Mời quý bạn tham khảo một áng văn hay thời Tây Sơn, ca ngợi cảnh đẹp Hồ Tây và áng văn nầy cũng đã mở ra một cuộc bút chiến về mới - cũ đầu tiên trên văn đàn Việt Nam.
TỤNG TÂY HỒ PHÚ
Nguyễn
Huy Lượng (? – 1808)
-----------------------------
誦西湖賦
阮輝諒; (? - 1808)
Tây Hồ phú hay
còn gọi là Tụng Tây Hồ Phú hoặc Tây Hồ cảnh tụng, là một bài phú của Nguyễn Huy
Lượng ca ngợi cảnh Hồ Tây, thông qua đó ca ngợi sự nghiệp, công lao của triều
đại Tây Sơn.
Hoàn cảnh ra đời
Năm 1801 vua Bảo Hưng nhà Tây Sơn ra thăm
Thăng Long. Nhân tiết hạ chí, ông làm lễ tế mùa hè ở đền Phương Trạch tại Hồ
Tây, sai Nguyễn Huy Lượng lúc bấy giờ đang là Chương lĩnh hầu, giữ chức quan
Phụng nghị bộ Lễ, soạn một bài thơ và một bài phú, đọc trong buổi lễ tế ngày 21
tháng 6 năm Tân Dậu (1801). Bài thơ và bài phú này được nhà vua rất tâm đắc và
đã ban thưởng cho Nguyễn Huy Lượng hai quan tiền đồng.[1]
Tên gọi
Sau khi hai bài thơ và phú này ra đời,
dân Hà thành ai cũng muốn có một bản, nếu đã không đi tìm mua lại được họ mua
giấy mực về chép lại. Do đó sau này có nhiều dị bản và tên gọi khác nhau. Những
tên gọi còn ghi trong văn bản giữ lại được đến ngày nay là: Phong cảnh biệt
chí; Tây Hồ phú; Tây Hồ cảnh tụng... Nhưng người dân khi nói đến bài phú này
thì người ta thường gọi là Phú ông Lượng
Văn bản
Đây
là bài phú chữ Nôm, gồm 86 liên, dùng chỉ một vần "hồ" (độc vận). Do những văn bản của
bài phú này đều là những bản chép tay nên chúng không tránh khỏi có nhiều chỗ
chép khác nhau. Hiện thư viện Hán Nôm có bốn dị bản khác nhau về bài phú này.
Phong
cảnh biệt chí (ký hiệu AB.377)
Tây
Hồ phú được Vũ Khắc Tiệp cho đăng trên Vĩnh Long Hưng thư quán, Hà Nội, 1931
(ký hiệu AB.299) [2]
Tây
Hồ cảnh tụng (ký hiệu VNv.184) được in trong sách: (Phú Việt Nam cổ và kim,
Nxb. Văn hóa, H. 1962.)
Hợp
tuyển thơ văn Việt Nam (TK. XVIII - TK XIX), Nxb. Văn hóa, HN, 1963, Trang
155-162.[3]
Trong đó bản thứ nhất được cho là bản gần
với nguyên tác hơn cả. Tạp chí Hán Nôm tháng 2 năm 1988 đã cho đăng những khảo
cứu về bài thơ và bài phú này. Trong việc khảo cứu này lấy bản 1 làm bản nền.
Các bản còn lại sẽ được dùng để đối chiếu với bản 1. Nơi nào mà bản 1 tối nghĩa
thì thay vào bằng chữ có nghĩa ở bản khác. Trong việc chú thích, có chú thích
của nguyên bản (chủ yếu là Bản 2 và Bản 3, người chú thích cũng có thể là chính
tác giả, mà cũng có thể một ai đó về sau) và chú thích bổ sung của những người
khảo cứu.
Đánh giá
Cuốn "Thăng Long – Hà Nội ngàn năm
văn hiến" viết: "Có thể nói, trước và sau Nguyễn Huy Lượng, chưa hề
có một tác phẩm nào viết về non sông đất nước Thăng Long Hà Nội hay đến thế,
đẹp đến thế. Chỉ với một danh tác ấy cũng đủ xếp Nguyễn Huy Lượng vào hàng
những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất Thăng Long. Áng văn Nôm trác tuyệt tân kỳ,
dân Hà thành hồi ấy gọi là "Phú ông Lựợng" trong khi đổ xô đi tìm mua
bản chép tay này… Người ta mua giấy mực về chép lại khiến cho giá giấy phường
Hàng Giấy, Hàng Gai vọt hẳn lên."[4]
Tụng Tây Hồ phú, một áng văn khiến người đọc say mê, rù rì đọc từng chữ
từng câu. Cái dư âm của nó quấn quýt mãi không rời. Những từ láy lần đầu phát
ra từ bài văn Nguyễn Huy Lượng và chẳng bao giờ lặp lại nữa. Nghĩ đến văn
chương vùng đất Thăng Long, người ta nhớ ngay đến bài văn ấy, tác giả ấy.
Thạc sĩ Phùng Hoài Ngọc nhận xét.
Ngay cả đến Phạm Thái người đã làm bài
phú mang tên Chiến tụng Tây Hồ phú để đối lại bài Phú này của Nguyễn Huy Lượng
cũng phải công nhận đây là một bài phú rất hay qua chính lời dẫn của ông ta: Ta
thấy ban đầu thoạt đọc, ông cũng lấy làm hay, hỏi ngay:
-Ai làm bài ấy mà hay thế?"...
"Bạn rằng:
-Chương Lĩnh hầu Hữu hộ Lượng làm"
thì ông thay đổi thái độ:
"Ta rằng:
-Chao ôi! Hữu hộ Lượng
à! Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm nguỵ lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn
mặt... Nay nhân bỉ kẻ làm bài tụng, ta cũng làm bài Chiến tụng để góp chút trò
cười với đời"[5]
Chú thích
[1] ^ Nguyên văn chú
thích chữ Hán của văn bản "Tây Hồ Phú" như sau: Hạ chí tiết, hành hạ
chi lễ. Hoàng triều Bảo Hưng Tân dậu niên, ngự tế Phương Trạch đàn tại Tây Hồ,
nhưng mệnh Lê triều Hương cống Hành Lễ bộ phụng nghị quan. Chương lĩnh hầu soạn
thi, phú các nhất thể, phụng ngự ban bao thưởng thanh tiền nhị thập quán 2.
Dịch: (Tiết hạ chí, làm lễ tế mùa hè. Năm Tân dậu (1801) triều Bảo Hưng, nhà
vua đến tế ở đền Phương Trạch tại Hồ Tây, sai quan Phụng nghị bộ Lễ, đỗ hương
cống triều Lê, là Chương lĩnh hầu soạn thơ và phú, mỗi thứ một bài, được vua
khen thưởng, ban cho 2 quan tiền đồng).
[2] ^ Cuối bài phú này
có ghi "Kiến Phúc Giáp thân chi niêm, Nhị Thuỷ Nhị Cân Hương Đình Băng Mã
lão phu bút thảo" (Nhị Thuỷ Nhị Cân Hương Đinh Băng Mã lão phu chép lại
vào năm Giáp thân 1884 niên hiệu Kiến Phúc).
[3] ^ Vũ Thanh Hằng, Bài
thơ và bài phú ca ngợi cảnh Hồ Tây của Nguyễn Huy Lượng, đăng trong tạp chí Hán
Nôm 2-1988
[4] ^ Thăng Long – Hà
Nội ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, 2009, trang 312
[5] ^ Thăng Long –Hà Nôi
ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, tái bản lần 3-2009, trang 342.
Sách tham khảo
• Thăng Long –Hà Nôi
ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, tái bản lần 3, năm2009
• Tạp chí Hán Nôm 2-1988
Bài phú độc vận, lấy vần "hồ", nội dung miêu tả và
ngợi khen phong cảnh Tây Hồ (Hà Nội) và tán tụng công đức Tây Sơn.
Nguồn:
Việt Hán Nôm 2002
Nguyễn Huy Lượng (阮輝諒? - 1808)
Bản
Hán Nôm: Ngân Triều phiên âm & chú giải.
Bản
Tiếng Việt, Phạm Thái và SKTT, Nguyễn Văn
Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon 1973 trang 219-239.
---------------------------------
誦西湖賦
(1)
Lạ thay cảnh Tây Hồ
Lạ thay cảnh Tây Hồ
1- 邏処景西湖
邏処景西湖。
(2) Trộm nhớ thuở đất chia chín cõi;[1]
Nghe rằng đây đá mọc một gò.
2- 謭仌挆坦勚佂憥
牐浪低廏仺沒潄。
(3) Trước Bạch Hồ vào ở đó làm hang, long vương trở nên vùng đại trạch;[2]
Sau Kim Ngưu[3]
do vào đây hoá vực, Cao vương[4]
đào chặn mạch hoàng đô.[5]
3- 苉白猢侟於刬乄缊,龍王阻戼潂大澤
畱金牛由侟低化域,高王掏振脈皇都。
(4) Tiếng nghe gọi Dâm Đàm, Lãng Bạc;
Cảnh ngó in tinh chử,[6]
băng hồ.
4- 曢牐噲淫潭焔泊
景噺印星渚冰湖。
(5) Sắc dờn dờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo;
Hình lượn lượn uốn vòng câu bạc,[7]
tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò.
5- 色寅寅染式藍鈎,肦洞碧奛瑨匇丠丠
形歰歰扝怶勾昰,想暈銀淶笹摼岺岺。
(6) Dư nghìn mẫu nước trời lẫn sắc;
Trải bốn bên hoa cỏ nhiều mùa.
6-餘懯畝搩俼吝色
钘夝边花礊蜫炞。
(7) Áng đất phơi mỏ phượng còn in, kẻ rằng đài thượng nguyệt;
Vũng nước hút hàm rồng chẳng cạn,
người gọi trản trung tô.[8]
7-盎坦嘑惣鳳群印,丗浪臺上月
蠺搩吸唅纅拯喼,圤噲盞中酥。
(8) Toà thạch tháp[9]
nọ nơi tiên để báu;
Chốn thổ đôi[10]
kia chỗ khách chôn bùa.
8-座石塔怒厼仙底宝
准土堆箕謩客畕符。
(9) Đền Mục Lang[11]
hương lửa chẳng rời, tay lưới phép còn ghi công bắt hổ;
Quán Chân Võ[12]
nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam rùa.
𡊰穆郎香焒 拯, 拪䋥法群記 功 扒 虎;
舘鎭武𣌝湄芾轉, 𦧜劍誠群底昔㨔𧒍.
(10) Kề bến nọ quán Thiên Niên lớp
lớp;
Cách ngàn kia ghềnh Vạn Bảo[13]
nhấp nhô.
10- 𫑇𣷷怒舘千年𤖹𤖹;
隔岸箕涼万宝岌儒.
(11) Toà kim liên[14]
sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in vùng tĩnh phạn;[15]
Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng
Phụng Thiên nhận sẵn thú Nghi Vu.
11- 座金蓮㳥浮味香, 廚鎮国想印塳靜範;
行古樹𩙍𢲣𣈖綠,場奉天認產趣沂圩。
(12) Dấu Bố Cái[16]
rêu in nền phủ;
Cảnh Bà Đanh[17]
hoa khép cửa chùa.
12-𨁪布丐繤印𡋂府,
境妑釘花抾𨷯廚。
(13) Trông mơ màng dường đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích
chích;
Nghe phảng phất ngỡ động đào mái nọ,
mấy tiếng gà trong trại gáy o o.
13-𥉫𥊚忙羕頂鷲坭箕, 𠄧組鵲𡳳廊叫隻隻.
𦖑彷彿語洞桃𠃅怒,某㗂鵸𥪝寨𠰁嗚嗚。
(14) Lò Thạch Khối[18]
khói tuôn nghi ngút;
Ghềnh Nhật Chiêu[19]
sóng giật ỳ ồ.
14-炉石塊𤌋𣻆艤𤈡;
涼日招㳥𪮞𥑴𤀙。
(15) Rập rềnh cuối bãi Đuôi Nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm;
Thanh lảnh đầu hồ Cổ Ngựa, tháp cao
tăng còn hé cửa tò vò.
15- 拉呈𡳳𪤄𡳪鱙, 船商客唉氈帆蝶蝶.
声領頭湖股馭,塔高僧群戲𨷯徂虶。
(16) Chày Yên Thái[20]
nện trong sương chểnh choảng;
Lưới Nghi Tàm[21]
ngăn ngọn nước quanh co.
16-杵安泰𢬧𤁘霜整𢶥;
䋥宜蚕拫𦰟渃觥𨔌。
(17) Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm;
Sen vũng nọ nảy tiền xanh lác đác, lửa
đóm ghen năm xã gây lò.
17- 柳坡箕飛絲碧彿坯,梭鶯嘺𠄩坊𦂾錦;
蓮淎怒䄧錢𩇛𥋷得,焒𧏱慳𠄼社𨢟炉。
(18) Cầm ve gảy lầu thư ánh ỏi;
Mõ cuốc khua án kệ rì rù.
18-琴蟡𢭮樓書暎喂;
㖼𪅦摳案偈洟㾄.
(19) Gò Châu Long[22]
khi ngọn gió đưa quanh, hồi thú cổ[23]
thẳng kề bên mái trúc;
Non Phục Tượng[24]
lúc vầng trăng hé nửa, tiếng hàn châm[25]
nghe cách dải sông Tô.
19-塸珠龍欺𦰟𩙍拸𨒺,回戍鼓𣦎𫑇边𠃅竹;
𡽫伏象𣅶暈𦝄戲𡛤,㗂寒砧𦖑隔𢄩滝甦。
(20) Người ngoạn cảnh thẩn thơ đòi
đoạn;
Khách thâu nhàn lai láng từng khu.
20-𠊚玩景吲他堆斷;
客收閑來𣼽曾區.
(21) Mảnh áo tơi lớp xớp trong mưa, ca thanh thảo quyến đàn trâu gã Nịnh;[26]
Con thuyền trúc lân la trước gió,
khúc thương lang[27]
đưa gánh củi chàng Chu.[28]
21-𤗖袄𥵖泣泣𥪝湄,歌青草睠彈𤛠𪟡甯;
𡥵船竹瞵纙𠓀𩙍,
曲滄良拸梗檜払周.
(22) Vầy cuộc ẩn mọi nghề chẳng thiếu;
Mượn thú vui bốn bạn[29]
gồm no.
22-噽局隱每芸拯少
摱趣𢝙𦊚伴𪞍奴。
(23) Cảnh Khán Sơn[30]
chưa gác cuộc cờ, lòng thơ đã bồi hồi ban lãnh thố;[31]
Làng Vọng Thị[32]
còn đông tiệc rượu, tiếng cầm đà não nuột buổi tà ô.
23-景看山渚擱局棋, 𢙱詩㐌徘徊頒冷兔;
廊望市群冬席酒, 㗂琴㐌惱𣻀𣇜斜烏。
(24) Khách Ngô Sở chợ Tây ngồi san
sát;
Người Hy Hoàng[33]
song bắc[34]
ngáy phi pho.
24-客吳楚悪西憹珊察
𠊚羲皇窗北𠵨呸哺。
(25) Bến giặt tơ người vốc nước còn
khuya, gương thiềm đựng trong tay lóng lánh;
Vườn hái nhị kẻ dày sương hãy sớm,
túi xạ rơi dưới gót thơm tho.
25- 揼眫絲𠊚卜渃群𣅙,鏡蟾𡓂𥪝拪弄伶;
園𢲨蕊仉𠫅霜唉𣋽,繓麝淶𤲂𨃴𦹳萩。
(26) Ngang thành thị ghé yên hà một thú;
Dọc phố phường tung phong nguyệt hai
kho.[35]
26-昂城市踦煙河沒趣
𨂔浦坊蹤風月𠄩庫。
(27) Gió hiu hiu dòng Nhị Thuỷ đưa lên, lồng hơi mát tới chùm hoa khóm trúc;
Trăng vằng vặc mái Tam Sơn rọi
xuống, đớp bóng trong từng lũ cá đàn cò.
27- 𩙍囂囂𣳔洱水拸𨑗,𢲣唏沫細𫇳花㯲竹;
𦝄焩域𠃅三山燴𨑜,㗳𩃳𤄯曾僂𩵜彈𪂮。
(28) Phong cảnh cũ nhiều nơi thắng lãm;
Triều đại xưa mấy lớp thanh ngu.[36]
28- 風境𡳰𡗉坭胜覧;
朝代𠸗某垃清娱。
(29) Tựa bóng hoa đặt quán Quan Ngư[37]
kìa đời Long Khánh;[38]
Đè mặt sóng đem đường dụ tượng[39]
nọ thuở Kiền Phù.[40]
29-似䏾花撻舘觀漁箕𠁀隆慶;
提𩈘㳥𨑴塘諭象怒𣇫乾浮。
(30) Trải Trần trước đã nhiều phen xe ngựa;
Tới Lê sau càng lắm độ tán dù.
30-𣦆陳畧㐌𡗉番車馭;
細黎𢖖強夦度傘𢂎。
(31) Trộm nhớ thiên bát vịnh du hồ,[41]
trong tỉ hứng cũng ngụ lời quy phúng;[42]
Lại nhớ khúc liên ngâm thưởng
nguyệt,[43]
lúc tiếu đàm dường thoả ý giao phu.[44]
31-囕𢖵篇八詠遊湖,𥪝比興拱喁喁唎歸諷
吏𢖵曲連吟賞月,𣅶笑談羕脞意交夫。
(32) Toà đá nọ ghi câu canh hoạ;[45]
Dòng nước kia dường nổi chén tạc thù.
32-座廏怒綋句賡和
𣳔渃箕羕浽盞酢酬。
(33) Năm sau từ nổi bụi tiêu tường,[46]
ba thước nước khôn cầm màu hiệu khiết;[47]
Buổi ấy cũng góp phần tang hải, sáu
thu trời bao xiết nỗi hoang khô.[48]
33- 𢆥𢖖自浽培椒牆,𠀧𢭑渃坤擒牟顥潔
𣇜意拱給分桑海,𦒹秋𡗶包掣𦁀荒枯。
(34) Hình cây đá mưa trôi gió giạt;
Sắc hoa chim mây vẩn sương mù.
34-形核𥒥𩄎㵢𩙍淖;
色花𪀄𩅹沕霜霧。
(35) Chốn trì đàm[49]
làm bợn vẻ thanh quang,[50]
xuôi ngược những vẫy đuôi khoa đẩu;[51]
Nơi phạm vũ [52]để
che màu sảng lãng, dọc ngang trao mắc võng tri thù.[53]
35-坉池潭爫𣵲𡲈清光,𣵶逆仍捤𡳪蝌蚪
坭範宇底曕牟爽浪,唷昂掉𦄿䋞蜘蛛。
(36) Hương cổ miếu đôi chòm lạnh lẽo;
Đèn viễn thôn mấy ngọn tù mù.
36-香古廟堆笘冷𠖭;
畑遠村某𦰟囚眓。
(37) Kênh đâu đâu chảy đến trung sa, lầu túc điểu[54]
gió còn sớm quạt;
Sen chốn chốn đã bay về Tây vực,
vũng du ngư[55]
nguyệt hãy tối mò.
37- 涇兜兜沚𦤾中沙,樓宿鳥𩙍群𣌋搧;
蓮坉坉㐌飛衛西域, 淎遊魚月唉對暮。
(38) Kêu trị loạn đau lòng con Đỗ Vũ;[56]
Gọi công tư mỏi miệng cái hà mô.[57]
38-叫治乱忉𢙱𡥵杜鵡;
噲公私𢵹𠰘丐蝦蟆。
(39) Lũ cày mây[58]
lần tưởng bóng nghê,[59]
thơ thất nguyệt[60]
thở than cùng mục thụ;[61]
Khách điếu nguyệt[62]
biếng tìm tăm cá, chữ tam mô[63]
bàn bạc với tiều phu.
39- 僂𦓿𩅹吝想𣈖霓,詩七月呲嘆共牧豎;
客弔月剨尋沁𩵜,𡦂三謩般博貝樵夫。
(40) Nghe xóm nọ rù rì ve nhặng;[64]
Ngắm ghềnh kia thấp thoáng trai cò.[65]
40-𦖑坫怒㾄掑蟡蠅;
𥌹涼箕湿洸𧕚𫛈。
(41) Thú cao lưu[66]
chếch mác[67]
thế cờ, người nhạo thuỷ[68]
ôm cầm khi rạng quế;[69]
Màu yên cảnh bâng khuâng hồn rượu,
khách đăng đài gác bút buổi bay ngô.[70]
41- 趣高流隻鏌世棋,𠊚樂水掩琴欺瞆桂
牟煙境冰傾魂溜,客登臺擱筆𣇜哾梧。
(42) Chiều phong vị xem dường quạnh quẽ;
Dấu đồ thư ngắm hãy mơ hồ.
42-朝風味䀡羕郡揆;
𨁪圖書𥌹唉𢠩乎。
(43) Dưới cầu vồng nước chảy mênh mông, đường xưa đua ngựa;
Trên thành trĩ[71]
đá xây chớm chởm, bến cũ gọi đò.
43-𤲂梂釯渃沚溟濛,塘𠸗𨅮馭;
𨕭城𩾰𥒥磋𥗽峅嶄,渡𡳰噲艔。
(44) Trước cố cung treo nửa mảnh gương loan, vầng trăng he hé;
Sau cổ tự gởi mấy phong da ngựa, đám
cỏ lù rù.
44- 𠓀故宮撩𡛤𤗖鏡鸞, 暈𦝄𢬾戲;
𢖕古寺𢭮某封䏧馭, 坫苦瀘㾄。
(45) Lớp canh dịch người xưa man mác;
Vẻ tiêu lương[72]
cảnh cũ thẹn thò.
45-笠更役𠊚𠸗漫漠;
𡲈蕭涼境𡳰𢢆𪬔.
(46) Áng phồn hoa vì cảnh muốn phô người, người phải khi vật đổi sao rời, cảnh
phải chiều người buổi ấy;
Trời thanh lãng có người còn mến
cảnh, cảnh có sẵn nước trong trăng sáng, người nên phụ cảnh này ru.
46- 盎緐華為境悶舖𠊚,𠊚沛欺物𢷮𣋀移,景沛𢢅𠊚𣇜意;
𡗶清浪固𠊚群悗景, 景固産渃沖𦝄𠓇, 𠊚𢧚媍景尼𠱋
(47) Vừng trăng nọ buổi tròn buổi khuyết;
Ngọn nước kia nơi hoắm[73]
nơi nhô.
47-暈𦝄怒𣇜𧷺𣇜鈌
𦰟渃箕坭陷坭儒。
(48) Tới Mậu Thân[74]
từ rỡ vẻ tường vân,[75]
sông núi khắp nhờ công đãng địch;[76]
Qua Canh Tuất[77]
lại tưới cơn thời vũ,[78]
cỏ cây đều gội đức chiêm nhu.[79]
48- 細戊申自𠒦𡲈祥雲, 滝𡶀泣洳功盪敵;
戈庚戌吏𢱓𩂀時雨, 苦核調澮德霑需。
(49) Vũng trì chiểu nước dần dần lặng;
Nơi đình đài hoa phơi phới đua.
49-淎池沼渃寅寅洛;
坭庭台花派派𢵋。
(50) Chốn bảy cây[80]
còn mấy gốc lăng vân,[81]
chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão;[82]
Nơi một bến đã đông đoàn hí thuỷ,[83]
tới uyên ương[84]
đều thoả tính trầm phù.[85]
50- 坉𦉱核群某㭲凌雲,拯松柏拱誇形蒼老;
坭沒𣷷㐌𨒟團戲水,細鴛鴦調妥性沉浮。
(51) Vẻ hoa thạch[86]
châu thêu gấm dệt;
Tiếng trùng cầm[87]
ngọc gõ vàng khua.
51-𡲈花石珠絩錦𦂾;
㗂虫禽玉𢫈鐄摳。
(52) Bãi cỏ non trâu thả ngựa buông, nội Chu[88]
đã lắm người ca ngợi;
Làn nước phẳng kình chìm ngạc lặn,[89]
ao Hán nào mấy trẻ reo hò.
52- 𣺽苦嫩𤛠且馭𢭾,㘨周㐌夦𠊚歌議;
瀾渃滂鯨沉鰐𠓬, 呦漢芾某𥘷嘹呼
(53) Mặt đất đùn này thóc này rau,
rầu lòng Cô Trúc;[90]
Mặt nước chảy nọ dòng nọ bến, mặc chí Sào Do.[91]
53-𩈘 坦
吨
尼
裿
尼
蔞,
𠿈𢙱 姑竹;
𩈘渃沚怒𣳔怒𣷷, 默 志 巢
由.
(54)
Cây quán kia còn đứng dậy thần uy, đoàn mán tới dám khoe lời Tây hữu; [92]
Sen
chùa nọ lại bay về phật cảnh, lũ Ngô[93]
về từng niệm chữ nam mô.
54-核舘箕群𥪸跩神威 團蠻細敢誇𠳒西友;
蓮廚怒吏飛𧗱佛景,僂吳𧗱曾念𡦂南無.
(55)
Dấu linh dị[94] rành rành vẫn
sáng;
Mạch hậu nhân[95] dằng dặc bao rò.
55-𧿫靈異佲佲吻𠓇;
陌厚仁孕弋包露。
(56) Mặt thành xưa đem lại thế kim thang,[96]
đất xây phẳng lặng;
Cánh hàn cũ sửa ra hình chỉ trụ, đá xếp xô bồ.
56-𩈘城𠸗冘吏勢金湯,坦搓坂洛;
𦑃翰𡳰𪮈𦋦形趾柱,𥒥攝趨蒲。
(57) Ghé vùng danh nẻo lợi bấy lâu, cảnh tuy rằng nhỏ;
Song nước trí non nhân[97]
mấy chốn, cảnh đã chi thua.
57-𨄾塳名𡑩利閉𥹰, 景雖㖫𡮈;
双渃智𡽫仁某坉,景㐌之輸。
(58) Trải mấy thu từng dựa bóng tàn xanh, thâu cảnh đã vào trong vũ trụ;
Song
ngàn dặm còn xa rời bệ tía, góp cảnh còn gọi chốn biên ngu.[98]
58-𣦆某秋曾𢭸䏾傘𩇛,收景㐌𠓨𥪝宇宙;
双𠦳𨤮群柁𨖨陛紫,𢵰景群噲坉边嵎.
(59)
Tuy thú vị đã giải bày ra đó;
Song thanh dung[99] còn trang điểm
lại cho.
59-雖趣味㐌解排𪞷𪦆;
双清容群裝點吏朱。
(60)- Nay mừng:
Trời phù chính thống;[100]
Đất mở hoành mô.[101]
60-𠉞𢜏:
𡗶扶正統
坦𩦓橫模
(61)
Quyền tạo hoá tóm vào trong động tác;
Khí
kiền khôn[102] vận lại
trước đô du.[103]
61-權造化抋𠓨𥪝動作;
氣乾坤運吏𠓀都歈。
(62) Nền hoàng thành đặt vững long biên, ngôi Bắc cực muôn phương đều củng
hướng;
Nền
bắc trạch[104] xây kề ngưu chử,[105]
cảnh Tây Hồ trăm thức lại phương phu.[106]
62-𡋂皇城達凭龍边,嵬北極𨷈方調拱向
𡋂北澤搓掑牛渚,景西湖𤾓式吏芳敷。
(63) Chòm hủ thảo[107]
chưa qua tuần đom đóm;
Áng tường vân[108]
đà cách độ tua rua.[109]
63-𫇳朽草渚戈旬㶩𧍈
映祥雲㐌隔度須𣌌。
(64) Ngắm nguyệt chiêm từ cấn tượng bốn hào,[110]
ống âm dương đà quét bụi;
Xem tuế luật[111]
đến di tân[112]
bảy tấc, lò thiên địa mới bay tro.
64- 𥋴月占自艮像𦊚毫,蓊陰陽㐌𢭯培;
䀡歳律𦥃彌新𦉱𡬷,爐天地買飛𤉓.
(65) Cơ vãng phục[113]
lạnh thôi lại ấm;
Lẽ doanh hư[114]
bớt đã lại bù.
65-機往復冷催吏𤋾;
理嬴虛扒㐌吏補。
(66) Dưới lục âm[115]
vừa sinh khí nhất dương, vạn phẩm[116]
đã nhờ ơn khôn tạo;
Trên cửu đạo[117]
lại tề ngôi thất chính,[118]
bốn mùa đều theo hướng đẩu khu.[119]
66-𨑜陸陰𣃣生氣一陽,萬品㐌𢘾恩坤造;
𨑗九道吏齊嵬七正,𦊚務調遶向斗枢。
(67) Hương khâm kính[120]
xâm miền hạo đãng;[121]
Rượu cung càn[122]
thấm cõi linh u.[123]
67-香欽敬侵沔浩蕩
酒恭乾湛𡑭靈幽。
(68) Áng năm mây bày ngọc bạch[124]
đôi hàng, thảo mộc hãy ca công Thang, Vũ;[125]
Vang chín bệ nổi tiêu thiều mấy
khúc, điểu thú đều vũ đức Đường, Ngu.[126]
68-盎𠄼𩅹排玉帛堆行,草木唉歌功湯禹;
榮𢒂陛浽簫韶某曲,鳥獸調舞德唐虞。
(69) Vẻ hoa lẫn dấu cờ năm thức;
Mặt nước in bóng giáo ba ngù.
69-𡲈花吝𨁪旗𠄼式;
𩈘渃印俸鉸𠀧𣮇。
(70) Trước huân phong[127]
phảng phất cung đàn, làn thâm thuỷ muốn vái lên ngũ bái;[128]
Dưới ngọ nhật vang lừng tiếng trúc,
hình viễn sơn mong rạp xuống tam hô.[129]
70-𠓀薰風彷彿弓彈,瀾深水悶𠳿𨑗五拜;
𨑜午日㘇㖫㗂竹,形遠山懞𫏦𨑜三呼。
(71)
Lễ nhạc ấy nghìn thu ít thấy;
Phong cảnh này mấy thuở nào so.
71-礼樂意𠦳秋𠃝𧡊;
風景尼某𣇫芾搊。
(72) Trên dưới đều rồng mây các nước phải duyên, giọt vũ lộ[130] tưới đôi hàng uyên lộ;[131]
Gần
xa cũng cõi bờ non sông một mối, tấm đan thành[132]
dung khắp lũ nghêu sò.[133]
72-
𨑗𨑜調蠪𩅹閣渃沛緣,湥雨露洅對行鴛鷺;
近柁共𡎝坡𡽫滝沒䋦,𤗲丹誠容泣僂蟯𧎷。
(73) Hơi yêu mị[134]
quét dưới cờ thanh đạo;[135]
Áng
tường quang[136] tuôn
trước ngọn huyền lô.[137]
73-唏妖魅抉𨑜旗青道;
盎祥光𣻆𠓀𦰟玄蘆。
(74) Rặng đầu ghềnh người mượn chữ vu viên,[138]
răn loài hồng nhạn;
Ca
cuối vũng kẻ ngâm câu tại chử, nhủ lũ ê phù.[139]
74- 鄧頭涼𠊚𠼦𡦂于園,呡類鴻雁
歌𡳳淎仉吟句在渚,啂僂鷖鳧。
(75) Lời ca ngợi tưởng ngồi trong Chu nhã;[140]
Điệu
ngâm nga nghe đứng giữa Nghiêu cù.[141]
75-𠳒歌𡃛想𡎢𥪝周雅,
調吟哦𦖑𥪸𡧲堯衢。
(76) Ngẫm nay đà vui thú tạc canh,[142]
đành chốn chốn cũng ca đồng vũ tẩu;[143]
Nhớ
trước đã thoả loài động thực,[144]
hẳn đâu đâu đều bặt quỷ im hồ.[145]
76-嬐𠉞㐌𢝙趣凿耕,𠷥坉坉拱歌僮舞叟;
𢖵畧㐌妥類動植,罕兜兜調匐鬼庵猢。
(77) Nay lệnh tiết[146]
đã tin điềm thái lãng;[147]
Xin
thánh nhân càng ghín[148]
chữ dự du.[149]
77-
𠉞令節㐌信兆太朖,
嗔聖人强謹𡦂豫遊。
(78) Ngọn nguồn tuôn dàn rụa mái kia ghềnh, đèn chiếu thuỷ[150]
chia dòng Kinh Vị;[151]
Chòm cỏ mọc tần vần bên nọ miếu,
trống thôi hoa[152]
rẽ khóm huân do.[153]
78- 𦰟源𣻆瀾墮𠃅箕涼 ,畑炤水𢺹𣳔涇渭;
𫇳𦹯𠚐頻運边怒廟,𤿰摧花𢬦莰薰蕕。
(79) Nhận giá sắc[154]
xét dân phong cần noạ;[155]
Ngắm phong quang soi vật tính thanh
ô.[156]
79-認稼穑𥌀民風勤惰;
𥋴風光𤐝物性清溩。
(80) Chốn chiểu đài[157]
xem cá nhảy chim bay, thâu sĩ lộ[158]
nơi thông nơi trệ;[159]
Miền thôn ổ lắng chim kêu gà gáy,
lượng nhân gian nơi háo nơi trù.[160]
80-坉沼台䀡𩵜趾𪀄飛,揪士路尼通尼滯;
沔村塢𠻴𪀄叫鵸𠰁,量人間尼好尼惆。
(81) Tình u uẩn khắp bày trong thị
thính;[161]
Hiệu trị bình đành sắp dưới tề tu.[162]
81-情幽慍泣排𥪝視聽;
効治平忊拉𨑜齐修。
(82) Nơi mạch[163]
kia dân tựa ấy làm trời, hang chuột ẩn[164]
há chừa nơi cỏ khuất;
Bờ liễu nọ kẻ xây đà vững đất, lỗ
kiến đùn khôn chuyển buổi nguồn xô.[165]
82- 尼陌箕民似意爫𡗶,﨏𤝞隱呵除尼𦹯屈;
坡柳怒仉搓㐌凭坦,魯蜆吨坤轉𣇜源趨。
(83) Đem phong cảnh lại một bầu chi nhỏ;[166]
Mở thái bình ra bốn bể mới to.
83-𨑻風景吏沒泡之𡮈;
𩦓太平𦋦𦊚波買租。
(84) Tôi nay:
Hổ mình thiển lậu;[167]
Dại trí thô sơ.
84-碎𠉞:
𢗝𠵴淺陋;
𢘽智粗初
(85) Dư một kỷ[168]
yên bề hu lịch;[169]
Ngoài năm tuần[170]
thẹn bóng tang du.[171]
85-餘沒紀安皮樗櫟;
外𠄼旬𢢆𣈖桑柚。
(86) Trước phượng đàn đứng sánh hàng loan,[172]
trông hồ cảnh tiến một chương ly ngữ;[173]
Bên ngự đạo[174]
ngửa trông vầng nhật,[175]
nổi thanh sơn[176]
mừng muôn kỷ dao đồ[177].
86-畧鳳壇𥪸逞行鸞,
𥉫鐭湖景荐沒章璃語;
边御道𠑕𥉫暈日,挼青山𢜠閍紀遙圖
(1801)
(hết Bài Tụng Tây Hồ phú)
Chú thích
[1] Chín cõi: tức 9 quận là
lãnh thổ cũa nước Việt xưa là: [1] Nam Hải, [2]
Hợp Phố (Quảng
Đông ngày nay), [3] Thương Ngô, [4] Uất Lâm (Quảng Tây),
[5] Chu Nhai, [6] Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam), [7]
Giao Chỉ, [8]
Cửu Chân (miền Bắc
Việt Nam) và [9] Nhật Nam.
Hiện
nay lãnh thổ Việt Nam
chỉ còn có 3 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam(!!!)
[2] Đại trạch: 大lớn. Trạch: 泽
cái đầm lớn
[3] Kim ngưu,
金 牛,
Tương truyền, ngày xưa, ông Khổng Minh Không đúc 1 cái chuông lớn, khi dánh lên
tiếng vang xa đến tận bên Tàu. Khi ấy có 1 con trâu vàng (kim ngưu) nghe tưởng
mẹ nó kêu nên liền chạy sang tìm mẹ, chạy qua lại vòng quanh vùng đất xuất phát
tiếng chuông, thành Hồ Tây ngày nay.
[4] Cao vương: 高
王, tức Cao Biền, Thái thú đời Đường
sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài trấn yểm long mạch để nước ta
không thể phát sinh các bậc thánh quân.
[5] Hoàng đô:
皇 都,
kinh đô vua.
[6] Tinh chử:
星
渚,
bãi sông nước trong.
[7] Câu bạc:
沟泊, cái ngòi nước trắng bạc.
[8] Cao vương:
高 王,
tức Cao Biền, Thái thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài
trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân.
[9] Thạch tháp: 石 塔, tháp bằng đá.
Gọi
là đấp điếm cho người tử sinh.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2561-2562
[11] Mục Lang:
穆
郎,
Chuyện Mục Thận đời Lý, theo sách Việt Điện U Linh: Một hôm vua Lý Nhân Tông
đang ngự thuyền trên Hồ Tây, bỗng có sương mù dày đặc, thoáng có bóng một con hổ
lớn, nhe răng muốn vồ nhà vua. Lúc ấy, Mục Thận đang đánh cá trên hồ, liền tung
lưới bắt được con hổ. Con hổ đó hóa ra là Thái Sư Lê Văn Thịnh.
[12] Trấn vũ:
鎭 武, là tên gọi tại Việt Nam của thần Chân
Vũ, người Việt còn gọi là Trấn Võ, húy danh Chấp Minh (執明) là một trong những vị thần được thờ
phụng phổ biến tại Trung Quốc và các nước Á Đông. Vị thần này tượng trưng
cho sao Bắc cực,
và là một vị thần lớn của Đạo giáo thống trị phương Bắc,
kiêm quản lý các loài thủy
tộc nên cũng được coi là thủy thần hay
hải thần. Nguồn
Wikipedia.
[13] Ghềnh Vạn bảo:
涼䃄宝,
ghềnh có vạn của báu.
[15] Tĩnh phạn: 靜範, cõi Phật.
[16] Bố Cái:
布丐Bố
Cái Đại Vương 布丐大王,
là tên mà nhân dân suy tôn cho Phùng Hưng. Theo một số nguồn dã sử, Phùng Hưng
sinh ngày 25/11 /760 (tức 5/1/761) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức
13/9/802), thọ 41 tuổi. Nguồn Soha.vn
[17] Bà Đanh:
妑釘, Chùa Bà Đanh
hay còn gọi “Bảo Sơn Nữ”, tọa lạc
trên một vùng đất tại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam.
[18] Thạch Khối 石塊 là 1/16 cửa ô
của Thành Thăng Long. Là lò nung vôi. Nay ở đầu dốc Hàng Than, sau đổi thành
Nghĩa Lập. Nguồn Wikipedia.
[19] Ghềnh Nhật Chiêu 涼日招, là Nhật Tân
ngày nay.
[21] Nghi Tàm
宜蚕,
là tên thôn thuộc tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận cũ, bám sát bờ đông hồ Tây, có
một doi đất nhô ra. Nghi Tàm là một làng cổ, đời Lý đã có tên là phường Tích Ma tức gai sợi, đời Trần đổi ra Tầm Tang tức dâu tằm, sang đời Lê mới đổi
là Nghi Tàm tức hợp với con tằm.
[22]Chùa Châu Long: 珠龍, chùa toạ lạc trên một gò đất gọi là núi Châu Long ăn ra đến giữa hồ Trúc Bạch, huyện Vĩnh Thuận, nay ở số 44 phố
Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa đã có từ lâu đời, có tên chữ
là Phúc Lâm tự, tương truyền do vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293) cho dựng để
công chúa đi tu.
[24] Phục tượng hay dụ tượng,
dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng sơn, 伏象山.
[25] Hàn châm:
寒 砧, chày lạnh, tiếng chày vang lên trong đêm
lạnh, để giặt áo, đập ao, giã vật liệu gỗ thô để làm giấy.
[26] Nịnh Thích 甯戚, người nước Vệ, thời Xuân thu, vì
nhà nghèo phải sang nước Tề ở chăn trâu cho người khác. Một hôm, Nịnh Thích gõ
sừng trâu để hát, Tề Hoàn công đi qua, nghe tiếng hát lấy làm cảm động, liền
dùng làm thượng khanh.
[27] Thương lang:
滄浪, con sông nơi
Khuất Nguyên tự trầm.
[28] Chu Mãi Thần
vì nghèo phải gánh củi đổi gạo sinh nhai nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi
Thần làm đến chức thái thú, vợ quay lại, ông không chấp nhận.
[30] “Núi Khán Sơn,
看 山, ở phía tây cửa
cung vua ngày trước, chu vi hơn 20 trượng, là núi đất hơi cao, trên đỉnh nhọn,
đời vua Lê Thánh Tông vẫn lấy núi ấy làm chỗ ngồi ngự để xem điểm binh, cho nên
mới gọi là Khán Sơn”.
[32] Làng Võng Thị,
廊望市
xưa kia có một số ít ruộng nằm ven hồ Tây, nên chỉ có một bộ phận rất nhỏ làm
ruộng kết hợp thả sen; còn đa phần dân làng sống bằng nghề đánh cá trong hồ.
Tên gọi “Võng Thị” xuất phát từ đặc điểm này (võng là lưới cá), nay thuộc
phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Cũng có ý kiến cho rằng, từ xa xưa tại đây đã hình thành một chợ
bán lưới đánh cá nên gọi như vậy.
[33] Hy Hoàng:
羲皇Vua
Phục Hy và Hoàng Đế, thời thượng cổ nước Tàu. Đời Tấn, Đào Tiềm 陶潛, (? - 427), từ
quan về ở Sài Tang, nằm ngủ cạnh cửa sổ, tự xưng là người của vua Hy, vua
Hoàng.
[34] Song bắc:
窗
北,
bắc Song xử sĩ là biệt hiệu của Đào Tiềm đời Tấn, chỉ người có tài ẩn dật.
[35] Hai kho:
𠄩庫,
gió và trăng.
Đành hay trời đất
dành cho
Hai kho phong nguyệt
nghìn thu hãy còn.
Vịnh Tiền Xích
Bích phú, Nguyễn Công Trứ, lấy ý của
Bài Tiền Xích Bích phú 前 赤 壁 賦 của
Tô Thức 蘇 軾;
ông tự là Tử Chiêm 子 瞻, quen gọi Tô Đông Pha, 蘇 東
坡 (1036-1101).
[36] Thanh ngu:
清娛, thanh lịch và vui vẻ.
[38] Long Khánh:
隆慶,
mừng hưng thịnh, niên hiệu vua Trần Duệ Tông, (1373-1377).
[41] Bát vịnh du hồ:
八詠遊湖,
Tám bài vịnh khi đi chơi trên hồ do chúa Trịnh sai các quan làm ra.
[42] Qui phúng:
歸諷phép
tắc và bóng bẩy; lấy lời bóng bẩy mà khuyên người nên ăn ở cho phù hợp với phép
tắc.
[43] Liên ngâm thưởng nguyệt:
là bài thơ của bà Liễu Hạnh cùng làm với Phùng Khắc Khoan, ông họ Lý và một ông
họ Ngô khi đi chơi trăng ở Hồ Tây.
[44] Giao phu:
交夫, đồng chí tín cẩn (chữ Kinh Dịch).
[45] Canh họa:
賡和, họa theo, nối theo bài thơ xướng.
[46] Tiêu tường:
椒牆, chốn thâm nghiêm; nổi bụi tiêu tường: có loạn.
[47] Hiệu khiết: 顥潔,
trong sạch.
[48] Hoang khô: 荒枯,
hoang vu và khô héo.
[49] Trì đàm:
池潭, ao đầm.
[50] Thanh quang:
清光,
trong sạch và sáng sủa.
[52] Phạm vũ: 範宇,
nhà chùa.
[55] Du ngư:
cá vui chơi.
[60] Thơ thất nguyệt:
tên một bài thơ trong Kinh Thư do Chu công làm ra nói những nỗi vất vả, gian
nan khi xây dựng nhà Chu.
[62] Điếu nguyệt:
弔月,
câu cá dưới trăng.
[63] Tam mô:
三謩ba thiên trong KinhThư: Vũ mô, Cao
dao mô, Ích tắc mô. Chỉ những kế sách trị nước.
[65] Trai cò
琜𫛈:
bọn tranh giành. Lấy ý: bạn duật tương trì, ngư ông đắc lợi. Trai cò kình (chống) nhau, là cái
lợi của ngư ông.
[67] Chếch mác: 隻鏌
lầm lẫn, sứt mẻ, không vẹn toàn.
[68] Nhạo thủy: 樂水 thích nước, chỉ
người trí thức: Trí giả nhạo thủy, nhân
giả nhạo sơn. (Luận ngữ).
智者樂水,仁者樂山. Người trí thức thích nước, người có lòng nhân
thích núi.
[69] Rạng quế:
瞆桂, mặt trăng tỏ rạng, sáng vằng vặc.
[70] Bay ngô:
哾梧, lá ngô đồng bay, tức mùa thu.
[71] Thành trĩ:
thành cao 1 trượng, ngang 3 trượng (1 trượng=3m33)
[72] Tiêu lương:
蕭涼, cũng như thê lương, tiêu điều, quạnh
quẽ.
[74] Năm Mậu Thân:
戊申,
là năm 1788, Quang Trung xưng Hoàng Đế, kéo quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị.
[75] Tường vân: 祥雲
mây báo điềm lành, chỉ cảnh thái bình.
[76] Đãng địch: 盪敵, quét sạch giặc Tàu xâm lược là Tôn Sĩ Nghị.
[77] Năm Canh Tuất:
庚戌,
là năm 1790, là năm sau chiến thắng quân Mãn Thanh xâm lược, Vua Quang Trung cầu
phong nhà Thanh.
[78] Thời vũ:
時雨, mưa đúng thời, mưa thuận, trúng
mùa, trăm họ yêu vui.
[79] Chiêm nhu hay triêm nhu:
霑需, thấm nhuần.
[80] Chốn bảy cây: xưa,
坉𦉱核, nơi giáp nhau
của Hồ Trúc Bạch và Tồ Tây, có 7 cây cổ thụ.
[81] Lăng vân:
凌雲, cao ngất tận mây, ý nói cao chót
vót.
[82] Thương lão: 蒼老,
già cỗi.
[83] Hí thủy: 戲水,
vui đùa trong nước.
[84] Uyên ương:
鴛鴦,
loài ốc, con đực là uyên; con cái là ương, thường ôm nhau không rời.
Uyên
ương ngoã lãnh sương hoa trọng
Phỉ thuỷ khâm hàn thuỳ dữ cộng
鴛鴦瓦冷霜華重,
翡翠衾寒誰與共
Trường hận ca, Bạch Cư Dị. Nghĩa là:
Lớp sương nặng phủ trên mái ngói uyên ương giá ngắt
Tấm chăn cánh trả, lạnh như tiền, chung đắp cùng ai?
[85]Trầm
phù: 沉浮, chìm nổi.
[86] Hoa thạch:
花石, hoa và đá.
[87] Trùng cầm:
虫禽, côn trùng và chim chóc.
[89] Kình ngạc:
鯨鰐, cá kình và cá sấu, chỉ binh lính.
Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2251-2252.
[90] Cô Trúc:
姑竹,
nước của Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc.Hai ông nầy khinh Vũ Vương vô đạo,
không thèm ăn thóc nhà Chu, lên núi Thú Dương ăn rau Vi, nhịn đói mà chết.
[91] Sào Do: 巢 由, hai danh sĩ sống thời vua Nghiêu.
Hứa Do người hiền được vua Nghiêu mời đến truyền ngôi nhưng ông từ chối và đi
xuống sông Dĩnh Thủy rửa tai. Sào Phủ hỏi vì sao, Hứa Do thuật y lời. Sào Phủ
bèn dắt trâu lên trên dòng sông, e rằng trâu uống nhằm phải nước rửa tai rất
dơ. Sào Phủ còn nói thêm là ông làm sao cho người ta biết là người hiền mà truyền
ngôi, phải chăng cái bụng ông vẫn còn ham danh lợi. Huỳnh Tịnh Của có phê:
“Nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe”.
[92] Tây hữu: 西友,
Chỉ Phật. Tây phương hữu thần, danh viết
Phật, sách Hán sử. 西方有神, 名曰佛.
Tây phương có thần linh, tên là Phật.
[93] Lũ Ngô 僂吳
hay Lũ Tàu, chỉ tàn quân Tôn Sĩ Nghị, chạy trốn
về Tàu, được tha cho về nước; niệm Nam mô, ý ca ngợi Tây Sơn từ bi như Phật.
[94] Linh dị: 靈異,
linh ứng dị thường.
[95] Hậu nhân:
厚仁, nguồn nhân hậu, nhân đức.
[96] Kim thang: 金湯,
kim thành, thang trì: Xây thành bằng chất liệu kim khí, hào lũy nước nóng, ý
nói thành rất kiên cố.
[97]Nước
trí non nhân
nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy, Luận ngữ: 知者樂水,仁者樂山. Người nhân thích núi, người trí trích nước.
[98]Biên
ngu: 边嵎
góc núi hiểm trở, chốn
biên ải.
[99] Thanh dung:
清容dáng
vẻ thanh tao.
[100] Chính thống:
正統,
triều đại khai sáng một cách quang minh chính đại. Trái ngược với ngụy triều,
là không chính đáng như cướp ngôi, đoạt quyền (như nhà Hồ, nhà Mạc).
[102] Kiền khôn hay càn khôn:
乾坤, trời đất.
[103] Đô du: 都歈tốt, phải lẽ. Vua – tôi tương đắc,
lấy tích cách ứng xử của vua Thuấn-bề tôi.
[104] Bắc trạch:
北澤, nhà phương Bắc, chỉ hoàng cung.
[105] Ngưu chử:
牛渚 Bến Kim Ngưu gần Hồ Tây.
[106] Phương phu:
芳敷, hương thơm phô bày, bay xa.
[107] Hủ thảo: 朽草 cỏ mục. Người
xưa tin rằng cỏ mục hóa thành đom đóm 㶩𧍈
vào tháng 7; do đó có thơ Thất nguyệt trong kinh Thi, chỉ vương nghiệp bắt đầu.
[108]
Tường vân: 祥雲mây báo điềm lành.
[110] Cấn tượng bốn hào: 艮像𦊚毫, Theo kinh Dịch,
quẻ cấn, hào thứ tư nói về sự thành công.
[111] Tuế luật:
歳律 luật trời trong mỗi năm.
[112] Di tân:
彌新 theo tuế luật, Di tân chỉ tháng
giêng, mở ra cho một vận hội mới.
[113] Vãng phục:
往復 qua rồi, trở lại.
[114] Doanh hư: 嬴虛,
đầy vơi. Chỉ lẽ tuần hoàn.
[115] Lục âm: 陸陰,
dưới đất, khí âm.
[116] Vạn phẩm: 萬品,
vạn vật.
[117] Cửu đạo:
九道, chín đường đi của mặt trăng theo
thiên văn học xưa.
[118] Thất chính:
七正,
bảy thiên thể gồm mặt trời, mặt trăng và 5 thên thể khác như thất tinh.
[120] Khâm kính:
欽敬, khâm phục, kính trọng.
[121] Hạo đãng:
浩蕩, rộng rãi, khoảng khoát.
[122] Cung càn hay cung kiền:
恭乾kính cẩn chân thành.
[123] Linh u:
靈幽, linh thiêng, tối tăm.
[124] Ngọc bạch:
玉帛, ngọc và lụa.
[125] Thang Vũ:
湯禹, Thành Thang khai sáng nhà Thương;
Vũ Vương khai sáng nhà Hạ, có công trị thủy.
[126] Đường Ngu:
唐虞, Đời nhà Đường và đời vua Nghiêu
Thuấn được coi là thời đại hoàng kim trong cổ sử Trung Hoa.
[127] Huân phong:
薰風,
Gió ấm dịu, mát mẻ. Gió Nam thổi mát, vua Thuấn gảy đàn và hát:” Nam phong chi
huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề”. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮.
Gió Nam mát mẻ, có thể giải được sự nóng bức cho dân ta.
[131] Uyên
lộ:
鴛鷺,
chim uyên và cò, thường đứng
thành hàng như các quan khi chầu vua.
[132] Đan thành:
丹誠, lòng trung thành son sắt.
[133] Nghêu sò:
蟯𧎷,
chỉ hạng cùng dân, người
hái rau, người cắt cỏ.
[134] Yêu mị: 妖魅,
bọn gian nịnh.
[135] Thanh đạo:
青道, con đường sạch, chỉ chính sự đã
thanh trừng, tảo thanh, khai quang.
[136] Tường quang:
祥光,
ánh sáng báo điềm lành.
[138] Vu viên:
于園,
hồng nhạn vu viên, chim nhạn về làm tổ ở vườn nhà. Ý nói dân chúng chạy loạn,
trôi giạt, bây giờ cảm đức của vua, về nhà cũ an cư lạc nghiệp.
[139] Ê phù tại chử:
鷖鳧在渚,
cò, vịt trời ở bến nước, Ca ngợi nền thái bình nhà Chu, Kinh Thi.
[141] Nghiêu cù:
堯衢,
đường đi dưới thời vua Nghiêu, chỉ cảnh thái bình phong túc: Đêm ngủ không đóng
cửa, đi đường không ai lượm của rơi, vì ai cũng no đủ, không phải trộm cắp.
[142] Tạc canh:
鑿耕,
tạc tỉnh nhi ẩm, 鑿井而飲
canh điền nhi thực: 耕田而食,
Đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn. Chỉ cảnh sống no đủ dễ dàng.
[143] Ca đồng, vũ tẩu: 歌僮舞叟, trẻ con ca,
người già múa, vui cảnh thái bình.
[144] Động thực:
動植, động vật và thực vật.
[145] Bặt quỷ im hồ: 匐鬼庵猢, vắng bặt ma
quỷ, hồ ly tinh đều im lặng.
[146] Lệnh tiết: 令節, tiết lành.
[147] Thái lãng:
太朖,
thái bình và sáng sủa.
[148] Ghín: 謹cẩn thận, răn giữ, từ cổ𡦂.
[149] Dự du:
豫遊, quá vui chơi.
[150] Chiếu thủy:
炤水, chiếu trong nước. Đèn chiếu thủy
là 1 cây đèn thần, chiếu vào nước sẽ thấy toàn bộ các loài quái vật ẩn nấp
trong đó.
[151]Kinh
vị 涇渭, là 2 con sông, sông Kinh đục,
sông Vị trong.
[152] Thôi hoa:
摧花,
thúc giục hoa nở. Theo sách Nguyên Hòa Dị sử, đời Đường Minh Hoàng, ghi rằng,
vua sai Cao lực sĩ đánh 1 hồi trống, khi đó các loài mai ở vườn ngự uyển đều nở
hoa.
[154] Giá sắc:
稼穑, cấy và gặt.
[155]Dân
phong cần noạ: 民風勤惰,
thói dân siêng năng hoặc lười biếng; cần 勤,
siêng năng; nọa 惰, lười
biếng.
[156] Vật tính
thanh ô: 物性清溩, tính của vạn
vật, trong sạch hay dơ bẩn.
[157] Chiểu đài:
沼台, ao và nhà lầu,
chỉ cảnh sống thái bình của Chu Văn Vương.
[158] Sĩ lộ: 士路
con đường tiến thân của kẻ sĩ, con đường làm quan.
[159] Thông trệ: 通滯trôi
chảy thông suốt, đình đốn, bế tắc.
[160]Nơi
háo nơi trù: 量人間尼好尼惆 nơi dư dật, nơi thiếu thốn.
[161] Thị thính:
視聽, thấy và nghe.
[162] Tu tề trị bình:
tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. 修身, 齐家, 治国, 平天下.
Đó là con đường xuất xử của Nho sĩ.
[163] Mạch: 陌, con đường nhỏ, bờ ruộng.
[164] Hang chuột ẩn, 﨏𤝞隱
lỗ kiến đùn: 魯蜆吨,
chỉ bọn nịnh thần, gian tà, phá hoại.
[165] Nguồn xô:
源趨, dòng nước chảy.
[166] Chi nhỏ:
之𡮈, rất nhỏ.
[167]
Thiển lậu:
淺陋, cạn cơt, quê mùa.
[170] Ngoại năm tuần:
外𠄼旬, trên 50 tuổi.
[171] Bóng tang du:
𣈖桑柚,
do câu nhật tạc tang du, 日胙桑榆,
mặt trời ngã bóng trên
đám dâu, Phương
tây, chỗ mặt trời lặn gần sát đất, chỉ cảnh già.
[172] Phượng
鳳 là chim trống;
loan 鸞, là chim mái.
Tác giả tự khiêm” trong hàng quan của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng
vào hàng thua kém.
[172]
Ly ngữ:
璃語, lời thơ trau
chuốt.
[172]
Ngự đạo:
御道, đường đi của
vua.
[172]
Vầng nhật:
暈日mặt trời, chỉ
nhà vua.
[172]
Thanh sơn:
青山, núi xanh.
[172]
Muôn kỷ dao đồ:
閍紀遙圖,
muôn=vạn=10.000,
kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm.
Dao đồ 遙圖, là cơ đồ tươi
sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.các quan
của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.
[173] Ly ngữ:
璃語, lời thơ trau chuốt.
[175] Vầng nhật: 暈日mặt
trời, chỉ nhà vua.
[176] Thanh sơn:
青山, núi xanh.
[177] Muôn kỷ dao đồ:
閍紀遙圖,
muôn=vạn=10.000,
kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm.
Dao đồ 遙圖, là cơ đồ tươi
sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.
(Còn tiếp)