Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo: Bài số 4:

 Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo: Bài số 4:

Duyeân kyø ngoä (Duyên kỳ ngộ)
Hồ Xuân Hương
Bài Duyên kỳ ngộ trong văn bản Landes. Xuân Hương tin rằng gặp Nguyễn Du là duyên kỳ ngộ.
Vì dinh thự ở quê của cha anh bị kiêu binh đốt phá, nên Nguyễn Du mới ra ở nơi gác tía, nơi câu cá của ông anh Nguyễn Khản ở Bích Câu nên có dịp gần gủi với Xuân Hương, Hồ Phi Mai. Nàng tin ở duyên số. Đôi lứa dù có xa nhau ngàn dặm, có duyên thì sự cũng thành, sẽ thành chồng vợ. Đừng nên phân vân, lo lắng chi mà phí cả tuổi xuân xanh…
Không cần thả lá đề thơ như cung nữ Hàn Thúy Tần với chàng Vu Hựu. Lòng ta như chim tới vườn đào, tình sẽ thắm tươi.
(Theo TS Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du. Xin trích lại để liên tục dòng cảm thụ: bài số 14 chương III, trang 198):
Duyeân kyø ngoä (Duyên kỳ ngộ)
Hồ Xuân Hương
[Bài 4]Ảnh minh họa Duyên Kỳ Ngộ, Google.

Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,   
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gũi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi dòng ngự,
Chim tới vườn đào thế mới xinh.
*
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
縁 奇 遇
𠦳 𨤵 固 縁 事 共 宬
吀 仃 𢥈 𢠯 歇 春 青
𡬷 𨧠 拪 畵 詩 空 𢴑
近 噲 弓 楊 𦲿 吻 㵛
𢏡 産 筆 啼 羕 埕 治
𠸙 恾 椎 伋 㐌 抨 抨
綏 空 且 𦲿 㵢 𣳔 御
𪀄 細 𡑰 桃 世 㵋 𦎡
*
Chú giải:
Duyên: 縁, lý do như duyên cớ, duyên do…; đẹp, như khả ái như duyên dáng…; may mắn như cơ duyên…; dọc theo như duyên hải…; vợ chồng hòa hợp nhau như duyên hài…; cái phận mình có duyên đã được định trước như duyên phận, duyên số…
Kỳ ngộ: 奇 遇: sự gặp gỡ lạ lùng.
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 259-260
Tấc gang tay họa thơ không dứt: 𡬷 𨧠拪 畵 詩 空 𢴑, ý nói văn tài thấp kém , hèn mon nhưng vẫn liên tục xướng họa cùng các bạn văn nhân.
Cung dương: 宮 楊: nhà đầy khí dương, ý nói giao tiếp rộng rãi với người khác phái là nam giới.
Gần gũi cung dương lá vẫn lành: 近 噲弓 楊 𦲿 吻 㵛, luôn giao du thân mật với những bạn văn chương , nam giới) mà tâm hồn vẫn trong sáng, chính chuyên.
chĩnh chện埕 治như chễnh chện: từ gợi tả dáng ngồi nghiêm trang, ngay ngắn đường hoàng trong tự tin. Ở đây ý nói sự thành công trong thi tài, theo truyện dưới đây, giai nhân chỉ kỳ vọng vào hai ứng viên đối diện, (nhà thiện xạ hoặc văn nhân) vì họ đã sắp sửa xong việc thi tài của mình. (xem giải thích
*
(1-2): Lý do không nên lo lắng cho duyên phận lỡ làng:
Hãy tin vào duyên số! Nếu đôi lứa có duyên nhau, cho dẫu cách xa nghìn dặm, thì cuối cùng cũng thành, như chim liền cánh, cây liền cành.
Hãy tự nhủ, đừng nên lo lắng cho việc duyên phận chưa đến, khi tuổi Xuân phôi pha trong đợi chờ.
(3-4): Phẩm chất trong giao tiếp:
.Luôn luôn giao lưu với những bạn thơ, cùng nhau xướng họa.
.Chung đụng với những hiền nhân quân tử mà tâm hồn vẫn vẹn toàn, đứng đắn, sáng trong. Điều đó, chính là phẩm chất trong sáng của người phụ nữ hay của nhân vật trữ tình, trong giao tế xã hội bấy giờ.
(5-6): Chuyện bất ngờ, ngoài dự định, vẫn thường xảy ra: (Xem tóm tắt truyện Hữu duyên hiên lý năng tương ngộ dưới đây:
. Chỉ có một trong hai chàng: nhà thiện xạ, tên sẵn; hoặc chàng nho sĩ, bút đề, sẽ là người đoạt giải.
. Nào ngờ, chàng lực sĩ, hoàn thành nhiệm vụ trải qua hàng ngàn dặm đường, đã nổi trống báo hiệu chiến thắng rồi.
(Thấy vậy, tưởng là kết quả tốt đẹp, trọn vẹn; nhưng sự đời luôn có những bất ngờ nghịch lý, trớ trêu. Cho nên nói tắt là: Thấy vậy, mà biết đâu, không phải vậy).
Đó là nội dung hai câu thơ:
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng.
有 縁 千 里 能 相 遇
無 縁 對 面 不 相 逢
Có duyên ngàn dặm thường hay gặp,
Vô duyên đối mặt chẳng sum vầy.
Xuất phát từ giai thoại sau đây:
Hữu duyên hiên lý năng tương ngộ:
Xưa có một giai nhân, sắc nước hương trời, con nhà quyền quý kén chồng.
Một hôm, bỗng có 3 chàng thanh niên tuấn tú đến xin thử tài một lượt. Gia chủ rất bối rối nhưng cuối cùng giao việc theo sở trường của các chàng như sau:
Chàng nho sĩ phải viết xong một pho sách cổ.
Chàng thiện xạ phải bắn rụng hết lá của một cây ngô đồng trước sân.
Chàng lực sĩ phải đi lấy một cái trống nơi nhà một người quen với gia chủ ở kinh đô mang về, diệu vợi, ngàn dặm, đường xa. Hễ ứng viên nào hoàn thành trước nhất thì được sánh duyên cùng người đẹp. Người đẹp cứ ngỡ chỉ có chàng thiện xạ (tên sẵn) hoặc chàng nho sĩ (bút đề) sẽ đạt mục đích vì lá cây rụng gần hết, pho sách cổ cũng sắp hoàn thành. Trong giây phút hồi họp, lâm ly ấy, bất ngờ, dưới sân trang viện, bỗng có một hồi trống rộn rã vang lên, tức là chàng lực sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ và được kết duyên cùng giai nhân. Ý nghĩa hai câu luận nầy là nhắc lại duyên nợ vợ chồng là do duyên số. Nếu đôi lứa có duyên với nhau thì cho dẫu phải cách xa nghìn dặm, cuối cùng cũng sẽ được toại nguyện.
(7) Không thư từ qua lại:
Thả lá且 𦲿 hay lá thắm: “Sự tích Vu Hựu, người đời Đường Hy Tông, một hôm, bắt được một chiếc lá đỏ từ dòng ngự câu trong cung trôi ra, trên lá có đề thơ. Hựu bèn đề một bài thơ đáp lại rồi đem lên thượng lưu thả xuống, người cung nữ là Hàn Thị bắt được.Ít lâu sau, nhà vua băng hà, toàn thể cung nữ bấy giờ được thải ra. Duyên may, Vu Hựu lấy Hàn Thị và nhận ra nhau qua chiếc lá đỏ. Hàn Thị làm một bài thơ có câu: “Phương tri hồng diệp thị lương môi” 方 知 紅 葉 是 良 媒 (Mới biết, chiếc lá thắm làm mai mối hay như thế).
(😎 Đất lành chim đậu là điều tự nhiên, tương tự như con chim kia tới vườn đào, người con trai đa tình, đến với người yểu điệu thục nữ, mới tự nhiên, đúng đắn, hợp lý-hợp tình.
*
Ngân Triều cảm đề:
Duyên số xa xôi chuyện vẫn thành,
Lo ba lo bảy, phí ngày xanh.
Tương phùng tri kỷ thơ lai láng,
Chung thủy hẹn lòng non biển xanh.
Tên sẵn, bút đề, mong chọn một,
Cuối cùng trống giục hóa mong manh!
Biết chăng thả lá do trời định,
Chim đến vườn đào, ngỡ bóng oanh.
***

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo. Bài 2 và 3

Bài  2:
Ñeà Traán  Quoác töï

Hồ Xuân Hương

Ảnh minh họa Bài 2, HXH-ND, Google

Trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn, Hồ Xuân Hương trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du có câu: Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ. Lời thơ đề chùa Trấn Quốc rêu phong cổ kính còn vang vọng. Bài Đề Trấn Quốc Tự,  Hồ Xuân Hương chép trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Tập thơ này gồm những bài ngâm vịnh rất đứng đắn, có lẽ Đại Thần Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương đã đọc tập qua, cho nên các ông đã sánh Hồ Xuân Hương ngang với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh, là những nữ sĩ nổi tiếng bấy giờ.  Vậy là, ở thế kỷ 19, các nhà thơ đương thời ngưỡng mộ Hồ Xuân Hương (HXH), một nhà thơ đứng đắn, lãng mạn, không có chuyện phê phán HXH là một nhà thơ dâm tục.

Dịch nghĩa:

Ai là người đến đó khách đài trang, dòng dõi quyền quí.

Cơn gió nam bấy giờ nhẹ lướt êm êm,

Trăng nước sóng lồng cánh sen vừa mới nở, nõn nà tinh khiết.

Khói hương chùa bay lên như chiếc tán lọng(tàn) quý báu; lại bay lên nữa, như cánh cò cánh hạc bay lên vầng mây.

Đóa hoa sen mới nở như mỉm miệng cười, hàm tiếu, cười nụ, nhẹ nhàng rửa tan niềm tục,

Ngắm cỏ xanh mùa Xuân làm cho tỉnh niềm mơ.

Đến cảnh muốn ngoảnh lại, muốn hỏi chàng,  (Nguyễn Du lòng đang muốn về quê Hồng Lĩnh),

Vung tay áo vẫy gọi đàn hồng nhạn bay về phía Đông Nam. 

*
Đề Trấn Quốc tự (Trấn Bắc tự)

Trang lâm thùy thị cảnh trung nhân, 
Tế tế thanh phong phiến phiến huân. 
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát, 
Hương yên bảo thoại lộ liên vân. 
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại, 
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân. 
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn, 
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương,  Nhất Uyên dịch thơ

*

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

        鎮 北 寺 
莊 臨 誰 是 景 中 人 
細 細 清 風 扇 扇 薰 
水 月 波 籠 蓮 插 茁 
香 煙 寶 憩 露 連 雲 
洗 空 塵 慮 花 含 態 
喚 醒 迷 途 草 亦 春 
到 景 令 人 回 首
問 

東 南 拂 袖 鴈 成 群

*

Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh dịch thơ:

Ai người đến đó, khách đài trang, 
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam. 
Trăng nước sóng lồng sen nõn cánh, 
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn. 
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu, 
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm Xuân. 
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi, 
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn.

*
Ngân Triều cảm đề:

Ðề chùa Trấn Bắc

(Trấn Quốc tự)

Ngoạn cảnh đài trang khách quý đây, 
Gió Nam man mát ngát hồn đầy .
Sóng vờn trăng nước, sen cười mỉm, 
Hương khói tán cò, bay thấu mây.
Tẩy sạch phiền trần hoa thẹn mặt, 
Cỏ Xuân mơn mởn, khách lòng khuây.

Dừng  chân  ngoảnh lại như thầm hỏi, 
Tay vẫy Đông Nam nhạn một bầy.[1]

câu (a) trên có thể hiểu hai ý:

-Khi về quê ở Hồng Lĩnh, Nguyễn Du sẽ gặp lại thân bằng quyến thuộc của mình rất đông, một đàn.

-Tay áo của Nguyễn Du có đính những sợi dây cột, khi vẫy tay áo, những sợi đó  bay bay như hình ảnh một đàn nhạn bay lả lướt trong gió.

*

Nguồn: 

1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 

2. Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, 2009 

3. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.

4. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.

***
Bài 3: 
Hoûi  traêng   (2)

Ảnh minh họa, Google.

                                            Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.

Hỏi con bạch thố đà bao tuổi,

Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?

Đêm tối cớ chi soi gác tía?

Ngày xanh còn thẹn với vừng son.

Năm canh lơ lửng chờ ai đó?

Hay có tình riêng với nước non?

                                                                        (Quốc văn tùng ký) 

Khảo dị: 
            - Bản Xuân Hương thi sao 
            Tựa đề: Vịnh vấn nguyệt 
            Mấy vạn trăm năm vẫn hãy còn 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Nuôi chàng Ngọc Thố đà bao tuổi 
            Giấu ả Hằng Nga đã mấy con 
            Đêm thẳm cớ chi soi gác tía 
            Ngày xanh sao lại thẹn vòng tròn 
            Năm canh thơ thẩn chờ ai đó 
            Hay có tình riêng mấy nước non? 
            - Bản Xuân Hương thi vịnh 
            Mấy vạn năm nay vẫn hãy còn 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Hỏi con Ngọc Thố đà bao tuổi 
            Chớ gái Hằng Nga được mấy con 
            Đêm vắng cớ chi soi gác tía 
            Ngày chầy sao thẹn mấy vầng son 
            Năm canh thơ thẩn chờ ai đó 
            Hay có tình riêng mấy nước non? 
            - Bản Nghi Xuân Uy Viễn Nguyễn gia thế phả chép bài này của Nguyễn Công Trứ, với lời như sau: 
            Mấy vạn ngàn năm vẫn hãy còn, 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Kia muông ngọc thỏ bao nhiêu tuổi, 
            Nọ ả Hằng Nga đã mấy con? 
            Chập tối cớ chi dòm gác tía, 
            Ban ngày sao thẹn với vừng son. 
            Ba mư­ơi mồng một đi đâu vắng, 
            Hay có tình riêng với nư­ớc non? 
            Nguồn: 
            - Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008 

             -"Thêm ba bài thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ", Nguyễn Thị Lâm, Tạp chí Hán Nôm, số 4 (107), 2011

*

Văn bản chữ Nôm,Ngân Triều soạn

  [其二]

𣦆氽秋𠉞吻矣群

故牢欺闕吏欺𧷺

𠳨𡥵白厝它包𢆫

𠳨姊姮娥㐌氽𡥵

𡖵最故之𥋸格紫

𣈜𩇛群𢢆唄𣜸𣜱

𠄼更泸𣼽䟻埃𥯉

能𣎏情𥢆𢭲渃𡽫

Chú giải:

Bài Hỏi Trăng trong thơ truyền tụng Hồ Xuân Hương, văn bản Landes do Lê Quý chép năm 1882 từ một bản chép tay của con cháu Tử Minh, học trò Xuân Hương ghi lại tâm sự một người con gái mới biết yêu. Yêu Nguyễn Du rồi Xuân Hương tự hỏi với lòng mình. Hỏi vầng trăng muôn thuở, mấy thu qua vẫn tròn, câu hỏi vu vơ cớ sao trăng tròn lại khuyết, hỏi thỏ trên cung trăng bao nhiêu tuổi, hỏi chị Hằng Nga vợ Hậu Nghệ đã mấy con rồi.

Đêm tối cớ chi soi duyên nàng đến với Nguyễn Du con nhà quyền quí ở gác tía lầu son.                                    

Khiến cho ngày xanh gặp nhau thẹn với mặt trời đang lên.

Năm canh lơ lửng trằn trọc nhớ ai, hay đã có tình riêng với nước non, với chàng?

Gác tía: 格 紫, theo thành ngữ gác tía lầu son, cái gác sơn màu tía, cái lầu có màu son, tức là nhà ở cao, rộng; tả cảnh sống giàu sang phú quý thời phong kiến xưa.

lơ lửng泸 𣼽 hay lửng lơ: ở trạng thái di động nhẹ, ở khoảng giữa lưng chừng, không dính vào đâu cả.

Đại ý:

Tâm sự của một người con gái mới biết yêu.
(1-2-3-4): Hồ Xuân Hương đã yêu Nguyễn Du rồi, tự vấn lòng mình:

 Hỏi vầng trăng muôn thuở bằng  những câu hỏi vu vơ:

-Tình yêu không phôi pha, vì trải mấy thu nay vẫn còn đó...

-Vẫn còn đó, vẫn réo rắt đậm nhạt trong tim.

-Không biết con bạch thố, thỏ bạch trên cung trăng nay đã được bao nhiêu tuổi?

-Biết chăng, chị Hằng Nga bây giờ đã được mấy con rồi.

(5-6-7-8): Tâm trạng và nỗi nhớ :
-Đêm tối cớ chi soi duyên ta đến với “người ấy”, con nhà quyền quý,  gác tía lầu son.

-Để những ngày xanh gặp nhau, thẹn thùng với mặt trời rạng rỡ đang lên.

-Năm canh ngẩn ngơ, lơ lửng, đợi chờ, nhớ ai.

-Hay ta đã có tình riêng với nước non, với chàng.

Ngân Triều cảm đề:

Trải mấy thu qua vẫn những là...

Vẫn còn nguyên sắc dễ phôi pha!

Ơi con thỏ bạch giờ nhiêu tuổi?

Hỡi chị Hằng Nga mấy lửa ha![2]

Tơ thắm vương hương soi gác tía?

Hẹn hò những thẹn nắng trời hoa.

Ngẩn ngơ, lơ lửng treo thương nhớ,

Hay có tình riêng với nước nhà.

                                                Ngân Triều

Nguồn:

- Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008 

-Theo Tài liệu: của TS Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du, trang 5).



[1] Có thể tay áo  của Nguyễn Du co những gút và sợi dây, thoạt trông như 1 đàn nhạn.Cũng  như trong bài Quan Hậu sợ vợ, có hai câu:

Hành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,

Thứu Lĩnh đen trùm một thức mây.

“Đôi hàng nhạn” tức là hai khúc vòng chuỗi trên cổ người thiếu nữ.

[2] Theo cổ tục, khi người phụ nữ sanh con, thì phải nằm hơ lửa than một tháng cho cơ thể hồi phục, sau nầy khi cao tuổi sẽ không có bệnh hậu. Cho nên hỏi người thiếu phụ mấy lửa, tức là hỏi người ấy đã có mấy lần sinh con rồi.


Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du: Bài 1/27: Mộng đắc thái liên, Nguyễn Du

Thieân tình söû Hoà Xuaân Höông & Nguyeãn Du.
(Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du)
Tóc mai sợi vắn sợi dài,
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm.
Ca dao
Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà không biết thì thôi,
Biết rồi mỗi đứa một nơi…cũng buồn!
Ca dao
*
Lời dẫn:
Tiến Sĩ Phạm Trọng Chánh, nhà thơ Nhất Uyên, Sorbonne, Paris, đã có nhiều bài biên khảo khoa học về Bà Hồ Xuân Hương, qua trang web Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du của ông, trong đó gồm nhiều bài nghiên cứu có giá trị văn chương không những về cuộc đời và những sáng tác của Bà mà những bài đó còn được Ông chú giải công phu, có hệ thống.
Có mấy ai biết được thiên tình sử của hai thiên tài văn hoc nầy? Hồ Xuân Hương- Nguyễn Du được ông sưu tập thành 27 bài thơ để đời.
Xin chân thành cảm ơn Tiến Sĩ đã dày công nghiên cứu cho đời một khám phá mới về Bà Hồ Xuân Hương, góp thêm hương sắc cho nền văn học nước nhà.
Xin chân thành cảm ơn Ông qua những tài liệu đã cho phép sử dụng, đã quảng bá trong quyển sách nầy và xin hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả.
Hôm nay NT xin đăng lại 27 bài thơ tình trên để quý vị tham khảo.
Thân mến, Ngân Triều.
***
Bài 1:
Moäng ñaéc thaùi lieân (Mộng đắc thái liên)
Nguyễn Du
Cổ Nguyệt Đường cũng không xa Đền Khán Xuân, nay là khu đình làng Nghi Tàm. nơi đó cha, anh Nguyễn Du có ngôi nhà mát để câu cá. Cạnh Đền Khán Xuân là dinh gác tía của Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du, là nơi Nguyễn Du sau ba năm (1787-1790) chu du Vân Nam, Trường An, Hàng Châu gặp anh Nguyễn Nể và Đoàn Nguyễn Tuấn tại Hàng Châu, trở về Thăng Long chung sống với anh Nguyễn Nể. Trong bài Mộng đắc thái liên, Nguyễn Du gọi Xuân Hương là lân nữ, cô hàng xóm, và hẹn hò cùng nàng hái sen. Mối tình ba năm (1790-1793) Chữ tình chốc đã ba năm vẹn .Thơ Hồ Xuân Hương bài Cảm Cựu. Kiêm Trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu, hầu Nghi Xuân, Tiên Điền nhân. (Khi ấy, Hồ Xuân Hương 18-21 tuổi).
Ảnh minh họa, HXH-ND Bài 1,Google
Moäng ñaéc thaùi lieân (Mộng đắc thái liên)

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, 
(I)
Khẩn thúc giáp điệp quần
Thái liên trạo tiểu dĩnh.
Hồ thủy hà xung dung,
Thủy trung hữu nhân ảnh.
*
(II)
Thái, thái Tây Hồ liên,
Hoa thực câu thướng thuyền.
Hoa dĩ tặng sở úy,
Thực dĩ tặng sở liên.
*
(III)
Kim thần khứ thái liên,
Nãi ước đông lân nữ,
Bất tri lai bất tri,
Cách hoa văn tiếu ngữ.
*
(IV)
Cộng tri liên liên hoa,
Thùy giả liên liên cán.
Kỳ trung hữu chân ty,
Khiên liên bất khả đoạn.
*
(V)
Liên diệp hà thanh thanh,
Liên hoa kiều doanh doanh.
Thái chi vật thương ngẫu,
Minh niên bất phục sinh.
Nhất Uyên dịch thơ
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn
夢 得 採 蓮 [其 一]
緊 束 蛺 蝶 裙
採 蓮 掉 小 艇
湖 水 何 衝 瀜
水 中 有 人 影
*
夢 得 採 蓮 [其 二]
採 採 西 湖 蓮
花 實 倶 上 船
花 以 贈 所 畏
實 以 贈 所 憐
*
夢 得 採 蓮 [其 三]
今 晨 去 採 蓮
乃 約 東 鄰 女
不 知 來 不 知
隔 花 聞 笑 語
*
夢 得 採 蓮 [其 四]
共 知 憐 蓮 花
誰 者 憐 蓮 幹
其 中 有 真 絲
牽 憐 不 可 斷
*
夢 得 採 蓮 [其 五]
蓮 葉 何 青 青
蓮 花 嬌 盈 盈
採 之 勿 傷 藕
明 年 不 復 生
***
Ảnh minh họa bài 1 bis HXH-ND
Bài Mộng đắc thái liên, Nguyễn Du sáng tác khoảng năm 1804-1805, sau khi được triệu vào kinh đô Huế thăng chức Đông Các Học Sĩ, chức vụ thân cận vua Gia Long. Hàng ngày ông dâng sách cho vua đọc, bàn luận cùng vua về trị nước, thảo các chiếu biểu cho vua. Có lẽ khi ấy. nhìn hồ sen Tịnh Tâm, Nguyễn Du không khỏi nhớ đến những ngày thơ mộng hơn mười năm xưa với cô hàng xóm, hẹn nàng đi hái sen. Nàng đã đến điểm hẹn từ lúc nào! Tiếng nàng vọng từ sau khóm hoa. Một thiên tình sử đã mở ra. Nguyễn Du đã kín đáo ví ngầm tình mình như sợi tơ bền, dẫu hai đoạn cuống sen đã lìa xa nhau nhưng những sợi tơ lòng mãi vấn vương không dứt.
*
Nhất Uyên dịch nghĩa:
Xắn gọn chiếc quần ống rộng có dây thun phiá dưới, phùng ra như cánh bướm, chèo thuyền đi hái sen,
Nước hồ lai láng. Dưới nước in bóng hai người. Hái sen Hồ Tây, hái hoa và hái gương sen. Hoa sen tặng người mình kính. Gương sen tặng người mình thương.
Hôm ấy đi hái sen, hoa Nguyễn Du tặng cho bà Hà, mẹ của Xuân Hương và anh Nguyễn Nể; gương sen có lẽ tặng hết cho Phi Mai để nấu chè hột sen!
Sáng sớm đi hái sen. Hẹn với nàng láng giềng. Nàng đến không biết tự lúc nào. Sau khóm hoa, đã nghe nàng cười nói ròn rã…
Ai cũng thích hoa sen, nhưng mấy ai thích thân hoa sen. Trong thân sen có những sợi tơ bền, lìa nhau rồi, những tơ lòng như còn mãi vấn vương không dứt.
Lá sen màu xanh xanh; hoa sen đẹp xinh xinh; không khéo, khi hái sen, làm lìa ngó; năm sau cây sen đó chẳng nở ra hoa.
***
Nhất Uyên dịch thơ
Mơ thấy hái sen
(I)
Xắn gọn quần cánh bướm,
Chèo thuyền nan hái sen.
Nước hồ dâng lai láng,
Bóng người soi nước trong.
(II)
Tây Hồ, hái, hái sen,
Hoa, gương chất mạn thuyền,
Hoa tặng người mình kính,
Gương tặng người mình thương.
(III)
Sáng nay đi hái sen.
Hẹn láng giềng đi với.
Nàng đến tự bao giờ ?
Cách hoa nghe cười nói .
(IV)
Hoa sen ai cũng yêu,
Cọng sen nào ai thích,
Trong cuống có tơ bền.
Vấn vương hoài không dứt.
(V)
Lá sen màu xanh xanh,
Hoa sen đẹp xinh xinh,
Hái chớ làm lìa ngó,
Năm sau sen chẳng sinh.
***
Ngân Triều cảm đề
Mơ đi hái sen

I.
Xắn gọn quần cánh bướm,
Chèo thuyền nan hái sen,
Nước hồ như lai láng,
Hồ lồng bóng thân quen.
II.
Mênh mông Hồ Tây rộng,
Nào tìm hái hoa, gương!
Hoa biếu người nể trọng,
Gương trao người mình thương.
III.
Sáng sớm đi hái sen,
Hẹn cô nàng láng giềng,
Tự lúc nào, không biết!
Đến rộn tiếng cười duyên.
IV.
Ai cũng thích hoa, gương,
Thân gai chẳng ai thích,
Trong có sợi tơ vương,
Lìa thân tơ vướng vít.
V.
Lá tròn tròn xanh xanh,
Bông hồng phấn xinh xinh,
Ai nỡ lòng bứt ngó?
Sen buồn hoa chẳng sinh!
Nguồn: Theo Đi tìm cổ nguyệt đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du/ TS Phạm Trọng Chánh, Paris.
***