Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

Bài số 22, Chí Hiên tặng (2), Nguyễn Du, Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo.

 Bài số 22:

Chí Hieân taëng (2)
Chí Hiên tặng (2)
Nguyễn Du
Bài Chí Hiên tặng II. Nguyễn Du không trách móc nữa mà bày tỏ lòng mình:
Rủi may nào sá gì, nghĩ rằng cùng tắc thông, thông tắc biến, biến tắc hóa theo Kinh Dịch…
Ra Bắc phen này (1796) mong làm nổi việc,
Nghĩ lại việc vào Nam (1794) cũng hoài công, Hà Tỉnh chẳng ai theo, chẳng thể lập cứ địa chống Tây Sơn, cũng chẳng thể vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh…
Bạn thơ cũ nay đâu, ngồi uống trà một mình, uống bao nhiêu bình nước rồi ấm trà đã nhạt.
Quán trọ đêm qua năm canh không ngủ được vì manh áo quá mong manh, trời đã vào lập đông…
Trông ra sông hồ mù mịt sương khói từ biển thổi vào.
Người xưa Cổ Nguyệt đường lòng như tấm gương trong nào thấy đâu?
*
Chí Hiên tặng II, Nguyễn Du:
Rủi may nào sá nghĩ cùng thông,
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng.
Ra Bắc phen này mong nổi việc,
Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công.
Bạn thơ năm hết mâm trà lạt,
Quán khách canh chầy mảnh áo mong.
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể,
Nguyệt đường bao nã thấy gương trong
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
㩡𢆧芾咤𢣂窮通
諸𠴭知音祖𢚶𢙱
𦋦北畨尼懞挼役
𠓨南𡄎𠓀共壞工
伴詩𢆥盡𣙺茶𤁕
舘客更迡𤗖𥜌𤘁
憾洱矓𦋦模𤌋𣷭
月堂包那𧡊𨩍𤄯
*
Ngân Triều cảm đề Bài Chí Hiên tặng (2), 
                                               Nguyễn Du.
Rủi may nào sá tắc cùng thông,
Chưa phải tri âm để tỏ lòng.
Ra Bắc phen này lòng đã quyết,
Vào Nam, giúp Chúa, sự hư không.
Nhạt trà bằng hữu còn đâu nữa,
Đêm rét đơn y, ngủ chẳng xong.
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong?
*
Nguyễn Du tìm đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan cho Tây Sơn, nhà cao cửa rộng, chẳng kém gì các biệt thự các vị quan to thời trước:
Trên bờ sông Nhị nhà chen gần,
Đã chiếm cả thành hết cảnh Xuân,
Cầu gác Đông Tây cao ngất dựng.
Ở Quỳnh Hải, Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út cho Nguyễn Du và giao gia trang, năm 1797. Từ đây Mùa Xuân Quỳnh Hải, Quỳnh Hải nguyên tiêu, sau khi nếm trải phong trần, góc biển chân trời ba mươi tuổi, con thuyền lênh đênh của Nguyễn Du mới an phận cập bến hạnh phúc:
*
Quỳnh Hải Nguyên Tiêu
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên Xuân hứng, thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên?
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.
*
瓊海元宵
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年
*
Rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải
Nguyên tiêu lồng lộng khắp trời,
Trăng như người cũ, tuyệt vời không phai!
Trời Xuân ập xuống nhà ai?
Mấy ai tận hưởng trăng này xa xôi?
Tan nhà, huynh đệ chia phôi,
Bạc đầu căm giận tuổi đời ruỗi mau.
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Tấm thân tam thập lao đao cuối trời.
Ngân Triều dịch.
Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời Mười năm gió bụi có vợ con, dạy học, dạy văn và võ, hoàn tất Truyện Kiều.
Năm năm Quỳnh Hải (1797- 1802) Nguyễn Du đã giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn, Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ, học trò và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa ,bò, heo dâng sớ đón rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam thì gặp Vua Gia Long, vua phong ngay cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc, người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phù Dung nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.
***
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong? (NT)

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo, bài số 21, Chí Hiên tặng (1), Nguyễn Du.

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo,
Bài số 21:
Chí Hieân taëng (1)
Chí Hiên tặng (1)
Nguyễn Du
Sau khi gửi bài thơ này cho Hồ Xuân Hương năm 1795. Hồ Xuân Hương hiểu mối tình mình chỉ là giấc mộng. Nguyễn Du thôi làm Hồng Sơn Liệp Hộ mà làm Nam Hải Điếu Đồ, đi câu cá biển Nam Hải. Tâm sự Nguyễn Du lúc này trong bài Tạp thi I viết:
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử Đông hàn đoạt thiếu niên.
Tạp thi kỳ nhất, Nguyễn Du
*
Bạc đầu tráng sĩ ngửng trời than,
Dựng nghiệp mưu sinh thảy lỡ làng,
Thu Cúc, Xuân Lan thành mộng ảo.
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh…
Nhất Uyên dịch thơ
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
壯 士 白 頭 悲 向 天
雄 心 生 計 兩 茫 然
春 蘭 秋 菊 成 虛 事
夏 暑 東 寒 奪 少 年
雜 詩 其一 , 阮 攸
*
Nguyễn Du cho rằng chuyện tình của mình với cô Cúc làng Trường Lưu hay với Xuân Hương làng Nghi Tàm đều đã thành mộng ảo.Về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du tâm sự với người bạn cũ Thực Đình (bút hiệu có nghĩa là người ăn ở đình làng) Họp bạn khó tìm người mắt biếc.
Sau vụ khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, người sống sót chẳng ai dám tỏ một thái độ gì. Do đó Nguyễn Du không thể ở lại, dạy học, cũng không thể tìm ra thủ hạ, do đó, tôi bác bỏ đoạn gia phả Nguyễn Tiên Điền chép:
Nguyễn Du từ Hà Tỉnh dẫn thủ hạ mang quân lương ra tiếp rước Vua Gia Long. Và được đưa ra Bắc phong tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.
Bước đường tìm cách vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, có lẽ Nguyễn Du đã rơi vào bẫy của quan biên phòng của Hiệp Trấn Hà Tĩnh Nguyễn Văn Thận, nên thay vì vào Khánh Hoà, Nguyễn Du bị chở thẳng vào tù. Nguyễn Văn Thận nể tình bạn thân với Nguyễn Nể, và tài thơ văn Nguyễn Du nên chỉ cho ở tù sơ sơ mười tuần (ba tháng).
Trong Bài Cảm Hứng trong tù Nguyễn Du cho rằng nỗi lòng mình không ai biết:
Tâm sự chút lòng, ai biết tỏ,
Như sông Quế sâu dưới non Hồng.
Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, vua Gia Long tiến đánh, Thận thua trận chạy ra Thanh Hóa và bị giết ở đó.
Tin tức Nguyễn Du bị tù đã ra tới Thăng Long. Hồ Phi Mai lên đường về nhà chồng anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.
Nguyễn Du sau khi ra tù , ban đêm Nguyễn Du đã đi bộ trốn ra Thăng Long bài Dạ hành:
…
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu
Bạch đầu vô lại chuyết tang than
Dạ hành, Nguyễn Du
*…
Trăng xế biển Nam ngàn dặm chiếu,
Đường xa gió lộng một người trông.
Đêm đen mờ mịt bao giờ sáng
Đầu bạc mà còn vụng dấu thân.
Nhất Uyên dịch
*
Chữ Hán, Ngân Triều soạn
…
南溟殘月浮千 里
古陌寒風共一 人
黒夜何其迷失暁
白頭無賴拙藏 身
夜行, 阮 攸
*
Trên đường đi Nguyễn Du phải đi ăn xin: Bài Khất Thực, Nguyễn Du viết:
Khất thực
Tầng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên,
Triển chuyển nê đồ tam thập niên.
Văn tự hà tằng vi ngã dụng,
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên (lân)
*
Chống gươm ngạo nghễ thét trời xanh,
Ba chục năm trong bùn hôi tanh,
Chữ nghĩa ích gì cho cuộc sống,
Nào ngờ đói rách người thương tâm.
Nhất Uyên dịch thơ
*
Chữ Hán Ngân Triều soạn
乞 食
嶒 崚 長 劍 倚 青 天
輾 轉 泥 塗 三 十 年
文 字 何 曾 為 我 用
饑 寒 不 覺 受 人 憐
*
Đến Thăng Long Nguyễn Du đến một quán khách quen biết bên bờ Hồ Tây, chủ quán cho hay Xuân Hương Hồ Phi Mai đã đi lấy chồng, anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Chủ quán mời một bình trà, Nguyễn Du uống bao nhiêu lần, không tiền nên chỉ xin nước sôi uống trà lạt, ngồi viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên. Bài thơ oán trách Hồ Xuân Hương thậm tệ. Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn nhưng nàng vẫn trân trọng lưu trong tập thơ Lưu Hương ký.
*
Chí Hiên tặng I, Nguyễn Du.
Chữ giao nguyền với mấy năm tròn,
Xe nón tình kia mãi mãi còn.
Chẳng biết dạ người đen tựa mực,
Sao hay lòng khách thắm như son.
Còn tai chửa lãng lời vàng ngọc,
Có mắt mà xem mặt nước non.
Chớ trách chúa Xuân lòng mỏi mệt;
Mận đào được thế tiếng công môn.
Thơ chữ Nôm Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đã ghi trong Lưu Hương ký.
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
𡨸交𡅪唄買𢆥𧷺
車𥶄情箕買買群
拯别胣𠊚顛似墨
𫳵咍𢚸客𧺀如崙
群𦖻𣗓𢠯𠳒鐄玉
𣎏眜麻䀡𩈘渃𡽫
詛責主春𢙱痗瘼
槾桃得屉㗂公門
*
Nhất Uyên diễn ý
Đã giao du với nhau mấy năm tròn,
Thề thốt tình thâm giao xe, nón mãi mãi còn…
(Xe nón車𥶄 do chữ Xa lạp車 笠, theo sách Phong thổ ký, phong tục nước Việt thuần phác. Trong buổi sơ giao, hai bên làm lễ kết nghĩa thường có lời thề: Anh cỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau sẽ xuống xe vái chào tôi, anh cầm ô tôi cỡi ngựa, khi gặp nhau tôi sẽ xuống ngựa chào anh... Thơ Khổng Bình Trọng: Việc đời biến đổi khôn lường, chớ vì cởi xe mà khinh kẻ đội nón. Vì thế tình thân là xạ lạp chi giao, mối giao tình xe nón...)
Không biết tại lòng nàng tham giàu sang mà thay dạ đổi lòng, lòng đen tựa mực đi lấy chồng thầy thuốc,
Còn tôi mới ra tù, tình tôi vẫn thắm như son, một lòng yêu nàng.
Tai tôi chưa quên lời vàng ngọc của nàng,
Nàng có mắt hãy xem tôi làm nên sự nghiệp với nước non.
Chớ trách chúa Xuân, vì sợ chờ đợi tôi mà mỏi mệt, sợ lỡ thì.
Tình nàng sớm mận tối đào như thế có xứng đáng dòng dõi con nhà quyền quí chăng?
[Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn?]
*
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Ngân Triều cảm đề, bài Chí Hiên tặng (1):
Giao tình ròng rã mấy năm tròn,
Xe nón lòng đây vẫn mãi còn.
Sớm tối lòng ai đen tựa mực,
Bể dâu tình khách đỏ như son.
Đá vàng sao vội quên lời hẹn,
Chống mắt mà xem rỡ nước non.
Chớ trách chúa Xuân, chờ đợi lỡ,
Lẳng lơ ai dám rước, lầu son?
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình HXH và ND của TS Phạm Trọng Chánh.
***
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Đá vàng sao vội quên lời hẹn,
Chống mắt mà xem rỡ nước non.
Chớ trách chúa Xuân, chờ đợi lỡ,
Lẳng lơ ai dám rước, lầu son? (NT).

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo, bài số 20: Ký mộng, Nguyễn Du.

Bài số 20:
Kyù moäng
Nguyễn Du
Trước sự nguy cấp của tình hình Nguyễn Du, không biết hành động gì hơn, đã trả lời bài thơ này bằng bài Ký mộng:
Thời gian qua nhanh như nước chảy ngày đêm,
Anh như người du tử ở biệt mãi chốn quê hương.
Bao năm rồi không gặp mặt lại,
Nói làm sao hết những nhớ thương,
*
Chỉ còn biết gặp nhau trong mộng,
Đêm qua anh mơ thấy rõ ràng,
Em đến tìm anh nơi bến sông Giang Đình.
Dung nhan vẫn như ngày xưa,
*
Áo tứ thân không buồn chăm sóc.
Thoạt tiên em kể nỗi đau ốm,
Rồi than thở những ngày xa nhau,
Sụt sùi không nói hết, như cách một bức màn.
*
Bình sinh em không thuộc lối,
Mộng hồn không biết thực hay không.
Núi Tam Điệp nhiều hổ trĩ,
Sông Lam lắm cá sấu.
*
Đường đi hiểm trở khó khăn,
Không biết có nhờ cậy ai ?
Mộng đến ngọn đèn cô đơn giọi sáng,
Mộng tan gió thổi lạnh lùng.
*
Người đẹp của lòng anh không thấy nữa,
Lòng anh rối như tơ vương.
Nhà trống ánh trăng xế soi vào,
Chiếu trên tấm áo cô đơn của anh.
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
Kyù moäng
Thệ thủy nhật dạ lưu,
Du tử hành vị qui.
Kinh niên bất tương kiến,
Hà dĩ uý tương ti (tư).
*
Mộng trung phân minh kiến,
Tầm ngã giang chi mi.
Nhan sắc thị trù tích,
Y sức đa sâm si.
*
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn,
Kế ngôn cửu biệt ly.
Đái khấp bất chung ngữ,
Phảng phất như cách duy.
*
Bình sinh bất thức lộ,
Mộng hồn hoàn thị phi.
Điệp sơn đa hổ trĩ,
Lam Thủy đa giao ly.
*
Đạo lộ hiểm thả ác,
Nhược chất tương hà y ?
Mộng lai cô đăng thanh,
Mộng khứ hàn phong xuy,
*
Mỹ nhân bất tương kiến,
Nhu tình loạn như ti.
Không ốc lậu tà nguyệt;
Chiếu ngã đan thường y.
Nguyễn Du
Bản chữ Hán, Thi Viện:
記夢
逝水日夜流
遊子行未歸
經年不相見
何以慰相思
*
夢中分明見
尋我江之湄
顏色是疇昔
衣飭多參差
*
始言苦病患
繼言久別離
帶泣不終語
彷彿如隔帷
*
平生不識路
夢魂還是非
疊山多虎廌
藍水多蛟螭
*
道路險且惡
弱質將何依
夢來孤燈清
夢去寒風吹
*
美人不相見
柔情亂如絲
空屋漏斜月
照我單裳衣
Người vợ trước của Nguyễn Du là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn, đã mất ở Quỳnh Hải, Thái Bình. Lúc này Nguyễn Du ở Hà Tĩnh chiêm bao thấy vợ. Ông nghĩ lúc sống bà chưa biết đường làm sao tìm được ông trong giấc chiêm bao.
Tham khảo: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn Nghệ, 2007
*
Ghi lại giấc mộng
Dòng nước ngày đêm chảy,
Người biệt chốn cố hương.
Bao năm không gặp mặt,
Làm sao hết nhớ thương ?
*
Trong mộng rành rành thấy,
Tìm ta nơi bến sông,
Dung nhau vẫn như trước,
Y trang buồn biếng chăm.
*
Trước kể nỗi đau ốm,
Rồi than những ngày xa,
Nghẹn ngào không nói hết,
Dường cách bức màn sa.
*
Bình sinh không thuộc lối,
Mộng hồn biết thật chăng ?
Núi Điệp đầy hổ báo,
Sông Lam lắm thuồng luồng.
*
Đường đi thật hiểm trở,
Phận gái nhờ ai không ?
Mộng đến đèn côi sáng.
Mộng tan gió lạnh lùng.
*
Giai nhân nào thấy nữa,
Lòng ta rối tơ vương.
Nhà trống vầng trăng xế,
Soi manh áo cô đơn.
(Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ)
*
Nhà trống bóng trăng xế,
Lồng bóng manh áo đơn. (NT)
Tranh có hỗ trợ của Gemini.
*
Ngân Triều cảm đề, bài Ký mộng:
Thời gian như nước chảy,
Biền biệt mãi quê hương.
Bao năm rồi không gặp,
Làm sao vơi nhớ thương,
*
May ra là mộng tưởng,
Đêm qua thấy rõ ràng,
Gặp nàng nơi Giang Đình.
Vẫn dung nhan ngày cũ,
*
Áo tứ thân xốc xếch,
Nàng kể nỗi ốm đau ,
Than thương nhớ xa nhau,
Khuất màn không nói hết.
*
Bình sinh không biết lối,
Nàng đến, biết thực không?
Tam Điệp nhiều hổ báo,
Lắm cá sấu đường sông
*
Đường hiểm trở khó khăn,
Liễu yếu cậy ai thân?
Cầu có đèn soi sáng,
Gió lạnh lùa mộng tan!
*
Còn tình nào hơn thế?,
Ngơ ngẩn buồn nào hơn.
Nhà trống bóng trăng xế,
Lồng bóng manh áo đơn.
*
Bài thơ này, ông Đào Duy Anh cho rằng Nguyễn Du nhớ vua Lê Chiêu Thống; ông Trương Chính, Lê Thước lúc đầu cho rằng nhớ người bạn cũ, sau đó cho rằng nhớ vợ (em gái Đoàn Nguyễn Tuấn). Các bản khác đều cho như thế. Riêng tôi (TS Phạm Trọng Chánh), chứng minh bài này Nguyễn Du nhớ Xuân Hương, Hồ Phi Mai.
Hồ Xuân Hương đã nhận được bài thơ này, nên trong bài: Cảm Cựu Kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu, gửi Nguyễn Du năm 1813. Hồ Xuân Hương đã nhắc lại bằng câu: Giấc mộng rồi ra nửa khắc không. Xuân Hương đã hiểu Nguyễn Du khi viết: Mộng đến đèn côi sáng, mộng tan gió lạnh lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương. Nguyễn Du đã xem cuộc tình ba năm với Xuân Hương, Hồ Phi Mai, như một giấc mộng.
Bài Tạp Thi (I) , Nguyễn Du cũng xem cuộc tình với cô Xuân Hương làng Nghi Tàm, hay cô Cúc làng Trường Lưu đều là mộng ảo. Xuân lan, thu cúc, thành mộng ảo (Xuân lan thu cúc thành hư sự.)
Dù còn yêu, nhưng biết rằng tình yêu không lối thoát, Nguyễn Du không thể nào cậy mai mối hay người thân đến cưới hỏi, ít ra Nguyễn Du cũng còn mấy bà chị dâu, hay chị ruột ở Thăng Long? Ba đồng một miếng trầu cay, Sao anh không hỏi những ngày còn không ?
Tin Nguyễn Du bị bắt giam tại Hà Tĩnh ra đến Thăng Long. Bà Đồ Diễn thôi thúc con gái lấy chồng. Phạm Đình Hổ trong bài Hoài cổ ( Nhớ xưa), mượn ý thơ Thôi Hộ, đã trêu nàng:
Hoài cổ
Năm xưa hoa đào nở,
Em tôi học cài trâm.
Năm nay hoa đào nở,
Mẹ gả xóm Tây gần,
*
Năm nay hoa đào nở,
Gió Xuân sao lạnh lùng.
Em nhìn hoa mà khóc,
Sầu vương nét mi cong.
*
Năm nay đào lại nở,
Cỏ xuân mượt trời mơ.
Bên hoa em cười nụ,
Ngâm thành tự đề thơ.
***
Nguyên văn chữ Hán
Khứ tuế đào hoa phát,
Lân nữ học sơ kê.
Kim tuế đào hoa phát.
Dĩ giá lân gia Tây; (tê)
*
Kim tuế đào hoa phát,
Xuân phong hà thê thê,
Lân nữ đối hoa khấp,
Sầu thâm mi chuyển đê...
*
Kim tuế đào hoa phát,
Xuân thảo hà thê thê.
Lân nữ đối hoa tiếu,
Ngâm thành thủ tự đề
(Phạm Đình Hổ. Tuyển tập thơ văn ; nxbKHXH 1998.)
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
懷古
去歲桃花發,
鄰女學初笄.
今歲桃花發,
已嫁鄰家西.
*
今歲桃花發,
春風何淒淒.
鄰女對花泣,
愁深眉轉低
*
今歲桃花發,
春草何淒淒.
鄰女對花咲,
吟成首自題
***
Ngân Triều cảm đề
Nhớ xưa hoa đào nở,
Em còn tập cài trâm.
Năm nay đào lại nở,
Xuất giá bên nhà gần.
*
Nhớ xưa hoa đào nở,
Gió Xuân đưa lạnh về.
Nhìn hoa em giọt tủi,
Sầu cúi đầu tái tê.
*
Năm nay đào lại nở,
Cỏ Xuân sao bơ phờ.
Nhìn hoa cười hớn hở,
Viết thành một bài thơ.
***
Nguyễn Du phúc đáp bằng bài thơ Ký Mộng, mơ thấy Xuân Hương, bỏ mẹ, bỏ lớp dạy trẻ , vượt đèo Tam Điệp đầy hổ báo, vượt Sông Lam lắm cá sấu, đường đi thật hiểm trở, vào Hồng Lĩnh thăm mình. Tỉnh dậy viết bài Ký mộng gửi Xuân Hương, nên năm 1813 khi tình duyên tan vỡ, đò đã qua mấy chuyến, trong bài Cảm Cựu Kiêm Trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu, mừng chàng làm Chánh Sứ: Xuân Hương nhắc lại:
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không .
Đáp lại các câu thơ:
Mộng đến ngọn đèn sáng,
Mộng đi gió lạnh lùng,
Giai nhân nào thấy nữa,
Lòng ta rối tơ vương.
Ngày trước ông Đào Duy Anh, trong cuốn Khào luận Truyện Kiều căn cứ vào câu Du tử hành vị quy, cho rằng Nguyễn Du nhớ vua Lê Chiêu Thống. Các ông Lê Thước, Trương Chính trong thơ Chữ Hán Nguyễn Du cho rằng nhớ một người bạn cũ, sau đó lại cho rằng nhớ người vợ trước em Đoàn Nguyễn Tuấn. Riêng tôi, (TS Phạm Trọng Chánh), Nguyễn Du không gọi là hiền thê, vợ hay bạn hay vua mà gọi là mỹ nhân, Mỹ nhân đó chính là Xuân Hương, Hồ Phi Mai, lúc đó Nguyễn Du còn cô đơn chưa vợ. Ba mươi tuổi Nguyễn Du mới về Quỳnh Hải cưới vợ, lúc ở Hồng Lĩnh chỉ ở một mình bếp lạnh hoang vắng.
Nguồn: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh