Bài số 22:
Chí Hieân taëng (2)
Chí Hiên tặng (2)
Nguyễn Du
Bài Chí Hiên tặng II. Nguyễn Du không trách móc nữa mà bày tỏ lòng mình:
Rủi may nào sá gì, nghĩ rằng cùng tắc thông, thông tắc biến, biến tắc hóa theo Kinh Dịch…
Ra Bắc phen này (1796) mong làm nổi việc,
Nghĩ lại việc vào Nam (1794) cũng hoài công, Hà Tỉnh chẳng ai theo, chẳng thể lập cứ địa chống Tây Sơn, cũng chẳng thể vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh…
Bạn thơ cũ nay đâu, ngồi uống trà một mình, uống bao nhiêu bình nước rồi ấm trà đã nhạt.
Quán trọ đêm qua năm canh không ngủ được vì manh áo quá mong manh, trời đã vào lập đông…
Trông ra sông hồ mù mịt sương khói từ biển thổi vào.
Người xưa Cổ Nguyệt đường lòng như tấm gương trong nào thấy đâu?
*
Chí Hiên tặng II, Nguyễn Du:
Rủi may nào sá nghĩ cùng thông,
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng.
Ra Bắc phen này mong nổi việc,
Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công.
Bạn thơ năm hết mâm trà lạt,
Quán khách canh chầy mảnh áo mong.
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể,
Nguyệt đường bao nã thấy gương trong
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
㩡𢆧芾咤𢣂窮通
諸𠴭知音祖𢚶𢙱
𦋦北畨尼懞挼役
𠓨南𡄎𠓀共壞工
伴詩𢆥盡𣙺茶𤁕
舘客更迡𤗖𥜌𤘁
憾洱矓𦋦模𤌋𣷭
月堂包那𧡊𨩍𤄯
*
Ngân Triều cảm đề Bài Chí Hiên tặng (2),
Nguyễn Du.
Rủi may nào sá tắc cùng thông,
Chưa phải tri âm để tỏ lòng.
Ra Bắc phen này lòng đã quyết,
Vào Nam, giúp Chúa, sự hư không.
Nhạt trà bằng hữu còn đâu nữa,
Đêm rét đơn y, ngủ chẳng xong.
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong?
*
Nguyễn Du tìm đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan cho Tây Sơn, nhà cao cửa rộng, chẳng kém gì các biệt thự các vị quan to thời trước:
Trên bờ sông Nhị nhà chen gần,
Đã chiếm cả thành hết cảnh Xuân,
Cầu gác Đông Tây cao ngất dựng.
Ở Quỳnh Hải, Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út cho Nguyễn Du và giao gia trang, năm 1797. Từ đây Mùa Xuân Quỳnh Hải, Quỳnh Hải nguyên tiêu, sau khi nếm trải phong trần, góc biển chân trời ba mươi tuổi, con thuyền lênh đênh của Nguyễn Du mới an phận cập bến hạnh phúc:
*
Quỳnh Hải Nguyên Tiêu
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên Xuân hứng, thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên?
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.
*
瓊海元宵
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年
*
Rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải
Nguyên tiêu lồng lộng khắp trời,
Trăng như người cũ, tuyệt vời không phai!
Trời Xuân ập xuống nhà ai?
Mấy ai tận hưởng trăng này xa xôi?
Tan nhà, huynh đệ chia phôi,
Bạc đầu căm giận tuổi đời ruỗi mau.
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Tấm thân tam thập lao đao cuối trời.
Ngân Triều dịch.
Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời Mười năm gió bụi có vợ con, dạy học, dạy văn và võ, hoàn tất Truyện Kiều.
Năm năm Quỳnh Hải (1797- 1802) Nguyễn Du đã giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn, Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ, học trò và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa ,bò, heo dâng sớ đón rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam thì gặp Vua Gia Long, vua phong ngay cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc, người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phù Dung nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.
***
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong? (NT)
%20ND..jpg)

