Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Tụng Tây Hồ Phú. Nguyễn Huy Lượng; dịch thơ, Ngan Trieu.

 

                                                             Vẻ đẹp quyến rủ của Hồ Tây xưa. Ảnh Báo Mới

TỤNG TÂY HỒ PHÚ

Nguyễn Huy Lượng (? – 1808)

-----------------------------
誦西湖賦

阮輝諒; (? - 1808)

Tây Hồ phú hay còn gọi là Tụng Tây Hồ Phú hoặc Tây Hồ cảnh tụng, là một bài phú của Nguyễn Huy Lượng ca ngợi cảnh Hồ Tây, thông qua đó ca ngợi sự nghiệp, công lao của triều đại Tây Sơn.

Hoàn cảnh ra đời

Năm 1801 vua Bảo Hưng nhà Tây Sơn ra thăm Thăng Long. Nhân tiết hạ chí, ông làm lễ tế mùa hè ở đền Phương Trạch tại Hồ Tây, sai Nguyễn Huy Lượng lúc bấy giờ đang là Chương lĩnh hầu, giữ chức quan Phụng nghị bộ Lễ, soạn một bài thơ và một bài phú, đọc trong buổi lễ tế ngày 21 tháng 6 năm Tân Dậu (1801). Bài thơ và bài phú này được nhà vua rất tâm đắc và đã ban thưởng cho Nguyễn Huy Lượng hai quan tiền đồng.[1]

Tên gọi

Sau khi hai bài thơ và phú này ra đời, dân Hà thành ai cũng muốn có một bản, nếu đã không đi tìm mua lại được họ mua giấy mực về chép lại. Do đó sau này có nhiều dị bản và tên gọi khác nhau. Những tên gọi còn ghi trong văn bản giữ lại được đến ngày nay là: Phong cảnh biệt chí; Tây Hồ phú; Tây Hồ cảnh tụng... Nhưng người dân khi nói đến bài phú này thì người ta thường gọi là Phú ông Lượng

Văn bản

Đây là bài phú chữ Nôm, gồm 86 liên, dùng chỉ một vần "hồ" (độc vận). Do những văn bản của bài phú này đều là những bản chép tay nên chúng không tránh khỏi có nhiều chỗ chép khác nhau. Hiện thư viện Hán Nôm có bốn dị bản khác nhau về bài phú này.

Phong cảnh biệt chí (ký hiệu AB.377)

Tây Hồ phú được Vũ Khắc Tiệp cho đăng trên Vĩnh Long Hưng thư quán, Hà Nội, 1931 (ký hiệu AB.299) [2]

Tây Hồ cảnh tụng (ký hiệu VNv.184) được in trong sách: (Phú Việt Nam cổ và kim, Nxb. Văn hóa, H. 1962.)

Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (TK. XVIII - TK XIX), Nxb. Văn hóa, HN, 1963, Trang 155-162.[3]

Trong đó bản thứ nhất được cho là bản gần với nguyên tác hơn cả. Tạp chí Hán Nôm tháng 2 năm 1988 đã cho đăng những khảo cứu về bài thơ và bài phú này. Trong việc khảo cứu này lấy bản 1 làm bản nền. Các bản còn lại sẽ được dùng để đối chiếu với bản 1. Nơi nào mà bản 1 tối nghĩa thì thay vào bằng chữ có nghĩa ở bản khác. Trong việc chú thích, có chú thích của nguyên bản (chủ yếu là Bản 2 và Bản 3, người chú thích cũng có thể là chính tác giả, mà cũng có thể một ai đó về sau) và chú thích bổ sung của những người khảo cứu.

Đánh giá

Cuốn "Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến" viết: "Có thể nói, trước và sau Nguyễn Huy Lượng, chưa hề có một tác phẩm nào viết về non sông đất nước Thăng Long Hà Nội hay đến thế, đẹp đến thế. Chỉ với một danh tác ấy cũng đủ xếp Nguyễn Huy Lượng vào hàng những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất Thăng Long. Áng văn Nôm trác tuyệt tân kỳ, dân Hà thành hồi ấy gọi là "Phú ông Lựợng" trong khi đổ xô đi tìm mua bản chép tay này… Người ta mua giấy mực về chép lại khiến cho giá giấy phường Hàng Giấy, Hàng Gai vọt hẳn lên."[4]

Tụng Tây Hồ phú, một áng văn khiến người đọc say mê, rù rì đọc từng chữ từng câu. Cái dư âm của nó quấn quýt mãi không rời. Những từ láy lần đầu phát ra từ bài văn Nguyễn Huy Lượng và chẳng bao giờ lặp lại nữa. Nghĩ đến văn chương vùng đất Thăng Long, người ta nhớ ngay đến bài văn ấy, tác giả ấy. 

Thạc sĩ Phùng Hoài Ngọc nhận xét.

Ngay cả đến Phạm Thái người đã làm bài phú mang tên Chiến tụng Tây Hồ phú để đối lại bài Phú này của Nguyễn Huy Lượng cũng phải công nhận đây là một bài phú rất hay qua chính lời dẫn của ông ta: Ta thấy ban đầu thoạt đọc, ông cũng lấy làm hay, hỏi ngay:    

 -Ai làm bài ấy mà hay thế?"...

"Bạn rằng:

-Chương Lĩnh hầu Hữu hộ Lượng làm"

thì ông thay đổi thái độ:

"Ta rằng:

-Chao ôi! Hữu hộ Lượng à! Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm nguỵ lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt... Nay nhân bỉ kẻ làm bài tụng, ta cũng làm bài Chiến tụng để góp chút trò cười với đời"[5]

Chú thích

[1]   ^ Nguyên văn chú thích chữ Hán của văn bản "Tây Hồ Phú" như sau: Hạ chí tiết, hành hạ chi lễ. Hoàng triều Bảo Hưng Tân dậu niên, ngự tế Phương Trạch đàn tại Tây Hồ, nhưng mệnh Lê triều Hương cống Hành Lễ bộ phụng nghị quan. Chương lĩnh hầu soạn thi, phú các nhất thể, phụng ngự ban bao thưởng thanh tiền nhị thập quán 2. Dịch: (Tiết hạ chí, làm lễ tế mùa hè. Năm Tân dậu (1801) triều Bảo Hưng, nhà vua đến tế ở đền Phương Trạch tại Hồ Tây, sai quan Phụng nghị bộ Lễ, đỗ hương cống triều Lê, là Chương lĩnh hầu soạn thơ và phú, mỗi thứ một bài, được vua khen thưởng, ban cho 2 quan tiền đồng).

[2]   ^ Cuối bài phú này có ghi "Kiến Phúc Giáp thân chi niêm, Nhị Thuỷ Nhị Cân Hương Đình Băng Mã lão phu bút thảo" (Nhị Thuỷ Nhị Cân Hương Đinh Băng Mã lão phu chép lại vào năm Giáp thân 1884 niên hiệu Kiến Phúc).

[3]   ^ Vũ Thanh Hằng, Bài thơ và bài phú ca ngợi cảnh Hồ Tây của Nguyễn Huy Lượng, đăng trong tạp chí Hán Nôm 2-1988

[4]   ^ Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, 2009, trang 312

[5]   ^ Thăng Long –Hà Nôi ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, tái bản lần 3-2009, trang 342.

Sách tham khảo

•   Thăng Long –Hà Nôi ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, tái bản lần 3, năm2009

•   Tạp chí Hán Nôm 2-1988

Bài phú độc vận, lấy vần "hồ", nội dung miêu tả và ngợi khen phong cảnh Tây Hồ (Hà Nội) và tán tụng công đức Tây Sơn.
Nguồn: Việt Hán Nôm 2002

 

Tụng Tây Hồ phú
Nguyễn Huy Lượng (阮輝諒? - 1808)

Bản Hán Nôm: Ngân Triều phiên âm & chú giải.

Bản Tiếng Việt, Phạm Thái và SKTT, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon 1973 trang 219-239.

---------------------------------

誦西湖賦

(1) Lạ thay cảnh Tây Hồ
Lạ thay cảnh Tây Hồ
1-
邏処景西湖

邏処景西湖。
(2) Trộm nhớ thuở đất chia chín cõi;[1]
Nghe rằng đây đá mọc một gò.
2-
仌挆坦勚佂憥

牐浪低廏仺沒潄。
(3) Trước Bạch Hồ vào ở đó làm hang, long vương trở nên vùng đại trạch;[2]

Sau Kim Ngưu[3] do vào đây hoá vực, Cao vương[4] đào chặn mạch hoàng đô.[5]

3- 苉白猢侟於刬乄缊,龍王阻戼潂大澤
畱金牛由侟低化域,高王掏振脈皇都
(4) Tiếng nghe gọi Dâm Đàm, Lãng Bạc;

Cảnh ngó in tinh chử,[6] băng hồ.
4-
曢牐噲淫潭焔泊

景噺印星渚冰湖。
(5) Sắc dờn dờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo;

Hình lượn lượn uốn vòng câu bạc,[7] tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò.

5- 色寅寅染式藍鈎,肦洞碧奛瑨匇丠丠
形歰歰扝怶勾昰,想暈銀淶笹摼岺岺。
(6) Dư nghìn mẫu nước trời lẫn sắc;
Trải bốn bên hoa cỏ nhiều mùa.
6-餘懯畝搩俼吝色
钘夝边花礊蜫炞。
(7) Áng đất phơi mỏ phượng còn in, kẻ rằng đài thượng nguyệt;

Vũng nước hút hàm rồng chẳng cạn, người gọi trản trung tô.[8]

7-盎坦嘑惣鳳群印,丗浪臺上月

蠺搩吸唅纅拯喼,圤噲盞中酥。
(8) Toà thạch tháp[9] nọ nơi tiên để báu;

Chốn thổ đôi[10] kia chỗ khách chôn bùa.

8-座石塔怒厼仙底宝
准土堆箕謩客畕符。
(9) Đền Mục Lang[11] hương lửa chẳng rời, tay lưới phép còn ghi công bắt hổ;

Quán Chân Võ[12] nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam rùa.

𡊰穆郎香 , 法群記 ;

鎭武𣌝湄芾轉, 𦧜劍誠群底昔𧒍.
 
(10) Kề bến nọ quán Thiên Niên lớp lớp;

Cách ngàn kia ghềnh Vạn Bảo[13] nhấp nhô.

10- 𫑇𣷷怒舘千年𤖹𤖹;
隔岸箕涼万宝岌儒.

(11) Toà kim liên[14] sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in vùng tĩnh phạn;[15]

Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên nhận sẵn thú Nghi Vu.

11- 座金蓮㳥浮味香, 廚鎮国想印塳靜範;

行古樹𩙍𢲣𣈖綠,場奉天認產趣沂圩。
(12) Dấu Bố Cái[16] rêu in nền phủ;
Cảnh Bà Đanh[17] hoa khép cửa chùa.
12-𨁪布丐繤印𡋂,
釘花抾𨷯廚。
(13) Trông mơ màng dường đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích chích;

Nghe phảng phất ngỡ động đào mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o.

13-𥉫𥊚忙羕頂鷲坭箕, 𠄧組鵲𡳳廊叫隻隻.
𦖑彷彿語洞桃𠃅怒,某㗂鵸𥪝𠰁嗚嗚。
(14) Lò Thạch Khối[18] khói tuôn nghi ngút;

Ghềnh Nhật Chiêu[19] sóng giật ỳ ồ.
14-炉石塊𤌋𣻆𤈡;
涼日招𪮞𥑴𤀙
(15) Rập rềnh cuối bãi Đuôi Nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm;

Thanh lảnh đầu hồ Cổ Ngựa, tháp cao tăng còn hé cửa tò vò.

15- 拉呈𡳳𪤄𡳪, 船商客唉氈帆蝶蝶.
声領頭湖股馭,塔高僧群戲𨷯徂虶。
(16) Chày Yên Thái[20] nện trong sương chểnh choảng;

Lưới Nghi Tàm[21] ngăn ngọn nước quanh co.

16-杵安泰𢬧𤁘霜整𢶥;
䋥宜蚕拫𦰟渃觥𨔌
(17) Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm;

Sen vũng nọ nảy tiền xanh lác đác, lửa đóm ghen năm xã gây lò.
17- 柳坡箕飛絲碧彿坯,梭鶯𠄩𦂾;
蓮淎怒𩇛𥋷𧏱𠄼𨢟炉。
(18) Cầm ve gảy lầu thư ánh ỏi;

Mõ cuốc khua án kệ rì rù.

18-𢭮樓書暎喂;
𪅦摳案偈洟.
(19) Gò Châu Long[22] khi ngọn gió đưa quanh, hồi thú cổ[23] thẳng kề bên mái trúc;

Non Phục Tượng[24] lúc vầng trăng hé nửa, tiếng hàn châm[25] nghe cách dải sông Tô.

19-塸珠龍欺𦰟𩙍𨒺回戍鼓𣦎𫑇𠃅;
𡽫伏象𣅶𦝄𡛤,㗂寒砧𦖑𢄩滝甦

(20) Người ngoạn cảnh thẩn thơ đòi đoạn;

Khách thâu nhàn lai láng từng khu.
20-𠊚玩景吲他堆;
客收閑來𣼽曾區.
(21) Mảnh áo tơi lớp xớp trong mưa, ca thanh thảo quyến đàn trâu gã Nịnh;[26]

Con thuyền trúc lân la trước gió, khúc thương lang[27] đưa gánh củi chàng Chu.[28]

21-𤗖𥵖泣泣𥪝湄,歌青草睠彈𤛠𪟡;
𡥵船竹瞵纙𠓀𩙍, 曲滄良拸梗檜払周.
(22) Vầy cuộc ẩn mọi nghề chẳng thiếu;

Mượn thú vui bốn bạn[29] gồm no.
22-噽局隱每芸拯少
𢝙𦊚𪞍
(23) Cảnh Khán Sơn[30] chưa gác cuộc cờ, lòng thơ đã bồi hồi ban lãnh thố;[31]

Làng Vọng Thị[32] còn đông tiệc rượu, tiếng cầm đà não nuột buổi tà ô.

23-景看山渚擱局棋, 𢙱㐌徘徊頒冷兔;
廊望市群冬席酒, 㗂琴㐌惱𣻀𣇜烏。

(24) Khách Ngô Sở chợ Tây ngồi san sát;
Người Hy Hoàng[33] song bắc[34] ngáy phi pho.

24-吳楚悪西憹珊察
𠊚羲皇窗北𠵨呸哺。

(25) Bến giặt tơ người vốc nước còn khuya, gương thiềm đựng trong tay lóng lánh;

Vườn hái nhị kẻ dày sương hãy sớm, túi xạ rơi dưới gót thơm tho.
25- 揼眫絲𠊚𣅙,鏡蟾𡓂𥪝弄伶;
𢲨𠫅霜唉𣋽,繓麝淶𤲂𨃴𦹳萩。
(26) Ngang thành thị ghé yên hà một thú;

Dọc phố phường tung phong nguyệt hai kho.[35]

26-昂城市踦煙河沒趣
𨂔浦坊蹤風月𠄩庫。
(27) Gió hiu hiu dòng Nhị Thuỷ đưa lên, lồng hơi mát tới chùm hoa khóm trúc;

Trăng vằng vặc mái Tam Sơn rọi xuống, đớp bóng trong từng lũ cá đàn cò.

27- 𩙍囂囂𣳔洱水拸𨑗𢲣沫細𫇳花㯲竹;
𦝄焩域𠃅三山燴𨑜,㗳𩃳𤄯曾僂𩵜𪂮
(28) Phong cảnh cũ nhiều nơi thắng lãm;

Triều đại xưa mấy lớp thanh ngu.[36]
28- 風境𡳰𡗉胜覧;

朝代𠸗某垃清
(29) Tựa bóng hoa đặt quán Quan Ngư[37] kìa đời Long Khánh;[38]

Đè mặt sóng đem đường dụ tượng[39] nọ thuở Kiền Phù.[40]

29-䏾花撻舘觀漁箕𠁀隆慶;
𩈘𨑴諭象怒𣇫乾浮。
(30) Trải Trần trước đã nhiều phen xe ngựa;

Tới Lê sau càng lắm độ tán dù.
30-𣦆陳畧㐌𡗉番車馭;
細黎𢖖夦度傘𢂎
(31) Trộm nhớ thiên bát vịnh du hồ,[41] trong tỉ hứng cũng ngụ lời quy phúng;[42]

Lại nhớ khúc liên ngâm thưởng nguyệt,[43] lúc tiếu đàm dường thoả ý giao phu.[44]

31-𢖵八詠遊湖,𥪝比興拱喁喁唎歸諷
𢖵曲連吟賞月,𣅶笑談羕脞意交夫。
(32) Toà đá nọ ghi câu canh hoạ;[45]
Dòng nước kia dường nổi chén tạc thù.

32-座廏怒綋句賡和
𣳔羕浽盞酢酬。
(33) Năm sau từ nổi bụi tiêu tường,[46] ba thước nước khôn cầm màu hiệu khiết;[47]

Buổi ấy cũng góp phần tang hải, sáu thu trời bao xiết nỗi hoang khô.[48]
33- 𢆥𢖖浽培椒牆,𠀧𢭑坤擒牟顥潔
𣇜意拱給分桑海,𦒹𡗶包掣𦁀荒枯。
(34) Hình cây đá mưa trôi gió giạt;
Sắc hoa chim mây vẩn sương mù.
34-形核𥒥𩄎𩙍;
色花𪀄𩅹霜霧。
(35) Chốn trì đàm[49] làm bợn vẻ thanh quang,[50] xuôi ngược những vẫy đuôi khoa đẩu;[51]

Nơi phạm vũ [52]để che màu sảng lãng, dọc ngang trao mắc võng tri thù.[53]

35-池潭爫𣵲𡲈清光,𣵶仍捤𡳪蝌蚪
坭範宇底曕牟爽浪,唷昂掉𦄿蜘蛛。
(36) Hương cổ miếu đôi chòm lạnh lẽo;

Đèn viễn thôn mấy ngọn tù mù.
36-香古廟堆笘冷𠖭;
畑遠村某𦰟囚眓。
(37) Kênh đâu đâu chảy đến trung sa, lầu túc điểu[54] gió còn sớm quạt;

Sen chốn chốn đã bay về Tây vực, vũng du ngư[55] nguyệt hãy tối mò.

37- 涇兜兜沚𦤾中沙,樓宿鳥𩙍𣌋;
坉坉㐌飛衛西域, 淎遊魚月唉對暮。
(38) Kêu trị loạn đau lòng con Đỗ Vũ;[56]

Gọi công tư mỏi miệng cái hà mô.[57]
38-叫治乱忉𢙱𡥵杜鵡;
噲公私𢵹𠰘丐蝦蟆。
(39) Lũ cày mây[58] lần tưởng bóng nghê,[59] thơ thất nguyệt[60] thở than cùng mục thụ;[61]

Khách điếu nguyệt[62] biếng tìm tăm cá, chữ tam mô[63] bàn bạc với tiều phu.

39- 𦓿𩅹吝想𣈖,詩七月呲嘆共牧豎;
客弔月剨尋沁𩵜𡦂三謩般博貝樵夫。
(40) Nghe xóm nọ rù rì ve nhặng;[64]
Ngắm ghềnh kia thấp thoáng trai cò.[65]

40-𦖑怒㾄掑蟡蠅;
𥌹箕湿洸𧕚𫛈
(41) Thú cao lưu[66] chếch mác[67] thế cờ, người nhạo thuỷ[68] ôm cầm khi rạng quế;[69]

Màu yên cảnh bâng khuâng hồn rượu, khách đăng đài gác bút buổi bay ngô.[70]

41- 趣高流隻鏌世棋,𠊚樂水掩琴欺瞆桂
牟煙境冰傾魂溜,客登臺擱筆𣇜哾梧。
(42) Chiều phong vị xem dường quạnh quẽ;

Dấu đồ thư ngắm hãy mơ hồ.
42-朝風味羕郡揆;
𨁪圖書𥌹𢠩
(43) Dưới cầu vồng nước chảy mênh mông, đường xưa đua ngựa;
Trên thành trĩ[71] đá xây chớm chởm, bến cũ gọi đò.

43-𤲂梂釯沚溟濛,塘𠸗𨅮;
𨕭𩾰𥒥𥗽峅嶄,渡𡳰噲艔。
(44) Trước cố cung treo nửa mảnh gương loan, vầng trăng he hé;

Sau cổ tự gởi mấy phong da ngựa, đám cỏ lù rù.

44- 𠓀故宮撩𡛤𤗖, 𦝄𢬾;
𢖕古寺𢭮封䏧馭, 坫苦瀘㾄。
(45) Lớp canh dịch người xưa man mác;

Vẻ tiêu lương[72] cảnh cũ thẹn thò.
45-笠更役𠊚𠸗漫漠;
𡲈蕭涼境𡳰𢢆𪬔.
(46) Áng phồn hoa vì cảnh muốn phô người, người phải khi vật đổi sao rời, cảnh phải chiều người buổi ấy;

Trời thanh lãng có người còn mến cảnh, cảnh có sẵn nước trong trăng sáng, người nên phụ cảnh này ru.

46- 華為境悶舖𠊚𠊚沛欺物𢷮𣋀移,景沛𢢅𠊚𣇜;
𡗶清浪固𠊚群悗景, 固産渃沖𦝄𠓇, 𠊚𢧚媍景𠱋
(47) Vừng trăng nọ buổi tròn buổi khuyết;

Ngọn nước kia nơi hoắm[73] nơi nhô.
47-𦝄𣇜𧷺𣇜
𦰟渃箕坭陷坭儒。
(48) Tới Mậu Thân[74] từ rỡ vẻ tường vân,[75] sông núi khắp nhờ công đãng địch;[76]

Qua Canh Tuất[77] lại tưới cơn thời vũ,[78] cỏ cây đều gội đức chiêm nhu.[79]

48- 細戊申自𠒦𡲈祥雲, 𡶀泣洳功盪敵;
戈庚戌吏𢱓𩂀時雨, 苦核調澮德霑需。
(49) Vũng trì chiểu nước dần dần lặng;

Nơi đình đài hoa phơi phới đua.
49-淎池沼寅寅洛;
坭庭台花派派𢵋
(50) Chốn bảy cây[80] còn mấy gốc lăng vân,[81] chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão;[82]

Nơi một bến đã đông đoàn hí thuỷ,[83] tới uyên ương[84] đều thoả tính trầm phù.[85]

50- 𦉱群某㭲凌雲,拯松柏拱誇形蒼老;
坭沒𣷷𨒟戲水,細鴛鴦調妥性沉浮。

(51) Vẻ hoa thạch[86] châu thêu gấm dệt;

Tiếng trùng cầm[87] ngọc gõ vàng khua.
51-𡲈花石珠絩錦𦂾;
㗂虫禽玉𢫈摳。
(52) Bãi cỏ non trâu thả ngựa buông, nội Chu[88] đã lắm người ca ngợi;

Làn nước phẳng kình chìm ngạc lặn,[89] ao Hán nào mấy trẻ reo hò.
52-
𣺽苦嫩𤛠且馭𢭾㐌夦𠊚歌議;

渃滂鯨沉鰐𠓬, 呦漢芾某𥘷嘹呼

(53) Mặt đất đùn này thóc này rau, rầu lòng Cô Trúc;[90] Mặt nước chảy nọ dòng nọ bến, mặc chí Sào Do.[91]

53-𩈘 , 𠿈𢙱 姑竹; 𩈘沚怒𣳔𣷷, .

(54) Cây quán kia còn đứng dậy thần uy, đoàn mán tới dám khoe lời Tây hữu; [92]

Sen chùa nọ lại bay về phật cảnh, lũ Ngô[93] về từng niệm chữ nam mô.

54-核舘箕群𥪸神威 團蠻細敢誇𠳒西友;

蓮廚怒吏飛𧗱佛景,僂𧗱曾念𡦂南無.

(55) Dấu linh dị[94] rành rành vẫn sáng;
Mạch hậu nhân[95] dằng dặc bao rò.
55-𧿫靈異佲佲𠓇;

陌厚仁孕弋包露。

 (56) Mặt thành xưa đem lại thế kim thang,[96] đất xây phẳng lặng;
Cánh hàn cũ sửa ra hình chỉ trụ, đá xếp xô bồ.

56-𩈘𠸗吏勢金湯,坦搓坂洛;

𦑃𡳰𪮈𦋦形趾柱,𥒥攝趨蒲。
(57) Ghé vùng danh nẻo lợi bấy lâu, cảnh tuy rằng nhỏ;

Song nước trí non nhân[97] mấy chốn, cảnh đã chi thua.

57-𨄾𡑩利閉𥹰, 景雖㖫𡮈;

渃智𡽫仁某坉,景㐌之輸
(58) Trải mấy thu từng dựa bóng tàn xanh, thâu cảnh đã vào trong vũ trụ;

Song ngàn dặm còn xa rời bệ tía, góp cảnh còn gọi chốn biên ngu.[98]
58-𣦆秋曾𢭸𩇛,收景𠓨𥪝宇宙;

𠦳𨤮群柁𨖨紫,𢵰群噲坉边.

(59) Tuy thú vị đã giải bày ra đó;
Song thanh dung[99] còn trang điểm lại cho.

59-雖趣味㐌解排𪞷𪦆;

双清容群裝點吏朱。

(60)- Nay mừng:

Trời phù chính thống;[100]

Đất mở hoành mô.[101]

60-𠉞𢜏:

𡗶扶正統

𩦓

(61) Quyền tạo hoá tóm vào trong động tác;

Khí kiền khôn[102] vận lại trước đô du.[103]

61-權造化𠓨𥪝動作;

氣乾坤運吏𠓀歈。
(62) Nền hoàng thành đặt vững long biên, ngôi Bắc cực muôn phương đều củng hướng;

Nền bắc trạch[104] xây kề ngưu chử,[105] cảnh Tây Hồ trăm thức lại phương phu.[106]

62-𡋂皇城達凭龍,嵬北極𨷈方調拱向

𡋂北澤搓牛渚,景西湖𤾓式吏芳敷。
(63) Chòm hủ thảo[107] chưa qua tuần đom đóm;

Áng tường vân[108] đà cách độ tua rua.[109]

63-𫇳草渚戈旬𧍈

映祥雲隔度須𣌌
(64) Ngắm nguyệt chiêm từ cấn tượng bốn hào,[110] ống âm dương đà quét bụi;

Xem tuế luật[111] đến di tân[112] bảy tấc, lò thiên địa mới bay tro.

64- 𥋴月占自艮像𦊚,蓊陰陽㐌𢭯;

䀡歳𦥃𦉱𡬷,爐天地買飛𤉓.
(65) Cơ vãng phục[113] lạnh thôi lại ấm;

Lẽ doanh hư[114] bớt đã lại bù.
65-往復冷催吏𤋾;

理嬴虛扒吏補

(66) Dưới lục âm[115] vừa sinh khí nhất dương, vạn phẩm[116] đã nhờ ơn khôn tạo;

Trên cửu đạo[117] lại tề ngôi thất chính,[118] bốn mùa đều theo hướng đẩu khu.[119]

66-𨑜陸陰𣃣生氣一陽,萬品㐌𢘾恩坤造;

𨑗九道吏齊嵬七正,𦊚調遶向斗枢
(67) Hương khâm kính[120] xâm miền hạo đãng;[121]

Rượu cung càn[122] thấm cõi linh u.[123]
67-香欽敬侵沔浩蕩

酒恭乾湛𡑭靈幽

(68) Áng năm mây bày ngọc bạch[124] đôi hàng, thảo mộc hãy ca công Thang, Vũ;[125]

Vang chín bệ nổi tiêu thiều mấy khúc, điểu thú đều vũ đức Đường, Ngu.[126]

68-𠄼𩅹排玉帛堆行,草木唉歌功湯禹;

𢒂浽簫韶某曲,鳥獸調舞德唐虞
(69) Vẻ hoa lẫn dấu cờ năm thức;
Mặt nước in bóng giáo ba ngù.
69-𡲈花吝𨁪𠄼;

𩈘印俸鉸𠀧𣮇
(70) Trước huân phong[127] phảng phất cung đàn, làn thâm thuỷ muốn vái lên ngũ bái;[128]

Dưới ngọ nhật vang lừng tiếng trúc, hình viễn sơn mong rạp xuống tam hô.[129]

70-𠓀薰風彷彿弓彈,瀾深水悶𠳿𨑗五拜;

𨑜午日㘇㖫㗂竹,形遠山懞𫏦𨑜三呼

(71) Lễ nhạc ấy nghìn thu ít thấy;
Phong cảnh này mấy thuở nào so.
71-礼樂意𠦳𠃝𧡊;
風景尼某𣇫芾搊
(72) Trên dưới đều rồng mây các nước phải duyên, giọt vũ lộ[130] tưới đôi hàng uyên lộ;[131]

Gần xa cũng cõi bờ non sông một mối, tấm đan thành[132] dung khắp lũ nghêu sò.[133]

72- 𨑗𨑜調蠪𩅹沛緣,湥雨露洅對行鴛鷺;
近柁共𡎝𡽫沒䋦,𤗲丹誠容泣僂蟯𧎷
(73) Hơi yêu mị[134] quét dưới cờ thanh đạo;[135]

Áng tường quang[136] tuôn trước ngọn huyền lô.[137]

73-唏妖魅抉𨑜旗青道;
盎祥光𣻆𠓀𦰟玄蘆。
(74) Rặng đầu ghềnh người mượn chữ vu viên,[138] răn loài hồng nhạn;

Ca cuối vũng kẻ ngâm câu tại chử, nhủ lũ ê phù.[139]

74- 鄧頭涼𠊚𠼦𡦂于園呡類鴻雁
𡳳吟句在渚,鷖鳧。
(75) Lời ca ngợi tưởng ngồi trong Chu nhã;[140]

Điệu ngâm nga nghe đứng giữa Nghiêu cù.[141]

75-𠳒𡃛𡎢𥪝周雅,
調吟哦𦖑𥪸𡧲堯衢。
(76) Ngẫm nay đà vui thú tạc canh,[142] đành chốn chốn cũng ca đồng vũ tẩu;[143]

Nhớ trước đã thoả loài động thực,[144] hẳn đâu đâu đều bặt quỷ im hồ.[145]

76-𠉞𢝙趣凿耕,𠷥坉坉拱歌僮舞叟;
𢖵㐌妥類動植,罕兜兜調匐鬼庵猢。
(77) Nay lệnh tiết[146] đã tin điềm thái lãng;[147]

Xin thánh nhân càng ghín[148] chữ dự du.[149]

77- 𠉞令節㐌信兆太朖,

嗔聖人𡦂遊。
(78) Ngọn nguồn tuôn dàn rụa mái kia ghềnh, đèn chiếu thuỷ[150] chia dòng Kinh Vị;[151]

Chòm cỏ mọc tần vần bên nọ miếu, trống thôi hoa[152] rẽ khóm huân do.[153]

78- 𦰟𣻆瀾墮𠃅箕涼 ,畑炤水𢺹𣳔涇渭;
𫇳𦹯𠚐頻運边怒廟,𤿰摧花𢬦莰薰蕕
(79) Nhận giá sắc[154] xét dân phong cần noạ;[155]

Ngắm phong quang soi vật tính thanh ô.[156]

79-認稼𥌀民風勤惰;
𥋴風光𤐝物性清溩。
(80) Chốn chiểu đài[157] xem cá nhảy chim bay, thâu sĩ lộ[158] nơi thông nơi trệ;[159]

Miền thôn ổ lắng chim kêu gà gáy, lượng nhân gian nơi háo nơi trù.[160]

80-坉沼𩵜𪀄,揪士路尼通尼滯;

沔村塢𠻴𪀄叫鵸𠰁,量人間尼好尼惆。

(81) Tình u uẩn khắp bày trong thị thính;[161]

Hiệu trị bình đành sắp dưới tề tu.[162]
81-情幽慍泣排𥪝視聽;
効治平忊拉𨑜齐修。
(82) Nơi mạch[163] kia dân tựa ấy làm trời, hang chuột ẩn[164] há chừa nơi cỏ khuất;

Bờ liễu nọ kẻ xây đà vững đất, lỗ kiến đùn khôn chuyển buổi nguồn xô.[165]

82- 尼陌箕民似意爫𡗶,﨏𤝞呵除尼𦹯;
坡柳怒凭坦,魯蜆吨坤轉𣇜源趨。
(83) Đem phong cảnh lại một bầu chi nhỏ;[166]

Mở thái bình ra bốn bể mới to.

83-𨑻風景吏沒泡之𡮈;
𩦓太平𦋦𦊚買租。
(84) Tôi nay:

Hổ mình thiển lậu;[167]

Dại trí thô sơ.

84-𠉞

𢗝𠵴淺陋;
𢘽智粗初
(85) Dư một kỷ[168] yên bề hu lịch;[169]
Ngoài năm tuần[170] thẹn bóng tang du.[171]

85-餘沒紀安皮樗櫟;
𠄼𢢆𣈖桑柚。
(86) Trước phượng đàn đứng sánh hàng loan,[172] trông hồ cảnh tiến một chương ly ngữ;[173]

Bên ngự đạo[174] ngửa trông vầng nhật,[175] nổi thanh sơn[176] mừng muôn kỷ dao đồ[177].

86-鳳壇𥪸行鸞, 𥉫鐭湖景荐沒章璃語;

边御道𠑕𥉫日,挼青山𢜠紀遙

(1801)

(hết)

***

Dịch thơ

[1] Tuïng Taây Hoà Phuù,

Nguyeãn Huy Löôïng.

Ngân Triều dịch thơ

*

1N (1-4), 4 liên; Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu, Nguồn gốc Hồ Tây.

Hồ Tây cảnh rất lạ lùng,                               (1)

Nhớ thời lập quốc đã từng hiển danh.

Thời chín cõi, gò đất lành,

Có loài bạch hổ tung hoành làm hang.

Đầm rộng lớn, tay Long Vương;                            (5)

Chuông chùa ông Khổng,[1] ngân vang rất mầu,

Trâu vàng nhớ mẹ, Bên Tàu,
Chạy qua tìm mẹ ghềnh hào ngày nay.

Sợ nước Nam lắm nhân tài,

Cao Biền[2] yểm huyệt triệt bài long tâm.                 (10)

Dâm Đàm[3] tên gọi đầm râm,

Cỏ hoa, sương khói quanh năm đón chờ,

Lãng Bạc,[4] sóng bạc như mơ,

Bến bờ tinh khiết, nước hồ trong veo.

*

2N-(5-8), 4 liên; Ngân Triều cảm đề: 12 câu, Hình thể của Hồ Tây.

[…trong veo]

- Sắc xanh nhuộm sóng lam chiều,               (15)

Như hình Động Bích[5] tỏa nhiều hào quang.

Hình cong uốn lượn đêm trăng,

Sóng xô ánh bạc sông Ngân bóng lồng.

Nước trời, nghìn mẫu mênh mông,

Bốn bờ hoa cỏ biếc hồng điểm trang.                     (20)

Gò Mỏ Phượng[6] hay đài trăng,

Bên dòng nước xoáy hàm rồng chẳng vơi.

Phải chăng là chén rượu mời,

Kìa tòa Thạch Tháp của trời, kho tiên.

Gò đất nọ, tít ngoài biên,                              (25)

Kìa ai mê tín cầu duyên, chôn bùa.

*

3N-(9-13), 5 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 16 câu: Các đền chùa chung quanh Hồ Tây.

[…chôn bùa]

Quanh hồ thắng cảnh đền chùa,

Mục lang[7] lưới hổ cứu vua lâm nàn. 

Tích gươm Trấn Võ[8] rùa mang.

Hình cây như quán, hàng hàng ngàn xưa,               (30)

Sóng ghềnh lấp lánh trưng đưa,

Ngàn kho châu báu trời trưa tỏ tường.

Kim Liên sóng nhuộm mùi hương,

Kế bên Trấn Quốc[9] Tây phương cảnh mầu.

Gió rung cổ thụ nghiêng đầu,                       (35)

Phụng Thiên nơi ấy tìm cầu cõi âm.

Rêu phong nền cũ âm thầm,

Đại Vương Bố Cái[10] ngàn năm chẳng lòa.

Bà Đanh[11] cổng ủ lá hoa,

Mơ màng đỉnh Thứu, vang ca thước[12] nào.             (40)

Ngẩn ngơ tưởng đến Động Đào,[13]

Bồi hồi xóm nhỏ, gà chào ó o.

*

4N-( 14-27), 14 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Các thắng cảnh chung quanh Hồ Tây.

[…ó o]

Nung vôi Thạch khối mấy lò,

Khói bay nghi ngút ỳ ồ Nhật Chiêu.[14]

Lô nhô cuối bãi Đuôi Nheo,                         (45)

Phất phơ thuyền khách buồm treo bướm bầy.

Hồ Cổ Ngựa,[15] lặng như tờ,

Tháp tăng hé cửa tò vò mười phương.

Nhịp chày Yên Thái[16] nện sương,

Nghi Tàm lưới cá thả đường quanh co.                  (50)

Liễu bờ kia, phất phơ tơ,

Thoi oanh ghẹo cả gấm tơ hai phường.
           Đó đây sen biếc cao giương,

Lửa huỳnh ghen tức lò vương năm làng.

Đàn ve ánh ỏi lầu ran,                                  (55)

Bên bàn mõ cuốc còn than quốc hoài.

Châu Long[17] gió nhẹ vèo bay,

Vẳng đưa trống thú dội ngoài trúc hiên.

Vầng trăng hé, Phục Tượng[18] biên,

Sông Tô nghe nện nỗi phiền chày khuya.               (60)

Thẫn thờ mấy nỗi phiêu du,

Khách nhàn lai láng từng khu dặm trường.

Áo tơi lớp xớp mưa buồn,

Đàn trâu gã Nịnh[19] tham nguồn cỏ non.

Khuất Nguyên tuẩn tiết, Thương Lang,[20]      (65)

Thuyền nan trước gió nhớ chàng tiều Chu.[21]

Cuộc vui ngày tháng lãng du,

Thiếu gì “bốn bạn”[22] chăm lo đủ bề.

Khán Sơn[23] cảnh cũ đời Lê,

Thơ ban trăng lạnh ngẩn ngơ bồi hồi.                     (70)

Vọng Thị[24] tiệc rượu còn vui,

Ngày tàn đàn đã bùi ngùi niềm tư.

Khách Tàu san sát chợ Tây,

Đào Tiềm tái thế[25] men say ngủ vùi.

Giặt tơ bến nước khuya trời,                         (75)

Ánh trăng lấp lánh đầy vơi tay người.

Trong sương hái nhị trà tươi,

Túi hương rớt xuống, thơm mười ngón chân.

Thị thành vui thú trí nhân,

Phố phường phong nguyệt trời ban vô cùng.          (80)

Hắt hiu Nhị Thủy[26] gió lừng,

Cho vui khóm trúc cho mừng khóm hoa.

Tam Sơn[27] vằng vặc trăng ngà,

Đàn cò đớp cá, đớp lòa bóng chân.

*

5N-(28-32), 4 liên, Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu: Hồ Tây trải qua các triều đại.

[…bóng chân]

Cảnh xưa thắng lãm tần ngần,                      (85)

Hưng vong mấy lớp thăng trầm mấy phen.

Quan Ngư[28] xem cá đưa duyên,

Niên hiệu Long Khánh còn truyền lập công.

Đường Dụ Tượng,[29] Lý Thái Tông,

Đê đè sóng biếc voi rừng thẳng lên.                       (90)

Đời Trần xe ngựa như nen,

Triều Lê thịnh trị chật lèn tán ô.

Nhớ thiên bát vịnh du hồ,[30]

Chở đạo ẩn ngữ, qui mô dạy đời.

Liên ngâm[31] thưởng nguyệt mấy người,        (95)

Văn chương tiên tục cũng thời tri âm.

Họa thơ tòa đá chữ hằn.

Nước kia dường sót rượu mừng nổi trôi.

*

6N-(33-46) 14 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Hồ Tây trong thời Lê mạt.

[…nổi trôi]

Đất trời gió bụi muôn nơi,

Nước hờn cau mặt, tơi bời bợn nhơ.                       (100)

Sáu năm biến động nào ngờ, 

Cảnh xưa mưa gió bơ phờ, tan hoang.

Sương mù mây phủ, chim ngàn

Mặt hồ còn chút xanh lam, mơ màng.

Để cho nòng nọc từng đàn…                        (105)

Chùa thiêng cửa nắng, đầy màn “bát tiên”.

Dọc ngang mạng nhện giữ miền,

Lửa hương cổ miếu im lìm, quạnh hiu.

Tù mù ngọn lửa, xóm nghèo.

Kênh đâu đưa nước tưới vào trung sa,          (110)

Lầu chim ngủ sớm, gió ca,

Ngàn sen ngao ngán bay về, Tây phương.

Nước hồ đen thối cá ươn,

Cuốc kêu trị loạn thảm thương, đau lòng.

Ễnh ương gào khóc tư công,                         (115)

Sá gì lộc hậu là xong phất cờ.

Cầu vồng đâu, lũ cày mơ,

Bài thơ thất nguyệt thờ ơ mục đồng.

Trời đêm câu cá khó lòng,

Kế hay giúp nước chỉ toàn tiều phu.                       (120)

Xóm kia ve nhặng rì rù,
Ghềnh xa thấp thoáng trai cò gấu nhau.

Thượng lưu mâu thuẩn cao trào,

Những người trí thức gió nào thuận che.

Yên thân gượng chén bạn bè,                       (125)

Thu rồi gác bút, gia phì thế thôi.

Dẫu rằng phong vị đãi bôi,

Đồ thư chi nữa lôi thôi mơ màng.

Dưới cầu nước chảy miên man,

Đường xưa giờ đã thành đàng ngựa đua.                (130)

Đá xây thành trĩ ý vua,

Chỉ là bến vắng người thưa đợi đò.

Cố cung nửa mảnh gương mờ,

Vầng trăng sẻ nửa, gương chờ bóng loan.

Chiến binh cổ tự gởi thân,                            (135)

Sè sè nấm đất cỏ hoang lù rù.

Dân canh man mác thẫn thờ,

Cảnh xưa diễm lệ bây giờ còn đâu.

Thế thời thời thế mặc dầu,

Nước trời trăng sáng nao nao lòng người.               (140)

*

7N-(47-59), 12 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: Hồ Tây trong thời Tây Sơn.

[…lòng người]

Trăng đầy theo luật trăng vơi,

Nước nông nước hoắm là đời nước sâu.

Mậu Thân[32] xưng đế điềm mầu,

Sử ghi quét sạch giặc Tàu xâm lăng.

Canh Tuất[33] tế nhị cầu phong,                      (145)

Lấy dân làm gốc, anh hùng nước Nam.

Mặt hồ đổi sắc xanh lam.

Đền đài rực thắm chen vàng ngàn hoa.

Bảy cây[34] còn mấy cây già,

Đua chen tùng bách, ngọn rà nóc mây.          (150)

Bến kia đông kẻ vui vầy,

Lao xao đùa nước như bầy uyên ương.[35]

Đá hoa ngoạn mục tỏ tường,

Tiếng chim tiếng ngọc, tiếng trùng vàng khua.

Bãi non trâu ngựa cho lùa,[36]                         (155)

Giã từ vũ khí, đến mùa yên dân.

Nước trong kình ngạc[37] mất tăm,

Tắm vui trẻ nhỏ ầm ầm hò reo.

Được mùa rau thóc, thoát nghèo,

Tưng bừng trăm họ về theo bóng cờ.                      (160)

Còn ai nhắc chuyện Di Tề,[38]

Chiêu hiền đãi sĩ nước về phì nhiêu.

Cây kia trở gió đổi chiều,

Mán khoe công đức ánh thiều sáng soi.

Sen về chùa nọ thật rồi,                               (165)

Tù binh tha chết lũ Tàu nam mô.[39]

Dấu linh vẫn sáng cơ đồ,

Nguồn nhân đức đã tưới vô khắp miền.

Mặt thành xưa thế kim thang,[40]

Đất xây bằng phẳng định an, trường tồn.                (170)

Cánh hàn chỉ trụ sửa đồn,

Đá đem sắp xếp bảo tồn nơi nơi.

Ghé vùng trọng điểm một thời,

Cảnh tuy là nhỏ đấp bồi sửa sang.

Đăng sơn là thú người nhân,                        (175)

Thủy du người trí,[41] cảnh còn bao la.

Bóng tàn xanh, mấy thu qua,
Chính danh vũ trụ đã lòa bóng dương.

Xa xôi cách trở dặm trường,

Còn xa bệ tía ở vùng biên khu.                              (180)

Nỗi niềm xin tỏ mặc dù,

Thanh dung[42] cao sĩ nhiệt tình sửa cho.

*

8N-(60-83) 24 liên, Ngân Triều cảm đề: Ca ngợi công đức Nhà Tây Sơn.

[ … sửa cho]

Nay mừng đất mở hoành mô,

Trời phù chính thống,[43] sơn hà vĩnh an.

Vận nước tái lập vững vàng,                        (185)

Vua tôi những đấng minh lương chí hùng.

Long Biên đích thị hoàng thành,
Ngắm sao Bắc Đẩu dân tình thủy chung.

Hồ Tây kế cận Bắc cung,

Cảnh hồ trăm thức, lục hồng đua chen.                   (190)

Cỏ chưa mục, đóm chưa đèn,

Tua Rua[44] phúc đức một phen chiếu vào. 

Ngắm trăng cấn tượng bốn hào,

Trong ngoài quét sạch, công lao nghìn trùng.

Vận hội mới, sáng muôn vùng,                    (195)

Như lò thiên địa cháy bùng tháng giêng.

Tuần hoàn theo lẽ khuôn thiên,

Hết lạnh thì ấm, hết phiền lại vui.

Đầy rồi thì tới lưng vơi,

Đất bằng nắng ấm muôn nơi đẹp đời.                     (200)

Vạn loài sống lại ơn trời,
Đường trăng hòa hợp bảy ngôi thiên hà.[45]

Bốn mùa trời đất hài hòa,

Sinh sinh hóa hóa theo đà đẩu khu.[46]

Hương thơm bay ngát miền xa,                    (205)

Rượu nồng thấm cõi ta bà[47] u minh.

Năm mây ngọc lụa đem trưng,

Cỏ cây cũng biết hát mừng nghiệp vương.

Tiêu thiều mấy khúc bệ rồng,

Thú cầm ca múa ánh hồng hoàng kim.                   (210)

Cờ năm thức, sắc hoa chìm,

Long lanh mặt nước dáo in ba ngù.

Tiếng đàn “Gió mát”[48] gảy ru,

Nước sâu “ngũ bái”[49] thiên thu tưng bừng.

Đến Ngọ, tiếng trúc vang lừng,                     (215)

Núi xa dường cũng cúi mừng “tam hô”.[50]

Nghìn thu lễ nhạc tiêu sơ,

Cảnh nầy, mấy thưở, nào so được nào.

Rồng mây, vũ lộ[51] tưới vào,

Cõi bờ một mối, dạt dào lòng dân.                         (220)

Dưới cờ quét lũ nịnh gian,

Cờ lau đen, “áng tường quang”[52] tuôn tràn.

Đầu ghềnh hai chữ vu viên,[53]

Răn loài hồng nhạn bỏ miền du cư.

Vạc nông “nhủ lũ ê phù,”[54]                          (225)

Bến sông ai hát nhà Chu thái bình.

Tiếng ca gợi nhớ dân sinh,

Nhà không khóa cửa, công bình tương thân.

Dễ dàng “canh tạc”[55] mà ăn,

Múa ca tụng ngợi vương ân trẻ già.                        (230)

Nơi nơi “bặt quỷ im hồ”[56]

Thỏa lòng việc trước truyền cho nuôi trồng.

Nay đà “thái lãng”[57] điềm thông,
Thánh nhân dè giữ cho lòng hân hoan.

Đưa đèn soi nước ghềnh sông,                     (235)
Truy tìm thủy quái, đục trong sông nào.

Tần vần cỏ mọc miếu cao,

 “Thôi hoa”[58] hồi trống trở màu “huân do”.[59]

          Dân phong cày cấy chăm lo, 

 Phong quang soi vật thanh ô đủ bài.                      (240)

“Chiểu đài”[60] ngắm cá chim bay,

Cầu người có đức có tài kinh luân,

Nghe chim, gà gáy hiểu dân,

Thấy nơi trù phú, nơi bần thê lương.
           Nỗi niềm tỏ rõ mọi đường,                          
(245)

Trị bình thứ yếu cũng đành tề tu.[61]

          Cường hào nhũng nhiễu hải ngu,[62]

Truy tìm diệt lũ chuột chù trốn hang.

Bờ liễu cây đá vững vàng,

Hoài công tổ kiến xoi dòng nước trôi.                    (250)

Hồ đẹp chuyện nhỏ mà thôi,

Thái bình bốn bể để đời đại công.

*

9N-Đoạn kết (84-86), 2 liên, Ngân Triều cảm đề: cảm nghĩ của tác giả:

[…đại công]

Tôi nay,

Hổ mình dại trí thô nông,

Yên bề “hu lịch”[63] tấc lòng kỷ qua.

Năm mươi bóng đã xế tà,                             (255)

Gia cầm[64] lẩn thẩn như là chim loan.[65]

Tây Hồ trau chuốt một chương,
Ngước trông “ngự đạo”[66] thái dương, phụng trình,

Núi xanh muôn kỷ chúc mừng[67],

Cơ đồ xán lạn[68] tưng bừng ngọc Dao.   (260) 

                               (Hết)

---------------------------------------------------------------

 



Chú thích

[1] Tương truyền, ngày xưa, ông Khổng Minh Không đúc 1 cái chuông lớn, khi dánh lên tiếng vang xa đến tận chân trời góc biển. Khi ấy có 1 con trâu vàng (kim ngưu) nghe tiếng, tưởng mẹ nó kêu, liền chạy sang tìm trâu mẹ. Đến nơi, nó chạy qua lại vòng quanh vùng đất nầy, thành Hồ Tây ngày nay.

[2] Cao Biền, Thái thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân và nhân tài.

[3] Dâm Đàm là đầm rộng lớn mênh mông; đầy sương khói nước, sương mù quanh năm. Dâm đàm là 1/6 tên gọi của Hồ Tây:  Đầm Xác Cáo, Hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc, Dâm Đàm, Đoài Hồ, Hồ Tây.

[4] Lãng Bạc: theo "Tây Hồ chí", thì sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng, Tướng quân Mã Viện với tư cách là kẻ thôn tính văn hóa đã gọi hồ Tây là Lãng Bạc với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ.

[5] Động Bích Đào ở Ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, phía hữu núi Thần Phù; còn gọi là “Từ Thức Động”, tương truyền Từ Thức vào đây gặp tiên.

[6] Ở Hồ Trúc Bạch, có một dải đất giống hình mỏ chimPhượng nên được gọi là Gò Mỏ Phượng. Gò nầy đã biến dạng do cư dân san lấp đất cất nhà.

[7] Mục Lang: , Chuyện Mục Thận đời Lý, theo sách Việt Điện U Linh: Một hôm vua Lý Nhân Tông đang ngự thuyền trên Hồ Tây, bỗng có sương mù dày đặc, thoáng có bóng một con hổ lớn, nhe răng muốn vồ nhà vua. Lúc ấy, Mục Thận đang đánh cá trên hồ, liền tung lưới bắt được con hổ. Con hổ đó hóa ra là Thái Sư Lê Văn Thịnh.

[8] Trấn vũ:   , là tên gọi tại Việt Nam của thần Chân Vũ, người Việt còn gọi là Trấn Võ, húy danh Chấp Minh (執明) là một trong những vị thần được thờ phụng phổ biến tại Trung Quốc và các nước Á Đông. Vị thần này tượng trưng cho sao Bắc cực, và là một vị thần lớn của Đạo giáo thống trị phương Bắc, kiêm quản lý các loài thủy tộc nên cũng được coi là thủy thần hay hải thần. Nguồn Wikipedia.

[9] Chùa Trấn Quốc: Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời nhà Lý) và điện Hàn Nguyên (thời nhà Trần). Trong các năm 1624, 16281639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời nhà Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

[10]Bố Cái: 布丐Bố Cái Đại Vương 布丐大王, là tên mà nhân dân suy tôn cho Phùng Hưng. (Đại Vương như Cha Mẹ). Theo một số nguồn dã sử, Phùng Hưng sinh ngày 25/11 /760 (tức 5/1/761) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13/9/802), thọ 41 tuổi.Nguồn Soha.vn.

[11] Bà Đanh: , Chùa Bà Đanh hay còn gọi “Bảo Sơn Nữ”, tọa lạc trên một vùng đất tại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam.

[12] Thước: chim thước hay chim khách.

[13] Động Đào hay Đào Nguyên còn gọi là Động Bích, nơi tiên ở.

[14]Ghềnh Nhật Chiêu 涼日招, là Nhật Tân ngày nay.

[15] Theo giải thích của các nhà khoa học thì Hồ Tây vốn là một khúc của con sông Hồng. Hồ xưa kia rộng và dài từ Tây qua Bắc sang Đông, nhưng đã bị cư dân và thời gian vùi lấp thành từng đoạn. Vì thế mà thành hồ Cổ Ngựa (khoảng phố Phạm Hồng Thái sang Hàng Than) nay cũng đã bị lấp nốt.

[16]Yên Thái 安泰, là làng chuyên làm giấy rất nổi tiếng, chủ yếu là giấy bạc và giấy moi.

[17] Chùa Châu Long:  珠龍,  chùa toạ lạc trên một gò đất gọi là núi Châu Long ăn ra đến giữa hồ Trúc Bạch, huyện Vĩnh Thuận, nay ở số 44 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa đã có từ lâu đời, có tên chữ là Phúc Lâm tự, tương truyền do vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293) cho dựng để công chúa đi tu.

[18]Phục tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng sơn, 伏象山.

[19] Nịnh Thích 甯戚, người nước Vệ, thời Xuân thu, vì nhà nghèo phải sang nước Tề ở chăn trâu cho người khác. Một hôm, Nịnh Thích gõ sừng trâu để hát, Tề Hoàn công đi qua, nghe tiếng hát lấy làm cảm động, liền dùng làm thượng khanh.

[20] Thương lang: 滄浪, con sông nơi Khuất Nguyên tự trầm.

[21] Chu Mãi Thần vì nghèo phải gánh củi đổi gạo sinh nhai nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi Thần làm đến chức thái thú, vợ quay lại, ông không chấp nhận.

[22] Bốn bạn: là ngư (đánh cá), tiều (đốn củi), canh (cày ruộng), mục (chăn nuôi).

[23]Núi Khán Sơn, , ở phía tây cửa cung vua ngày trước, chu vi hơn 20 trượng, là núi đất hơi cao, trên đỉnh nhọn, đời vua Lê Thánh Tông vẫn lấy núi ấy làm chỗ ngồi ngự để xem điểm binh, cho nên mới gọi là Khán Sơn”.

[24] Làng Võng Thị, 廊望市 xưa kia có một số ít ruộng nằm ven hồ Tây, nên chỉ có một bộ phận rất nhỏ làm ruộng kết hợp thả sen; còn đa phần dân làng sống bằng nghề đánh cá trong hồ. Tên gọi “Võng Thị” xuất phát từ đặc điểm này (võng là lưới cá), nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Cũng có ý kiến cho rằng, từ xa xưa tại đây đã hình thành một chợ bán lưới đánh cá nên gọi như vậy.

[25] Đào Tiềm 陶潛, (? - 427), từ quan về ở Sài Tang, nằm ngủ cạnh cửa sổ, tự xưng là người của vua Hy, vua Hoàng. Hy Hoàng: 羲皇Vua Phục Hy và Hoàng Đế, thời thượng cổ nước Tàu. Đời Tấn.

[26] Nhị Thủy: tức Nhĩ Hà, sông Hồng.

[27] Tam Sơn: là 1 tong 4 quả núi của Thăng Long xưa (Núi Nùng, Tam Sơn, Khán Sơn, Thái Hòa hay núi Voi). Núi Nùng chỉ còn trong thơ văn; Tam Sơn thì nhỏ và thấp năm 1886 hãy còn; Khán Sơn, nơi Vua Lê Thánh Tông vẫn thường ngự xem tập trận, các nhà nghiên cứu xác định Khán Sơn xưa nằm ở vị trí trước Phủ chủ tịch ngày nay; Thái Hòa hay núi Voi, ở phía đông kinh thành, Thăng Long, song đến năm 1885, Pháp bạt đi để xây trại lính".

[28] Quan ngư: 觀漁, Xem đánh cá. Vua Trần Huệ Tông sai làm quán ở Hồ Tây để xem đánh cá.

[29] Phục tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng sơn, 伏象山.

[30] Bát vịnh du hồ: 八詠遊湖, Tám bài vịnh khi đi chơi trên hồ do chúa Trịnh sai các quan làm ra.

[31] Liên ngâm thưởng nguyệt: là bài thơ của bà Liễu Hạnh cùng làm với Phùng Khắc Khoan, ông họ Lý và một ông họ Ngô khi đi chơi trăng ở Hồ Tây.

[32] Năm Mậu Thân: 戊申, là năm 1788, Quang Trung xưng Hoàng Đế, kéo quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị.

[33] Năm Canh Tuất: 庚戌, là năm 1790, là năm sau chiến thắng quân Mãn Thanh xâm lược, Vua Quang Trung cầu phong nhà Thanh.

[34] Chốn bảy cây: xưa, 𦉱, nơi giáp nhau của Hồ Trúc Bạch và Tồ Tây, có 7 cây cổ thụ.

[35] Uyên ương: 鴛鴦, loài ốc, con đực là uyên; con cái là ương, thường ôm nhau không rời.

 Uyên ương ngoã lãnh sương hoa trọng

Phỉ thuỷ khâm hàn thuỳ dữ cộng

鴛鴦瓦冷霜華重,

翡翠衾寒誰與共

Trường hận ca, Bạch Cư Dị. Nghĩa là:

Lớp sương nặng phủ trên mái ngói uyên ương giá ngắt

Tấm chăn cánh trả, lạnh như tiền, chung đắp cùng ai?

[36] Theo điển: Vua Vũ Vương nhà Chu thả trâu ngựa ra đồng, tỏ ý khong muốn động binh nữa.

[37] Kình ngạc: 鯨鰐, cá kình và cá sấu, chỉ binh lính.

Ngất trời sát khí mơ màng,

Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
ĐTTT, Nguyễn Du,
câu 2251-2252.

[38] Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc, 姑竹. Hai ông nầy khinh Vũ Vương vô đạo, không thèm ăn thóc nhà Chu, lên núi Thú Dương ăn rau Vi, nhịn đói mà chết.

[39] Lũ Ngô hay Lũ Tàu, chỉ tàn quân Tôn Sĩ Nghị, chạy trốn về Tàu, được tha cho về nước; niệm Nam mô, ý ca ngợi Tây Sơn từ bi như Phật.

[40] Kim thang; 金湯 kim thành, thang trì: Xây thành bằng chất liệu kim khí, hào lũy nước nóng, ý nói thành rất kiên cố.

[41] Lấy ý câu: trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn, Luận ngữ: 知者樂水,仁者樂山, người trí trích nước, người nhân thích núi.

[42] Thanh dung: dáng vẻ thanh tao.

[43]Chính thống: 正統, triều đại khai sáng một cách quang minh chính đại. Trái ngược với ngụy triều, là không chính đáng như cướp ngôi, đoạt quyền (như nhà Hồ, nhà Mạc).

[44] Tua Rua:  tên chòm sao xuất hiện vào tháng 6 âm lịch.

[45]bảy thiên thể gồm mặt trời, mặt trăng và 5 thên thể khác, còn gọi là thất tinh.

[46] Đẩu khu: , hay đẩu xu, then máy ở sao Bắc Đẩu.

[47] Ta bà là phiên âm từ chữ Saha của Phạn ngữ, Ta bà chẳng khác gì quán trọ, nhân loại sống trong cõi này đều giả tạm, vô thường, không thật. Tại sao không thật? Vì suốt cả cuộc đời bị sinh, lão, bệnh, tử, tiền tài, danh vọng chi phối, bức bách thật là khổ não. Tất cả đời sống vật chất cho dù làm vua, làm quan, giàu sang đến cỡ nào đi nữa nhưng khi ra đi không mang được gì cả, cho nên mới gọi là không thật.

[48] Theo tích: Gió Nam thổi mát, vua Thuấn gảy đàn và hát:” Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề”. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮. Gió Nam mát mẻ, có thể giải được sự nóng bức cho dân ta.

[49] Ngũ bái: 五拜, 5 lạy. Bề tôi phải lãy vua 5 lạy.

[50] Tam hô: 𨑜三呼, ba lần hô. Hán Vũ Đế vào núi nghe sơn thần tung hô 3 lần vạn tuế.

[51] Vũ lộ: 雨露 mưa móc, chỉ ơn vua.

[52] Tường quang: 祥光, ánh sáng báo điềm lành.

[53] Vu viên: 于園, hồng nhạn vu viên, chim nhạn về làm tổ ở vườn nhà. Ý nói dân chúng chạy loạn, trôi giạt, bây giờ cảm đức của vua, về nhà cũ an cư lạc nghiệp.

[54] Tức là [54] Ê phù tại chử: 鷖鳧在渚, cò, vịt trời ở bến nước, Ca ngợi nền thái bình nhà Chu, Kinh Thi.

[55] Tức là Tạc canh: 鑿耕, tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực: 耕田, Đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn. Chỉ cảnh sống no đủ dễ dàng.

[56] Bặt quỷ im hồ: 匐鬼庵猢, vắng bặt ma quỷ, hồ ly tinh đều im lặng.

[57] Thái lãng: 太朖, thái bình và sáng sủa.

[58] Thôi hoa: 摧花, thúc giục hoa nở. Theo sách Nguyên Hòa Dị sử, đời Đường Minh Hoàng, ghi rằng, vua sai Cao lực sĩ đánh 1 hồi trống, khi đó các loài mai ở vườn ngự uyển đều nở hoa.

[59] 薰蕕 là 2 thứ cỏ, huân, cỏ thơm; do, cỏ thối; chỉ kẻ tốt, người xấu.

[60] Chiểu đài: 沼台, ao và nhà lầu, chỉ cảnh sống thái bình của Chu Văn Vương.

[61] Tu tề trị bình: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. 修身, 齐家, 治国, 平天下. Đó là con đường xuất xử của Nho sĩ.

[62] Hải ngu: Góc biển chân trời, vùng sâu, vùng xa.

[63] Hu lịch: 樗櫟, loài gỗ xấu, chỉ kẻ bất tài.

[64] Gia cầm: loại thú có cánh nuôi trong nhà nh7 gà, vịt, ngổng

[65] Chim loan là chim mái. Phượng là chim trống; loan , là chim mái. Tác giả tự khiêm” trong hàng các quan của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.”

[66] Ngự đạo: 御道, đường đi của vua.

[67] Tức là: Muôn kỷ dao đồ: 閍紀遙圖, muôn=vạn=10.000, kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm. Dao đồ 遙圖, là cơ đồ tươi sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.

[68] Xán lạn: , Chói lọi, rực rỡ; huy hoàng. 



[1] Chín cõi: tức 9 quận là lãnh thổ cũa nước Việt xưa là: [1] Nam Hải, [2] Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay), [3] Thương Ngô, [4] Uất Lâm (Quảng Tây), [5] Chu Nhai, [6] Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam), [7] Giao Chỉ, [8] Cửu Chân (miền Bắc Việt Nam) và [9] Nhật Nam.

Hiện nay lãnh thổ Việt Nam chỉ còn có 3 quận là Giao ChỉCửu Chân và Nhật Nam(!!!)

[2] Đại trạch: lớn. Trạch: cái đầm lớn

[3] Kim ngưu, , Tương truyền, ngày xưa, ông Khổng Minh Không đúc 1 cái chuông lớn, khi dánh lên tiếng vang xa đến tận bên Tàu. Khi ấy có 1 con trâu vàng (kim ngưu) nghe tưởng mẹ nó kêu nên liền chạy sang tìm mẹ, chạy qua lại vòng quanh vùng đất xuất phát tiếng chuông, thành Hồ Tây ngày nay.

[4] Cao vương: , tức Cao Biền, Thái thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân.

[5] Hoàng đô: , kinh đô vua.

[6] Tinh chử: , bãi sông nước trong.

[7] Câu bạc: 沟泊, cái ngòi nước trắng bạc.

[8] Cao vương: , tức Cao Biền, Thái thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân.

[9] Thạch tháp: , tháp bằng đá.

[10] Thổ đôi: , gò đất.

      Xin cho thiển thổ một đôi

Gọi là đấp điếm cho người tử sinh.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2561-2562

[11] Mục Lang: , Chuyện Mục Thận đời Lý, theo sách Việt Điện U Linh: Một hôm vua Lý Nhân Tông đang ngự thuyền trên Hồ Tây, bỗng có sương mù dày đặc, thoáng có bóng một con hổ lớn, nhe răng muốn vồ nhà vua. Lúc ấy, Mục Thận đang đánh cá trên hồ, liền tung lưới bắt được con hổ. Con hổ đó hóa ra là Thái Sư Lê Văn Thịnh.

[12] Trấn vũ:   , là tên gọi tại Việt Nam của thần Chân Vũ, người Việt còn gọi là Trấn Võ, húy danh Chấp Minh (執明) là một trong những vị thần được thờ phụng phổ biến tại Trung Quốc và các nước Á Đông. Vị thần này tượng trưng cho sao Bắc cực, và là một vị thần lớn của Đạo giáo thống trị phương Bắc, kiêm quản lý các loài thủy tộc nên cũng được coi là thủy thần hay hải thần. Nguồn Wikipedia.

[13] Ghềnh Vạn bảo: , ghềnh có vạn của báu.

[14] Kim Liên: , sen vàng.

[15] Tĩnh phạn: , cõi Phật.

[16] Bố Cái: 布丐Bố Cái Đại Vương 布丐大王, là tên mà nhân dân suy tôn cho Phùng Hưng. Theo một số nguồn dã sử, Phùng Hưng sinh ngày 25/11 /760 (tức 5/1/761) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13/9/802), thọ 41 tuổi. Nguồn Soha.vn

[17] Bà Đanh: , Chùa Bà Đanh hay còn gọi “Bảo Sơn Nữ”, tọa lạc trên một vùng đất tại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam.

[18] Thạch Khối 石塊 là 1/16 cửa ô của Thành Thăng Long. Là lò nung vôi. Nay ở đầu dốc Hàng Than, sau đổi thành Nghĩa Lập. Nguồn Wikipedia.

[19] Ghềnh Nhật Chiêu 涼日招, là Nhật Tân ngày nay.

[20] Yên Thái 安泰, là làng chuyên làm giấy rất nổi tiếng, chủ yếu là giấy bạc và giấy moi.

[21] Nghi Tàm 宜蚕, là tên thôn thuộc tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận cũ, bám sát bờ đông hồ Tây, có một doi đất nhô ra. Nghi Tàm là một làng cổ, đời Lý đã có tên là phường Tích Ma tức gai sợi, đời Trần đổi ra Tầm Tang tức dâu tằm, sang đời Lê mới đổi là Nghi Tàm tức hợp với con tằm.

[22]Chùa Châu Long:  珠龍,  chùa toạ lạc trên một gò đất gọi là núi Châu Long ăn ra đến giữa hồ Trúc Bạch, huyện Vĩnh Thuận, nay ở số 44 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa đã có từ lâu đời, có tên chữ là Phúc Lâm tự, tương truyền do vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293) cho dựng để công chúa đi tu.

[23] Thú cổ: , tiếng trống đồn biên ải.

[24] Phục tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng sơn, 伏象山.

[25] Hàn châm: , chày lạnh, tiếng chày vang lên trong đêm lạnh, để giặt áo, đập ao, giã vật liệu gỗ thô để làm giấy.

[26] Nịnh Thích 甯戚, người nước Vệ, thời Xuân thu, vì nhà nghèo phải sang nước Tề ở chăn trâu cho người khác. Một hôm, Nịnh Thích gõ sừng trâu để hát, Tề Hoàn công đi qua, nghe tiếng hát lấy làm cảm động, liền dùng làm thượng khanh.

[27] Thương lang: 滄浪, con sông nơi Khuất Nguyên tự trầm.

[28] Chu Mãi Thần vì nghèo phải gánh củi đổi gạo sinh nhai nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi Thần làm đến chức thái thú, vợ quay lại, ông không chấp nhận.

[29] Bốn bạn: là ngư (đánh cá), tiều (đốn củi), canh (cày ruộng), mục (chăn nuôi).

[30] Núi Khán Sơn, , ở phía tây cửa cung vua ngày trước, chu vi hơn 20 trượng, là núi đất hơi cao, trên đỉnh nhọn, đời vua Lê Thánh Tông vẫn lấy núi ấy làm chỗ ngồi ngự để xem điểm binh, cho nên mới gọi là Khán Sơn”.

[31]Lãnh thố: 冷兔, thỏ lạnh, tức mặt trăng. 

[32] Làng Võng Thị, 廊望市 xưa kia có một số ít ruộng nằm ven hồ Tây, nên chỉ có một bộ phận rất nhỏ làm ruộng kết hợp thả sen; còn đa phần dân làng sống bằng nghề đánh cá trong hồ. Tên gọi “Võng Thị” xuất phát từ đặc điểm này (võng là lưới cá), nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Cũng có ý kiến cho rằng, từ xa xưa tại đây đã hình thành một chợ bán lưới đánh cá nên gọi như vậy.

[33] Hy Hoàng: 羲皇Vua Phục Hy và Hoàng Đế, thời thượng cổ nước Tàu. Đời Tấn, Đào Tiềm 陶潛, (? - 427), từ quan về ở Sài Tang, nằm ngủ cạnh cửa sổ, tự xưng là người của vua Hy, vua Hoàng.

[34] Song bắc: , bắc Song xử sĩ là biệt hiệu của Đào Tiềm đời Tấn, chỉ người có tài ẩn dật.

[35] Hai kho: 𠄩, gió và trăng.

Đành hay trời đất dành cho

Hai kho phong nguyệt nghìn thu hãy còn.

 Vịnh Tiền Xích Bích phú, Nguyễn Công Trứ, lấy ý của Bài Tiền Xích Bích phú  của Tô Thức ; ông tự là Tử Chiêm , quen gọi Tô Đông Pha, (1036-1101).

[36] Thanh ngu: 清娛, thanh lịch và vui vẻ.

[37] Quan Ngư: 觀漁, Xem đánh cá. Vua Trần Huệ Tông sai làm quán ở Hồ Tây để xem đánh cá.

[38] Long Khánh: 隆慶, mừng hưng thịnh, niên hiệu vua Trần Duệ Tông, (1373-1377).

[39] Dụ tượng:  諭象, dụ voi, xưa ở Hồ Tây có quả núi tên Phục Tượng sơn, tức là núi Voi phục.

[40] Kiền phù: 乾浮, Kiền Phù hữu đạo, niên hiệu của Lý Thái Tông (1039-1042)

[41] Bát vịnh du hồ: 八詠遊湖, Tám bài vịnh khi đi chơi trên hồ do chúa Trịnh sai các quan làm ra.

[42] Qui phúng: 歸諷phép tắc và bóng bẩy; lấy lời bóng bẩy mà khuyên người nên ăn ở cho phù hợp với phép tắc.

[43] Liên ngâm thưởng nguyệt: là bài thơ của bà Liễu Hạnh cùng làm với Phùng Khắc Khoan, ông họ Lý và một ông họ Ngô khi đi chơi trăng ở Hồ Tây.

[44] Giao phu: 交夫, đồng chí tín cẩn (chữ Kinh Dịch).

[45] Canh họa: 賡和, họa theo, nối theo bài thơ xướng.

[46] Tiêu tường: 椒牆, chốn thâm nghiêm; nổi bụi tiêu tường: có loạn.

[47] Hiệu khiết: 顥潔, trong sạch.

[48] Hoang khô: 荒枯, hoang vu và khô héo.

[49] Trì đàm: 池潭, ao đầm.

[50] Thanh quang: 清光, trong sạch và sáng sủa.

[51] Khoa đẩu: 蝌蚪, con nòng nọc.

[52] Phạm vũ: 範宇, nhà chùa.

[53] Tri thù: 蜘蛛, con nhện.

[54] Túc điểu: 宿鳥 chim ngủ.

[55] Du ngư: cá vui chơi.

[56] Đỗ vũ: 杜鵡, chim cuốc.

[57] Hà mô: 蝦蟆, con ễnh ương.

[58] Cày mây: cày dưới bóng mây

[59] Nghê: cầu vồng.

[60] Thơ thất nguyệt: tên một bài thơ trong Kinh Thư do Chu công làm ra nói những nỗi vất vả, gian nan khi xây dựng nhà Chu.

[61] Mục thụ: 牧豎, trẻ chăn trâu.

[62] Điếu nguyệt: 弔月, câu cá dưới trăng.

[63] Tam mô: ba thiên trong KinhThư: Vũ mô, Cao dao mô, Ích tắc mô. Chỉ những kế sách trị nước.

[64] Ve nhặng: chỉ bọn tiểu nhân.

[65] Trai cò 𫛈: bọn tranh giành. Lấy ý: bạn duật tương trì, ngư ông đắc lợi. Trai cò kình (chống) nhau, là cái lợi của ngư ông.

[66]Cao lưu 高流: chỉ người thượng lưu, quí phái.

[67] Chếch mác: 隻鏌 lầm lẫn, sứt mẻ, không vẹn toàn.

[68] Nhạo thủy: 樂水 thích nước, chỉ người trí thức: Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn. (Luận ngữ). 智者樂水,仁者樂.  Người trí thức thích nước, người có lòng nhân thích núi.

[69] Rạng quế: 瞆桂, mặt trăng tỏ rạng, sáng vằng vặc.

[70] Bay ngô: 哾梧, lá ngô đồng bay, tức mùa thu.

[71] Thành trĩ: thành cao 1 trượng, ngang 3 trượng (1 trượng=3m33)

[72] Tiêu lương: 蕭涼, cũng như thê lương, tiêu điều, quạnh quẽ.

[73] Hoắm: , sâu

[74] Năm Mậu Thân: 戊申, là năm 1788, Quang Trung xưng Hoàng Đế, kéo quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị.

[75] Tường vân:  祥雲 mây báo điềm lành, chỉ cảnh thái bình.

[76] Đãng địch: 盪敵, quét sạch giặc Tàu xâm lược là Tôn Sĩ Nghị.

[77] Năm Canh Tuất: 庚戌, là năm 1790, là năm sau chiến thắng quân Mãn Thanh xâm lược, Vua Quang Trung cầu phong nhà Thanh.

[78] Thời vũ: 時雨, mưa đúng thời, mưa thuận, trúng mùa, trăm họ yêu vui.

[79] Chiêm nhu hay triêm nhu: 霑需, thấm nhuần.

[80] Chốn bảy cây: xưa, 𦉱, nơi giáp nhau của Hồ Trúc Bạch và Tồ Tây, có 7 cây cổ thụ.

[81] Lăng vân: 凌雲, cao ngất tận mây, ý nói cao chót vót.

[82] Thương lão:  蒼老, già cỗi.

[83] Hí thủy:  戲水, vui đùa trong nước.

[84] Uyên ương: 鴛鴦, loài ốc, con đực là uyên; con cái là ương, thường ôm nhau không rời.

 Uyên ương ngoã lãnh sương hoa trọng

Phỉ thuỷ khâm hàn thuỳ dữ cộng

鴛鴦瓦冷霜華重,

翡翠衾寒誰與

Trường hận ca, Bạch Cư Dị. Nghĩa là:

Lớp sương nặng phủ trên mái ngói uyên ương giá ngắt

Tấm chăn cánh trả, lạnh như tiền, chung đắp cùng ai?

[85]Trầm phù: 沉浮, chìm nổi.

[86] Hoa thạch: 花石, hoa và đá.

[87] Trùng cầm: 虫禽, côn trùng và chim chóc.

[88] Nội Chu: 㘨周, Vua Vũ Vương nhà Chu thả trâu ngựa ra đồng, tỏ ý khong muốn động binh nữa.

[89] Kình ngạc: , cá kình và cá sấu, chỉ binh lính.

Ngất trời sát khí mơ màng,

Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2251-2252.

[90] Cô Trúc: 姑竹, nước của Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc.Hai ông nầy khinh Vũ Vương vô đạo, không thèm ăn thóc nhà Chu, lên núi Thú Dương ăn rau Vi, nhịn đói mà chết.

[91] Sào Do: , hai danh sĩ sống thời vua Nghiêu. Hứa Do người hiền được vua Nghiêu mời đến truyền ngôi nhưng ông từ chối và đi xuống sông Dĩnh Thủy rửa tai. Sào Phủ hỏi vì sao, Hứa Do thuật y lời. Sào Phủ bèn dắt trâu lên trên dòng sông, e rằng trâu uống nhằm phải nước rửa tai rất dơ. Sào Phủ còn nói thêm là ông làm sao cho người ta biết là người hiền mà truyền ngôi, phải chăng cái bụng ông vẫn còn ham danh lợi. Huỳnh Tịnh Của có phê: “Nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe”.

[92] Tây hữu: 西友, Chỉ Phật. Tây phương hữu thần, danh viết Phật, sách Hán sử. 西方有神, 名曰佛. Tây phương có thần linh, tên là Phật.

[93] Lũ Ngô hay Lũ Tàu, chỉ tàn quân Tôn Sĩ Nghị, chạy trốn về Tàu, được tha cho về nước; niệm Nam mô, ý ca ngợi Tây Sơn từ bi như Phật.

[94] Linh dị: 靈異, linh ứng dị thường.

[95] Hậu nhân: 厚仁, nguồn nhân hậu, nhân đức.

[96] Kim thang: 金湯, kim thành, thang trì: Xây thành bằng chất liệu kim khí, hào lũy nước nóng, ý nói thành rất kiên cố.

[97]Nước trí non nhân nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy, Luận ngữ: 者樂水,仁者樂. Người nhân thích núi, người trí trích nước.

[98]Biên ngu: 边嵎 góc núi hiểm trở, chốn biên ải.

[99] Thanh dung: 清容dáng vẻ thanh tao.

[100] Chính thống: 正統, triều đại khai sáng một cách quang minh chính đại. Trái ngược với ngụy triều, là không chính đáng như cướp ngôi, đoạt quyền (như nhà Hồ, nhà Mạc).

[101] Hoành mô: 橫模, qui mô rộng lớn.

[102] Kiền khôn hay càn khôn: 乾坤, trời đất.

[103] Đô du: tốt, phải lẽ. Vua – tôi tương đắc, lấy tích cách ứng xử của vua Thuấn-bề tôi.

[104] Bắc trạch: 北澤, nhà phương Bắc, chỉ hoàng cung.

[105] Ngưu chử: 牛渚 Bến Kim Ngưu gần Hồ Tây.

[106] Phương phu: 芳敷, hương thơm phô bày, bay xa.

[107] Hủ thảo: 朽草 cỏ mục. Người xưa tin rằng cỏ mục hóa thành đom đóm 𧍈 vào tháng 7; do đó có thơ Thất nguyệt trong kinh Thi, chỉ vương nghiệp bắt đầu.

[108] Tường vân: 祥雲mây báo điềm lành.

[109] Tua Rua: 𣌌, tên chòm sao xuất hiện vào tháng 6, tức là tiết mang hiện.

[110] Cấn tượng bốn hào:  艮像𦊚, Theo kinh Dịch, quẻ cấn, hào thứ tư nói về sự thành công.

[111] Tuế luật: 歳律 luật trời trong mỗi năm.

[112] Di tân: 彌新 theo tuế luật, Di tân chỉ tháng giêng, mở ra cho một vận hội mới.

[113] Vãng phục: 往復 qua rồi, trở lại.

[114] Doanh hư:  嬴虛, đầy vơi. Chỉ lẽ tuần hoàn.

[115] Lục âm: 陸陰, dưới đất, khí âm.

[116] Vạn phẩm: 萬品, vạn vật.

[117] Cửu đạo: 九道, chín đường đi của mặt trăng theo thiên văn học xưa.

[118] Thất chính: 七正, bảy thiên thể gồm mặt trời, mặt trăng và 5 thên thể khác như thất tinh.

[119] Đẩu khu: 斗枢, đẩu xu, then máy ở sao Bắc Đẩu.

[120] Khâm kính: 欽敬, khâm phục, kính trọng.

[121] Hạo đãng: 浩蕩, rộng rãi, khoảng khoát.

[122] Cung càn hay cung kiền: 恭乾kính cẩn chân thành.

[123] Linh u: 靈幽, linh thiêng, tối tăm.

[124] Ngọc bạch: 玉帛, ngọc và lụa.

[125] Thang Vũ: 湯禹, Thành Thang khai sáng nhà Thương; Vũ Vương khai sáng nhà Hạ, có công trị thủy.

[126] Đường Ngu: 唐虞, Đời nhà Đường và đời vua Nghiêu Thuấn được coi là thời đại hoàng kim trong cổ sử Trung Hoa.

[127] Huân phong: 薰風, Gió ấm dịu, mát mẻ. Gió Nam thổi mát, vua Thuấn gảy đàn và hát:” Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề”. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮. Gió Nam mát mẻ, có thể giải được sự nóng bức cho dân ta.

[128] Ngũ bái: 五拜, 5 lạy. Bề tôi phải lãy vua 5 lạy.

[129] Tam hô: , ba lần hô. Hán Vũ Đế vào núi nghe sơn thần tung hô 3 lần vạn tuế.

[130] Vũ lộ: 雨露, mưa móc, chỉ ơn vua.

[131] Uyên lộ: 鴛鷺, chim uyên và cò, thường đứng thành hàng như các quan khi chầu vua.

[132] Đan thành: 丹誠, lòng trung thành son sắt.

[133] Nghêu sò: 𧎷, chỉ hạng cùng dân, người hái rau, người cắt cỏ.

[134] Yêu mị: 妖魅, bọn gian nịnh.

[135] Thanh đạo: 青道, con đường sạch, chỉ chính sự đã thanh trừng, tảo thanh, khai quang.

[136] Tường quang: 祥光, ánh sáng báo điềm lành.

[137] Huyền lô: 玄蘆, cờ lau đen, cờ đen.

[138] Vu viên: 于園, hồng nhạn vu viên, chim nhạn về làm tổ ở vườn nhà. Ý nói dân chúng chạy loạn, trôi giạt, bây giờ cảm đức của vua, về nhà cũ an cư lạc nghiệp.

[139] Ê phù tại chử: 鷖鳧在渚, cò, vịt trời ở bến nước, Ca ngợi nền thái bình nhà Chu, Kinh Thi.

[140] Chu nhã: 周雅, thiên Đại Nhã trong kinh thi, ca ngợi thời thái bình thịnh trị nhà Chu.

[141] Nghiêu cù: 堯衢, đường đi dưới thời vua Nghiêu, chỉ cảnh thái bình phong túc: Đêm ngủ không đóng cửa, đi đường không ai lượm của rơi, vì ai cũng no đủ, không phải trộm cắp.

[142] Tạc canh: 鑿耕, tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực: 耕田, Đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn. Chỉ cảnh sống no đủ dễ dàng.

[143] Ca đồng, vũ tẩu: 僮舞, trẻ con ca, người già múa, vui cảnh thái bình.

[144] Động thực: 動植, động vật và thực vật.

[145] Bặt quỷ im hồ: 鬼庵, vắng bặt ma quỷ, hồ ly tinh đều im lặng.

[146] Lệnh tiết: 令節, tiết lành.

[147] Thái lãng: 太朖, thái bình và sáng sủa.

[148] Ghín: cẩn thận, răn giữ, từ cổ𡦂.

[149] Dự du: 豫遊, quá vui chơi.

[150] Chiếu thủy: 炤水, chiếu trong nước. Đèn chiếu thủy là 1 cây đèn thần, chiếu vào nước sẽ thấy toàn bộ các loài quái vật ẩn nấp trong đó.

[151]Kinh vị 涇渭, là 2 con sông, sông Kinh đục, sông Vị trong.

[152] Thôi hoa: 摧花, thúc giục hoa nở. Theo sách Nguyên Hòa Dị sử, đời Đường Minh Hoàng, ghi rằng, vua sai Cao lực sĩ đánh 1 hồi trống, khi đó các loài mai ở vườn ngự uyển đều nở hoa.

[153] Huân do: 薰蕕 là 2 thứ cỏ, huân, cỏ thơm; do, cỏ thối; chỉ kẻ tốt, người xấu.

[154] Giá sắc: , cấy và gặt.

[155]Dân phong cần noạ: 民風勤惰, thói dân siêng năng hoặc lười biếng; cần , siêng năng; nọa , lười biếng.

[156] Vật tính thanh ô: 物性清, tính của vạn vật, trong sạch hay dơ bẩn.

[157] Chiểu đài: 沼台, ao và nhà lầu, chỉ cảnh sống thái bình của Chu Văn Vương.

[158] Sĩ lộ: 士路 con đường tiến thân của kẻ sĩ, con đường làm quan.

[159] Thông trệ: 通滯trôi chảy thông suốt, đình đốn, bế tắc.

[160]Nơi háo nơi trù: 量人間尼好尼惆 nơi dư dật, nơi thiếu thốn.

[161] Thị thính: 視聽, thấy và nghe.

[162] Tu tề trị bình: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. 修身, 齐家, 治国, 平天下. Đó là con đường xuất xử của Nho sĩ.

[163] Mạch: , con đường nhỏ, bờ ruộng.

[164] Hang chuột ẩn, 𤝞 lỗ kiến đùn: 魯蜆吨, chỉ bọn nịnh thần, gian tà, phá hoại.

[165] Nguồn xô: 源趨, dòng nước chảy.

[166] Chi nhỏ: 𡮈, rất nhỏ.

[167] Thiển lậu: 淺陋, cạn cơt, quê mùa.

[168] Kỷ: , 1 kỷ có 12 năm.

[169] Hu lịch: 樗櫟, loài gỗ xấu, chỉ kẻ bất tài.

[170] Ngoại năm tuần: 𠄼, trên 50 tuổi.

[171] Bóng tang du: 𣈖桑柚, do câu nhật tạc tang du, 日胙桑, mặt trời ngã bóng trên đám dâu, Phương tây, chỗ mặt trời lặn gần sát đất, chỉ cảnh già.

[172] Phượng là chim trống; loan , là chim mái. Tác giả tự khiêm” trong hàng quan của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.

[172] Ly ngữ: 璃語, lời thơ trau chuốt.

[172] Ngự đạo: 御道, đường đi của vua.

[172] Vầng nhật: 暈日mặt trời, chỉ nhà vua.

[172] Thanh sơn: 青山, núi xanh.

[172] Muôn kỷ dao đồ: 閍紀遙圖,

muôn=vạn=10.000, kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm. Dao đồ 遙圖, là cơ đồ tươi sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.các quan của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.

[173] Ly ngữ: 璃語, lời thơ trau chuốt.

[174] Ngự đạo: 御道, đường đi của vua.

[175] Vầng nhật: 暈日mặt trời, chỉ nhà vua.

[176] Thanh sơn: 青山, núi xanh.

[177] Muôn kỷ dao đồ: 閍紀遙圖,

muôn=vạn=10.000, kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm. Dao đồ 遙圖, là cơ đồ tươi sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.