , 
Cung bổng lạc âm kèn xứ Hồ!
 
Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô!
Thiên Thai ngàn thuở then cài mãi,
Còi rúc, đàn kêu, trắc tiếng tơ.
Chỉ  thấy cỏ xanh, ôm núi lạnh,
Sông Tô, gió mát, thú yên hà.[2]



[1] Đào yên thị hệ la: 桃嫣 , họ với người chài lưới.[Theo bản của TS Phạm Trọng Chánh nhưng tôi dùng bản của Thi viện như trên: Đào Nguyên thị bệ la: 薜蘿, chốn Đào Nguyên là những bệ rêu xanh.]

[2] yên hà: 煙 霞 . khói và ráng (mây). Thú vui tự do, thanh thản, không bị ràng buộc như mây và khói, thú vui của người ẩn sĩ.

       Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen

                   Ca dao

           Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,
      Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn?
          Nước trong rửa ruột sạch trơn,
     Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.

          Sớm doi tối vịnh vui vầy,
     Ngày dài hứng gió đêm chầy chơi trăng.
          Tháng ngày thong thả làm ăn,
     Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm.
          Nghêu ngao nay chích mai đầm,

    Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
                           Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu


                            ***



Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Bài 6; Lưu biệt thời An Quảng, An Hưng ngụ thứ, thơ chữ Nôm HXH trích trong Lưu Hương ký; Ngân Triều chú giải.

 

Bài số 6:
Löu bieät thôøi taïi An Quaûng, An Höng nguï thöù.

            (Lưu biệt thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ)


Hồ Xuân Hương

                       Tơ tóc lời kia còn nữa hết, 

                       Đá vàng lòng nọ xiết là bao. Ảnh minh họa bài 6, Google

Người về người ở khéo buồn sao,

Tức tối mình thay biết lẽ nào.

Tơ tóc lời kia còn nữa hết,

Đá vàng lòng nọ xiết là bao.

Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,

Mở mắt chờ xem bóng nguyệt cao

Sớm biết lẽ giời tan có hợp,

Thì mười năm trước bận chi nao.

*

Tiêu đề: Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.

Thư Viện Online

*
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:

别時在安廣安興寓次

𠊚 𠊚 𣄒 𢞂

即 最 𨉟 𨤧

𩯀 𠳒 箕 群 女 盡

𥒥 𢙱 𪜀

𩂀 𥢆 𣈜 𡗶 𥐆

𨷑 眜 除 䀡 䏾 月 高

𣋽 𨤧 𡗶 𣎏

時 辻 𢆥 𠓀 𢏑 之 芾

*

Chú giải

tức (1) , đau nghẹn, khó thở, nghĩa rộng: giận, bực không thể nói ra được, làm cho khó chịu, như tức mình, 𨉟; tức tối即最 .

tức (2) , bí, bực, chẹt như  Áo may chật, mặc tức nách; Tức nước vỡ bờ.

tơ (1)  , sợi tơ do con tằm nhả ra. 

  (2) chuyển nghĩa, chỉ cây đàn:

Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím nầy

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 741-742

tơ (3), non trẻ:

Những từ sen ngó đào tơ,

Mười lăm năm , mới bây giờ là đây!

                       Sđd, câu 3137-3138.

Tơ duyên   , sợi tơ buộc đôi trai gái với nhau như tơ đào:

          Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

                                                             Sđd, câu 751-752.

tơ hồng ,sợi tơ màu hồng; loại dây leo nhỏ có sắc vàng mọc quanh bờ tre, bờ giậu. Lễ tơ hồng là lễ tế vị thần tơ hồng tức là Nguyêt Lão, vị thần xe duyên cho trai gái ở thế gian.

  liễu   ,cành liễu  rũ xuống mượt như những sợi tơ.

tơ lòng 𢙱,tấm lòng yêu nhau ví như những sợi tơ, quấn quít lấy nhau; nỗi nhớ thương trong lòng.

 tơ mành 𥯋,sợi tơ mỏng mảnh:

          Cho hay là giống hữu tình,

Đố ai gỡ mối tơ mành cho ra.

Sđd, câu 243-244.

tơ tóc   𩯀 = tơ liễu,   , vật gì hoặc loại hình nhỏ và mượt.

đá vàng  𥒥 ,vàng và đá, ẩn dụ tình yêu bền chắc, mãi mãi không phai:

          Ví dù giải kết đến điều,

Thì đem vàng đá mà liều với thân.

Sđd câu 421-422

(giải kết,  , chia cắt mối tình đã giao ước, hẹn thề.)

Do hai câu thơ cổ:

Thương thiên nhược giải đồng tâm kết,

Kim thạch vi minh ngã dữ quân.

            

      𧖽     

*

Tạm dịch:

Trời xanh dẫu xóa lời giao kết,

Vàng đá bền gan, thiếp với chàng.

hoặc:

        Dẫu rằng Trời  bỏ  đồng tâm,

Đôi  ta nguyền kết trăm năm hẹn thề

Diễn ý bài thơ:

(1-2). Tâm trạng người ở lại.

(3-4-5-6), Tố chất của người ra đi và nỗi lòng khát khao bên nhau.

(7-8), Tiếc nuối thời gian gặp nhau muộn màng.

*

Ngân Triều dịch thơ:

Buồn lòng cho kẻ ở người đi.

Rất bực sao chưa rõ nỗi gì!

Còn hết lời kia nghe ngọt lịm,

Thủy chung lòng nọ vẹn tương tri.

Gặp nhau luống giận ngày trời ngắn,

Lúc hẹn hằng mong bóng nguyệt trì.

Nếu biết lẽ trời tan lại hợp,

Thì mười năm trước, bận lòng chi!

                      

                       ***