Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2026

Bài số 4: Độ Hoa Phong, (Vịnh Hạ Long), thơ HXH; Ngân Triều chú giải.

Bài số 4:
Ñoä Hoa Phong

                            (Độ Hoa Phong)
                                                                Hồ Xuân Hương

                                

Buồm thơ thong thả lượn Hoa Phong, Ảnh Google

*

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,

Tiểu bích đan nhai xuất thủy trung.

Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,

Sơn hình tà kháo thủy môn thông.

Ngư long tạp xử thu yên bạc,

Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.

Ngọc động vân phòng tam bách lục,

Bất tri thùy thị Thủy tinh cung.

*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn.

  


 
 
 
 

 

*

Nhất Uyên phiên âm: Độ Hoa Phong 

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong, 
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung. 
Thủy thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển, 
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông. 
Ngư long tạp xử thu yên bạc, 
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
 
Ngọc động vân phòng tam bách lục 
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Chú giải:

Trong sách Phượng Sơn Từ chí lược cũng như Đại Nam dư địa chí ước biên, chép 5 bài thơ, không có tiêu đề riêng cho từng bài, chỉ đề Chu thử Hoa Phong tức Cảnh bát thủ.

Tháng 2 năm 1962, Ông Trần Văn Giáp đã giới thiệu 5 bài trên báo Văn Nghệ.

Năm 1983, Gs Hoàng Xuân Hãn đã đặt tên cho từng bài thơ có phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ…và được ông công bố trong Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long, tập san KHXH Paris, 1984, như sau:

Độ Hoa phong

Trạo thanh ca

Nhãn phóng thanh

Thủy Vân Hương

Hải ốc trù

 (Do sắp xếp tiêu đề  thơ theo ABC, nên có thể các bài trên không liên tiếp nhau.

Xin thành thật cáo lỗi cùng quý vị độc giả, Ngân Triều).

Vũng Hoa Phong, tức Vịnh Hạ Long, lấy tên từ địa danh huyện xưa, sau đổi thành Nghiêu Phong, vì huyện nầy có nhiều đảo nhỏ.

Cá rồng, chỉ tên l loài thủy tộc. Riêng ở đây, theo huyền thoại, xưa có rồng giáng xuống cho nên được gọi là Hạ Long.

Trong thời cận đại, các thủy thủ, kể cả hải quân Pháp, đã từng thấy hình dạng của rồng uốn khúc, nổi trên mặt biển, dài khoảng 30 mét, được gọi là “rắn biển”.

Ảnh minh họa rắn biển khổng lồ, Google.


Ảnh rắn biển khổng lồ tấn công tàu biển, bản đồ của Chef Van Duzer, 1539, Google.

Âu, là giống chim biển, đầu giống chim bồ câu, chân giống chân vịt, còn được gọi là chim hải âu.

Ảnh chim mòng biển (trên) cướp mồi

của chim hải âu (dưới), Google.

Câu 7: Người xưa tin rằng, con người có thể tu luyện ở những nơi thanh tịnh, trong các hang động, thường có mây phủ, theo Tiên pháp để trở thành bất tử. HXH ghi là có 306 động Tiên, có thể Bà muốn chỉ số lượng rất nhiều của tiên giới nhưng trong các văn thơ khác, thường chỉ nói có 36 động tiên.

Thủy Tinh cung, , chỉ cung điện, nơi tiên ở, ngoài biển.

Nhất Uyên dịch nghĩa:

Qua Vũng Hoa Phong, (Vịnh Hạ Long).

Lá buồm không vội vượt qua Vũng Hoa Phong,

Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chói dựng lên.

Thế nước tùy chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.

Bình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.

Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.

Âu cò cùng bay trong ráng đỏ trời chiều.

Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây

Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh

Dịch thơ:

(1)Bản dịch của Gs Hoàng Xuân Hãn

Gửi bởi Vanachi ngày 28/04/2006 07:30

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong. 
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng. 
Dòng nước lần theo chân núi chuyển, 
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông. 
Cá rồng lẩn nấp hơi Thu nhạt, 
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng. 
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc, 
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

*

(2) Bản dịch của Trương Việt Linh

Gửi bởi vietlinh11 ngày 26/07/2016 11:12

Mảnh buồm thong thả vượt Hoa Phong 
Vách đứng bờ son dựng giữa dòng 
Thế nước đổi thay tuỳ núi chuyển 
Hình non nghiêng lại để dòng thông 
Trời chiều bóng nhạt soi le nhạn 
Khói toả hơi thu khuất cá rồng 
Động ngọc phòng mây ba sáu chỗ 
Biết đâu là chốn Thuỷ Tinh cung

 *

(3) Ngân Triều dịch thơ:

Buồm thơ thong thả lượn Hoa Phong,

Đá  đứng, sườn son, nổi giữa dòng.

Sóng tỏa dạt dào ôm ấp núi,

Bóng lồng nghìn núi đợi chờ trông.

Cá rồng lẩn khuất dòng Thu nhạt,

Âu diệc cùng bay với ráng hồng.

Nghe nói Cõi Tiên băm sáu động,

Thủy Tinh có phải chốn nầy không?

***

  

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Bài 2,3 và thơ xướng họa HXH (tiếp theo).

 

Bài số 2:
Caûm cöïu toáng taân Xuaân chi taùc (1)

     Hồ Xuân Hương

                          


                 











Lửa lòng đã tắt cùng sương gió,/Duyên đến như là ngủ gối mơ

Ảnh minh họa Google.

       Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn

感 舊 送 新 春  之 作

春 尼 芾 沛 丐  春 𠸗

𣎏 𣌋 ?  時 吏 𣎏 𣌁

𨴦 峝 花 群 疏 𣘄 𣈖

𢩣 轟 窖 漝 迢 絲

風 流 𠠩  坪 香 𣳢

光 景 𪚚 𠁀 𩠴 𢠩

釿 鐄 𡛤 尅 春 𢣿 𣼽

庯 柳 𤾓 塘 客 𢥢 𢠐

*

Nhất Uyên phiên âm bài 2:

Cảm chuyện xưa, tiễn đưa người tình mới

Xuân nầy nào phải cái xuân xưa,             (1)

Có sớm ư? Thời lại có trưa.

Cửa động hoa còn thưa thớt bóng,           (3)

Buồng thoa oanh khéo dập dìu tơ.

Phong lưu trước mắt bình hương nguội,  (5)

Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ.

Cân vàng nửa khắc Xuân lơ lửng,            (7)

Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.

*

Cấu trúc một số từ Hán-Nôm & chú giải bài 2 kỳ 1:

Tiêu đề bài thơ hơi khác thường vì người ta thường nói Tống cựu, nghênh tân, tiễn đưa năm cũ, đón mừng năm mới, ở đây thì ngược lại, tiễn đưa năm mới. Vì thế có người đã dịch Bài thơ là “cảm năm cũ, tiễn đưa năm mới”. (NXB Văn Học Hà Nội, 1982) nhưng chữ Xuân còn có nghĩa là người tình. Do đó tiêu đề có thể dịch như tiêu đề đã ghi trên: Cảm chuyện xưa, tiễn đưa người tình mới.

buồng thoa 𢩣, ( thoa , cái trâm cài đầu phụ nữ), cái buồng của người con gái.

Oanh =rầm rộ, rộn rã. Ở văn cảnh nầy là rộn rã.

dập dìu tơ  漝迢絲 số lượng người trẻ trung tấp nập.

Phong lưu  風流  khách lịch sự đến chơi.

bình hương nguội   𣳢, ý nói lửa lòng đã tắt.
            Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 3045-3046

chiếc gối mơ   𢠩, gối du tiên hay du tiên chẩm:

Trong Khai thiên di sự: Nước Quy Tư có dâng vua một chiếc gối rất kỳ lạ. Khi gối đầu ngủ thì chiêm bao thấy mình được đi chơi khắp cõi tiên. Vua Đường Minh Hoàng đặt tên gối là "Du tiên chẩm".

Cân vàng nửa khắc 𡛤, cuộc vui tuyệt vời, ngắn ngủi,

Xuân lơ lửng  𢣿 𣼽, Xuân phải hiểu là “đông quân”, , vừa là mùa xuân vừa  là người yêu. “Tân Xuân” phải hiểu là “người yêu mới”, ở đây có thể hiểu là cuộc vui  nửa chừng, chưa trọn vẹn.

 Phố liễu , phố có trồng liễu, nhà phố có mỹ nhân.

ngẩn ngơ 𢥢  𢠐, đờ đẫn như tâm trí đang ở đâu đâu.

*

 Diễn y, bài 2, Nhất Uyên:

 Hồ Xuân Hương viết hai bài thơ trên năm 1814, trước khi gặp Tốn Phong để  đưa chàng viết tựa xin diễn ý như sau:

(1) Hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai, mùa xuân này không còn như những mùa xuân xưa,

(2) Cũng như đất trời đã có buổi sớm, tức là sẽ có buổi trưa.

(3)Trước cửa, người tìm thơm , trồng cây si không  đông…

(4) Trong nhà, không còn tiếng đàn rộn rã.

(5)Trước mắt, lửa lòng như bình hương nguội; vì cũng đã tưởng không còn yêu ai được nữa, đã lạnh với tình đời rồi. (Lúc này, Xuân Hương đã trải qua nhìều kinh nghiệm nhân sinh, nhất là về tình ái).

(6)Nhưng nay gặp một đối tượng đúng như lòng mình mơ ước thật khó; quả là cuộc đời như ngủ trên một chiếc gối mơ (tích Du tiên chẩm)

Ở tuổi tưởng như đã lỡ thời bỗng dưng được treo giá ngàn vàng, (được quan Yên Quảng Trần Phúc Hiển xin gá nghĩa tóc tơ)

(7) Cân vàng nửa khắc ,  𡛤, cân vàng chỉ có nửa khắc, ngắn ngủi quá, lòng chửa thỏa.

(Vì sao “cân vàng”, ngắn ngủi, lơ lửng? Phải chăng tác giả muốn so sánh bóng  bẩy chuyện “cân vàng” như 2 đĩa cân lên xuống, với hình ảnh làm cái “chuyện ấy” , trong yêu đương của tình yêu đôi lứa. Thật rất tuyệt vời!)

(8)Tơ duyên như thế đó, khiến cho lòng ngơ ngẩn, không khuây.

*

Dịch thơ bài 2, Ngân Triều

Xuân này không giống những Xuân xưa,

Như đất trời có sớm, có trưa.

Trước cửa, khách thơ sao vắng vẻ?

Trong nhà, đâu rộn rã âm tơ?

Lửa lòng đã tắt cùng sương gió,

Duyên đến như là ngủ gối mơ[1].

Ngắn ngủi cân vàng, nên chẳng chớ,[2]

Tơ duyên ngơ ngẩn, mấy cho vừa.


*****

    Caûm cöïu toáng taân Xuaân chi taùc (2)


Mới biết vị đời chua lẫn ngọt,/

Mà xem phép Tạo nắng thì mưa.

Ảnh minh họa, Google.

*

Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn

買 别 喟 𠁀 咮 悋 𤮿

䀡 法 𣌝𩄎

音 搭 姅 𧜖 群 短

𡋦 𦖑 佘 㗂 㐌 餘

𣖙 樗 尼 唁 仍 𦰟

𥉫 𨩍 𣈜 奴 滂 如 祠

𠉞𣎏 兠 欣 姅

咍 仍 自 低 沛 世 𣗓

*

Nhất Uyên phiên âm bài 2 kỳ 2:

Mới biết vị đời chua lẫn ngọt,  (1’)

Mà xem phép Tạo nắng thì mưa.

Tri âm đắp nửa chăn còn ngắn,  (3’)

Bức vách nghe xa tiếng đã thừa.

Nếm mía vụ nầy ngon những ngọn,  (5’)

Trông gương ngày nọ bẵng như tờ.

Xưa nay còn có đâu hơn nữa,  (7’)

Hay những từ đây phải thế chưa?

*
Cấu trúc một số từ Hán-Nôm & chú giải bài 2 kỳ 2:

bức vách, 𡋦 hay tai vách mạch rừng, chỉ những dư luận thêu dệt, đồn đại đa dạng nhiều chiều, phần nhiều do cảm tính, không đúng sự thật:

Do câu thành ngữ.

Rừng có mạch vách có tai.

Nghĩa là kín như rừng cũng có những lối đi nhỏ. (mạch) người ta có thể biết được; kín như vách, người ta cũng có thể nghe được (tai).

Câu (5’), mía chính vụ vào dịp Heo may, trước Tết. Sau Tết người ta “bồng gốc”, làm tơi đất, bón tưới, thúc mầm cho mía lên.

Tục ngữ có câu:
Mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn.

Tháng Ba mía còn non; họa chăng còn sót lại chút mía măng, ăn chẳng ra gì.

Nếm mía vụ nầy ngon những ngọn là nếm mía vào lúc mía trái vụ. Trái vụ  thì nông sản cao giá cũng như hoàn cảnh quá lứa lỡ thì của người con gái mà bỗng có cơ hội đáng yêu, được người cầu hôn.

*

Nhất Uyên dịch nghĩa bài 2 kỳ 2:

Lẽ đời trải nghiệm, đều có vị chua lẫn vị ngọt, như trên trời  có nắng, có mưa.

Chưa phải là tri âm hoàn toàn (còn ngắn) so với lòng ước vọng.

Những lời chê bai, dư luận (cho là nàng có số sát phu), đã quá nhiều rồi.

Nay đã tìm ra người tâm đầu ý hợp, (quan Tham Hiệp Yên Quảng), như vụ “mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn”vì trái vụ.( tuy muộn màng nhưng rất thỏa lòng).

Chạnh nỗi niềm xưa, đời đơn lẻ, soi gương quạnh vắng một mình.

Từ trước đến giờ, đâu có  mối tình nào hơn mối tình nầy như thế.

Có phải từ nay về sau sẽ thỏa lòng như thế hay không.

Soạn theo Thư viện Online và tham khảo tài liệu của TS Phạm Trọng Chánh.

*
Ngân Triều dịch thơ bài 2 kỳ 2 :

Lẽ đời tất định ngọt và chua,

Như ở trên trời có nắng mưa.

Duyên kiếp phải chưa, lòng ước vọng,

Chê bai dư luận, hãy còn thừa.[3]

Mía nầy trái vụ, ngon đầu ngọn.[4]

Lẻ bóng soi gương, chạnh nỗi xưa,

Thuở trước tình nào đâu đã trọn,

Sau nầy có thỏa thế hay chưa.?

                                   ***

 

Bài số 3:
 Döõ Sôn Nam thöôïng,

Hieäp Traán quan Traàn Haàu xöôùng hoïa (baøi 1)

Xuân Hương xướng:

                                     


Biệt ly bịn rịn tình lưu luyến,/ ảnh minh họa, Google

Bình  thủy tương phùng, nguyệt hạ tôn,      (1)

Cương trường phiến phiến thuộc nan ngôn.

Khiêu cầm hữu ý minh hoàng xướng,         (3)

Nhiễu thụ vô đoan ngữ thước huyên.

Thùy tục già thanh quy Hán Khuyết,           (5)

Tự tu liên bộ xuất Hồ môn.

Bán diên biệt hậu tình đa thiểu,                   (7)

Mạch mạch không ly sảnh nữ hồn.

Câu 7, hậu , trong Lưu Hương Ký chép là hận

*
           Văn bản chữ Hán, Ngân Triều soạn, bài 3:

         ,

苹 水 相 逢 月 下 樽    

剛 膓 片 片 属 難 言

挑 琴 有 意 明 皇 唱

𣗳 無 端 語 鵲 喧

誰 續 𡂪 聲 歸 熯 闕   

自 羞 蓮 歩 岀 胡 門

半 沿 别 後 情 多 少

陌 陌 空 離 清 女 魂

*

Chú giải:

Bình  thủy  苹水= bèo và nước.

tương phùng    = cùng gặp nhau.

nguyệt hạ   = dưới trăng.

tôn = chén rượu.

Cương trường    = ruột cứng , tấm long quả quyết, tấm long son.

phiến   = khúc, đoạn, mảnh.

nan ngôn  = khó nói nên lời.

Khiêu cầm    = đàn lên.

hữu ý      = có  ý, chủ ý.

minh hoàng xướng      =tơ  khúc Minh  Hoàng, nhạc thiều Minh Hoàng.

Nhiễu thụ     𣗳=quanh gốc cây.

  đoan    = không biết vì sao.

ngữ thước huyên   =chim khách réo vang.

Thùy tục = ai tiếp nối.

già thanh  𡂪  = tiếng xen vào.

quy Hán khuyết  歸熯闕 =về cửa cung nhà Hán

Tự tu     =tự xấu hổ, lòng buồn.

liên bộ     =bước chân như hoa sen; gót sen, bước chân mỹ nhân.

xuất Hồ môn   = đi qua cửa “rợ” Hồ.

bán diên 沿 = noi theo nửa cái cũ.

Biệt hậu   =sau khi cách biệt.

Tình đa thiểu   = tình nhiều ít, biết bao.

Mạch = con đường nhỏ.  

Không ly    = xa rời vô nghĩa, lìa tan.

sảnh  nữ  hồn  = hồn của người con gái đáng thương, lạnh lùng.

*

Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 3:

Thân bèo nước gặp nhau nâng chén rượu dưới trăng.

Tấc lòng son sắt thật là khó nói.

Gọi đàn, vì có ý mà gảy khúc Cầu Hoàng.

Quanh cây không cơn cớ gì mà chim thước réo vang. (chim khách).

Ai chuộc tiếng kèn Hồ trở về cung Hán.(Ai tấu lên bài Quy Hán đó!)

Tự thẹn về việc gót sen  đi qua khỏi cửa rợ Hồ.

Sau phút ly biệt, còn lưu luyến biết bao tình.

Lớp lớp khôn rời hồn người con gái đáng thương.

*

Thơ của Ô.Trần Thanh Mại:

Gặp gỡ dưới trăng chuốc chén mời, 
Lòng son đòi đoạn chẳng nên lời. 
Khúc đàn ai gảy đà đưa ý, 
Ngoài ngõ khách kêu chẳng thấy người. 
Ai chuộc tiếng kèn về Hán đó? 
Tủi lê gót ngọc đất Hồ rồi! 
Biệt ly dở tiệc tình lưu luyến, 
Hồn Sảnh sầu đau mạch mạch khơi.

*

Bèo nước cùng nhau, chén dưới trăng,

Ruột gan, lòng muốn tỏ, sao đang?

Ngân Triều, Ảnh Google.

*
Ngân Triều dịch thơ

Bèo nước mời nâng chén dưới trăng, 

Ruột gan, lòng muốn tỏ, sao đang?

Tiếng tơ, réo rắt Minh Hoàng khúc, 

Chim khách cớ gì bay réo vang?

Ai tấu lên bài Quy Hán đó? 

Thẹn nhìn  mỹ nữ cống Hồ man!

Biệt ly bịn rịn sầu muôn nỗi,[5]

Hồn nữ lâm ly[6] lệ ướt  khăn.[7]

*

Tham khảo một số bài họa của Hồ Xuân Hương:

Xướng hoạ cùng ông Trần Hầu - quan Hiệp trấn Sơn Nam thượng. Trấn Sơn Nam thượng gồm đất của hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên sau này. Trị sở đặt ở Châu Cầu (Phủ Lí).

Bài này cũng được chép trong sách Tục Hoàng Việt thi tuyển, nhưng lại được coi là bài thơ Hồ Xuân Hương hoạ thơ ông Hiệp trấn. Còn Lưu hương kí thì cho rằng đây là bài xướng của Xuân Hương. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn căn cứ theo Tục Hoàng Việt thi tuyển.

                                                    

Văn chương diện kiến tiếng hằng mong,

Ghé bến thuyền mơ lúc rạng đông.Ngân Triều.

Ảnh minh họa, Google.

*

    /胡春香

  名  久      
近   接  光           
     
  
       
  
    
    

                             *

 Döõ Sôn Nam Thöôïng, Hieäp trn quan Trn Haàu

Xướng hoạ kỳ 5 

Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng, 
Cận tiếp quang nghi nhật chính đông. 
Hậu ý thuỷ giao tri thuỷ đạm, 
Tình hoài sơ ẩm giác thuần nùng. 
Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng, 
Ngã bối tài tình chính sở chung. 
Ác thủ đàm tâm quân mạc quái, 
Lục giang nhất khứ thuỷ thiên trùng.

Hồ Xuân Hương

*

Bài xướng của Hiệp trấn quan Trần Hầu

Gửi bởi Vanachi ngày 22/08/2008 10:55

Hoa viện hoa nhân thử độ phùng, 
Lĩnh mai hàn ảnh nhập sơ Đông. 
Vị tằng đổ diện tâm tiên mộ, 
Khởi dẫn liên thi ý thuỷ nồng. 
Xuân tịch vị ly song nhãn lệ, 
Phật đài thuỳ hoán sổ thanh chung. 
Ân cần lưu thủ thiên biên nguyệt, 
Nhất biệt Tây nham hựu vạn trùng. 

*

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn 

Người đẹp nhà hoa lại gặp cùng, 
Mai non bóng lạnh buổi đầu Đông. 
Chưa từng gặp mặt lòng đà mến, 
Há phải trao thơ ý mới nồng. 
Chưa khỏi tiệc Xuân đôi mắt lệ, 
Ai khua đài Phật tiếng chuông rung. 
Ân cần lưu lại trăng trời biển, 
Một biệt non Tây lại vạn trùng.

Chú giải:

Tiêu đề: Xướng họa cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng.

Trấn Sơn Nam thượng gồm đất của Hà Nội và Hưng Yên ngày nay. Lỵ sở đặt ở Châu Cầu (Phủ Lý).

Bình thủy tương phùng,   逢, bèo và nước gặp nhau, chỉ sự gặp gỡ ngẫu nhiên. Theo thơ Vương Bột, (Vương Bột, tự Tử An là một nhà văn nổi tiếng thời kỳ đầu nhà Đường, 6 tuổi đã biết viết văn chương, 14 tuổi đã sáng tác thơ ca, 15 tuổi thi đỗ cử nhân):

"Quan san nan việt,

Thùy bi thất lộ chi nhân?

Bình thủy tương phùng,

Tận thị tha hương chi khách".

關山難越

誰悲失路之人

萍水相䙜

盡是他鄕之客

Nghĩa là:

Quan san ngàn dặm mòn chân bước,

Biết có ai thương nhỡ độ đường?

Gặp nhau khi bèo giạt bờ nước,[8]

Mới hay đều là khách tha hương.

*

          Gặp nhau bèo nước liêu xiêu,

Biển đời trôi giạt trăm chiều, tha hương.

Ngân Triều

Bình thủy tương phùng, bèo nước gặp nhau, trong văn chương còn để chỉ thân phận người phụ nữ như cánh bèo trôi trên dòng nước:

          Vì ai rụng cải rơi kim!

Để con bèo nổi mây chìm vì ai?

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 769-770

*

          Ngọn bèo chân sóng lạc loài,

Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly.

 ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2871-2872

*

Nhất Uyên dịch nghĩa: 

Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương nay mừng được gặp mặt 
Lại được tiếp cận dung nghi vào lúc hừng đông 

Vốn sẵn nhã ý, nên dù trước chưa từng gặp nhau nhưng đã biết tính tình thanh đạm. 

Vừa nhấp chén đã thấy cái tình nồng nàn, đôn hậu dâng lên.

Thanh khí của cả vùng vẫn còn được ưa chuộng .

Tài, tình của chúng ta được chung đúc chính nơi đây.

Cầm tay thổ lộ nỗi lòng, xin chàng chớ ngại,

Vì sau khi chàng qua sông Lục Đầu, lại muôn trùng xa cách.

(1)

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Gửi bởi Vanachi ngày 10/08/2007 20:17

Nghe danh ngưỡng mộ, gặp vui mừng, 
Được tiếp dung nghi lúc chính đông. 
Ý hậu chưa qua hay nước đạm, 
Tình hoài vừa nhắp đã hương nồng. 
Tài tình chung đúc cho hai kẻ, 
Thanh khí mến yêu khắp một vùng. 
Tỏ dạ cầm tay xin chớ lạ, 

 Lục Đầu một bước đã nghìn trùng.

*

(2)

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Gi bi Vanachi ngày 22/08/2008

Lâu nghe danh tiếng gặp nhau mừng, 
Gần ngó dung quang nắng giữa đông. 

Ý đậm vừa quen hay nước đạm, 
Tình mong vừa chuốc biết men nồng. 
Châu ta thanh khí thêm ưa chuộng, 
Cùng hội tài tình nhẽ vốn chung. 
Tay nắm lòng trao người chớ lạ, 
Một đi sông Lục nước ngàn trùng.

            *

Lục Đầu xuôi, mãi nhớ muôn trùng, Ngân Triều/

Ảnh Cồn Kiếm trên Lục Đầu Giang, Google.

(3)

Ngân Triều dịch thơ:

Văn chương diện kiến tiếng hằng mong,

Ghé bến thuyền mơ lúc rạng đông.

Chưa biết, biết chung lòng đạm bạc,

Nhắp môi, môi đắm đuối tình nồng.

Giao tình lễ giáo hằng trân trọng,

Xướng họa thanh cao ý chữ đồng.

Chớ ngại nỗi niềm khi đã tỏ,

Lục Đầu xuôi, mãi nhớ mênh mông.



[1] ngủ gối mơ, xin xem tích “Du tiên chẩm” ở trên.

[2] nên chẳng chớ = nên chăng chớ, chưa đạt yêu cầu,chẳng ra sao cả.

[3] Cho là nàng có số sát phu.

[4] Nay đã tìm ra người tâm đầu ý hợp, quan Tham Hiệp Yên Quảng,  tuy muộn màng nhưng rất thỏa lòng.

[5] Biệt ly, , bịn rin, quyến luyến, như không nỡ rời xa; đứt ruột, tình cảm ấy, không bút mực  nào tả xiết.

[6] lâm ly: 淋漓, buồn thảm, thổn thức không ngăn được suối  lệ tuôn trào, ràn rụa như mưa.

[7] Sảnh nữ hồn: 倩女魂, tâm hồn người con gái phải cống Hồ đáng thương. Trong văn cảnh nầy xin thay bằng “lệ ướt  khănnhư trên.

[8] bờ nước: chỗ phân giới giữa bờ và nước. Câu (1) ý nói, thân phận như cánh bèo trôi giạt giữa dòng nước cuốn trôi, lênh đênh. Khi tạm thời ổn định, gặp nhau, mới biết là cùng chung cảnh ngộ, phải sống lạc loài nơi đất khách, xa quê hương dấu yêu.