Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Bài 17, chương 5, Thơ Văn Phạm Thái: Sơn Âm Cổ Tự, Trương Quỳnh Như; Ngân Triều chú giải.

 

           [17] Sơn âm cổ tự [1]

Thích nhàn từng trải thú sơn hà,
Phong cảnh am mây mới gọi là…

Doành
[2] chở bè từ[3] vờn sắc ngọc,
Đỉnh in trăng tuệ
[4] tỏ màu hoa.
Véo von kệ sớm câu chim gióng,
Êm ái đàn Xuân khúc gió hoà.

Dù chẳng thần tiên nhưng chẳng tục,
Mới hay rằng Phật cũng là ta.

Trương Quỳnh Như.

Nguồn: Quách Tấn, Hương vườn cũ, NXB Hội nhà văn, 2007

*

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

      山陰古寺,

惕閒曾𣦆趣山河,

風景庵𩅹買噲𪜀.

𨔾𣙨慈援色玉,

頂印𦝄訴牟花.

𠶓𠹚𣋽𫚳,

㛪愛彈春曲𩙍.

油丕神仙仍丞俗,

買能㖫佛共𪜀𢧲

                            張瓊茹

Diễn ý bài thơ:

Thích nhàn từng trải qua thú du ngoạn núi sông,

Phong cảnh cái am cao ngất tầng mây, am mây mới gọi là…

Dòng nước, doành; chở bè lành, từ; lượn, vờn; trong sắc nước trong như ngọc,
Đỉnh núi in bóng vầng trăng khôn sáng,
tuệ; soi sáng tỏ sắc màu hoa.
Véo von hót sớm mai như câu kệ trỗi lên,
gióng.

Gió êm mát, gió hoà như một khúc đàn Xuân.

Dù không phải là thần tiên nhưng chẳng phải tầm thường, tục;
Mới hay rằng Phật cũng là ta
.

Nội dung bài thơ:

           -Hai câu đề: Giới thiệu bản thân tác giả và Sơn Âm cổ tự.

Bản thân đã từng đi vãng cảnh khắp nơi trên mọi miền đất nước.

Chùa Sơn Âm cổ tự thì ở trên núi, cao ngất tầng mây.

          -Bốn câu thực-luận: Những chi tiết độc đáo trên đường đi:

Chiếc bè lành, trôi trên dòng sông xanh biếc, nước trong veo như ngọc.

Đường đêm, ánh trăng soi lên đỉnh núi, ngàn hoa rực rỡ lộ ra.

Ban ngày, chim hót véo von như những bài kệ trỗi lên.

Gió Xuân êm mát, xuyên qua cành lá như đang hòa tấu một khúc nhạc.

          -Hai câu kết: Cảm nghĩ của tác giả:

Dẫu không phải là thần tiên hay khách tục nhưng lòng vui phơi phới vì “Phật tức tâm, tâm tức Phật[5] , 心即佛.

***

                               Chim hót véo von, câu kệ trỗi,

                               Êm mát gió Xuân, khúc nhạc hoà.

                               Dẫu chẳng thần tiên, không khách tục,
                               Rõ ràng lòng Phật, cũng lòng ta.

                                                 Ngân Triều, tranh có hỗ trợ của AI.

*
Ngân Triều cảm đề Sơn âm cổ tự:

Bước chân in dấu, khắp sơn hà,
Am ngất tầng mây, mới gọi là…

Bè từ[6] dòng biếc, trong như ngọc,
Trăng sáng đầu non, giác [7]sắc hoa.
*

Chim hót véo von, câu kệ trỗi,

Êm mát gió Xuân, khúc nhạc hoà.

Dẫu chẳng thần tiên, không khách tục,
Nghe như lòng Phật, cũng lòng ta.
[8]

                                                    Ngân Triều



Chú thích:
[1] Sơn âm cổ tự là một bài thơ nổi tiếng của nàng Trương Quỳnh Như, gắn liền với mối tình đầy nước mắt giữa nàng và nhà thơ Phạm Thái vào thời Tây Sơn. Bài thơ này mượn cảnh một ngôi chùa cổ trên núi cao để gửi gắm tâm sự u buồn, sự tĩnh lặng và khát vọng thoát tục của thi nhân trước nghịch cảnh cuộc đời.

Bối cảnh và ý nghĩa trong thơ Trương Quỳnh Như

·         Trương Quỳnh Như là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn ở Nam Định, có duyên gặp gỡ và xướng họa thơ văn với Phạm Thái (khi ấy đang cải trang làm nhà sư Phổ Chiêu).

·         Bài thơ Sơn âm cổ tự (Ngôi chùa cổ nơi núi vắng) nằm trong tập thơ lưu lại chuyện tình cảm động nhưng trắc trở của hai người. Chữ "Sơn âm" trong nhan đề vừa chỉ âm thanh của núi rừng, vừa gợi không gian tịch mịch, thâm nghiêm của chốn thiền môn thanh tịnh.

Không gian thiền vị trong bài thơ

·         Cảnh sắc u tịch: Bài thơ khắc họa hình ảnh ngôi chùa nằm ẩn hiện giữa chốn non cao nước biếc, tách biệt hoàn toàn với những ồn ào, bụi bặm và đau thương của cõi trần gian.

·         Tâm sự u hoài: Qua hình ảnh khói hương, chuông mõ và cảnh vật hoang sơ, bài thơ phản ánh nội tâm sâu kín, nỗi niềm cô đơn và bế tắc của người con gái tài hoa trước số phận ép duyên trớ trêu thời bấy giờ.

Ngôi chùa trong thơ Trương Quỳnh Như không chỉ là một địa danh vãn cảnh sơn thủy hữu tình, mà còn là chốn nương náu tâm hồn, là biểu tượng cho sự thanh cao nhưng bạc mệnh của nữ sĩ trước khi từ bỏ cõi đời trong bi kịch.

                Sơn âm cổ tự hiện nay vẫn giữ nguyên tên gọi là chùa Sơn Âm (hoặc Sơn Âm Tự) và tọa lạc tại xã Thanh Bình, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

[2] Doành (duềnh): , dòng nước.

         Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

ĐTTT, Nguyễn Du (1766-1820), câu 1053-1054.

[3] Bè từ: bè lành.

[4] Tuệ: , khôn sáng.

[5]Phật tức tâm, tâm tức Phật: 即心, 心即佛. Phật tức là những điều thiện ở trong lòng ta, những điều thiện ở trong lòng ta tức là Phật đấy.

[6] Bè từ:  Từ (trong Bè từ): Nghĩa là từ bi (lòng thương yêu, cứu độ chúng sinh). Chữ "từ" ở đây đóng vai trò tính chất của chiếc bè.  Bè từ (Từ hàng / Bè từ bi): Xuất phát từ điển tích Phật giáo coi Phật pháp như một chiếc bè cứu người qua sông mê sang bờ giác. Bản thân giáo pháp hoặc lòng từ bi của người tu hành được ví như chiếc bè nhẹ nhàng trôi trên "dòng biếc" thanh tịnh, trong ngần như ngọc.

[7] Trăng giác:  tức là"  vầng trăng tuệ giác",  trăng tuệ chiếu"   để biểu thị tâm hồn thanh tịnh và sự tỉnh thức.

[8] Phỏng dịch câu Phật tức tâm, tâm tức Phật, Nghe như lòng Phật, cũng lòng ta.    

 những điều thiện ở trong lòng ta tức là Phật đấy.


Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

Bài 14 , chương 5, Thơ Văn Phạm Thái: Thăm Chùa Non Nước, Trương Quỳnh Như; Ngân Triều chú giải.

                                                                                                                             Đăng sơn Dục Thúy thăm chùa cổ,                                                                                                                          Nước biếc non xanh, như cảnh tiên.                                                                                                                        Mây trắng một làn trông diễm ảo,                                                                                                                          Màn sa trang điểm cõi Nam thiên.                                                                                                                                     Ngân Triều; tranh có hỗ trợ của AI.

*
Bài 14

Thăm Chùa Non Nước

                          Trương Quỳnh Như

      Trèo lên Dục Thúy thăm chiền,

Non xanh nước biếc, cảnh tiên dưới trần.

      Thướt tha mây trắng một làn,

Như buông bốn phía cánh màn bạch sa.[1]

*

     Chim hót véo von chào khách,

     Cỏ thơm hớn hở mừng ai.

   Gió Thu rung động mấy cành mai,

     Khêu gợi hồn thơ lai láng.

   Cầm bút lạm đề[2] trên thạch tảng,[3]

     Một bài cổ tích cảm hoài.[4]

   Nào người tráng sĩ, kẻ văn tài,

Khôn hỏi nước non đâu tá?

Nguồn: Trích trong Phạm Thái và Sơ Kính Tân Trang, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon 1973, trang 178.

       Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

𠶀𡽫

 𨑗浴翠𠶀,

𡽫𩇛渃碧, 景仙𨑜.

   𢫌𩅹𤽸,

𦊚𠌨𦑃幔白紗.

*
𫚳𠶓𠹚嘲客,

     𩡋𢠦𢠇𢜠.

  𩙍搈動某梗梅,

     魂詩來𣼽.

  扲筆𨑗石磉,

     沒牌古感懷.

  𠊚 壯士仉文才,

     𠳨𡽫兜些.

                               張瓊茹

*

Ngân Triều cảm đề

Đăng sơn Dục Thúy thăm chùa cổ,

Nước biếc non xanh, như cảnh tiên.

Mây trắng một làn trông diễm ảo,

Màn sa trang điểm cõi Nam thiên.

*

Véo von chim hót chào tao khách,[5]

Hương cỏ lừng thơm ngát đón ai?

Gió Thu lay động mấy cành mai,

Đa đoan[6] đắm hồn thơ lai láng.

*

Phơi phới[7] mạn đề trên thạch tảng,

Cổ tích, thơ chở nỗi cảm hoài.

Nào ai tráng sĩ, kẻ văn tài:

- Đây Dục Thúy,[8] mà Nước Non đâu nhỉ?[9]

                                                                   Ngân Triều

***

Chú thích:
[1] Bạch sa: lụa trắng rất đẹp.

[2] Lạm đề: 濫題, đề không đáng. (nói khiêm tốn).

[3] Thạch tảng: tảng đá.

[4] Cổ tích cảm hoài: Những cảm xúc trữ tình trước nơi cổ tích.

[5] Tao khách: cùng nghĩa như tao nhân. Tao nhân là người hay thơ.

[6] Đa đoan: nhiều mối, nhiều nỗi.

[7] Phơi phới: hứng khởi nổi lên cách thanh thản nhẹ nhàng.

[8] Dục Thúy: 浴翠, Dục: toàn bộ, đẫm; thúy: màu xanh biếc. Dục Thúy là toàn màu xanh biếc.

[9] Cả câu là lời đưa duyên để kết thúc bài thơ tự do.