Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 25 & 26 (tiếp theo)

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 25 & 26 (tiếp theo)

Bài số 25:
 
Caûm  cöïu  kieâm trình
Caàn  Chaùnh  Hocï Só  Nguyeãn  Haàu

                                                                                    Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương gặp Nguyễn Du trên đường đi sứ năm 1813..

 

Tháng 2 năm Quí Dậu 1813 Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Học Sĩ tước Du Đức Hầu, được chọn làm Chánh Sứ đi tuế cống triều nhà Thanh.Thiêm sự Bộ Lại Trần Văn Đại, Thiêm sự Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong làm Phó Sứ. Cống phẩm gồm: 200 lạng vàng, 1000 lạng bạc, lụa và cấp mỗi thứ 100 cây, hai bộ sừng tê giác, 100 cân ngà voi, 100 cân quế; Sứ đoàn gồm 27 người, đi đến mỗi địa phương đều có bàn hương án và quan quân hộ tống. Đoàn đi từ Phú Xuân đến Vị Hoàng bằng thuyền và từ đó đi đường bộ. Theo gia phả con đầu là Nguyễn Tứ, 12 tuổi, có theo cha đi sứ.

Tin này ra đến Thăng Long, Hồ Xuân Hương đã gửi đến Nguyễn Du bài thơ: Cảm cưụ kiêm trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu (Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân). Bài thơ này là một chứng cớ rõ ràng, không thể chối cải, nhưng thoạt đầu chẳng mấy ai tin. Ngay cả Xuân Diệu đọc bao nhiêu lần cứ viết: Xuân Hương phục người có tài hơn mình. Chẳng ai tin việc này, vì là thật nó kéo theo sự sụp đổ của một Hồ Xuân Hương dâm tục cả thế kỷ đã bàn tán và viết về nàng. Có thể toàn bộ sách giáo khoa viết về Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du phải viết lại.

Chàng đi sứ hoàng hoa, xa quê hương, nơi đất khách ngàn dặm lòng em muôn nghìn nỗi nhớ nhung.

Mượn ai tới đó để gửi thơ cho chàng, nói rõ tấm lòng em.

Chữ tình đôi ta ba năm trọn vẹn (1790-1793),

Nhưng rồi tình như mộng như bài thơ Ký Mộng chàng đã gửi cho em, tan mộng rồi chẳng còn thấy nhau.

Em trộm mừng cho chàng từ ngày ra làm quan, hãnh tiến, xe ngựa đưa đón, có nhiều thê thiếp, nhiều mối duyên tình.

Riêng phận em là  gái, phấn son càng tủi cho mình số kiếp long đong.

Biết chàng có bịn rịn vấn vương đến mối tình em,

Nơi Cổ Nguyệt đường, em vẫn mãi cùng  đèn  in  bóng,  bâng khuâng thao thức, suốt năm canh.

 Nguồn: TS Phạm Trọng Chánh, Mối tình của Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du.

      


                                                         Giấc mộng rồi ra nửa khắc không, Google

 

Nhôù   Ngöôøi   cuõ  [1]

Viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu Tiên Điền

Nghi Xuân (tức Nguyễn Du)

                                                           H Xuân Hương

Dặm khách [2] muôn nghìn nỗi nhớ nhung,   

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.                 

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,                  

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không        

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,[3]       

Phấn son càng tủi phận long đong [4]    

Biết còn mấy chút sương siu mấy,[5]          

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.[6]  

[*] Đăng lại bổ sung bài nhớ người cũ trang 244]

Văn bản chữ Nôm Ngân Triều soạn:

   𢘾  𠊚  𡳰

𨤮       𠦳   𢘾 

       𠳚   

𡨸       𠀧  𢆥 

𠺵   𠱤  𦋦     

𦀺      𢜠  沿    𨃺

      𢣃      𢫝

           

    𠄼       

*

Đại ý:(1-2) :Nỗi nhớ nhung mênh mông.

 (3-4) Tình và mộng.

 (5-6): Trộm mừng và tủi phận.

 (7-8) Nỗi niềm của tác giả.
Diễn ý:

     Người đi sương gió, dặm khách xa xăm; người ở chạnh lòng, nhớ nhung muôn nỗi.

     Biết có ai đi đến nơi ấy, để gửi bao thương nhớ cho cùng.

     Chuyện tình mình gắn bó đến nay, phút chốc đà ba năm vẫn vẹn.

     Thường gặp nhau trong giấc mộng vàng; chợt tỉnh mộng chỉ là hư ảo!

     Trộm mừng người công danh hãnh tiến; tơ duyên nay đông đúc vui vầy.

     Cảm nỗi phận mình, tủi cho số kiếp long đong.

     Vương vấn lòng, biết còn mảy may nào không nữa?

     Trên lầu nguyệt, năm canh, chỉ mình ta với chiếc bóng soi.

 

                                                                        Ảnh minh họa, Google

\Thái Hy họa thơ:

Dặm khách người đi, bao nhớ nhung,

Biết ai đem đến gửi cho cùng.

Ba năm chốc đã… tình luôn vẹn,

Chợt tỉnh bàng hoàng, ảo mộng không.

Tấp nập trộm mừng duyên hãnh tiến,

Lẻ loi càng tủi phận long đong. 

Có còn mấy chút vương thương nhớ?
Lầu nguyệt năm canh trơ bóng chong.

*

                                    


Long đong còn chút vương thương nhớ!

Thương nhớ canh tàn trơ bóng chong.

                                                      Ảnh minh họa Google.

*

Ngân Triều họa thơ:

Dặm khách sơn khê, bao nhớ nhung,

Nhớ nhung ai biết gửi cho cùng.

Cho cùng thương nhớ, ba năm vẹn,

Năm vẹn bàng hoàng, giấc mộng không.

Giấc mộng trộm mừng duyên thuận nẻo,

Thuận duyên càng tủi phận long đong.

Long đong còn chút vương thương nhớ!

Thương nhớ canh tàn trơ bóng chong.

 

   *****

Bài số 26:
Möøng gaëp baïn ôû soâng Hoaøng.

   Hồ Xuân Hương       

Sứ đoàn từ Phú Xuân đến Thạch Đình sông Hoàng Giang, một cuộc tiếp rước long trọng của quan Tổng Trấn Bắc Thành bấy giờ là Nguyễn Huỳnh Đức và quan Tổng Hiệp Trấn (Phó) Lê Chất. Xe ngựa, lính hầu đi chật đường đưa từ Thạch Đình về dinh Tuyên Vũ. Qua mỗi địa phương đều có bàn hương án quan huyện, trấn tiếp rước… Thời gian Nguyễn Du đi sứ là 12 tháng rưỡi.. Từ Lạng Sơn đến Bắc Kinh, các quan địa phương Trung Quốc chu cấp nơi ăn ở, tiếp rước. Qua cửa Nam Quan  đi Quế Lâm đến Võ Xương rồi đến Bắc Kinh. Tôi đã đi lại cuộc hành trình này năm 2009 để dịch toàn bộ các thơ Nguyễn Du trên đường đi sứ, so sánh thời nay và những điều Nguyễn Du mô tả.

Hồ Xuân Hương đã đến sông Hoàng Giang chờ đợi từ nhiều ngày đầu tháng 4 năm Quý Dậu, gặp lại Nguyễn Du sau hai mươi năm từ biệt cũng bến sông này, nơi Thạch Đình từ biệt năm xưa… Nhưng than ôi, Hồ Xuân Hương chỉ trông thấy Nguyễn Du từ xa, nào dám lại cầm tay tâm tình, vì chàng đường đường là một vị Chánh Sứ, quan trên trông xuống, người ta trông vào, muôn cặp mắt phủ, huyện, lính lệ…

Hồ Xuân Hương về nhà viết bài Hoàng giang ngộ hữu hỉ phù; Mừng gặp bạn trên sông Hoàng:

Từ độ em biết yêu lần đầu, như người con gái tuổi xuân vừa biết mùa xuân đầu tiên, mỗi khắc thời gian như vàng em lấy làm quí trọng.

Đã hò hẹn nhau, lòng em nhớ cả kiếp sống mình.

Tình đôi ta rất nặng em không quên dù hóa kiếp cả trăm thân.

Dòng Tô Lịch chưa cạn, đôi ta vẫn còn duyên nợ.

Sông Vị Hoàng còn đầy những giọt nước mắt ái ân em tiễn đưa chàng ngày nào, nhưng hôm nay chàng là quan Chánh Sứ, bao cặp mắt từ quan đến dân trông vào, em dù nồng ấm hay phai nhạt nào có dám thổ lộ.

Nhưng lòng son em vẫn thương chàng, mười phân vẹn mười.

*
Mừng gặp bạn ở sông Hoàng.

Nhà Xuân từ được bén hơi Xuân, 
Nửa khắc vàng xem trọng mấy cân. 
Trót hẹn nhớ cho đành một kiếp, 
Nặng nề quên cả đến trăm thân. 
Cạn dòng Tô Thủy còn duyên nợ, 
Đầy giọt Hoàng giang những ái ân. 
Nồng nhạt mặc dù đâu nhẽ dám, 
Tấc son này vẫn thắm mười phân.

 Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký.

 

Nồng nhạt cam đành đâu dám tỏ,

Vẫn chờ cho hóa đá ngàn năm , Ngân Triều,Ảnh minh họa, Google

*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn:

 𢜠趿伴𣄒滝黄

𣄒春自得𤊰唏春

姅尅鐄䀡重氽釿

𠻷𢘾殳砝

𥘀泥悁奇𦥃𤾓

𣴓𣳔𥗹水群𧴱

𣹓湥黃江仍愛恩

𤁕𠱋兜洱噉

𡬷𧹪𧺀辻分

          *

 Ngân Triều cảm đề:

      Mừng gặp bạn ở sông Hoàng.

      Tuổi xuân từ biết đã vương mang,
      Mỗi khắc yêu thương quý tợ vàng. 
      Nguyện ước lòng son ghi cả kiếp,
      Thủy chung dù chuyển hóa thân tan. 
      Dòng Tô chưa cạn, còn duyên nợ…
      Nước mắt lâm ly nhớ bến Hoàng.
      Nồng nhạt cam đành đâu dám tỏ,
      Vẫn chờ cho hóa đá ngàn năm.

Thủy chung: tấm lòng yêu thương, trọn vẹn; trước sao, sau vậy; mãi mãi không hề thay đổi.

lâm ly: buồn thảm, thương cảm biết bao.

 

 

*****

                                    


                                Chân dung  TS Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh, Paris Ve

 

Ảnh đẹp Vịnh Hạ Long, copy trang FB của Nguyễn Cang, Jasmina Nguyên

 



[1] Nhớ người cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu. Sau đầu đề trên, tác giả có chú: "Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân" - "Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân" - Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh - Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.

[2] Dặm khách : 𨤵 , thời gian Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc.

[3] Tấp nập: 𨃺: rộn rịp, đông đảo.

[4] long đong:  𢫝:vất vả khó nhọc vì gặp phải nhiều điều không may.

[5] Sương siu mấy:    Từ xưa phiên âm là sương đeo mái. Nay phiên âm theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn như trên. (Không biết có phải là Sương cư: : ở góa hay không.Theo Việt Nam Tự Điển, Hội Khai Trí Tiến Đức, xb năm 1931, trang 501: sương: : góa bụa; sương cư: : Ở góa). Bấy giờ Hồ Xuân Hương đang tình cảnh góa bụa).  sương siu: : vấn vương.

[6] Chong: : để cháy sáng trong một thời gian rất lâu. Ở đây là ngồi rất lâu trước đèn, một mình, một bóng.

(Còn tiếp)

 ***


  

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

Thiên tình sử HXH & Nguyễn Du, bài 23 & 24, (tiếp theo)

 

Thiên tình sử HXH & Nguyễn Du, bài 23 & 24, (tiếp theo)

Bài số 23:
Ñoäc Tieåu Thanh kyù

                                                                            

Nguyễn Du

 

Nhờ ba năm lưu lạc (1786-1799) thành nhà sư Chí Hiên đi muôn dặm chu du Trung Quốc, Nguyễn Du nói thạo tiếng Trung Quốc, nên khi ra làm quan được mấy tháng từ Tri huyện Phù Dung, Nguyễn Du được thăng lên Tri phủ Trường Tín đặc trách tiếp sứ Thanh sang phong vương vua Gia Long. (Nguyễn Án được bổ làm tri huyện thay Nguyễn Du ở Phù Dung)… Đường công danh thăng tiến, nhưng người vợ họ Đoàn qua bốn lần sanh, chỉ để lại một con Nguyễn Tứ và qua đời.Mùa thu năm 1804, Nguyễn Du xin nghĩ bệnh một tháng. Từ Thường Tín, Nguyễn Du về thăm lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, đến nơi thì vườn cảnh đã hoang vu thiếu bàn tay chăm sóc của Hồ Phi Mai.

Từ khi lấy anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, chẳng bao lâu anh thầy Lang mất, nàng lại trở về với mẹ, Cổ Nguyệt đường dạy học, rồi yêu Mai Sơn Phủ, mối tình để lại những bài thơ nồng nàn thắm thiết, thề thốt.. trong Lưu Hương ký. Mai Sơn Phủ cũng người ở Vinh (Vịnh Phố) trở về quê để cậy cha mẹ cưới hỏi, chàng về quê thì biệt tăm trong chiến tranh, trong trận đánh cuối cùng vua Gia Long và Tây Sơn. Hồ Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Phú thì gặp một học trò cũ của cha, là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, Xuân Hương nhận làm lẽ, nhưng vợ cả ghen tuông, nàng đang đau ốm, có thai 6 tháng, thân phận như nàng Tiểu Thanh.

Bên song cửa Cổ Nguyệt đường, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh ký gửi Xuân Hương, Hồ Phi Mai:

 Vườn cảnh Cổ Nguyệt đường nơi Tây Hồ đã thành gò bãi hoang vu vì thiếu bàn tay chăm sóc của nàng,

Bên song cửa, xao xuyến và chua xót đọc lại một trang sách sót lại của nàng.

Người con gái tài năng xuất chúng, (có thần), cho dẫu sầu đời chết đi, chắc là hồn nàng vẫn còn oán hận.

 Văn chương vô mệnh dù đốt cháy vẫn còn tàn dư.

Mối hờn xưa nay chỉ có biết hỏi trời, vì đâu những người phong lưu tài sắc lại có cái án oan nghiệt như thế.

Chẳng biết hơn ba trăm lẻ nữa,

Người đời ai còn khóc tố như ?

Ba trăm năm lẽ nữa, kể từ nàng Tiểu Thanh đến thời điểm sáng tác bài thơ nầy, ba trăm năm lẽ sao ai sẽ khóc nàng Xuân Hương Hồ Phi Mai. (Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết; như là như cũ, như vậy, giống như.

Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.

                                              

                                     

Ảnh minh họa: Bên bờ Hồ Tây ngày xưa, Google

*

1-

Bản dịch của Lê Thước
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:40

Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?

*
2-
Bản dịch của Quách Tấn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41

Hồ Tây hoa kiểng giải gò hoang,
Cửa hé trang thư chạnh điếu nàng.
Hận luống vương thêm hồn phấn đại,
Tro chưa tàn hết nghiệp văn chương.
Thanh thương khó hỏi oan chồng chất,
Phong nhã đành chung nợ văn chương.
Rồi Tố Như nầy ba k nữa,
Trần gian ai kẻ sụt sùi thương.

*
3-
Bản dịch của Thân Bá Trường Sơn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41

Tây hồ hoa cảnh thảy thành hoang,
Trước cửa tờ thư khóc điếu nàng.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn mang.
Sầu hận xưa nay trời khó hỏi,
Nỗi oan phong nhã khách còn vương.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như ?

*
4- Bản dịch của Nhất Uyên

Đọc Tiểu Thanh ký 

Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu,  
Bên cửa viếng nàng một áng thư.  
Son phấn có thần chôn vẫn hận,  
Văn chương vô mệnh cháy còn dư.  
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi,  
Cái án phong lưu khách lụy sầu.  
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,  
Còn Nàng ai khóc một niềm đau. 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.

*

5- Bản dịch của Vũ Tam Thập

Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:42

Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như [1] chăng ?

Chú thích:

Hoa uyển, 花苑có bản chép mai uyển theo thơ Tốn Phong trước nhà Xuân Hương có trồng nhiều mai trắng. Tốn Phong còn gọi nhà nàng là Mai đình. Tại Tây Hồ Hàng Châu trước nhà Tiểu Thanh cũng có rừng mai rộng bát ngát, thi sĩ Lâm Bô đời Tống vào rừng mai thưởng hoa đi lạc không biết đường về.

Tố Như, 素如, tên tự của Nguyễn Du 阮攸; Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766– mất năm 1820, tên tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ 鴻山獵, Nam Hải điếu đồ 南海釣屠, là một nhà thơ nổi tiếng, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là " Đại thi hào dân tộc".

***

            Tượng đài Hồ Xuân Hương

Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,,

Còn ai thương cảm Tố Như nương?

Ảnh minh họa, Google

                   *

 6- Ngân Triều cảm đề, Độc Tiểu Thanh ký

Tây Hồ dâu bể hóa gò hoang,
Thổn thức bên song  mảnh giấy tàn.

Duyên kiếp phũ phàng, nào oán hận,

Văn chương lửa hận, vẫn  còn oan.

Xưa nay uẩn khúc[2], trời khôn hỏi,
Cái nghiệp oan gia [3], khách tự mang.
Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,
Còn ai thương cảm Tố Như nương?

*

Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận vì phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Không thể kéo dài cuộc sống:

                      Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm

                      Cầm bằng làm mướn, mướn không công.

Vì Tổng Cóc yêu thương như chuộc vọc:

    Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuộc vọc,

…Một tháng đôi lần có cũng không.

…Chàng Cóc ơi, Chàng Cóc ơi, thiếp bén duyên với chàng thế là đủ rồi. Thiếp xin dứt tình với chàng từ đây như nòng nọc đứt đuôi. Dù chàng có cho thiếp nghìn vàng, thiếp cũng như con cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại với chàng. Cóc hay vào nhà trốn vào xó bếp hay gầm giường, đuổi đi, hay bắt bỏ ra xa cũng quay đầu trở lại, chỉ có bôi vôi vào đầu là đi biệt luôn không dám trở lại nữa.

*
KHÓC TỔNG CÓC

Hồ Xuân Hương

Chàng Cóc ơi! Chàng cóc ơi!               (1)

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.     (2)

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,             (3)

Nghìn vàng không chuộc dấu bôi vôi. (4)

*

Chú giải:

Tổng Cóc tên thật là Nguyễn Bình Kình, ở làng Gáp nay là Tứ Xã, Lâm Thao-Phú Thọ. “Bài thơ tài tình lắm trong câu chữ (cóc, bén (nhái), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), bôi vôi…) nhưng để lại biết bao điều võ đoán. Cả trăm năm trước, bài thơ đã bị nhiều người hiểu lệch. Trước hết bài thơ gợi cho người đọc, nghĩ đến vợ khóc chồng vừa quá cố. Sự thực đâu phải vậy! GS Lê Trí Viễn có phân tích và cho rằng bài thơ vừa bộc lộ nỗi đau xót vừa thể hiện sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không nói là hờn oán. Có vẻ như bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Bài thơ không ra lời tang mà như lời tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình”. (Nguyễn Cẩm Xuyên-Hồ Xuân Hương, huyền thoại và sự thật-Tạp chí KTNN số 663 ngày 10/01/2009).


Ảnh chụp Bản chữ Nôm:

Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé

Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi

                                                           (Bản khắc 1921)

Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đình Hổ và bè bạn, Xuân Hương đã mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đã sinh con:

Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ,

Chốn dời Mai mới nở thêm cành.

(bài 15)

Tiếc thay đứa con gái sinh ra là mất, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm tốn phong ca tụng tít trời xanh.

Quán sách nàng là nơi các học trò ông nghè Phạm Quý Thích lui tới, để ngắm bà chị.Trong đám học trò thường đến hiệu sách của nàng có cậu bé lên tám bị mắng là:

 Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa,

Có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu về sau sẽ cùng Cao Bá Quát nổi tiếng qua lời khen của Vua Tự Đức:

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,

Thi đáo Tùng Tuy nhất thịnh Đường

文 如  超适無 前 

詩 到  從 綏 一 盛 

Tạm dịch: 

Văn như Siêu và Quát, mà so với văn đời Tiền Hán thì văn thời Tiền Hán cũng không có giá trị gì;

Đến thơ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thì là số một so với thơ của thời Thịnh Đường”. 

Sở dĩ, cho là của Tự Đức là hai câu trên nói theo khẩu khí đế Vương, gọi xách mé tên tục Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, 文 超. (1799-1872) là “Siêu”; cử nhân Cao Bá Quát, 高 伯 适 ,(?-1854) là “Quát” thì chỉ có Đức Kim Thượng (Vua đương thời) mới dám gọi “thần Siêu, thánh Quát” như thế; còn bình thường tôn trọng đều gọi “Nguyễn Phương Đình” và “Cao Chu Thần”.

Tùng ở đây là Tùng Thiện công, Nguyễn Phúc Miên Thẩm,阮 福  綿 ,(1819-1870) và Tuy là Tuy Lý công,Nguyễn Phúc Miên Trinh, 福 綿 ,(1820-1897). Sau hai vị này được truy tặng là Tùng Thiện Vương,從 善 王 và Tuy Lý Vương,     ,(1936) đều là con Vua Minh Mạng, và vai vế  vào hàng chú của Vua Tự Đức.


*****


Bài số 24:
Chôi Taây Hoà nhôù baïn

                                                                                Hồ Xuân Hương

Xuân Hương trở lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, Nguyễn Du về quê một tháng, sau đó được lệnh vào Phú Xuân thăng Đông Các học sĩ hàm ngũ phẩm, tước Du Đức Hầu, chức vụ dâng sách cho vua đọc mỗi ngày, và soạn thảo chiếu biểu cho vua Gia Long.

Hồ Xuân Hương viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du. Nguyễn Du viết:

Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu. (Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư).

Xuân Hương trả lời:

Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa.

Em đã trở về, em không chết như nàng Tiểu Thanh đâu ?

Vườn cảnh có tay em chăm sóc đã trở lại như xưa.

Người đồng châu, cùng quê Nghệ Tĩnh với em biết bao giờ trở lại.

Nhật Tân đê lở, như duyên em dù lỡ làng cũng còn lối vào.

Chùa Trấn Quốc rêu phong vẫn còn lưu lại bài thơ em viết ngày nào đề thơ cùng chàng.

Nơi vực Trâu vàng trăng lặn bóng.

Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ những kỷ niệm đôi ta;

Hồ kia thăm thẳm sâu bao nhiêu

Cũng không bằng lòng em nhớ chàng.

*
Chôi Taây Hoà nhôù baïn

  Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa,
          Người đồng châu trước biết bao giờ.
 Nhật Tân đê lỡ nhưng còn lối,
          Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ,
        Nọ vực Trâu vàng[4] trăng lặn bóng,
             Kìa non Phượng đất [5] khói tuôn mờ.
         Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy,

                               So dạ hoài nhân dễ chửa vừa.

Chú thích:

*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn

𨔈 西 𢖵
西 𠸗
𠊛
𠠩 𣇞
𨓐 𡓃
𧄈 泿
𤛠 𣵰     
𡽫 𤌋 𤎎

𥚯 𣃣
*






Thăm thẳm hồ sâu, hồ thẳm thẳm,

Nào bằng nỗi mộng, nhớ người mơ?Ảnh minh họa, Google

*
Ngân Triều cảm đề:

Chơi Tây Hồ nhớ bạn

Còn đây, nào khác, cảnh Tây Hồ,
Người cũ đồng châu, vẫn nhớ chờ.
Đê lở Nhật Tân, chưa hết lối,
Rêu phong Trấn Quốc vẫn còn thơ.
Trâu vàng kìa vực trăng lồng bóng.
Non Phượng nào đâu dải khói mờ?
Thăm thẳm hồ sâu, hồ thẳm thẳm,
Nào bằng nỗi mộng, nhớ người mơ?

*

Tượng đài Nguyễn Du

 

                                     






Tượng đài Cụ Nguyễn Du ở Khu lưu niệm, thuộc làng Tiên Điền,  Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 50km, cáchTp. Vinh (Nghệ An) khoảng 8km.

Top of Form

Nguồn: TL Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình của HXH và ND/ Ts Phạm Trọng Chánh.



[1] Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết, như là như cũ, như vậy, giống như. Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.

Bài Độc Tiểu Thanh Ký trong các văn bản đều đặt cuối Thanh Hiên Thi tập thời điểm sáng tác năm 1804, không ai hiểu làm sao, cụ Đào Duy Anh có đem qua Bắc Hành Tạp lục, nhưng Nguyễn Du khi đi sứ không ghé đến Hàng Châu. Nếu Nguyễn Du viết năm 1799 trong thời gian lưu lạc Trung Quốc thì bài này phải nằm kế 5 bài thơ Vịnh Miếu Nhạc Phi, Tần Cối, Vương Thị. Cách cắt nghĩa của tôi duy nhất đáp ứng được thời điểm sáng tác. Ý nghĩa hai chữ tố như, tên tự hay bút hiệu thường lấy từ một điển tích, hay có ý nghĩa, tố như không có nghĩa nào khác và cũng không điển tích. Tôi cắt nghĩa và tìm ra mối liên hệ bài này với bài Giả từ Tổng Cóc (khóc Tổng Cóc) và bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn của Hồ Xuân Hương viết năm 1805.

[2] Lửa hận: Thơ văn của nàng Tiêu Thanh bị vợ cả ghen tuông đem đốt hết, chỉ  còn một ít bài; uẩn khúc: , những điều rắc rối, éo le còn giấu kín, chưa có cơ hội bộc lộ hay chưa được làm sáng tỏ.

[3] oan gia, 冤家bị oan, nhà bị oan.
đồng tương ứng như đồng hội đồng thuyền, cùng một số phận và tâm tình với nhau.
            Nghĩa hai câu cuối là:

 không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.

[4] Vực Trâu vàng: tích Sư Minh Không quốc sư Triều Lý xin đồng nhà Tống về đúc chuông, tiếng chuông ngân xa, con trâu vàng trong cung nhà Tống ngỡ tiếng mẹ kêu, chạy sang Hồ Tây và biến mất trong khu vực này. Phủ Tây Hồ có đền thờ Trâu Vàng và đền bà Chúa Liễu Hạnh.

 [5] Non Phượng đất: hay mõ phượng, gò đất nhô ra ở Hồ Tây, nay thuộc khu vực Trường Bưởi, Chu Văn An. Nguyễn Du cưới và vợ họ Võ sanh một con, để cai quản gia trang Tiên Điền, và có ba vợ thứ ba theo hầu bên cạnh nên sanh luôn một chục đứa con.

(Còn tiếp)