Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

Bài số 9, Nhập An Bang, (Đến an Bang), Thơ chữ Hán HXH; Ngân Triều chú giải.

 

Bài số 9:
Nhaäp  An Bang

Hồ Xuân Hương


Lãng tích phong trần vị nhạ cương,
Phiêu linh thư kiếm nhập An Bang.
Cừ lô thiên địa tâm thiên lý,
Oa giốc sơn hà nhãn nhất soang (song).
Thi giá cảm vân sơn quỷ khấp,
Sầu thành liêu giả tửu binh hàng.
Hứng hàm dục tá Tinh châu tiễn,
Tiễn thử kỳ phong thuỷ bán giang.

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

入安邦

浪跡風塵未迓繮

漂零書劍入安邦

渠爐天地心千里

蝸角山河眼一雙

詩價感雲山鬼泣

愁城僚者酒兵降

興含欲借倂州

剪此其風水半間

*

Chú giải

Lãng tích: ,dấu chân đi lang thang.

phong trần: ,gió bụi, nỗi khó nhọc gian nan khi đi đường.

nhạ: ,đón rước nhau.

Cương: , dây cương ngựa.

Phiêu linh: 漂零,lênh đênh, vất vả, khổ sở.

Cừ lô: 渠爐, cái lò lớn, cái bầu lớn.

Oa giốc (giác): 蝸角, cái sừng của con ốc sên.

Oa giốc sơn hà: 蝸角山河,Sách Trang Tử viết: trong cùng sừng con sên có những quốc gia có tên là Xúc và Man.

Hàng: ,chịu phục tùng, chấp nhận.Hứng hàm: 興含Lưu hứng, nhân hứng

dục tá: 欲借, muốn mượn

Tinh châu tiễn: 倂州剪, cái kéoTinh Châu.

Tinh Châu tiễn: Thơ Đỗ Phủ đề tranh sơn thuỷ của Vương Tế có câu: "Sao lấy được chiếc kéo sắc châu Tinh, Cắt lấy Ngô Trung nửa sông núi".

*

Ngân Triều dịch:

Đi lang thang chưa ai đón rước lấy dây cương.

Lênh đênh gươm sách đến An Bang.

Đây là cái lò lớn trung tâm đất trời, hàng  ngàn dặm,

Sông  núi, lô nhô tựa như giang sơn trong  đôi mắt của sừng ốc.

Lúc thi hứng  dâng  cao cùng mây núi, tứ thơ làm cho quỷ khốc, thần sầu.

Khi thành sầu ngẩn ngơ, bè bạn đều là những lính men bại trận.

Nhân hứng muốn mượn chiếc kéo Tinh Châu,
Xén ngay phân nửa núi sông ngoạn mục nầy vậy.

*
(1) Lưu Đức Thọ dịch thơ:

Yên cương vó ngựa vẫn lang thang,

Gieo neo[1] thư kiếm đến An Bang.

Khung trời khoáng đãng[2] tâm ngàn dặm,

Sông núi lô nhô ốc nổi hàng.

Cao hứng lời thơ nghe quỷ khốc,

Phá sầu say khướt rượu vô đoan[3]

Ngẩn ngơ muốn lấyTinh Châu kéo,

Xén nửa kỳ quan mới thoả gan.

*
(2) Thơ Bùi Hạnh Cẩn:

Gió bụi lông bông bước vẫn tràn,
Lênh đênh gươm sách tới An Bang.
Sừng sên sông núi đôi con mắt,
Quán trọ càn khôn dạ dặm ngàn.
Thơ tứ dám rằng ma núi khóc,
Thành sầu đành mượn lính men hàng.
Say toan nhờ kéo châu Tinh cắt,
Non nước xinh này cắt nửa gang.

*











Thi hứng thi đề, thi quỷ khốc,

Chén đầy chén cạn, chén miên man…Ngân Triều

(3) Ngân Triều dịch thơ:

Gió bụi long đong chưa kẻ rước,

Lênh đênh thư kiếm đến An Bang.

Đất trời lò lớn, tâm ngàn dặm,

Sừng ốc lô nhô, đá vạn hàng.

Thi hứng thi đề, thi quỷ khốc,

Chén đầy chén cạn, chén miên man…

Ngất  ngây muốn mượn Tinh Châu kéo,
Khoe nửa kỳ quan, khắp thế gian.

Có thuyết cho rằng bài này không phải của Hồ Xuân Hương. An Bang là tên xa xưa của Hoa Phong, tức Nghiêu Phong hay Hạ Long ngày nay. 

*

Nguồn: Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999.



[1] Gieo neo: vất vả, khó khăn.

[2] khoáng đãng: 曠蕩 rộng rãi, bát ngát, mênh mông.

[3] Vô đoan : , cứ uống mãi, không có lý do.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Bài 8, Nhãn phóng thanh, thơ chữ Hán, trích trong Lưu Hương ký của HXH; Ngân Triều chú giải.

 Bài số 8:

Nhaõn phoùng thanh

Nhãn phóng thanh (Nhìn bao quát)

Hồ Xuân Hương

*


               Phảng phất mây giăng trời sụp tối, 

Cao tăng tĩnh tọa tụng Di Đà. Ngân Triều. 

                                    Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn 

Nhãn phóng thanh (Nhìn bao quát)                                       

          

  

 
 
 
 
 
 
仿
 

*

Phiên âm:

Nhãn phóng thanh 

Vi mang loa đại tháp thương minh       (1)
Đáo thử tu giao nhãn phóng thanh 
Bạch thuỷ ma thành thiên nhẫn kiếm    (3)
Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh 
Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp                 (5)
Thần lực hề dung tạc Ngũ Đinh 
Phảng phất vân đồi đầu ám điểm           (7)
Cao tăng ưng hữu toạ đàm kinh.

Dịch nghĩa 

Nhìn bao quát.

Màu lam nhạt mờ mờ nối trời xa với bể xa. 
Đến đây, tưởng như trong mắt toả sắc xanh ra 
Nước bạc mài đá thành nghìn mũi gươm nhọn 
Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa xuống. 
Vách đá hình kì quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại khoa, 
Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như vậy. 
Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã xẩm tối, 
Chắc đã có vị cao tăng ngồi yên lặng tụng kinh.

*

(1) Thơ của Gs Hoàng Xuân Hãn

Gửi bởi Vanachi ngày 27/04/2006 09:03
Bể xanh lấp loáng tận trời xa, 
Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra. 
Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm, 
Đầm im rơi xuống một sao sa. 
Quái hình chưa dễ đề khoa bảng, 
Thần lực đâu đà tạc tượng ma. 
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối, 
Cao tăng đang tụng chốn chiền già.

*

(2) Dịch thơ của Trương Việt Linh

Gửi bởi vietlinh11 ngày 25/08/2016 15:01

Biển xanh mịt mịt trời xa 
Màu xanh từ mắt tỏa ra khắp vùng? 
Nước mài thành vạn mũi gươm 
Một ngôi sao rụng giữa đầm nước thanh 
Quái hình đâu chỗ đề danh 
Tượng kỳ ắt bởi sức thần tạc ra 
Đầu non mờ mịt mây sà 
Cao tăng ngồi đó đang là tụng kinh

*

(3) Dịch thơ của Ngân Triều

Chân trời giáp bể nhạt mờ xa, 
Cứ tưởng màu xanh mắt toả ra. 
Nước bạc đá mài nghìn mũi nhọn, 
Giữa đầm lóng lánh ánh sao sa.

Đá hình bảng hổ ai làm được?

Ai dễ  sức phàm kiến tạo ra?
Phảng phất mây giăng trời sụp tối, 
Cao tăng tĩnh tọa tụng Di Đà.

Ngân Triều

Nguồn:Theo tài liệu của TS Phạm Trọng Chánh, Paris.

 

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Bài 7: Ngư Ông Khúc Hành, thơ chữ Hán, HXH, trích trong Lưu Hương Ký; Ngân Triều chú giải

 Bài số 7:

Ngö oâng khuùc haønh

Hồ Xuân Hương

      

Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô! Ngân Triều

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

漁翁曲行 
野翁淡泊亦繁花 
錯認桃是薜蘿 

寄語挳舟從釣子 
過江應不聽琵琶 
*

過江莫聽琵琶 
高聲不似胡笳悽涼 
桃源水闊山長 
漁翁一棹仙堂半開 
萬重春鎖天台 
琴聲樂角聲哀不同 
寒山草色蔥蔥
蘇溪幾到清風自閑

*

Ngư ông khúc hành 

Dã ông đạm bạc diệc phồn hoa, 
Thác nhận Đào Nguyên thị bệ la.[1]
Ký ngữ khinh chu tòng điếu tử, 
Quá giang ưng bất thính tỳ bà. 
                 *
Quá giang mạc thính tỳ bà, 
Cao thanh bất tự hồ già thê lương. 
Đào nguyên thuỷ khoát sơn trường, 
Ngư ông nhất trạo tiên đường bán khai. 
Vạn trùng xuân toả thiên thai, 
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng. 
Hàn sơn thảo sắc thông thông, 
Tô khê kỷ đáo thanh phong tự nhàn.
                    *

Nguồn: 
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp

Chú giải:
dã ông
野翁, ông già ở chốn quê.
đạm bạc  
淡泊, nhạt nhẽo, vô vị.
diệc  
 cũng, cũng thế.
Phồn hoa  
繁花, náo nhiệt, xinh đẹp.
Thác nhận  
錯認, tự nhận, đành lòng.
Đào Nguyên 
桃源, nguồn đào,chỗ tiên ở.
Trong bài Đào Hoa nguyên ký, Đào Tiềm nói có người đánh cá chèo thuyền lạc lối đến Đào Nguyên là chỗ động tiên. Do đó, đào nguyên thường dùng để chỉ động tiên:

        Rước mừng đón hỏi dò la,

Đào nguyên lạc lối đâu mà tới đây?

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 191-192, bản Bùi Kỹ và Trần Trọng Kim

Ký ngữ  寄語, gởi lời.

khinh chu 挳舟, chiếc thuyền nhẹ.

tòng điếu tử 從釣子, theo người đi câu.

Quá giang  過江, qua sông.

Ưng  應, nên, bằng lòng.

bất thính tỳ bà不聽琵琶, Không nghe tiếng đàn tỳ bà.

Mạc 莫, tuyệt nhiên, chẳng ai không

Quá giang ưng bất thính tỳ bà và Quá giang mạc thính tỳ bà: bất thính = mạc thính, ( không nghe= chẳng nghe), hai câu nầy sử dụng từ khác nhau nhưng cùng một nghĩa: Qua sông chớ đam mê, lụy, tiếng tỳ bà.

Cao thanh 高聲, Tiếng ngân cao.

bất tự 不似, không giống giống như thế. (à peu près semblable) 

hồ già thê lương  胡笳悽涼, cái kèn lá lạnh lẽo bi ai.

Thủy khoát: sơn trường  水闊山長, biển rộng núi, 

toả Thiên Thai  鎖天台,Thiên Thai đã khóa.

Thiên Thai 天台,Một hòn núi ở tỉnh Chiết Giang bên Tàu. Đời nhà Hán, có Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai hái thuốc và gặp tiên. Do đó, Thiên Thai dùng để chỉ cảnh tiên,

         Xắn tay mở khóa động đào,

Rẽ mây trong tỏ lối vào Thiên Thai.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 391-392, bản Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

giốc thanh ai 角聲哀, tiếng thổi sừng trâu nghe bi ai.

Bất đồng  不同, không hòa quyện thuận thanh cùng nhau, chói tai. 

thảo sắc thông thông  草色蔥蔥, sắc cỏ xanh ngắt.

Tô khê 蘇溪 khe suối chảy về sông Tô Châu bên Tàu.

kỷ đáo 幾到 mỗi lần đến.

*

Ngân Triều dịch nghĩa:


Ông già ở quê nhạt nhẽo, cũng cảm thấy như ở nơi thành thị,

Cứ ngỡ chốn thần tiên, Đào Nguyên, là những bệ rêu xanh.


Nhắn gởi người đi câu trên chiếc thuyền nhẹ,


Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông.

     *

     Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông. 

      Tiếng ngân cao của đàn không giống tiếng kèn lá bi ai của người Mán. 

      Động tiên trên  biển rộng, núi dài mênh mang.

      Ngư ông chèo một mình tìm cửa tiên hé mở.

      Vạn vạn năm, đường  vào Thiên Thai đã khóa chặt,

      Tiếng đàn rụng, tiếng tù và bi thảm, không hòa tấu cùng nhau.

      Kìa trên núi lạnh, sắc cỏ xanh ngắt,

      Mỗi lần đến sông Tô, hóng gió mát, tức là đã nhàn hạ rồi.

*

(1) Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Gửi bởi Vanachi ngày 23/08/2008

Già quê đạm bạc cũng phồn hoa 
Lầm tưởng đào non là dây hờ
 
Nhắn nhủ người câu đò nhẹ lướt
 
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà
 

*

Qua sông đừng lắng tỳ bà 
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương
 
Nguồn đào trời nước mênh mang
 
Nhà tiên hé mở, chèo buông đò chài
 
Muôn trùng xuân khoá Thiên Thai
 
Tiếng ốc buồn, tiếng đàn vui chả cùng
 
Cỏ bời lợp, núi lạnh lùng
 
Sông Tô hầu tới thung dung gió nhàn

*

(2) Ngân Triều dịch thơ:

Khúc hát Ngư ông

Già quê cảnh nhạt, vẫn nguy nga,

Ngỡ chốn thần tiên rêu bệ hoa.

Nhắn gởi  ông câu, thuyền nhẹ lướt,
Sang sông, chớ  lụy tiếng tỳ bà.
 

*

Sang sông, chớ lụy tiếng tỳ bà , 
Cung bổng lạc âm kèn xứ Hồ!
 
Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô!
Thiên Thai ngàn thuở then cài mãi,
Còi rúc, đàn kêu, trắc tiếng tơ.
Chỉ  thấy cỏ xanh, ôm núi lạnh,
Sông Tô, gió mát, thú yên hà.[2]



[1] Đào yên thị hệ la: 桃嫣 , họ với người chài lưới.[Theo bản của TS Phạm Trọng Chánh nhưng tôi dùng bản của Thi viện như trên: Đào Nguyên thị bệ la: 薜蘿, chốn Đào Nguyên là những bệ rêu xanh.]

[2] yên hà: 煙 霞 . khói và ráng (mây). Thú vui tự do, thanh thản, không bị ràng buộc như mây và khói, thú vui của người ẩn sĩ.

       Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen

                   Ca dao

           Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,
      Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn?
          Nước trong rửa ruột sạch trơn,
     Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.

          Sớm doi tối vịnh vui vầy,
     Ngày dài hứng gió đêm chầy chơi trăng.
          Tháng ngày thong thả làm ăn,
     Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm.
          Nghêu ngao nay chích mai đầm,

    Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
                           Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu


                            ***