Những bài thơ xướng-họa của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như, bài 15 và 16.
Bài 15
Ngày Xuân uống rượu (@)
Phạm Thái
Có rượu, có thơ Xuân ý vị,
Ngày nào trời cũng ánh Thiều quang.
Tranh minh họa Google
Hơi Xuân hây hẩy động rèm dương[1],
Thổi gợn lăn tăn nước rượu vàng.
Rạng rỡ tiên hoa[2]
khoe tử sắc[3],
Nồng nàn thánh tửu tỏa mê hương[4].
Đầu xanh trước gió lao đao[5]
chuyển,
Tóc bạc sau mày lỏa tỏa[6]
vương.
Có rượu, có thơ, Xuân có mãi,
Trăm năm ba vạn sáu thiều quang[7].
Phạm
Thái, (範泰, 1777-1813)
---------------
Chú thích
(@) Trích đăng lại bài 14, chương II, trang, thơ họa
của Trương Quỳnh Như.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
𣈜春𠶖溜
唏春希海動帘陽,
𠺙湎漣㳯渃溜黄.
𠓁焒仙花恗茈色,
濃難聖酒鎖醚香.
頭𩇛畧𩙍撈忉轉,
𩯀白𢖕𣭒蠡鎖𥿁.
固溜, 固詩, 春固買,
𤾓𢆥𠀧萬𦒹韶光.
Diễn ý bài thơ
Hương mùa Xuân theo gió nhẹ, lay động bức rèm che nắng,
Làm gợn sóng lăn tăn trên nước rượu màu vàng trong
chun rượu. (E là rượu Cúc)
Tươi sáng, hoa tiên đẹp tuyệt vời, như tiên, khoe sắc
tía,
Đậm đà, rượu thánh tỏa mùi ngất ngây.
Đầu xanh trước gió, cử động cách nhọc mệt,
Tóc rối đã bạc sau mày phất phơ.
Ta có rượu, có thơ thì mãi có mùa Xuân,
Vậy là đời người ngày nào cũng là ngày của mùa
Xuân.
Hương Xuân khe khẽ lay rèm nắng,
Gợn sóng lăn tăn cốc rượu vàng.
Ngoạn mục hoa tiên khoe sắc tím,
Đậm đà rượu thánh ngất ngây hương.
Đầu xanh trước gió nghe choang choáng,
Tóc bạc rối dài phơ phất vương.
Có rượu, có thơ Xuân ý vị,
Ngày nào trời cũng ánh Thiều quang.
***
[15bis]
Bài họa “Ngày Xuân uống rượu” của Phạm Thái
Trương Quỳnh Như
(Hoạ nguyên Vận)
Rực rỡ trời xuân
ánh thái dương,
Xuyên qua chén
rươu nhuốm màu vàng.
Hoa xuân kín đáo
thầm phong nhụy,
Men rươu nồng nàn
ngát tỏa hương.
Má phấn say xuân
hây ửng đỏ,
Thơ tình thiếu rượu
rối vân vương,
Tìm vần trong rượu
vần không thấy,
Chỉ thấy xuân đầy
vẻ diễm quang.[8]
Nguồn:
-Trích Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưng, chương 46: Kén Rể.
-Trích Phạm Thái và Sơ Kính tân trang, trang 177, Nguyễn Văn
Xung, nxb Lửa Thiêng, Saigon, 1973.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
和𣈜春𠶖酒
𤊧焒𡗶春映太陽,
串過𡓥酒洳牟黄.
花春謹到啿封蕊,
𥾃酒濃難吃鎖香.
媽瀵𫑹春希怏𧹥,
詩情少酒𦆹雲𥿁.
尋韻𥪝酒韻空𧡊,
只𧡊春菭𡲈豔光.
Ngân Triều cảm đề
Trời xuân rực rỡ ánh thái dương,
Lóng lánh giao thoa chén rượu vàng.
Hoa xuân khép kín ngầm phong nhụy,
Men rượu thơm nồng tỏa ngát hương.
*
Má phấn men xuân hừng ửng đỏ,
Thơ tình thiếu rượu bí vần thương.
Tìm vần trong rượu vần chưa đến,
Chỉ thấy xuân đầy ánh diễm quang.
. ***
[15’ bis] VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (@)
Thơ Thuận nghịch độc.
(Đọc xuôi,à thơ chữ Nôm,
Đọc ngượcß là bài thơ chữ
Hán)
Đọc xuôi:
Thanh Xuân tỏa liễu lãnh tiêu phòng,
Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.
Thanh dạng đổ liên phi phất lục,
Đạm hy tàn cúc thái sơ hoàng.
Tình si dị tố liêm biên nguyệt,
Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.
Tranh khúc cưỡng khiêu sầu mỗi bận,
Oanh ca nhật vĩnh các tiêu hương.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
青春瑣柳冷椒房,
錦柚停針𥃷點粧.
青样杜蓮非彿綠,
淡希殘菊彩初黄.
情痴易訴帘边月,
夢促曾僚帳嵿霜.
筝曲強挑愁每遍,
鶯歌日永閣椒香.
範泰, (1777-1813)
Đọc ngược
Bản dịch của Phạm
Thái:
Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh
Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh
Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng
Nguyệt bên rèm, tỏ dễ si tình
Vàng tha thướt, cúc tan hơi đạm
Lục phất phơ, sen đọ rạng thanh
Trang điểm ngại chăm, dừng trục gấm
Phòng tiêu lạnh lẽo khoá Xuân xanh.
Phiên âm Hán Nôm,
Ngân Triều soạn:
香椒閣永日歌鶯
遍每愁挑強曲筝.
霜嵿帳僚曾促夢,
月边帘訴易痴情.
黄初彩, 菊殘希淡,
綠彿非, 蓮杜样青.
粧點𥃷針停柚錦,
房椒冷柳瑣春青.
範泰, (1777-1813)
(@) Giai thoại
kể rằng một hôm Phạm Thái ngồi uống rượu với Kiến Xuyên hầu. Kiến Xuyên hầu
trông vào bức tranh tố nữ, bảo ông thử uống cạn mười chén, vịnh thơ một bài. Phạm
Thái vâng mệnh, cất bút thảo luôn bài này. Hầu xem xong thích lắm, khen là
“thanh quan thắng tuyệt”
青觀勝捽, (trong sáng tuyệt vời), từ đấy hầu có ý
muốn gả con gái là Trương Quỳnh Như cho Phạm Thái, vì cũng biết là hai người đã
yêu nhau. Tuy nhiên, bà mẹ Quỳnh Như không bằng lòng. Sau Quỳnh Như bị ép gả
cho một người khác, nàng liền tự tử. Từ đấy Phạm Thái buồn bã, chán nản, đi
lang thang đây đó, uống rượu làm thơ, tự xưng là Chiêu Lỳ.
Đây là một bài thơ theo lối thuận nghịch độc,
đọc xuôi bằng chữ Hán, đọc ngược bằng chữ Nôm. Bản dịch chính là bản đọc ngược
của bài thơ bằng chữ Nôm.
Ảnh Sông Nhị hay sông Hồng,
Google.
Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,
Nước Nam sừng sững sách trời còn.
Ngân Triều.
[16] Họa bài VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (*) của Phạm Thái:
Véo von[9] bên liễu tiếng hoàng
oanh,
Khuyên khách đừng quên chí chiến tranh.
Giữa lúc nước nhà đang hoạn nạn,[10]
Phải khi tráng sĩ vướng tơ tình?
Sông trôi đất Bắc in dòng đỏ,
Núi đứng trời Nam nhuộm vẻ thanh.
Khúc khải hoàn ca rồi mạnh mẽ,
Phòng tiêu[11] đầm ấm rạng ngày xanh.
Trương
Quỳnh Như
Phiên âm Hán Nôm,
Ngân Triều soạn:
𠶓員边柳㗂黄鶯,
勸客停𠅳志戰爭.
𠁹𣅶渃茄當患难,
沛欺壯士𥿁絲情?
滝㵢坦北印𣳔䚂,
𡶀𥪸𡗶南染𡲈青.
曲凱還歌耒猛瑪,
房椒淫喑𠓁𣈜𩇛.
張瓊茹
Diễn ý bài thơ:
Bên
rặng liễu, có tiếng hót cao và thanh, véo von con chim hoàng oanh nào,
Khuyên người khách đừng quên nhiệm vụ chiến tranh.
Trong lúc đất nước đang tung trời khói lửa, điêu linh,
Mà chi, tráng sĩ đã lụy vào vòng tình ái?
Kìa, đất Bắc, dòng sông trôi in màu đỏ,
Nọ, núi trời Nam nhuộm màu xanh thanh tú.
Chừng nào chiến thắng trở về, khúc khải hoàn ca, tưng bừng,
Chúng ta sẽ chung một phòng tiêu ấm áp, rạng rỡ ngày xanh.
Rặng liễu hoàng oanh hót véo von,
Chiến tranh nhắc nhở chí hằng toan.
Những đau vận nước, thương dân khổ,
Chớ đắm biển tình, đuối phấn son.
Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,
Nước Nam sừng sững sách trời còn.
Khải hoàn vang dội mừng Xuân mới,
Là lúc tưng bừng phượng với loan.
[2] Tiên hoa: hoa đẹp như hoa cõi tiên.
[3] Tử sắc: sắc tía.
[4] Mê hương: mùi hương ngất ngây, mê say.
[5] Lao đao: nhọc mệt, choáng váng.
[6] Lỏa tỏa: lôi thôi, lòng thòng.
[7] Thiều quang: ánh sáng của sao Thiều, là sao chiếu
sáng trọn mùa Xuân ba tháng.
Ngày Xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chin chục, đã ngoài sáu mươi.
ĐTTT, Nguyễn Du
[8] Diễm quang: ánh sáng tươi đẹp, rực rỡ.
[9] Véo von: tiếng chim hót cao và thanh.
[10] Hoạn nạn: lo lắng, tai nạn.
[11] Phòng tiêu: phòng sơn bột hạt tiêu cho ấm, thường
thấy ở các nhà giàu sang, quyền quý.