Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 25, 26, 27 (tiếp theo)

Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 25, 26, 27 (tiếp theo)

Baøi 25:
Ngõ trúc quanh co khách đón chờ, ẢnhGoogle.

*

              Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 25:

Trời cao một sắc trăng sáng ngần như bạc.

Mỹ nhân Xuân Hương Hồ Phi Mai đã ra đón từ bến trúc.

Nàng như vầng trăng xưa tỏa sáng bao ý đêm,

Nàng như hoa trời nở rộ khắp đình xuân.

Nàng làm những câu thơ bạch tuyết khó ngâm khó họa,thơ nàng vào bậc thánh.

Môi nàng say thắm như rượu có thần.

Đừng bảo Xuân về Xuân lại ra đi,

Trên cành mai lạnh mùa đông mai lại nẩy thêm cành.

*

Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 25:

Trường thiên nhất sắc bạch như ngân,
Trúc lý phùng nghinh đối mỹ nhân.
Cổ nguyệt chiếu lai khiêm dạ ý,
Thiên hoa khai xử mãn đình Xuân.
Ngâm thành Bạch Tuyết thi năng thánh,
Túy đáo chu nhan tửu diệc thần.
Mạc nhạ Xuân lai Xuân hựu khứ,
Hàn mai di phó nhất chi tân.

*

Ngân Triều soạn bản chữ Hán, bài 25:

長天一色白如

竹邐逢迎美人

古月照來謙夜意

天華開處滿亭春

吟成白雪詩能聖

醉到周顔酒亦神

莫迓春來春又去   

寒梅遺付一枝薪

*                                     












Say ngắm môi son, rượu chẳng chờ. Ảnh, Google

*

Nhất Uyêndịch, bài 25:

Trời cao một sắc trắng như ngân,
Bến trúc mừng vui gặp mỹ nhân.
Trăng cũ tỏa ngời bao dạ ý,
Hoa trời khai nở rộ đình xuân.
Ngâm câu Bạch Tuyết thơ nên thánh,
Say đắm môi son rượu có thần.
Đừng bảo xuân về xuân lại biệt,
Hàn mai vừa nở một cành xuân.

*

Ngân Triều cảm đề, bài 25:

Trời dài một sắc đẹp như mơ,

Ngõ trúc quanh co khách đón chờ.

Cổ nguyệt sáng ngời thêm dạ ý,

Trời hoa nở rộ khắp đình thơ.

Tiếng thơ bạch tuyết tài như thánh.

Say ngắm môi son, rượu chẳng chờ[1]

Đừng bảo Xuân đi, Xuân lại lại,

Kìa mai đang nẫy một chồi tơ[2]

 

*****
Baøi 26: (Bài 26)

                                                                         

                                                          Lặng ngắm cầu vồng khoe bóng rực,

            Tưởng hồn bay tận cuối trời xa. Ngân Triều, Ảnh Google.

Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 26:

Phía trên La Thành như tiếp giáp với Thiên Hà,

Ngoài thành cuồn cuộn dòng sông Nhị chảy qua.

Bờ liễu tháng chạp tha thiết buông lơi.

Gốc mai xông lạnh tự nở ngàn hoa.

Mười năm đọc sách luyện kiếm dùng làm chi nhỉ?

Muôn dặm còn ruỗi dong ta biết ra sao bây giờ.

Lặng nhìn móng cầu vòng bảy sắc ngoạn mục,

Lòng tưởng như hồn bay chơi tới tận chân trời.

*

Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 26:

La Thành[3] chi thượng tiếp Thiên hà,
Thành ngoại dung dung nhĩ thủy qua.
Đãi lạp liễu tương thư ngạn sắc,
Xung hàn mai tự phát thiên hoa.
Thập niên thư kiếm tương an dụng ?
Vạn lý trì khu thả nại hà !
Tỉnh đối tà hồng thiên giác hảo,
Mộng hồn tưởng dĩ đáo thiên nha.

*

Nhất Uyên dịch thơ, bài 26:

La Thành trời rộng nối Thiên hà,
Cuồn cuộn ngoài thành sông Nhĩ qua.
Tháng chạp biếc xanh hồ liễu  rũ.
Tiết hàn mai tự nở ngàn hoa.
Mười năm thư kiếm dùng chi nhỉ ?
Muôn dặm phiêu bồng mãi thế a !
Lặng ngắm móng trời riêng cảm khoái.
Mộng hồn tưởng đến bến bờ xa.

*

      Ngân Triều soạn chữ Hán,

 bài 26:

邏城指上接天河

城外融融耳水過

待臘柳相舒彦色

沖寒梅自發千華

十年書劍㐮安用

萬里持區且奈何

静對邪紅天角好

夢魂想已到天涯

*

Ngân Triều cảm đề, bài 26:

La Thành như giáp với Thiên Hà,

Cuồn cuộn dòng sông Nhị chảy qua.

Tháng chạp liễu xanh cành rũ mộng,

Lạnh lùng mai vẫn nở ngàn hoa.

Mười năm thư kiếm buồn vô dụng!

Muôn dặm lang thang cứ vậy mà…

Lặng ngắm cầu vồng khoe bóng rực[4],  

Tưởng hồn bay tận cuối trời xa.

 

*****

Baøi 27: (Bài 27)

                                        Nước rót bình thơm, bóng  liễu ngoài , Ngân Triều, Ảnh Google

             *

            Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 27:

.Hòn non bộ chơ vơ, vầng trăng bán nguyệt soi đình mai,

.Nhà vắng gió nhẹ thanh mát say tình đêm.

.Cành vông đồng biếc gầy ngoài sân, chim phượng đậu,

.Sau cơn mưa cây lá lạnh đã nghe tiếng chim oanh chuyền cành.

.Vào cuối Thu ánh trăng sáng soi hồn mai lạnh buốt.

.Nước rót vào bình thơm còn vương bóng liễu nhẹ thênh thang.

.Tứ thơ man mác mộng theo ý Xuân,

.Hòn non bộ chơ vơ, vầng trăng bán nguyệt soi đình mai. 

*
Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 27:

Cô sơn bán nguyệt bạng mai đình,
Tĩnh viện lương phong ngọ dạ tình.
Ngô bích sấu chi đình hạ phượng.
Vũ dư hàn diệp thụ lưu oanh.
Thu viên nguyệt sắc mai hồn lãnh,
Thủy lựu hương bình liễu ảnh khinh.
Du tử mộng tùy Xuân ý đắc,
Cô sơn[5] bán nguyệt bạng mai đình.

*

          Bản chữ Hán Ngân Triều soạn, bài 27:

孤山半月旁梅𠅘

靜院凉風午夜情

梧碧痩枝𠅘下鳳

雨餘寒枼樹留鴬

秋園月色梅魂冷

水溜香瓶柳影輕

遊子夢隨春意得

孤山半月[6]梅𠅘

*

Nhất Uyên dịch bài 27:

Non trơ nửa nguyệt sáng mai đình,
Gió nhẹ nhà yên tối vắng tanh.
Cành biếc vông gầy sân phượng đậu,
Mưa tàn lá lạnh cội chuyền oanh.
Thu tròn ánh nguyệt hồn mai giá,
Nước nhỏ bình thơm bóng liễu xanh.
Man mác tứ Xuân vào giữa mộng,
Non trơ nửa nguyệt sáng mai đình.

*
Ngân Triều cảm đề, bài 27:

Non đơn, trăng chiếc rạng đình mai,

Nhà vắng, nửa đêm gió giục hoài.[7]

Cành biếc vông gầy, chim phượng đậu,

Mưa thưa lá ướt bóng oanh bay.[8]

Cuối Thu trăng sáng soi mai lạnh.

Nước rót bình thơm, ánh liễu ngoài.[9]

Man mác tứ thơ Xuân, đắc ý,[10]

Non đơn, trăng chiếc rạng đình mai.[11]

Ngân Triều.



Chú thích

[1]  say đắm, như có thần, thêm cảm hứng, chẳng cần chờ mời rượu, ráo ngay.

[2] Mai: Phi Mai giờ đang có mang.

[3] La Thành: 邏城, Thành Thăng Long thời Bắc thuộc còn có tên là thành Đại La do Cao Biền xây. Thành Thăng Long được xây dựng vào đời Lý năm 1010, thế kỷ XI, khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Năm 1804 Vua Gia Long sai Nguyễn Văn Thành phá thành cũ xây lại thành mới nhỏ hơn.

[4] rực: rực rỡ, lộng lẫy.

[5] Cô Sơn:  ; có thể hiểu là núi Tam Đảo, nhưng núi Tam Đảo từ Cổ Nguyệt Đường chỉ có thể thấy khi trời quang mây tạnh. Bài Cố kinh thu nhật, Hồ Xuân Hương có viết:

Tam Đảo trời quang vọng bắc xa (Tam Đảo tình quang Bắc vọng xa)

do đó ban đêm trăng bán nguyệt Tốn Phong chỉ có thể thấy hòn non bộ nhà Phi Mai. 

[6] Chữ bạng, , còn đọc là phang , bát ngát, mênh mông; ở đây xin dịch là chữ “rạng” , trong câu cuối bài thơ “Ngân Triều cảm đề bài 27”: Non đơn, trăng chiếc rạng đình mai.

[7] Hai câu đề khắc họa hình ành cô đơn lẻ loi. Hòn non bộ cô đơn, chơ vơ; nửa vầng trăng= trăng chiếc; đơn chiếc= lẻ loi, nhà vắng, nửa đêm.

Câu 2 là gió mát khơi gợi tâm tình buồn nhớ miên man. Hoài=buồn nhớ. Có thể người dịch đã bí vần nên mới viết vậy. Gió giục hoài= Gió khơi gợi nhớ nhung.

[8] Trăng sáng, sau mưa, cành lá ướt, thấy bóng chim oanh bay cũng tạm được.

[9] Khi rót nước vào bình thơm, thấy bóng cây liễu in vào dòng  nước rót. Tứ thơ thật hay!

[10] Bấy giờ trời cuối Thu, chữ Xuân là mùa Xuân còn lâu mới đến. Có thể tác giả làm thơ Xuân trước như thường lệ.

[11] Bài thơ được làm theo  lối “Thủ vĩ ngâm”. Câu đầu và cuối như nhau.

  

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 22, 23, 24 (tiếp theo)

 

Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 22, 23, 24 (tiếp theo)

Baøi 22: (Bài 22)

Mười bài  thơ năm 1814  vẫn chưa đủ, Tốn Phong làm tiếp mười bài nữa.

Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 22:

                                                                              

Mặt người không biết đi đâu mất
Vẫn vậy, hoa đào cười gió Đông./Ngân Triều

*

.Kiếp đời trôi nổi như bèo nước, sáu năm xưa (1807) đã từng gặp gỡ nàng,

.Tốn Phong đã nhiều lần đến thăm Cổ Nguyệt Đường nơi nàng sinh trưởng.

.Gian phía trái là nơi tiếp khách, có chậu hoa nở rộ tươi mát nàng mới tưới hương còn ẩm,

.Tiếng chim ríu rít giữa sân bên hòn non bộ, Tốn Phong tả nước trong hòn non bộ thành khói bốc lên cho thi vị chăng ?

Khí hậu làng Nghi Tàm có đủ lạnh để khói bốc như thế chăng, tôi (TS Phạm Trọng Chánh) ngờ rằng phía sau hòn non bộ đặt vài ông táo để nấu nước, pha trà đun củi khói bốc lên. Hai chữ tả viện cho phép ta suy diễn: ngôi Cổ Nguyệt Đường được Tốn Phong gọi là đình, hay viện, khá lớn cất theo hình chữ khẩu (hình vuông) có tả viện nơi tiếp khách, bán giấy bút cho học trò, tất nhiên có hữu viện là phòng ngủ, khuê phòng, thư phòng, với gỗ chạm khắc cho ánh sáng đủ vào. Tiền viện là gian nhà dạy học và hậu viện là nơi bàn thờ thờ phụng. Chính giữa là sân gạch có hòn non bộ, chậu kiểng, khi cần dùng có thể biến thành sân phơi thóc. Gian tả viện và tiền viện phía trong không có vách để có ánh sáng, có tấm phản cho thầy ngồi, học trò trải chiếu ngồi chung quanh. Gian tả viện có một vài bộ trường kỷ (ghế dài chạm xa cừ), có bàn đặt bình trà. Gian nhà thờ phía sau, có cửa ván, khi có giổ chạp hay tang lễ mở cửa ra. Con cháu, học trò đông đúc đứng tràn ra sân.

.So với ngày trước, nàng có gầy đôi chút

.Làm cho cốt cách nàng thanh thoát.

.Sắc đẹp nàng mặn mà hơn xưa, mười phân vẹn mười. Chỉ tiếc rằng sáu năm qua đi ở không viết thư cho nhau,

.Nay gặp lại người cũ, hoa xưa lòng vui mừng xiết bao.

*

Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 22:

Bình ngạnh tương phùng lục tải tiền,
Đã tằng kỷ độ phỏng đào nguyên.
Hoa khai tả viện hương do thấp.
Điểu lộng hàn sơn thủy dục yên.
Nhất dạng mai trang thanh triệt cốt
Thập phần xuân sắc hảo liên thiên.
Chỉ kim quy khứ vô tiêu tức,
Y cựu đào hoa nhận túc duyên.

*

Ngân Triều soạn bản chữ Hán,

bài 22:

宿

*

Nhất Uyên dịch thơ, bài 22:

Gặp gỡ bèo hoa trước sáu năm,
Nguồn đào mấy độ đã về thăm.
Hoa đơm tả viện hương còn ẩm,
Chim hót non hàn khói biếc dâng.
Thanh thoát vẻ mai gầy cốt cách,
Rỡ ràng xuân sắc vẹn mười phân.
Đã lâu đi ở không tin tức,
Người cũ hoa xưa gặp gỡ mừng.

*

Ngân Triều cảm đề, bài 22:

Bèo nước lênh đênh những sáu năm,

Đã từng mấy bận đến tìm thăm.

Dải hoa tươi thắm hương còn quyện,

Chim hót, hòn non khói tỏa lan.

Cốt cách mai gầy thanh quý tuyệt,

Xuân dung sắc sảo vẹn mười phân.

Hôm nay tái ngộ, không ngờ nhỉ?

Vẫn vậy, hoa đào[1] nở túc căn[2].

*****

Baøi 23: (Bài 23)

 Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 23:

Mùa Xuân sang, biết tìm thần hoa xứ nào,

Mười độ Xuân về chín độ nhớ thương nàng.

Tiếc rằng thân phận thư sinh chưa đỗ đạt sớm gặp người tri kỷ.

Dù ngàn vàng cũng không mua được tấm thân thanh Xuân của nàng.

Ánh hồ trong leo lẻo thấy suốt đáy,

Vầng trăng tròn sáng soi Cổ Nguyệt Đường.

Rặng liễu nơi bờ hồ hãy vì ta mà nhắn lời rằng:

Hoa mai đã rực rỡ khắp núi mây ngàn.

 *

   Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 23:

Xuân lai hà xứ mịch hoa thần,
Thập độ Xuân lai cửu tích quân.
Bạch diện tao phùng tri kỷ khách,
Hoàng kim nan nại thiếu niên thân.
Hồ quang liễm liễm thanh vô để,
Đình nguyệt đoàn đoàn mãn thập phần,
Vị ngã truyền ngôn giang thượng liễu,
Mai hoa dĩ chiếm lĩnh đầu vân.

*

Chú thích:
Bạch diện
, bạch diện thư sinh, người học trò chưa thi đỗ.

*

Ngân Triều soạn bản chữ Hán,

bài 23:

春來何處覔華神

十渡春來久昔君

白面遭逢知己客

黃金難奈少年身

胡光歛歛青無

亭月團團滿十分

未我傳言江上柳

梅華巳占領頭雲

*                                                 

Bến sông! Ơi liễu! Cho ta nhắn: 

Mai chiếm trời Xuân chiếm ráng cao

  Ảnh minh họa, Google

*

Nhất Uyên dịch, bài 23:

Xuân sang nào biết chốn hoa thần,
Mười độ Xuân về chín nhớ thương.
Mặt trắng gặp người tri kỷ sớm,
Nghìn vàng khôn chuộc tuổi thanh Xuân.
Hồ trong leo lẻo soi lòng thẳm,
Đình nguyệt tròn xoe sáng ánh rằm.
Dặm liễu hãy vì ta nhắn bến,
Hoa Mai rực rỡ núi mây ngàn.

*

Ngân Triều cảm đề, bài 23:

Xuân đến, thần hoa ở xứ nào?

Nhớ thương chín, mười độ nôn nao?

Tủi thân hèn mọn si tri kỷ,

Cho dẫu ngàn vàng dễ chuộc đâu.

Hồ sáng lung linh, soi đáy nước,

Trăng Đình vành vạnh rạng đêm thâu.

Bến sông, ơi liễu, cho ta nhắn:

Mai chiếm trời Xuân chiếm ráng cao[3].

                                                             Ngân Triều

*****

    Baøi 24: (Bài 24)

Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 24:

                                                                              

Một cánh  hoa bay luống ngẩn ngơ/ Ngân Triều/ Ảnh minh họa, Google

. Xuân đã về, đi dạo chơi khắp chốn kinh thành thấy hồn thơ lai láng.

. Một cánh hoa bay cũng làm buồn lòng người, Tốn Phong dùng chữ hoa bay ý nói tên Phi Mai làm cho chàng thương nhớ,

. Ngoài trời bóng mây trôi như người lữ khách bao năm phiêu bạt.

. Sóng thông reo khúc nhạc êm đềm cho người ngồi bên bến nước lắng nghe,

. Có nhàn rỗi tâm hồn mới yên tịnh lắng nghe những cảnh sắc đẹp. 

. Càng giao du với nàng càng lâu càng thân thiết.

. Còn nhớ những đêm thanh cùng nhau xướng họa thơ nơi đình mai,

. Một bầu trời trăng sáng ngần như bạc.

*

Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 24:

Mãn thành xuân sắc tứ phân phân,
Nhất phiến hoa phi não sái nhân.
Vân ảnh sạ tòng thiên ngoại khứ,
Tùng đào như hưởng thủy biên văn.
Đình tri thế sự nhàn như hảo,
Thả giác giao tình cửu cánh thân.
Thượng ức mai đình thanh dạ hứng,
Trường thiên nhất sắc bạch như ngân.

*
Ngân Triều soạn bản chữ Hán, bài 24:

滿城春色思分分

一片華飛惱灑人

雲影乍從千外去

松濤如響水邊聞

停知世事閒如好

且覺交情久竟身

上憶梅𠅘青夜興

長天一色白如

*

    Ráng vàng ươm, cùng cánh cò đơn chiếc đều bay;

    Làn nước Thu, bầu trời dài nối liền một sắc. Ảnh Google

                                    *

Nhất Uyên dịch thơ, bài 24:

Khắp thành Xuân sắc tứ thơ vương,
Một cánh hoa bay ai nhớ thương.
Thoáng bóng mây xa ngàn dặm đó,
Thông reo tiếng sóng bến bờ tương.
Việc đời mới hiểu nhàn nên tốt,
Càng đậm tình sâu biết tỏ tường.
Còn nhớ đình mai vui thuở ấy,
Trời cao một sắc trắng như gương.

*
Ngân Triều cảm đề, bài 24:

Khắp thành Xuân đến rộn hồn thơ,

Một cánh  hoa bay luống ngẩn ngơ[4].

Mây nổi chạnh lòng ngàn dặm mỏi[5],

Sóng thông réo rắt vọng xa bờ.

Việc đời biết bỏ, nhàn thanh thản,

Mải miết giao du tủi hững hờ[6]. 

Còn nhớ đình mai, đêm xướng họa,

Trời dài một sắc đẹp như mơ.[7]

                                           Ngân Triều



[1] Tốn Phong mượn ý 2 câu thơ của Thôi Hộ:
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.

Mặt người không biết đi đâu mất

Vẫn vậy, hoa đào cười gió Đông. 

Thể hiện một tâm trạng u hoài trong ngỡ ngàng, tiếc nuối vì không gặp lại giai nhân, ngỡ là nàng đã đi lấy chồng.

[2] Túc căn 宿 , cây cối khô héo trong mùa Đông, còn rể dưới đất, đến mùa Xuân tiếp theo, đâm chồi nẫy lộc, gọi là túc căn hay túc duyên.

Ở đây, nở túc duyên, 𦬑 宿 , có thể hiểu, Hồ Phi Mai có duyên mới, sắp thành duyên cùng quan Tham Hiệp, Trấn Yên Quảng, Trần Phúc Hiển. 

[3] Nghĩa của câu 8 bài thơ diễn ra là “Hoa Mai đã chiếm cà vầng mây”, tức là Hồ Phi Mai đã chiếm mất hồn tác giả, người đắm đuối, si mê Phi Mai. Nhưng  chữ “mây” để thế thì không tròn vần. Do đó, người dịch xin đổi thành chữ “ráng”= “mây chiều” và thêm chữ “cao”, khái quát lên để hợp vần. NT. 

[4] Sao tác giả có tình ý với Hồ Phi Mai mà không hạ bút “Nhất phiến phi mai”=một cánh mai bay, có tên người tình si nhỉ? (Hồ Xuân Hương tức là Hồ Phi Mai). Tức là trong bài thơ sao tác giả viết “Nhất phiến hoa phi”,  一片, một cánh hoa bay; mà không viết “Nhất phiến mai phi”,  一片, Một cánh Mai bay, Mai là tên Hồ Phi Mai. Hay là tam sao thất bổn?

[5] Nhớ bài điếu văn bất hủ của Lưỡng quốc Trạng nguyên, Mạc Đỉnh Chi ứng khẩu đọc điếu văn cho một nàng công chúa  bên Tàu:

Thanh thiên nhất đóa vân.
Hồng lô nhất điểm tuyết.

Thượng uyển nhất chi hoa.

Dao trì nhất phiến nguyệt.

Y! Vân tán! Tuyết tiêu! Hoa tàn! Nguyệt khuyết!

一朶

爐一點 

苑一之 

瑤池

雲散! ! 華戔! !

Một vầng mây trên trời xanh.

Một điểm tuyết trên lò hồng.

Một đóa hoa của vườn thượng uyển.

Một mảnh trăng trong ao sang.

Than ôi! Mây tán! Tuyết tiêu! Hoa tàn! Trăng mất!

[6] Chẳng hững hờ, tức là thân quen, có nhiều cảm tình với nhau hay thân thiết. 

[7]  Tác giả lấy ý nguyên văn 2 câu thơ trong bài  phú Đằng Vương Các tự của Vương Bột: 

Lạc hà dử cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.

落霞與孤鶩齊飛

秋水共長天一色

Ráng chiều ươm, cùng cánh cò đơn chiếc đều bay;

Làn nước  thu, bầu trời dài hài hòa một sắc.

***
(Còn tiếp)