Tình sử của HXH và Mai Sơn Phủ, bài 6, 7. (Tiếp theo)
Baøi soá 6:
Hoïa Sôn Phuû chi taùc
Nước mắt trên hoa là lối cũ/ Mùi hương trong nệm cả đêm thâu./Hồ Xuân Hương
Này đoạn chung tình biết với nhau,[1]
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,[2]
Trước mắt đi về gấp bóng câu.[3]
Nước mắt trên hoa là lối cũ,
Mùi hương[4]
trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết với nhau.[5]
Trích Lưu Hương ký, Hồ
Xuân Hương,
Nguồn: Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ, TS Phạm Trọng Chánh.
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
和 梅 山 甫 之 作[6]
尼 縀 終 情 别 唄 𩜙
䬻 迻 𠀧 𨀈 共 𢧚 句
𨕭 拪 抾 𢲫 𦎬 𣊿 雁
𠓀 眜 迻 衛 急 俸 駒
渃 眜 𨕭 花 𪜀 𡓃 𡳰
味 香 𥪝 𧛋 奇 𡖵 輸
𠼋 𩜙 買 别 情 饒 𡗋
尼 縀 終 情 别 唄 𩜙
*
Bố cục:
(1-2), Tâm tình của người trong cánh cửa:
. Hỡi người trọn tình, trọn nghĩa! Ta đã biết nhau rồi đó!
. Hôm nay
đưa tiễn chàng về quê trong ấy, xin có mấy câu thơ đơn sơ.
(3-4-5-6), những liên tưởng và trải lòng:
. Chắc là sẽ
chẳng có tin tức gì cho nhau vì xa xôi cách trở.
. Việc trước
mắt, chàng đi về e là rất cấp bách (vì thiếp khắc khoải mong đợi tin chàng sớm
quay lại).
. Những giọt
sương long lanh trên những cánh hoa kia, chính là nước mắt của thiếp, khi nhớ đến
chàng.
. Cái hơi ấm
trong nệm gối đó, gợi nhớ chàng đã đồng sàng với thiếp, cả đêm thâu.
(7-8), Nỗi niềm :
. Khi xa vắng
nhau, mới hiểu được tình yêu sâu sắc nhường nào!
. Hỡi người
trọn tình, trọn nghĩa! Ta đã biết nhau rồi đó!
Thương nhớ sương hoa thường đẫm lệ,
Đồng sàng hương nệm vẫn đêm thâu.Ảnh Google.
*
Ngân Triều cảm đề
Hoạ lại thơ Mai Sơn Phủ.
Hỡi bạn chung tình ta biết nhau!
Chạnh lần đưa tiễn, bước thơ trao.
Thơ cũ đọc nhàm, tin nhạn vắng,
Ngày lụn Xuân xanh nặng gánh sầu.
Cõi nhớ sương hoa còn đọng lệ,
Trời thương vương hương nệm đêm thâu.
Cách xa, mới hiểu tình như biển!
Hỡi bạn chung tình ta biết nhau!
Ngân Triều
*****
Baøi soá 7:
Toáng Lieân
Cöø Mai Coâng phoù Vò Hoaøng
Phạm Đình Hổ
Thấp thoáng buồm xa, biển mịt
mùng. Ngân Triều, Ảnh minh họa, Google
Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng (Phạm Đình Hổ)
Hạ nhật huề cùng[7]
xuất cố đô,
Giang Nam nam hạ[8]
tứ[9]
du du.[10]
Sơ mai[11]
hương đậu[12]
Hoàng giang vũ,
Dã mạch[13]
tình thâm Vịnh phố[14]
Thu.
Vọng nhập tiền sơn[15]
khan võng thụ,[16]
Hứng tùy thương hải phiếm hư chu.[17]
Lâm kỳ[18]
ước lược[19]
quy lai nhật,[20]
Mãn thụ[21]
thanh phong[22]
phản Kiếm Hồ.
*
Văn bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
送蓮 渠 梅 公 赴 未隍
夏日 攜 筇 岀 故 都
江南 南 廈 笥 攸 攸
初梅 香 逗 皇 江 雨
野麥 情 深 永 埔 秋
望入 前 山 看 網 樹
興隨 蒼 海 泛 虛 舟
臨期 約 畧 歸 來 日
滿裋 青 風 反 劍 胡
范亭虎
.*
Nhất
Uyên dịch thơ, Bài [1]
*
Trong thơ chữ Hán của Phạm Đình Hổ, trong Tuyển tập thơ văn. NxbKHXH 1998 có bài Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng. Tiễn ông Mai người Liên Cừ từ Vị Hoàng. Tôi (TS Phạm Trọng Chánh) cho rằng đó là bài thơ Phạm Đình Hổ cùng Hồ Xuân Hương tiễn Mai Sơn Phủ từ bến sông Vị Hoàng đi về Vịnh Phố (Vinh ngày nay). Đó là thời kỳ Phạm Đình Hổ và Xuân Hương thân tình. Mai Sơn Phủ là bạn của cả hai người. Câu Sơ mai hương đậu Hoàng giang vũ. Hoàng giang mưa điểm hương mai nở, có ý trêu Hồ Xuân Hương đang khóc vì xa người tình vì câu đầu Hạ nhật huề cùng xuất cố đô. Gậy trúc mùa hè xa cố đô. Bài thơ viết:
Ngày hè chống gậy trúc rời cố đô Thăng Long,
Đưa người bạn về quê hương từ phía Nam (thành Thăng Long).
Giang Nam thương nhớ bóng xa mờ.
***
Tham khảo thêm:
Dữu Tín
Tôn Nguyên Yến
庾信
孫元晏
苦心詞賦向誰談
淪落周朝志豈甘
可惜多才庾開府
一生恫悵憶江南
Dữu Tín
Tôn Nguyên Yến
Khổ tâm từ phú hướng thùy đàm?
Luân lạc Chu triều chí khởi cam?
Khả tích đa tài Dữu khai phủ
Nhất sinh trù trướng ức Giang Nam
Chú giải:
1/ Dữu Tín, Tôn Nguyên Yến:
(513-581), người thời Nam - Bắc triều. Ông làm quan cho Nam triều (nhà Lương),
phụng mệnh đi sứ Bắc triều (nhà Tây Ngụy), bị Bắc triều giữ lại nhưng cũng
phong cho quan tước. Tới nhà Bắc Chu, ông được phong tới phiêu kỵ tướng quân, mở
phủ như tam ti, nên người thời đó còn gọi ông là Dữu khai phủ…Ông làm nhiều văn
thơ, bộc lộ lòng thương nhớ quê hương miền Nam của ông.
2/ Giang nam, nói chung là
phần đất phía Nam sông Trường Giang, nói riêng trong bài là thành phố Nam kinh,
kinh đô của Nam triều lúc đó.
--Dịch nghĩa:--
Ông Dữu Tín, Tôn Nguyên Yến,
Những thổ lộ tâm tư đau khổ [vì nhớ quê hương miền Nam] ông
viết cho ai vậy?
Ông có đành lòng lưu lạc rồi làm quan cho nhà Chu không ?
Đáng thương cho người nhiều tài Dữu khai phủ,
Cả đời lúc nào cũng buồn bã nhớ về đất Giang Nam.
--Bản
dịch của Nguyễn Minh—
Thơ
khổ tâm làm cho ai đó ?
Quan nhà Chu ông có đành cam ?
Dữu khai phủ đáng thương tâm
Cả đời buồn bã Giang nam nhớhoài
--Bản
dịch của Nguyễn phước Hậu—
Thi
phú gởi ai những khổ tâm?
Triều Chu lưu lạc lại đành cam?
Đáng thương Dữu Tín tài khai phủ
Buồn bã một đời nhớ đất Nam.
--Bản dịch của Ngân Triều—
Khổ tâm chấp bút
cho ai?
Hàng thần lơ láo, lạc loài nhà Chu!
Đa tài lãng bạc phiêu du?
Nào vơi thương nhớ, mịt
mù Giang Nam.]
(Câu 2 chữ
Hán trong bài thơ của PĐH):
Giang Nam
nam hạ tứ du du. 江 南 南 廈 笥 攸 攸, người
đi xa xôi, trong nhà phía Nam, nhớ quê nhà tha thiết.
Nhất Uyên dịch nghĩa bài thơ trên:
Ngày hè đi ra khỏi cố đô Thăng Long (Làm gì có hoa mai nở, chỉ có nước mắt Hồ Phi
Mai long lanh khóc tiễn đưa người tình, trong mưa bụi bay phơn phớt lạnh).
Mưa phùn trên sông Hoàng Giang (Nam Định) lất
phất đậu trên cánh hoa mai.
Về đến Vịnh phố sắp đến mùa lúa thơm rực vàng
cánh đồng mùa thu.
Vời ngóng trên non núi Hồng Sơn cây cao lớp lớp.
Thi
hứng về trên biển thẳm chở trên cánh buồm của người đi.
Thôi bạn an tâm dấn bước, ta hẹn nhau ngày quay trở lại,
Ngày ấy, ta cùng rong chơi, hứng mát hồ Hoàn
Kiếm để cho gió phất phơ trên tay áo rộng.
Phơn phớt mưa Hoàng, mai đọng lệ.
Ngân Triều
Ngân Triều cảm đề.
Tiễn đưa ( Thơ chữ Hán, Phạm Đình Hổ)
Ngày hè, gậy trúc biệt Thăng Long,
Thương nhớ người đi ngập cõi lòng.
Phơn phớt mưa Hoàng, mai đọng lệ.[25]
Thu vàng đồng Vịnh, lúa mênh mông!
Non cao điệp điệp cây muôn lớp,
Thấp thoáng buồm xa, biển mịt mùng.
Hẹn ước chờ ngày quay trở lại,
Trên Hồ! Ơi! Gió mát thong dong![26]
[1] đoạn 縀, chữ Nôm cổ có nghĩa là bạn, người đồng hành.
[2] tanh
chiều nhạn 𦎬 𣊿 雁, buổi chiều vắng tanh, không có bóng một con chim nhạn nào. Ngày
xưa, Hồ Tây nổi tiếng vì có rất nhiều chim sâm cầm, hồng nhạn và được xem là một
trong 8 cảnh đẹp của Tây Hồ.
Ngoài ra, tanh chiều nhạn, vắng tanh không có bóng chim nhạn nào, nghĩa là hoàn toàn bặt tin.
Sách Hán Thư chép chuyện Ông Tô Vũ đời Hán, đi sứ Hung Nô. Hung Nô
giữ lại không cho trở về bắt đi chăn dê ở Bắc Hải trong 19 năm vô cùng vất vả,
gian nan. Nhận thấy chim nhạn thường bay về Nam trú lạnh, Tô Vũ lấy vải viết
nhiều thư buộc vào chân chim nhạn để nhờ chúng đem về quê hương. Quả nhiên Vua
Hán bắt được, biết tin Tô Vũ còn sống sai sứ sang xin rước về. Chúa Hung Nô nói
Tô Vũ bị bệnh đã chết từ lâu. Sứ mới đưa thủ bút của Tô Vũ trình ra. Bấy giờ,
Chúa Hung Nô mới phái một đạo quân đi tìm Tô Vũ và cho về nước.
Mây giăng ải Bắc
trông tin nhạn,
Ngày xế non Nam
bặt tiếng hồng.
Ngóng gió Đông,
Nguyễn Đình Chiểu.
(Nhìn về ải Bắc, Triều đình Huế, mong tin tức cứu viện, chỉ thấy
mây giăng mù mịt trong vô vọng.
Ngày càng trì trệ, ngày xế,
ở non phía Nam, không còn tiếng kêu của chim hồng nữa, bặt.
tanh chiều nhạn 𦎬 𣊿 雁, buổi chiều vắng tanh, không có bóng một con chim nhạn nào. Ngày xưa, Hồ Tây nổi tiếng vì có rất nhiều chim sâm cầm, hồng nhạn và được xem là một trong 8 cảnh đẹp của Tây Hồ.
Ngoài ra, tanh chiều nhạn, vắng tanh không có bóng chim nhạn nào, nghĩa là hoàn toàn bặt tin.
Sách Hán Thư chép chuyện Ông Tô Vũ đời Hán, đi sứ Hung Nô. Hung Nô
giữ lại không cho trở về bắt đi chăn dê ở Bắc Hải trong 19 năm vô cùng vất vả,
gian nan. Nhận thấy chim nhạn thường bay về Nam trú lạnh, Tô Vũ lấy vải viết
nhiều thư buộc vào chân chim nhạn để nhờ chúng đem về quê hương. Quả nhiên Vua
Hán bắt được, biết tin Tô Vũ còn sống sai sứ sang xin rước về. Chúa Hung Nô nói
Tô Vũ bị bệnh đã chết từ lâu. Sứ mới đưa thủ bút của Tô Vũ trình ra. Bấy giờ,
Chúa Hung Nô mới phái một đạo quân đi tìm Tô Vũ và cho về nước.
Mây giăng ải Bắc
trông tin nhạn,
Ngày xế non Nam
bặt tiếng hồng.
Ngóng gió Đông,
Nguyễn Đình Chiểu.
(Nhìn về ải Bắc, Triều đình Huế, mong tin tức cứu viện, chỉ thấy
mây giăng mù mịt trong vô vọng.
Ngày càng trì trệ, ngày xế,
ở non phía Nam, không còn tiếng kêu của chim hồng nữa, bặt.
Chim hồng, chỉ người anh
hùng có ý chí và tài năng hơn người đời. Tức là
cuộc kháng chiến chống Pháp của người anh hùng ở núi Nam, không được chi
viện kịp thời của triều đình Huế, sẽ phải tiêu vong. Người lãnh tụ anh hùng
đành phải hy sinh, khuất bóng.)
[3] Gấp
bóng câu: 急俸駒Câu, 駒con ngựa non sung sức.
Sách trang Tử có câu:
Nhân sinh thiên địa chi gian,
Nhược bạch câu chi quá khích
Hốt nhiên nhi dĩ
人 生 天 地 之 間
若 白 駒 之 過 激
忽 然 而 已
Con người sống
giữa trời đất
Giống như con
ngựa câu trắng, (bạch câu= ánh sáng mặ trời) lướt qua khe cửa.
Đột nhiên kết
thúc.
Ý nói thời gian trôi qua rất nhanh.
[4] Mùi hương
味 香, là mùi hơi quen thuộc của người, hơi hương là mùi thơm còn
đọng lại ở chỗ nằm:
Chim quyên ăn trái nhãn lồng,
Lia thia quen
chậu, vợ chồng quen hơi.
Ca dao
Chim xa rừng còn
thương cây nhớ cội,
Người xa người,
tội lắm người ơi!
Chẳng thà không
biết thì thôi,
Biết rồi, mỗi đứa
một nơi, cũng buồn.
Ca dao
[6]Hoạ Mai Sơn phủ
chi tác: 和 梅 山 甫 之作
Bài thơ này trả lời bài Thu Tứ ca của Mai Sơn Phủ. Mai Sơn Phủ thề
thốt không uống rượu, không gảy đàn vì thiếu nàng, bạn tri âm. Thề chỉ uống trà
xanh thôi để chung tình với nàng. Hồ Xuân Hương nhắc lại :
. Này bạn chung tình ơi, ta đã biết nhau rồi.
. Nhớ lại lúc tiễn nhau, đi ba bước đã nên câu thơ.
. Cứ cầm thơ cũ ra xem, đọc đi đọc lại mãi mà tin tức chàng vắng
tanh.
. Ngày tháng đi về sao nhanh như vó câu!
. Buổi sáng, nhìn “nước mắt” trên hoa là tính cách của em.
. Đêm thâu, vẫn nhớ mùi hương chàng trên nệm.
. Vắng nhau mới biết tình chan chứa.
. Này bạn chung tình ơi, ta đã biết nhau rồi...
Bài thơ này có
thể là một bài thơ tình tuyệt tác của thi ca Việt Nam thế kỷ 18, 19.
Có bản ghi tiêu đề là Biệt ly Mai Sơn Phủ, 别 離 梅 山 甫 (nhưng không có bài thơ xướng).
Họa lại Mai Sơn Phủ, xin xem chú giải bài số 3, chương VI, Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký.
***
Chú thích:
[7] huề
cùng 攜 筇 , cầm gậy trúc, chống gậy trúc.
[8] Nam hạ 南 廈, ở dưới phía Nam.
[9] tứ 笥, cái rương đan
bằng tre đựng hành lý,tu từ hoán dụ, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, chỉ
người đi xa.
[10]du du 攸 攸, xa xôi.
[11] sơ
mai 初 梅, cây mai thưa.
[12] đậu 逗, đọng lại.
[13] dã mạch 野 麥 , cánh đồng lúa.
[14] Vịnh
phố 永埔, phố Vịnh, tức
thành phố Vinh ngày nay.
[15] tiền
sơn 前山, trước núi.
[16] khan
võng thụ 看 網 樹,thấy cây cối
chập chùng.
[17] phiếm hư chu 泛 虛 舟, chiếc thuyền
thấp thoáng linh đinh.
[18] lâm kỳ 臨 期, đến hạn, đến hẹn.
[19] ước
lược 約 畧, nói chung, đại khái.
[20] quy
lai nhật 歸 來 日, ngày trở lại
[21] mãn
thụ 滿 裋 , vung
tay áo, áo tung bay trong gió.
[22] thanh
phong 青 風 , gió mát
[23] Giang
Nam 江南,vùng phía Nam sông Trường Giang (Dương Tử). Phía nam của một con
sông. Giang Nam: do bài Giang Nam Ai Phú của Dữu Tín người Nam Bắc Triều, tỏ
lòng nhớ quê, vì làm quan xa nhà lâu ngày. Từ đó chữ Giang Nam có nghĩa là lòng
nhớ quê hương, tể hiện tấm lòng thương nhớ quê hương đằm thắm.
[24] Hoàng
giang mưa điểm hương mai nở, ( Giọt mưa nào trên sông Vị Hoàng, đọng
trên cánh hoa mai nở. Nhất Uyên dịch)
Phơn phớt mưa Hoàng, mai đọng lệ. (Mưa phùn trên sông Vị Hoàng đọng trên cánh
hoa mai như những giọt lệ hoa. Ngân Triều dịch) đều diễn tả ý tưởng Hồ Phi Mai, tự Xuân Hương, đang xúc động, nhiều bi
lụy trong lúc chia phôi, đúng theo nguyên tác.
[26] thong dong: đọc trại từ thung dung: Nhàn
nhã, thư thái, thanh thản, không phải lo nghĩ, vất vả.
Việc nhà đã tạm thong dong,
Tinh
kỳ giục giã đã mong độ về.
ĐTTT, Nguyễn
Du, câu 693-694
Gặp bà Tam Hợp đạo cô,
Thong
dong hỏi hết nhỏ to sự nàng.
ĐTTT,
Nguyễn Du, câu 2652-2653
Tẩy trần vui chén thong dong,
Nỗi
lòng ai ở trong lòng mà ra.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1571-1572



