Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo. Bài số 5:

 Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo. Bài số 5:

Töôûng ñaùo nhaân tình
minh nhieân haï leä taåu buùt phuïng trình
(Tưởng đáo nhân tình minh nhiên tấu bút phụng trình).
Hồ Xuân Hương
Rồi một ngày cuối mùa hạ năm Quý Sửu 1793, mối tình Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du đã ba năm vẹn. Mùa hạ sen nở, gần đến cuối hạ mới đi hái sen, hái gương sen rồi quen Hồ Phi Mai. Nguyễn Du báo tin cho Hồ Phi Mai biết chàng trở về Hồng Lĩnh cùng em Nguyễn Ức, xây dựng lại từ đường, đình chùa, cầu Tiên vì làng Tiên Điền đã bị tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ làm cỏ, đốt phá năm 1790 do cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quýnh.
Anh Nguyễn Du, Nguyễn Nể, sau khi đi sứ về, làm quan ba năm tại Bắc Hà. Vua Quang Trung mất năm 1792, nay được Vua Cảnh Thịnh thăng Đông Các Đại học sĩ, gia thăng Thái Sử, Thự tả Nghị lang, được lệnh về Phú Xuân trông coi văn thư Cơ Mật Viện. Chức vụ gần như thường trực, thầy dạy bên cạnh vị vua trẻ mới lên mười. Nguyễn Nể không thể trông coi việc xây cất nên giao việc này cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức; nhất là Nguyễn Ức có tài kiến trúc, vẽ kiểu, tính toán, chỉ huy thợ; về sau cung điện Phú Xuân thời Gia Long Minh Mạng đều do Nguyễn Ức chỉ huy xây cất.
Biết tin này Hồ Xuân Hương đau đớn viết bài Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình. Nghĩ đến chuyện cách xa nhau, sụt sùi rơi lệ, nhân đó, viết nhanh, trao cho Nguyễn Du để bày tỏ nỗi lòng mình.
*
Nhất Uyên dịch nghĩa:
Mối tình đầu thắm thiết, nguyện ba kiếp hẹn nghĩa non vàng,
Buồn man mác lòng mình nên thổ lộ cùng chàng.
Em chẳng vượt đèo mây Tam Điệp cùng chàng về Hồng Lĩnh,
Nhưng lời thề nguyền hương lửa ngỡ cũng lên đường theo chàng.
Lời nào mình thề hẹn với nhau cùng nước non,
Tình chàng chân thật hay gió trăng qua đường, mà chán chường em chăng ?
Dù tấm thân em có bị lao đao thế nào, em chẳng tiếc chi cả.
Xin hãy thương nhau, sao cho trọn tấm lòng.
Nguồn: Bài thơ chữ nôm, tựa chữ Hán, chép trong Lưu Hương ký:
*
Tưởng đáo nhân tình
minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình
Ba sinh tự hẹn nghĩa non vàng
Man mác lòng riêng lại ngỡ càng.
Lối bước đèo mây đành chẳng đã,
Mảnh nguyền hương lửa ngỡ lên đường.
Nước non lời nọ nào chuông chắn,
Trăng gió lòng kia mãi chán chường.
Đày đoạ thân này thôi chẳng tiếc.
Thương sao cho trọn tấm lòng thương.
Hồ Xuân Hương
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn:
𠀧生自哏義𡽫鐄
漫漠𢙱貞吏𢣸強
𨇒𨀈岧𩄎𢝜拯㐌
𤗖𡅪香焒𢣸𨑗塘
渃𡽫唎奴閙鐘振
綾𩙍𢙱箕買𠺲悜
𢰥墯身尼崔拯惜
愴𡫡㧣侖𤗲𢙱愴
*
Chú giải:
Ba sinh: 𠀧 生, ba kiếp sống tích ba sinh hương hỏa, Sách Quần Ngọc chú chép:
Tỉnh Lang tới chơi, chùa Nam Huệ tự nằm chơi ngủ quên thấy mình đi chơi non Bồng, gặp một ông thầy ngồi niệm kinh trước mặt có cây hương đang cháy. Tỉnh Lang hỏi, ông thầy đáp: khi trước có một người đi chùa thắp cây nhang này, khấn nguyện, nhang hãy còn cháy, mà người ấy đả trải qua ba kiếp rồi: Kiếp đầu làm quan Phủ Sứ đất Kiến Nam, thời Đường Huyền Tôn; kiếp sau làm quan, Tây Thục đời Đường Hiến Tôn và kiếp thứ ba tên Tĩnh Lang. Tĩnh lang nghe tên giật mình tỉnh dậy, nửa tin nửa ngờ.
Man mác: 漫漠; man 漫là tràn; mác hay mạc漠 là rộng nhiều. Man mác漫漠 là có tâm trạng đượm buồn dâng tràn trong lòng:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến
Chuông chắn: 鐘振, vuông vắn, ngay thẳng, trọn vẹn. Ở đây hiểu là trọn ven.
*
Ngân Triều cảm đề:
Ba sinh ước hẹn sánh non vàng,
Man mác lòng riêng dám ngỏ chàng.
Tùy xướng đèo mây duyên chửa định,
Hương thề như đã nặng riêng mang.
Những lời non nước ngân nga mãi,
Mộng ước trăm năm có chán chường?
Lặn lội thân cò thân chẳng tiếc.
Thương sao cho vẹn mới là thương!
***

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo: Bài số 4:

 Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo: Bài số 4:

Duyeân kyø ngoä (Duyên kỳ ngộ)
Hồ Xuân Hương
Bài Duyên kỳ ngộ trong văn bản Landes. Xuân Hương tin rằng gặp Nguyễn Du là duyên kỳ ngộ.
Vì dinh thự ở quê của cha anh bị kiêu binh đốt phá, nên Nguyễn Du mới ra ở nơi gác tía, nơi câu cá của ông anh Nguyễn Khản ở Bích Câu nên có dịp gần gủi với Xuân Hương, Hồ Phi Mai. Nàng tin ở duyên số. Đôi lứa dù có xa nhau ngàn dặm, có duyên thì sự cũng thành, sẽ thành chồng vợ. Đừng nên phân vân, lo lắng chi mà phí cả tuổi xuân xanh…
Không cần thả lá đề thơ như cung nữ Hàn Thúy Tần với chàng Vu Hựu. Lòng ta như chim tới vườn đào, tình sẽ thắm tươi.
(Theo TS Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du. Xin trích lại để liên tục dòng cảm thụ: bài số 14 chương III, trang 198):
Duyeân kyø ngoä (Duyên kỳ ngộ)
Hồ Xuân Hương
[Bài 4]Ảnh minh họa Duyên Kỳ Ngộ, Google.

Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,   
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gũi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi dòng ngự,
Chim tới vườn đào thế mới xinh.
*
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
縁 奇 遇
𠦳 𨤵 固 縁 事 共 宬
吀 仃 𢥈 𢠯 歇 春 青
𡬷 𨧠 拪 畵 詩 空 𢴑
近 噲 弓 楊 𦲿 吻 㵛
𢏡 産 筆 啼 羕 埕 治
𠸙 恾 椎 伋 㐌 抨 抨
綏 空 且 𦲿 㵢 𣳔 御
𪀄 細 𡑰 桃 世 㵋 𦎡
*
Chú giải:
Duyên: 縁, lý do như duyên cớ, duyên do…; đẹp, như khả ái như duyên dáng…; may mắn như cơ duyên…; dọc theo như duyên hải…; vợ chồng hòa hợp nhau như duyên hài…; cái phận mình có duyên đã được định trước như duyên phận, duyên số…
Kỳ ngộ: 奇 遇: sự gặp gỡ lạ lùng.
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 259-260
Tấc gang tay họa thơ không dứt: 𡬷 𨧠拪 畵 詩 空 𢴑, ý nói văn tài thấp kém , hèn mon nhưng vẫn liên tục xướng họa cùng các bạn văn nhân.
Cung dương: 宮 楊: nhà đầy khí dương, ý nói giao tiếp rộng rãi với người khác phái là nam giới.
Gần gũi cung dương lá vẫn lành: 近 噲弓 楊 𦲿 吻 㵛, luôn giao du thân mật với những bạn văn chương , nam giới) mà tâm hồn vẫn trong sáng, chính chuyên.
chĩnh chện埕 治như chễnh chện: từ gợi tả dáng ngồi nghiêm trang, ngay ngắn đường hoàng trong tự tin. Ở đây ý nói sự thành công trong thi tài, theo truyện dưới đây, giai nhân chỉ kỳ vọng vào hai ứng viên đối diện, (nhà thiện xạ hoặc văn nhân) vì họ đã sắp sửa xong việc thi tài của mình. (xem giải thích
*
(1-2): Lý do không nên lo lắng cho duyên phận lỡ làng:
Hãy tin vào duyên số! Nếu đôi lứa có duyên nhau, cho dẫu cách xa nghìn dặm, thì cuối cùng cũng thành, như chim liền cánh, cây liền cành.
Hãy tự nhủ, đừng nên lo lắng cho việc duyên phận chưa đến, khi tuổi Xuân phôi pha trong đợi chờ.
(3-4): Phẩm chất trong giao tiếp:
.Luôn luôn giao lưu với những bạn thơ, cùng nhau xướng họa.
.Chung đụng với những hiền nhân quân tử mà tâm hồn vẫn vẹn toàn, đứng đắn, sáng trong. Điều đó, chính là phẩm chất trong sáng của người phụ nữ hay của nhân vật trữ tình, trong giao tế xã hội bấy giờ.
(5-6): Chuyện bất ngờ, ngoài dự định, vẫn thường xảy ra: (Xem tóm tắt truyện Hữu duyên hiên lý năng tương ngộ dưới đây:
. Chỉ có một trong hai chàng: nhà thiện xạ, tên sẵn; hoặc chàng nho sĩ, bút đề, sẽ là người đoạt giải.
. Nào ngờ, chàng lực sĩ, hoàn thành nhiệm vụ trải qua hàng ngàn dặm đường, đã nổi trống báo hiệu chiến thắng rồi.
(Thấy vậy, tưởng là kết quả tốt đẹp, trọn vẹn; nhưng sự đời luôn có những bất ngờ nghịch lý, trớ trêu. Cho nên nói tắt là: Thấy vậy, mà biết đâu, không phải vậy).
Đó là nội dung hai câu thơ:
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng.
有 縁 千 里 能 相 遇
無 縁 對 面 不 相 逢
Có duyên ngàn dặm thường hay gặp,
Vô duyên đối mặt chẳng sum vầy.
Xuất phát từ giai thoại sau đây:
Hữu duyên hiên lý năng tương ngộ:
Xưa có một giai nhân, sắc nước hương trời, con nhà quyền quý kén chồng.
Một hôm, bỗng có 3 chàng thanh niên tuấn tú đến xin thử tài một lượt. Gia chủ rất bối rối nhưng cuối cùng giao việc theo sở trường của các chàng như sau:
Chàng nho sĩ phải viết xong một pho sách cổ.
Chàng thiện xạ phải bắn rụng hết lá của một cây ngô đồng trước sân.
Chàng lực sĩ phải đi lấy một cái trống nơi nhà một người quen với gia chủ ở kinh đô mang về, diệu vợi, ngàn dặm, đường xa. Hễ ứng viên nào hoàn thành trước nhất thì được sánh duyên cùng người đẹp. Người đẹp cứ ngỡ chỉ có chàng thiện xạ (tên sẵn) hoặc chàng nho sĩ (bút đề) sẽ đạt mục đích vì lá cây rụng gần hết, pho sách cổ cũng sắp hoàn thành. Trong giây phút hồi họp, lâm ly ấy, bất ngờ, dưới sân trang viện, bỗng có một hồi trống rộn rã vang lên, tức là chàng lực sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ và được kết duyên cùng giai nhân. Ý nghĩa hai câu luận nầy là nhắc lại duyên nợ vợ chồng là do duyên số. Nếu đôi lứa có duyên với nhau thì cho dẫu phải cách xa nghìn dặm, cuối cùng cũng sẽ được toại nguyện.
(7) Không thư từ qua lại:
Thả lá且 𦲿 hay lá thắm: “Sự tích Vu Hựu, người đời Đường Hy Tông, một hôm, bắt được một chiếc lá đỏ từ dòng ngự câu trong cung trôi ra, trên lá có đề thơ. Hựu bèn đề một bài thơ đáp lại rồi đem lên thượng lưu thả xuống, người cung nữ là Hàn Thị bắt được.Ít lâu sau, nhà vua băng hà, toàn thể cung nữ bấy giờ được thải ra. Duyên may, Vu Hựu lấy Hàn Thị và nhận ra nhau qua chiếc lá đỏ. Hàn Thị làm một bài thơ có câu: “Phương tri hồng diệp thị lương môi” 方 知 紅 葉 是 良 媒 (Mới biết, chiếc lá thắm làm mai mối hay như thế).
(😎 Đất lành chim đậu là điều tự nhiên, tương tự như con chim kia tới vườn đào, người con trai đa tình, đến với người yểu điệu thục nữ, mới tự nhiên, đúng đắn, hợp lý-hợp tình.
*
Ngân Triều cảm đề:
Duyên số xa xôi chuyện vẫn thành,
Lo ba lo bảy, phí ngày xanh.
Tương phùng tri kỷ thơ lai láng,
Chung thủy hẹn lòng non biển xanh.
Tên sẵn, bút đề, mong chọn một,
Cuối cùng trống giục hóa mong manh!
Biết chăng thả lá do trời định,
Chim đến vườn đào, ngỡ bóng oanh.
***

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo. Bài 2 và 3

Bài  2:
Ñeà Traán  Quoác töï

Hồ Xuân Hương

Ảnh minh họa Bài 2, HXH-ND, Google

Trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn, Hồ Xuân Hương trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du có câu: Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ. Lời thơ đề chùa Trấn Quốc rêu phong cổ kính còn vang vọng. Bài Đề Trấn Quốc Tự,  Hồ Xuân Hương chép trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Tập thơ này gồm những bài ngâm vịnh rất đứng đắn, có lẽ Đại Thần Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương đã đọc tập qua, cho nên các ông đã sánh Hồ Xuân Hương ngang với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh, là những nữ sĩ nổi tiếng bấy giờ.  Vậy là, ở thế kỷ 19, các nhà thơ đương thời ngưỡng mộ Hồ Xuân Hương (HXH), một nhà thơ đứng đắn, lãng mạn, không có chuyện phê phán HXH là một nhà thơ dâm tục.

Dịch nghĩa:

Ai là người đến đó khách đài trang, dòng dõi quyền quí.

Cơn gió nam bấy giờ nhẹ lướt êm êm,

Trăng nước sóng lồng cánh sen vừa mới nở, nõn nà tinh khiết.

Khói hương chùa bay lên như chiếc tán lọng(tàn) quý báu; lại bay lên nữa, như cánh cò cánh hạc bay lên vầng mây.

Đóa hoa sen mới nở như mỉm miệng cười, hàm tiếu, cười nụ, nhẹ nhàng rửa tan niềm tục,

Ngắm cỏ xanh mùa Xuân làm cho tỉnh niềm mơ.

Đến cảnh muốn ngoảnh lại, muốn hỏi chàng,  (Nguyễn Du lòng đang muốn về quê Hồng Lĩnh),

Vung tay áo vẫy gọi đàn hồng nhạn bay về phía Đông Nam. 

*
Đề Trấn Quốc tự (Trấn Bắc tự)

Trang lâm thùy thị cảnh trung nhân, 
Tế tế thanh phong phiến phiến huân. 
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát, 
Hương yên bảo thoại lộ liên vân. 
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại, 
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân. 
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn, 
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương,  Nhất Uyên dịch thơ

*

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

        鎮 北 寺 
莊 臨 誰 是 景 中 人 
細 細 清 風 扇 扇 薰 
水 月 波 籠 蓮 插 茁 
香 煙 寶 憩 露 連 雲 
洗 空 塵 慮 花 含 態 
喚 醒 迷 途 草 亦 春 
到 景 令 人 回 首
問 

東 南 拂 袖 鴈 成 群

*

Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh dịch thơ:

Ai người đến đó, khách đài trang, 
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam. 
Trăng nước sóng lồng sen nõn cánh, 
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn. 
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu, 
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm Xuân. 
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi, 
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn.

*
Ngân Triều cảm đề:

Ðề chùa Trấn Bắc

(Trấn Quốc tự)

Ngoạn cảnh đài trang khách quý đây, 
Gió Nam man mát ngát hồn đầy .
Sóng vờn trăng nước, sen cười mỉm, 
Hương khói tán cò, bay thấu mây.
Tẩy sạch phiền trần hoa thẹn mặt, 
Cỏ Xuân mơn mởn, khách lòng khuây.

Dừng  chân  ngoảnh lại như thầm hỏi, 
Tay vẫy Đông Nam nhạn một bầy.[1]

câu (a) trên có thể hiểu hai ý:

-Khi về quê ở Hồng Lĩnh, Nguyễn Du sẽ gặp lại thân bằng quyến thuộc của mình rất đông, một đàn.

-Tay áo của Nguyễn Du có đính những sợi dây cột, khi vẫy tay áo, những sợi đó  bay bay như hình ảnh một đàn nhạn bay lả lướt trong gió.

*

Nguồn: 

1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 

2. Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, 2009 

3. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.

4. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.

***
Bài 3: 
Hoûi  traêng   (2)

Ảnh minh họa, Google.

                                            Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.

Hỏi con bạch thố đà bao tuổi,

Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?

Đêm tối cớ chi soi gác tía?

Ngày xanh còn thẹn với vừng son.

Năm canh lơ lửng chờ ai đó?

Hay có tình riêng với nước non?

                                                                        (Quốc văn tùng ký) 

Khảo dị: 
            - Bản Xuân Hương thi sao 
            Tựa đề: Vịnh vấn nguyệt 
            Mấy vạn trăm năm vẫn hãy còn 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Nuôi chàng Ngọc Thố đà bao tuổi 
            Giấu ả Hằng Nga đã mấy con 
            Đêm thẳm cớ chi soi gác tía 
            Ngày xanh sao lại thẹn vòng tròn 
            Năm canh thơ thẩn chờ ai đó 
            Hay có tình riêng mấy nước non? 
            - Bản Xuân Hương thi vịnh 
            Mấy vạn năm nay vẫn hãy còn 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Hỏi con Ngọc Thố đà bao tuổi 
            Chớ gái Hằng Nga được mấy con 
            Đêm vắng cớ chi soi gác tía 
            Ngày chầy sao thẹn mấy vầng son 
            Năm canh thơ thẩn chờ ai đó 
            Hay có tình riêng mấy nước non? 
            - Bản Nghi Xuân Uy Viễn Nguyễn gia thế phả chép bài này của Nguyễn Công Trứ, với lời như sau: 
            Mấy vạn ngàn năm vẫn hãy còn, 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Kia muông ngọc thỏ bao nhiêu tuổi, 
            Nọ ả Hằng Nga đã mấy con? 
            Chập tối cớ chi dòm gác tía, 
            Ban ngày sao thẹn với vừng son. 
            Ba mư­ơi mồng một đi đâu vắng, 
            Hay có tình riêng với nư­ớc non? 
            Nguồn: 
            - Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008 

             -"Thêm ba bài thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ", Nguyễn Thị Lâm, Tạp chí Hán Nôm, số 4 (107), 2011

*

Văn bản chữ Nôm,Ngân Triều soạn

  [其二]

𣦆氽秋𠉞吻矣群

故牢欺闕吏欺𧷺

𠳨𡥵白厝它包𢆫

𠳨姊姮娥㐌氽𡥵

𡖵最故之𥋸格紫

𣈜𩇛群𢢆唄𣜸𣜱

𠄼更泸𣼽䟻埃𥯉

能𣎏情𥢆𢭲渃𡽫

Chú giải:

Bài Hỏi Trăng trong thơ truyền tụng Hồ Xuân Hương, văn bản Landes do Lê Quý chép năm 1882 từ một bản chép tay của con cháu Tử Minh, học trò Xuân Hương ghi lại tâm sự một người con gái mới biết yêu. Yêu Nguyễn Du rồi Xuân Hương tự hỏi với lòng mình. Hỏi vầng trăng muôn thuở, mấy thu qua vẫn tròn, câu hỏi vu vơ cớ sao trăng tròn lại khuyết, hỏi thỏ trên cung trăng bao nhiêu tuổi, hỏi chị Hằng Nga vợ Hậu Nghệ đã mấy con rồi.

Đêm tối cớ chi soi duyên nàng đến với Nguyễn Du con nhà quyền quí ở gác tía lầu son.                                    

Khiến cho ngày xanh gặp nhau thẹn với mặt trời đang lên.

Năm canh lơ lửng trằn trọc nhớ ai, hay đã có tình riêng với nước non, với chàng?

Gác tía: 格 紫, theo thành ngữ gác tía lầu son, cái gác sơn màu tía, cái lầu có màu son, tức là nhà ở cao, rộng; tả cảnh sống giàu sang phú quý thời phong kiến xưa.

lơ lửng泸 𣼽 hay lửng lơ: ở trạng thái di động nhẹ, ở khoảng giữa lưng chừng, không dính vào đâu cả.

Đại ý:

Tâm sự của một người con gái mới biết yêu.
(1-2-3-4): Hồ Xuân Hương đã yêu Nguyễn Du rồi, tự vấn lòng mình:

 Hỏi vầng trăng muôn thuở bằng  những câu hỏi vu vơ:

-Tình yêu không phôi pha, vì trải mấy thu nay vẫn còn đó...

-Vẫn còn đó, vẫn réo rắt đậm nhạt trong tim.

-Không biết con bạch thố, thỏ bạch trên cung trăng nay đã được bao nhiêu tuổi?

-Biết chăng, chị Hằng Nga bây giờ đã được mấy con rồi.

(5-6-7-8): Tâm trạng và nỗi nhớ :
-Đêm tối cớ chi soi duyên ta đến với “người ấy”, con nhà quyền quý,  gác tía lầu son.

-Để những ngày xanh gặp nhau, thẹn thùng với mặt trời rạng rỡ đang lên.

-Năm canh ngẩn ngơ, lơ lửng, đợi chờ, nhớ ai.

-Hay ta đã có tình riêng với nước non, với chàng.

Ngân Triều cảm đề:

Trải mấy thu qua vẫn những là...

Vẫn còn nguyên sắc dễ phôi pha!

Ơi con thỏ bạch giờ nhiêu tuổi?

Hỡi chị Hằng Nga mấy lửa ha![2]

Tơ thắm vương hương soi gác tía?

Hẹn hò những thẹn nắng trời hoa.

Ngẩn ngơ, lơ lửng treo thương nhớ,

Hay có tình riêng với nước nhà.

                                                Ngân Triều

Nguồn:

- Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008 

-Theo Tài liệu: của TS Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du, trang 5).



[1] Có thể tay áo  của Nguyễn Du co những gút và sợi dây, thoạt trông như 1 đàn nhạn.Cũng  như trong bài Quan Hậu sợ vợ, có hai câu:

Hành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,

Thứu Lĩnh đen trùm một thức mây.

“Đôi hàng nhạn” tức là hai khúc vòng chuỗi trên cổ người thiếu nữ.

[2] Theo cổ tục, khi người phụ nữ sanh con, thì phải nằm hơ lửa than một tháng cho cơ thể hồi phục, sau nầy khi cao tuổi sẽ không có bệnh hậu. Cho nên hỏi người thiếu phụ mấy lửa, tức là hỏi người ấy đã có mấy lần sinh con rồi.