Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 13, 14, 15. (Tiếp theo)

 Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 13, 14, 15. (Tiếp theo)

Baøi 13: (Bài 13)

Nhất Nguyên dịch nghĩa bài 13:

Xuân Hương Hồ Phi Mai như mai lạnh gặp tuyết xúc động tinh thần,

Đối mặt với Mai càng thầy yêu nàng nhiều hơn.

Thư từ không truyền đạt hết được ý,

Bèo mây phiêu bạt làm sao hiểu được giấc mộng trong lòng.

Tình ta thăm thẳm như nước Hồ Tây sâu ngàn thước,

Soi gương cũ nàng có gầy hơn trước.

Tốn Phong muốn hỏi nàng buồn vui thế nào,

Nàng vẫn vui vẻ lạc quan rằng tháng tới là Tết đến.

*

Nhất Uyên phiên âm, bài 13:

Hàn mai như tuyết động tinh thần,
Trùng đối mai hoa bội ái quân.
Ngư nhạn[1] bất truyền thư ngoại ý,
Vân bình nan tín mộng trung thân.
Thanh đàm[2] lãng thủy thâm thiên xích,
Cổ kính si nhan sấu kỷ phần.
Khách lộ bi hoan hà xứ vấn,
Kinh văn lai nguyệt thị tân Xuân.

*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn, bài 13:

寒梅如雪動精神

梅華倍愛君

魚鴈不傳書外意

雲平難信夢中身

淸潭浪水深千尺

古鏡癡顔痩幾分

客路悲歡何處問

經聞來月是新春

                                                                               


Tình sâu thăm thẳm Hồ Tây thẳm/ Ngân Triều/ Google.

*
Nhất Uyên dịch, bài 13:

Hàn mai như tuyết động tinh thần,
Đối mặt mai càng thương cố nhân.
Cá nhạn sao truyền, thư ngoại ý,
Bèo mây nào biết mộng trong lòng.
Đầm trong nước cả sâu ngàn thước,
Gương cũ gầy soi dáng mấy phần.
Khách đến buồn vui tha thiết hỏi,
Nàng: trong tháng tới lại sang xuân.

*

Ngân Triều cảm đề, bài 13:

Hàn mai trong tuyết lạnh phong ba,

Đối mặt càng yêu mai thiết tha.

Nhạn bạch lý thư[3] khôn thỏa ý!

Bèo mây nào biết mộng quan hà[4]!

Tình sâu thăm thẳm Hồ Tây thẳm,

Dáng cũ gầy soi, gầy dáng nga[5].

Chợt hỏi vui buồn cơn ấm lạnh,

-Tháng tới vui ra, Tết đến nhà.

     Ngân Triều

*****
Baøi 14:

Nhất Nguyên dịch nghĩa bài 14:

Mai lạnh không ghen với màu trắng sương móc xa gần,

Nàng đẹp yêu kiều sánh với các mỹ nhân trong sách sử.

Tốn Phong cởi ngựa hay đi xe ngựa từ Nghệ Tĩnh ra, trên đầu ngựa đã thấy mùa xuân hoa nở rộ.

Nghe văng vẳng như tiếng đàn Phượng Cầu Kỳ Hoàng[6] của Tư Mã Tương Như từ giữa khóm trúc vang vang.

Bạn cũ nơi chốn phồn hoa, gặp nhau lại kính e như là mới gặp,

Tình giao du sống chết có nhau tưởng như mới tạm quen.

Nàng trịnh trọng tiếp đãi ân cần như dịp tốt không phụ lòng trời.

Tình Tốn Phong như núi màu xanh gấm vóc; lòng Phi Mai như nước thành gương bạc soi núi biếc.

*

Nhất Uyên phiên âm bài 14:

Hàn mai vô đố bạch tân phân,[7]
Nhất dạng kiều tu bạn mỹ nhân.
Mã thủ Xuân tùy hoa lý đắc,
Phượng cầmthanh tự trúc trung văn.
Phồn hoa cựu lữ kinh sơ kiến,
Sinh tử giao tình tích tạm thân.
Trịnh trọng nhai kỳ thiên bất sảng,
Tình sơn như cẩm thủy như ngân.

  Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn bài 14:

  

*
Nhất Uyên dịch bài 14:

Ghen chi mai lạnh trắng sương ngần,
Một vẻ yêu kiều sánh mỹ nhân.
Đầu ngựa tin xuân hoa sắc điểm,
Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh.
Phồn hoa bạn cũ như ngày mới,
Sinh tử giao tình tưởng mới thân.
Tình trọng duyên may trời chẳng phụ,
Tình non như gấm, nước như gương.

*

Ngân Triều cảm đề bài 14:

Đầu ngựa trời Xuân hoa rực rỡ, / Phượng Cầu văng vẳng  trúc thanh ngân?

Ngân Triều/ Google

Không ghen, sương trắng tuyền tươi mát,

Mai dáng yêu kiều, sánh mỹ nhân.

Đầu ngựa trời Xuân hoa rực rỡ,

Phượng Cầu văng vẳng, trúc thanh ngân?

Phồn hoa bạn cũ tình như mới,

Tình cũ đinh ninh[8], ngỡ mới thân.

Phong cách ân cần trong gặp gỡ,

Tình ta non nước đẹp vô ngần.

*
Nguồn: TL Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, TS Phạm Trọng Chánh.

*****

Baøi 15: (Bài 15)

Nhất Uyên dịch nghĩa bài 15:

Tình Tốn Phong  như núi non màu xanh gấm vóc, phản chiếu xuống lòng Hồ Phi Mai như gương bạc.

Chủ nhân Cổ Nguyệt Đường tiếp đãi trịnh trọng, ân cần.

Nàng như vầng trăng không thích để đêm đen tối,

Nàng chìu lòng khách không bỏ lững câu chuyện làm buồn ai bao giờ.

Nàng như hoa trời chúa Xuân đến đâu nẩy mầm Xuân đến đó.

Lòng Tốn Phong như khách hò hẹn chốn Đào Nguyên cùng tiên nữ, 

Chốn Vu Sơn vô tâm làm bài phú thần sông Lạc.

Phi Mai nhắc lại chuyện cũ than thở lúc từ giả Tổng Cóc trở về Thăng Long, dời nhà ra mở hiệu sách,

Một mình lận đận sinh con, khốn khổ vô cùng.

*

                                    Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 15:

Tình sơn như cẩm, thủy như ngân,
Trịnh trọng tao phùng hữu chủ nhân.
Cổ nguyệt sinh thời ưng bất dạ,
Thiên hoa tùy xứ khả vi Xuân.
Đào nguyên hữu ước minh tiên lữ,
Vu giáp[9] vô tâm phú Lạc thần.[10]
Tối thị hàn mai  tự ái khổ,
Thiên cư trùng lệnh nhất chi tân.

*

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn, bài 15:

  

  洛神



Trăng sáng luôn tan sầu bóng tối,/ Hoa Xuân trời khiến nẩy mầm Xuân. Ngân Triều

                                                                                                       Ảnh minh họa, Google.

Nhất Uyên dịch, bài 15:

Tình non như gấm nước như gương,
Tình trọng tao phùng với chủ nhân.
Trăng cũ vẫn thường soi mỗi tối,
Hoa trời khắp chốn nẩy mầm xuân.
Đào nguyên hò hẹn cùng tiên nữ,
Vu giáp nào hay hát Lạc thần.
Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ,
Chốn dời hoa mới nẩy thêm cành.

*

Ngân Triều cảm đề, bài 15.

Tình ta non nước đẹp vô ngần.

Trân trọng tao phùng cảm chủ nhân.

Trăng sáng luôn tan sầu bóng tối,

Hoa Xuân trời khiến nẩy mầm Xuân.

Khách si ngơ ngẩn bên tiên nữ, 

Sông Lạc xao lòng bài phú thần.

Chuyện cũ bồi hồi bao uẩn khúc,

Đa đoan, con yểu mệnh, đơn thân[11]!

*
Nguồn: TL Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, TS Phạm Trọng Chánh.



[1] Ngư nhạn: 魚鴈giấy viết thơ ngày xưa có in hình con cá, hay chim nhạn đầu trang.

[2] Thanh đàm:  淸潭, Hồ Tây 西còn gọi là Dâm đàm, vì mùa Đông đầy sương mù; ngày xưa đơn vị thước đo bằng khuỷu tay ước lượng không chính xác, ngàn thước chỉ là một cách nói  Hồ Tây sâu.

[3] Nhạn bạch (bố), 雁白布,: Vải trắng gởi chim nhạn tránh Đông, mang thư về Nam. Tích Tô Vũ chăn dê. Tô Vũ sứ nhà Hán đi sứ bị bắt đài chăn dê nhiều năm. Nhớ quê hương, đến mùa nhạn bay về Nam,Tô Vũ viết thơ, buộc vào chân nhạn. Nhờ đó vua Hán mới biết, sai sứ sang xin rước về.  Khi ấy Tô Vũ chăn dê bị đày ở vùng băng tuyết quanh năm được 19 năm.

[4] quan hà, , cửa ải và sông. Xưa người đi xa rất gian nan vì phải qua ải và đường thủy, vô cùng nguy hiểm. Ở đây là mộng người đi xa, tức tác giả là Tốn Phong.

[5] tố nga, 素娥hằng nga, tức người con gái đẹp.

          Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 15-16

[6] Phượng cầm: , trai tỏ tình với gái, Tích Tư Mã Tương như tỏ tình với Trác Văn Quân gảy đàn cầm mà hát rằng:

«Phượng chừ, Phượng chừ, về quê làng ngao du bốn biển tìm chim Hoàng» thường gọi khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng.

[7] Tân phân: , vẻ quyến rủ, rực rỡ. 

[8] đinh ninh: nói đi nói lại, nhắc đi nhắc lại, khẳng định:

          Đinh ninh mài lệ chép thư,

Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2825-2826

          Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2789-2790. 

[9] Vu giáp: Tống Ngọc viết bài phú Cao Đường về chuyến đi chơi đầm Vân Mộng của Sở Tương Vương, gặp Thần nữ núi Vu Sơn và giao hoan cùng nàng. Lúc từ biệt nàng nói: Thiếp xin sớm làm mây, tối làm mưa sớm tối dưới Dương Đài.

[10] Lạc Thần: ,Thần sông Lạc, con sông ở tình Hà Nam, Trung Quốc, tương truyền con gái Vua Phục Hy chết đuối nơi đây hóa thần. Tào Thực đời Ngụy (con Tào Tháo) qua đây ngủ mơ gặp cô gái thần sông Lạc, nhìn ra lại hóa hoàng hậu họ Nhân, trước vợ Viên Đàm sau lấy Tào Phi tức Ngụy Văn Đế. 

[11] Xuân Hương rời bỏ nhà Tổng Cóc, lúc có mang 6 tháng, nàng sinh một bé gái, nhưng bé đã chết sau khi sinh.

***
(Còn tiếp)