Thích nhàn từng trải thú sơn hà,
Phong cảnh am mây mới gọi là…
Doành[2] chở bè từ[3] vờn sắc ngọc,
Đỉnh in trăng tuệ[4] tỏ màu hoa.
Véo von kệ sớm câu chim gióng,
Êm ái đàn Xuân khúc gió hoà.
Dù chẳng thần tiên nhưng chẳng tục,
Mới hay rằng Phật cũng là ta.
Trương Quỳnh Như.
Nguồn: Quách Tấn, Hương vườn cũ, NXB Hội nhà văn, 2007
*
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
山陰古寺,
惕閒曾𣦆趣山河,
風景庵𩅹買噲𪜀.
溋𨔾𣙨慈援色玉,
頂印𦝄慧訴牟花.
𠶓𠹚偈𣋽句𫚳凍,
㛪愛彈春曲𩙍和.
油丕神仙仍丞俗,
買能㖫佛共𪜀𢧲
Diễn ý bài thơ:
Thích nhàn từng
trải qua thú du ngoạn núi sông,
Phong cảnh
cái am cao ngất tầng mây, am mây mới gọi là…
Dòng nước, doành; chở bè lành, từ; lượn, vờn; trong sắc nước trong như ngọc,
Đỉnh núi in bóng vầng trăng khôn sáng, tuệ; soi sáng tỏ sắc màu hoa.
Véo von hót sớm mai như câu kệ trỗi lên, gióng.
Gió êm mát, gió hoà như một khúc đàn Xuân.
Dù không phải
là thần tiên nhưng chẳng phải tầm thường, tục;
Mới hay rằng Phật cũng là ta.
Nội dung bài thơ:
-Hai
câu đề: Giới thiệu bản thân tác giả và Sơn Âm cổ tự.
Bản thân đã từng đi vãng cảnh khắp nơi
trên mọi miền đất nước.
Chùa Sơn Âm cổ tự thì ở trên núi, cao ngất
tầng mây.
-Bốn
câu thực-luận: Những chi tiết độc đáo trên đường đi:
Chiếc bè lành, trôi trên dòng sông xanh
biếc, nước trong veo như ngọc.
Đường đêm, ánh trăng soi lên đỉnh núi,
ngàn hoa rực rỡ lộ ra.
Ban ngày, chim hót véo von như những bài
kệ trỗi lên.
Gió Xuân êm mát, xuyên qua cành lá như
đang hòa tấu một khúc nhạc.
-Hai
câu kết: Cảm nghĩ của tác giả:
Dẫu không phải là thần tiên hay khách tục
nhưng lòng vui phơi phới vì “Phật tức tâm, tâm tức Phật”[5] 佛 即心, 心即佛.
***
Chim hót véo von, câu kệ trỗi,
Êm mát gió Xuân, khúc nhạc hoà.
Dẫu chẳng thần tiên, không khách tục,
Rõ ràng lòng Phật, cũng
lòng ta.
Ngân Triều, tranh có hỗ trợ của AI.
*
Ngân Triều cảm đề Sơn âm cổ tự:
Bước chân in dấu, khắp sơn hà,
Am ngất tầng mây, mới gọi là…
Bè từ[6] dòng biếc, trong như ngọc,
Trăng sáng đầu non, giác [7]sắc hoa.
*
Chim hót véo von, câu kệ trỗi,
Êm mát gió Xuân, khúc nhạc hoà.
Dẫu chẳng thần tiên, không khách tục,
Nghe như lòng Phật, cũng lòng ta.[8]
Ngân Triều
Chú thích:
[1] Sơn âm cổ tự
là một bài thơ nổi tiếng của nàng Trương Quỳnh Như, gắn liền với mối tình đầy
nước mắt giữa nàng và nhà thơ Phạm Thái vào thời Tây Sơn. Bài thơ này mượn cảnh
một ngôi chùa cổ trên núi cao để gửi gắm tâm sự u buồn, sự tĩnh lặng và khát vọng
thoát tục của thi nhân trước nghịch cảnh cuộc đời.
Bối cảnh và ý nghĩa trong thơ Trương Quỳnh Như
·
Trương Quỳnh Như là một thiếu nữ tài
sắc vẹn toàn ở Nam Định, có duyên gặp gỡ và xướng họa thơ văn với Phạm Thái
(khi ấy đang cải trang làm nhà sư Phổ Chiêu).
·
Bài thơ Sơn âm cổ tự (Ngôi
chùa cổ nơi núi vắng) nằm trong tập thơ lưu lại chuyện tình cảm động nhưng trắc
trở của hai người. Chữ "Sơn âm" trong nhan đề vừa chỉ âm thanh của
núi rừng, vừa gợi không gian tịch mịch, thâm nghiêm của chốn thiền môn thanh tịnh.
Không gian thiền vị trong bài thơ
·
Cảnh sắc u tịch: Bài thơ khắc
họa hình ảnh ngôi chùa nằm ẩn hiện giữa chốn non cao nước biếc, tách biệt hoàn
toàn với những ồn ào, bụi bặm và đau thương của cõi trần gian.
·
Tâm sự u hoài: Qua hình ảnh
khói hương, chuông mõ và cảnh vật hoang sơ, bài thơ phản ánh nội tâm sâu kín, nỗi
niềm cô đơn và bế tắc của người con gái tài hoa trước số phận ép duyên trớ trêu
thời bấy giờ.
Ngôi chùa trong thơ Trương Quỳnh Như không chỉ là một địa danh vãn
cảnh sơn thủy hữu tình, mà còn là chốn nương náu tâm hồn, là biểu tượng cho sự
thanh cao nhưng bạc mệnh của nữ sĩ trước khi từ bỏ cõi đời trong bi kịch.
Sơn âm cổ tự
hiện nay vẫn giữ nguyên tên gọi là chùa Sơn Âm (hoặc Sơn Âm Tự) và tọa lạc
tại xã Thanh Bình, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
[2] Doành (duềnh): 溋, dòng
nước.
Buồn trông
gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
[4] Tuệ: 慧, khôn sáng.
[5]Phật tức tâm, tâm tức Phật: 佛 即心, 心即佛. Phật tức là những điều thiện ở trong lòng ta, những điều thiện ở trong lòng ta tức là Phật đấy.
[6] Bè từ: Từ (trong Bè từ): Nghĩa là từ bi (lòng thương yêu, cứu độ chúng sinh). Chữ "từ" ở đây đóng vai trò tính chất của chiếc bè. Bè từ (Từ hàng / Bè từ bi): Xuất phát từ điển tích Phật giáo coi Phật pháp như một chiếc bè cứu người qua sông mê sang bờ giác. Bản thân giáo pháp hoặc lòng từ bi của người tu hành được ví như chiếc bè nhẹ nhàng trôi trên "dòng biếc" thanh tịnh, trong ngần như ngọc.
[7] Trăng giác: tức là" vầng trăng tuệ giác", trăng tuệ chiếu" để biểu thị tâm hồn thanh tịnh và sự tỉnh thức.
[8] Phỏng dịch câu Phật tức tâm, tâm tức Phật, Nghe như lòng Phật, cũng lòng ta.
những điều thiện ở trong lòng ta tức là Phật đấy.
