Dịch thơ
[1] Tuïng Taây Hoà Phuù,
Nguyeãn Huy Löôïng.
Ngân Triều
1N
(1-4), 4 liên; Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu, Nguồn gốc Hồ Tây.
Hồ Tây cảnh rất lạ
lùng, (1)
Nhớ thời lập quốc đã từng hiển danh.
Thời chín cõi, gò
đất lành,
Có loài bạch hổ tung hoành làm hang.
Đầm rộng lớn, tay Long Vương; (5)
Chuông chùa ông Khổng,[1] ngân vang rất mầu,
Trâu vàng nhớ mẹ,
Bên Tàu,
Chạy qua tìm mẹ ghềnh hào ngày nay.
Sợ nước Nam lắm
nhân tài,
Cao Biền[2] yểm huyệt triệt bài long
tâm. (10)
Dâm Đàm[3] tên gọi đầm râm,
Cỏ hoa, sương khói quanh năm đón chờ,
Lãng Bạc,[4] sóng bạc như mơ,
Bến bờ tinh khiết, nước hồ trong veo.
***
2N-(5-8),
4 liên; Ngân Triều cảm đề: 12 câu, Hình thể của Hồ Tây.
[…trong veo]
- Sắc xanh nhuộm
sóng lam chiều, (15)
Như hình Động Bích[5] tỏa nhiều hào quang.
Hình cong uốn lượn
đêm trăng,
Sóng xô ánh bạc sông Ngân bóng lồng.
Nước trời, nghìn mẫu
mênh mông,
Bốn bờ hoa cỏ biếc hồng điểm trang. (20)
Gò Mỏ Phượng[6] hay đài trăng,
Bên dòng nước xoáy hàm rồng chẳng vơi.
Phải chăng là chén
rượu mời,
Kìa tòa Thạch Tháp của trời, kho tiên.
Gò đất nọ, tít
ngoài biên, (25)
Kìa ai mê tín cầu duyên, chôn bùa.
***
3N-(9-13), 5 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 16 câu: Các đền chùa chung quanh Hồ Tây.
[…chôn bùa]
Quanh hồ thắng cảnh
đền chùa,
Mục lang[7] lưới hổ cứu vua lâm
nàn.
Tích gươm Trấn Võ[8] rùa mang.
Hình cây như quán, hàng hàng ngàn xưa, (30)
Sóng ghềnh lấp
lánh trưng đưa,
Ngàn kho châu báu trời trưa tỏ tường.
Kim Liên sóng nhuộm
mùi hương,
Kế bên Trấn Quốc[9] Tây phương cảnh mầu.
Gió rung cổ thụ
nghiêng đầu, (35)
Phụng Thiên nơi ấy tìm cầu cõi âm.
Rêu phong nền cũ
âm thầm,
Đại Vương Bố Cái[10] ngàn năm chẳng lòa.
Bà Đanh[11] cổng ủ lá hoa,
Mơ màng đỉnh Thứu, vang ca thước[12] nào. (40)
Ngẩn ngơ tưởng đến
Động Đào,[13]
Bồi hồi xóm nhỏ, gà chào ó o.
***
4N-( 14-27), 14 liên,
Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Các thắng
cảnh chung quanh Hồ Tây.
[…ó o]
Nung vôi Thạch khối
mấy lò,
Khói bay nghi ngút ỳ ồ Nhật Chiêu.[14]
Lô nhô cuối bãi
Đuôi Nheo, (45)
Phất phơ thuyền khách buồm treo bướm bầy.
Hồ Cổ Ngựa,[15] lặng như tờ,
Tháp tăng hé cửa tò vò mười phương.
Nhịp chày Yên Thái[16] nện sương,
Nghi Tàm lưới cá thả đường quanh co. (50)
Liễu bờ kia, phất
phơ tơ,
Thoi oanh ghẹo cả gấm tơ hai phường.
Đó đây sen biếc cao giương,
Lửa huỳnh ghen tức lò vương năm làng.
Đàn ve ánh ỏi lầu
ran, (55)
Bên bàn mõ cuốc còn than quốc hoài.
Châu Long[17] gió nhẹ vèo bay,
Vẳng đưa trống thú dội ngoài trúc hiên.
Vầng trăng hé, Phục
Tượng[18] biên,
Sông Tô nghe nện nỗi phiền chày khuya. (60)
Thẫn thờ mấy nỗi phiêu
du,
Khách nhàn lai láng từng khu dặm trường.
Áo tơi lớp xớp mưa
buồn,
Đàn trâu gã Nịnh[19] tham nguồn cỏ non.
Khuất Nguyên tuẩn
tiết, Thương Lang,[20] (65)
Thuyền nan trước gió nhớ chàng tiều Chu.[21]
Cuộc vui ngày
tháng lãng du,
Thiếu gì “bốn bạn”[22] chăm lo đủ bề.
Khán Sơn[23] cảnh cũ đời Lê,
Thơ ban trăng lạnh ngẩn ngơ bồi hồi. (70)
Vọng Thị[24] tiệc rượu còn vui,
Ngày tàn đàn đã bùi ngùi niềm tư.
Khách Tàu san sát
chợ Tây,
Đào Tiềm tái thế[25] men say ngủ vùi.
Giặt tơ bến nước
khuya trời, (75)
Ánh trăng lấp lánh đầy vơi tay người.
Trong sương hái nhị
trà tươi,
Túi hương rớt xuống, thơm mười ngón chân.
Thị thành vui thú
trí nhân,
Phố phường phong nguyệt trời ban vô cùng. (80)
Hắt hiu Nhị Thủy[26] gió lừng,
Cho vui khóm trúc cho mừng khóm hoa.
Tam Sơn[27] vằng vặc trăng ngà,
Đàn cò đớp cá, đớp lòa bóng chân.
***
5N-(28-32), 4
liên,
Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu: Hồ Tây trải
qua các triều đại.
[…bóng chân]
Cảnh xưa thắng lãm
tần ngần, (85)
Hưng vong mấy lớp thăng trầm mấy phen.
Quan Ngư[28] xem cá đưa duyên,
Niên hiệu Long Khánh còn truyền lập công.
Đường Dụ Tượng,[29] Lý Thái Tông,
Đê đè sóng biếc voi rừng thẳng lên. (90)
Đời Trần xe ngựa
như nen,
Triều Lê thịnh trị chật lèn tán ô.
Nhớ thiên bát vịnh
du hồ,[30]
Chở đạo ẩn ngữ, qui mô dạy đời.
Liên ngâm[31] thưởng nguyệt mấy người, (95)
Văn chương tiên tục cũng thời tri âm.
Họa thơ tòa đá chữ
hằn.
Nước kia dường sót rượu mừng nổi trôi.
***
6N-(33-46)
14 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Hồ Tây trong thời Lê mạt.
[…nổi trôi]
Đất trời gió bụi
muôn nơi,
Nước hờn cau mặt, tơi bời bợn nhơ. (100)
Sáu năm biến động
nào ngờ,
Cảnh xưa mưa gió bơ phờ, tan hoang.
Sương mù mây phủ,
chim ngàn
Mặt hồ còn chút xanh lam, mơ màng.
Để cho nòng nọc từng
đàn… (105)
Chùa thiêng cửa nắng, đầy màn “bát tiên”.
Dọc ngang mạng nhện
giữ miền,
Lửa hương cổ miếu im lìm, quạnh hiu.
Tù mù ngọn lửa,
xóm nghèo.
Kênh đâu đưa nước tưới vào trung sa, (110)
Lầu chim ngủ sớm,
gió ca,
Ngàn sen ngao ngán bay về, Tây phương.
Nước hồ đen thối
cá ươn,
Cuốc kêu trị loạn thảm thương, đau lòng.
Ễnh ương gào khóc
tư công, (115)
Sá gì lộc hậu là xong phất cờ.
Cầu vồng đâu, lũ
cày mơ,
Bài thơ thất nguyệt thờ ơ mục đồng.
Trời đêm câu cá
khó lòng,
Kế hay giúp nước chỉ toàn tiều phu. (120)
Xóm kia ve nhặng
rì rù,
Ghềnh xa thấp thoáng trai cò gấu nhau.
Thượng lưu mâu thuẩn
cao trào,
Những người trí thức gió nào thuận che.
Yên thân gượng
chén bạn bè, (125)
Thu rồi gác bút, gia phì thế thôi.
Dẫu rằng phong vị
đãi bôi,
Đồ thư chi nữa lôi thôi mơ màng.
Dưới cầu nước chảy
miên man,
Đường xưa giờ đã thành đàng ngựa đua. (130)
Đá xây thành trĩ ý
vua,
Chỉ là bến vắng người thưa đợi đò.
Cố cung nửa mảnh
gương mờ,
Vầng trăng sẻ nửa, gương chờ bóng loan.
Chiến binh cổ tự gởi
thân, (135)
Sè sè nấm đất cỏ hoang lù rù.
Dân canh man mác
thẫn thờ,
Cảnh xưa diễm lệ bây giờ còn đâu.
Thế thời thời thế
mặc dầu,
Nước trời trăng sáng nao nao lòng người. (140)
***
7N-(47-59), 12
liên, Ngân Triều cảm đề NHL: Hồ Tây trong thời Tây Sơn.
[…lòng người]
Trăng đầy theo luật
trăng vơi,
Nước nông nước hoắm là đời nước sâu.
Mậu Thân[32] xưng đế điềm mầu,
Sử ghi quét sạch giặc Tàu xâm lăng.
Canh Tuất[33] tế nhị cầu phong, (145)
Lấy dân làm gốc, anh hùng nước Nam.
Mặt hồ đổi sắc
xanh lam.
Đền đài rực thắm chen vàng ngàn hoa.
Bảy cây[34] còn mấy cây già,
Đua chen tùng bách, ngọn rà nóc mây. (150)
Bến kia đông kẻ
vui vầy,
Lao xao đùa nước như bầy uyên ương.[35]
Đá hoa ngoạn mục tỏ
tường,
Tiếng chim tiếng ngọc, tiếng trùng vàng
khua.
Bãi non trâu ngựa
cho lùa,[36] (155)
Giã từ vũ khí, đến mùa yên dân.
Nước trong kình ngạc[37] mất tăm,
Tắm vui trẻ nhỏ ầm ầm hò reo.
Được mùa rau thóc,
thoát nghèo,
Tưng bừng trăm họ về theo bóng cờ. (160)
Còn ai nhắc chuyện
Di Tề,[38]
Chiêu hiền đãi sĩ nước về phì nhiêu.
Cây kia trở gió đổi
chiều,
Mán khoe công đức ánh thiều sáng soi.
Sen về chùa nọ thật
rồi, (165)
Tù binh tha chết lũ Tàu nam mô.[39]
Dấu linh vẫn sáng
cơ đồ,
Nguồn nhân đức đã tưới vô khắp miền.
Mặt thành xưa thế
kim thang,[40]
Đất xây bằng phẳng định an, trường tồn. (170)
Cánh hàn chỉ trụ sửa
đồn,
Đá đem sắp xếp bảo tồn nơi nơi.
Ghé vùng trọng điểm
một thời,
Cảnh tuy là nhỏ đấp bồi sửa sang.
Đăng sơn là thú
người nhân, (175)
Thủy du người trí,[41] cảnh còn bao la.
Bóng tàn xanh, mấy
thu qua,
Chính danh vũ trụ đã lòa bóng dương.
Xa xôi cách trở dặm
trường,
Còn xa bệ tía ở vùng biên khu. (180)
Nỗi niềm xin tỏ mặc
dù,
Thanh dung[42] cao sĩ nhiệt tình sửa
cho.
***
8N-(60-83) 24
liên, Ngân Triều cảm đề: Ca ngợi công đức Nhà Tây Sơn.
[ … sửa cho]
Nay mừng đất mở
hoành mô,
Trời phù chính thống,[43] sơn hà vĩnh an.
Vận nước tái lập vững
vàng, (185)
Vua tôi những đấng minh lương chí hùng.
Long Biên đích thị
hoàng thành,
Ngắm sao Bắc Đẩu dân tình thủy chung.
Hồ Tây kế cận Bắc
cung,
Cảnh hồ trăm thức, lục hồng đua chen. (190)
Cỏ chưa mục, đóm
chưa đèn,
Tua Rua[44] phúc đức một phen chiếu
vào.
Ngắm trăng cấn tượng
bốn hào,
Trong ngoài quét sạch, công lao nghìn
trùng.
Vận hội mới, sáng
muôn vùng, (195)
Như lò thiên địa cháy bùng tháng giêng.
Tuần hoàn theo lẽ
khuôn thiên,
Hết lạnh thì ấm, hết phiền lại vui.
Đầy rồi thì tới lưng
vơi,
Đất bằng nắng ấm muôn nơi đẹp đời. (200)
Vạn loài sống lại
ơn trời,
Đường trăng
hòa hợp bảy ngôi thiên hà.[45]
Bốn mùa trời đất hài hòa,
Sinh sinh hóa hóa theo đà đẩu khu.[46]
Hương thơm bay ngát miền xa, (205)
Rượu nồng thấm cõi ta bà[47]
u minh.
Năm mây ngọc lụa đem trưng,
Cỏ cây cũng biết hát mừng nghiệp vương.
Tiêu thiều mấy khúc bệ rồng,
Thú cầm ca múa ánh hồng hoàng kim. (210)
Cờ năm thức, sắc hoa chìm,
Long lanh mặt nước dáo in ba ngù.
Tiếng đàn “Gió mát”[48]
gảy ru,
Nước sâu “ngũ bái”[49]
thiên thu tưng bừng.
Đến Ngọ, tiếng trúc vang lừng, (215)
Núi xa dường cũng cúi mừng “tam hô”.[50]
Nghìn thu lễ nhạc tiêu sơ,
Cảnh nầy, mấy thưở, nào so được nào.
Rồng mây, vũ lộ[51]
tưới vào,
Cõi bờ một mối, dạt dào lòng dân. (220)
Dưới cờ quét lũ nịnh gian,
Cờ lau đen, “áng tường quang”[52]
tuôn tràn.
Đầu ghềnh hai chữ vu viên,[53]
Răn loài hồng nhạn bỏ miền du cư.
Vạc nông “nhủ lũ ê phù,”[54] (225)
Bến sông ai hát nhà Chu thái bình.
Tiếng ca gợi nhớ dân sinh,
Nhà không khóa cửa, công bình tương thân.
Dễ dàng “canh tạc”[55]
mà ăn,
Múa ca tụng ngợi vương ân trẻ già. (230)
Nơi nơi “bặt quỷ im hồ”[56]
Thỏa lòng việc trước truyền cho nuôi trồng.
Nay đà “thái lãng”[57]
điềm thông,
Thánh nhân dè giữ cho lòng hân hoan.
Đưa đèn soi nước ghềnh sông, (235)
Truy tìm thủy quái, đục trong sông nào.
Tần vần cỏ mọc miếu cao,
“Thôi hoa”[58]
hồi trống trở màu “huân do”.[59]
Dân phong cày cấy chăm lo, Phong quang soi vật thanh ô đủ bài. (240)
“Chiểu đài”[60]
ngắm cá chim bay,
Cầu người có đức có tài kinh luân,
Nghe chim, gà gáy hiểu dân,
Thấy nơi trù phú, nơi bần thê lương.
Nỗi niềm tỏ rõ mọi đường, (245)
Trị bình thứ yếu cũng đành tề tu.[61]
Cường
hào nhũng nhiễu hải ngu,[62]
Truy tìm diệt lũ chuột chù trốn hang.
Bờ liễu cây đá vững vàng,
Hoài công tổ kiến xoi dòng nước trôi. (250)
Hồ đẹp chuyện nhỏ mà thôi,
Thái bình bốn bể để đời đại công.
***
9N-Đoạn kết
(84-86), 2 liên, Ngân Triều cảm đề: cảm
nghĩ của tác giả:
[…đại công]
Tôi nay,
Hổ mình dại trí
thô nông,
Yên bề “hu lịch”[63] tấc lòng kỷ qua.
Năm mươi bóng đã xế
tà, (255)
Gia cầm[64] lẩn thẩn như là chim
loan.[65]
Tây Hồ trau chuốt
một chương,
Ngước trông “ngự đạo”[66] thái dương, phụng trình,
Núi xanh muôn kỷ
chúc mừng[67],
Cơ đồ xán lạn[68] tưng bừng ngọc Dao. (260)
[2] Cao Biền, Thái thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông
có tài trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân và
nhân tài.
[3] Dâm Đàm là đầm rộng lớn mênh mông; đầy sương khói nước, sương mù
quanh năm. Dâm đàm là 1/6 tên gọi của Hồ Tây: Đầm Xác Cáo, Hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc, Dâm Đàm, Đoài Hồ,
Hồ Tây.
[4] Lãng Bạc: theo "Tây
Hồ chí", thì sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng,
Tướng quân Mã Viện với tư cách là kẻ thôn tính văn hóa đã gọi hồ Tây là Lãng Bạc
với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ.
[5] Động Bích Đào ở Ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, phía hữu núi Thần Phù;
còn gọi là “Từ Thức Động”, tương truyền Từ Thức vào đây gặp tiên.
[6] Ở Hồ Trúc Bạch, có một dải đất giống
hình mỏ chimPhượng nên được gọi là Gò Mỏ
Phượng. Gò nầy đã biến dạng do cư dân san lấp đất cất nhà.
[7] Mục Lang:
穆 郎,
Chuyện Mục Thận đời Lý, theo sách Việt Điện U Linh: Một hôm vua Lý Nhân Tông
đang ngự thuyền trên Hồ Tây, bỗng có sương mù dày đặc, thoáng có bóng một con hổ
lớn, nhe răng muốn vồ nhà vua. Lúc ấy, Mục Thận đang đánh cá trên hồ, liền tung
lưới bắt được con hổ. Con hổ đó hóa ra là Thái Sư Lê Văn Thịnh.
[8] Trấn vũ: 鎭
武, là tên gọi tại Việt Nam của thần Chân Vũ, người Việt còn gọi là Trấn Võ, húy danh Chấp Minh (執明) là một trong những vị thần được
thờ phụng phổ biến tại Trung Quốc và các nước Á Đông. Vị thần này tượng trưng
cho sao Bắc cực, và là một vị thần lớn của Đạo giáo thống
trị phương Bắc, kiêm quản lý các loài thủy tộc
nên cũng được coi là thủy thần hay hải thần. Nguồn Wikipedia.
[9] Chùa Trấn Quốc: Theo Từ
điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì
chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại
thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng.
Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa
được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời nhà Lý)
và điện Hàn Nguyên (thời nhà Trần).
Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa
tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở
chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu
đời nhà Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc
chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến
thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842,
vua Thiệu Trị đến
thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn
Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã
được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.
[10]Bố
Cái: 布丐Bố
Cái Đại Vương 布丐大王,
là tên mà nhân dân suy tôn cho Phùng Hưng. (Đại Vương như Cha Mẹ). Theo một số
nguồn dã sử, Phùng Hưng sinh ngày 25/11 /760 (tức 5/1/761) và mất ngày 13 tháng
8 năm Nhâm Ngọ (tức 13/9/802), thọ 41 tuổi.Nguồn
Soha.vn.
[11] Bà Đanh:
妑釘, Chùa Bà Đanh hay còn gọi “Bảo Sơn Nữ”, tọa lạc trên một vùng đất
tại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam.
[12] Thước: chim thước hay chim khách.
[13] Động Đào
hay Đào Nguyên còn gọi
là Động Bích, nơi tiên
ở.
[14]Ghềnh Nhật Chiêu
涼日招, là Nhật Tân ngày nay.
[15] Theo giải thích của các nhà khoa học
thì Hồ Tây vốn là một khúc của con sông Hồng. Hồ xưa kia rộng và dài từ Tây qua
Bắc sang Đông, nhưng đã bị cư dân và thời gian vùi lấp thành từng đoạn. Vì thế
mà thành hồ Cổ Ngựa (khoảng phố Phạm Hồng Thái sang Hàng Than) nay cũng đã bị lấp
nốt.
[16]Yên
Thái 安泰, là làng chuyên làm giấy rất nổi
tiếng, chủ yếu là giấy bạc và giấy moi.
[17] Chùa Châu Long: 珠龍, chùa toạ lạc trên một gò đất gọi là núi Châu Long ăn ra đến giữa hồ Trúc Bạch,
huyện Vĩnh Thuận, nay ở số 44 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội. Chùa đã có từ lâu đời, có tên chữ là Phúc Lâm tự,
tương truyền do vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293) cho dựng để công chúa đi tu.
[18]Phục
tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng
sơn, 伏象山.
[19] Nịnh Thích 甯戚,
người nước Vệ, thời Xuân thu, vì nhà nghèo phải sang nước Tề ở chăn trâu cho
người khác. Một hôm, Nịnh Thích gõ sừng trâu để hát, Tề Hoàn công đi qua, nghe
tiếng hát lấy làm cảm động, liền dùng làm thượng khanh.
[20] Thương lang:
滄浪, con sông nơi Khuất Nguyên tự trầm.
[21] Chu Mãi Thần
vì nghèo phải gánh củi đổi gạo sinh nhai nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi
Thần làm đến chức thái thú, vợ quay lại, ông không chấp nhận.
[22] Bốn bạn:
là ngư (đánh cá), tiều (đốn củi), canh (cày ruộng), mục (chăn nuôi).
[23] “Núi Khán Sơn,
看 山,
ở phía tây cửa cung vua ngày trước, chu vi hơn 20 trượng, là núi đất hơi cao,
trên đỉnh nhọn, đời vua Lê Thánh Tông vẫn lấy núi ấy làm chỗ ngồi ngự để xem điểm
binh, cho nên mới gọi là Khán Sơn”.
[24] Làng Võng Thị,
廊望市 xưa kia có một số ít ruộng nằm ven
hồ Tây, nên chỉ có một bộ phận rất nhỏ làm ruộng kết hợp thả sen; còn đa phần
dân làng sống bằng nghề đánh cá trong hồ. Tên gọi “Võng Thị” xuất phát từ đặc
điểm này (võng là lưới cá), nay
thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Cũng có ý kiến cho rằng, từ xa xưa tại
đây đã hình thành một chợ bán lưới đánh cá nên gọi như vậy.
[25] Đào Tiềm 陶潛, (? - 427), từ quan về ở Sài Tang,
nằm ngủ cạnh cửa sổ, tự xưng là người của vua Hy, vua Hoàng. Hy Hoàng: 羲皇Vua
Phục Hy và Hoàng Đế, thời thượng cổ nước Tàu. Đời Tấn.
[26] Nhị Thủy:
tức Nhĩ Hà, sông Hồng.
[27] Tam Sơn:
là 1 tong 4 quả núi của Thăng Long xưa (Núi Nùng, Tam Sơn, Khán Sơn, Thái Hòa
hay núi Voi). Núi Nùng chỉ còn trong
thơ văn; Tam Sơn thì nhỏ và thấp năm
1886 hãy còn; Khán Sơn, nơi Vua Lê
Thánh Tông vẫn thường ngự xem tập trận, các nhà nghiên cứu xác định Khán Sơn
xưa nằm ở vị trí trước Phủ chủ tịch ngày nay; Thái Hòa hay núi Voi, ở phía đông kinh thành, Thăng Long,
song đến năm 1885, Pháp bạt đi để xây trại lính".
[28] Quan ngư:
觀漁,
Xem đánh cá. Vua Trần
Huệ Tông sai làm quán ở Hồ Tây để xem đánh cá.
[29] Phục tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả
núi tên là Phục Tượng sơn, 伏象山.
[30] Bát vịnh du hồ:
八詠遊湖, Tám bài vịnh khi đi chơi trên hồ
do chúa Trịnh sai các quan làm ra.
[31] Liên ngâm thưởng nguyệt:
là bài thơ của bà Liễu Hạnh cùng làm với Phùng Khắc Khoan, ông họ Lý và một ông
họ Ngô khi đi chơi trăng ở Hồ Tây.
[32] Năm Mậu Thân:
戊申, là năm 1788, Quang Trung xưng
Hoàng Đế, kéo quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị.
[33] Năm Canh Tuất: 庚戌,
là năm 1790, là năm sau chiến thắng quân Mãn Thanh xâm lược, Vua Quang Trung cầu
phong nhà Thanh.
[34] Chốn bảy cây:
xưa, 坉𦉱核,
nơi giáp nhau của Hồ Trúc Bạch và Tồ Tây, có 7 cây cổ thụ.
[35] Uyên ương:
鴛鴦, loài ốc, con đực là uyên; con cái
là ương, thường ôm nhau không rời.
Uyên
ương ngoã lãnh sương hoa trọng
Phỉ thuỷ khâm hàn thuỳ dữ cộng
鴛鴦瓦冷霜華重,
翡翠衾寒誰與共
Trường
hận ca, Bạch Cư Dị. Nghĩa là:
Lớp sương nặng phủ trên mái ngói
uyên ương giá ngắt
Tấm chăn cánh trả, lạnh như tiền,
chung đắp cùng ai?
[36] Theo điển:
Vua Vũ Vương nhà Chu thả trâu ngựa ra đồng, tỏ ý khong muốn động binh nữa.
[37] Kình ngạc:
鯨鰐,
cá kình và cá sấu, chỉ
binh lính.
Ngất trời sát khí mơ
màng,
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp
binh.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2251-2252.
[38] Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc, 姑竹. Hai ông nầy khinh Vũ Vương vô đạo,
không thèm ăn thóc nhà Chu, lên núi Thú Dương ăn rau Vi, nhịn đói mà chết.
[39] Lũ Ngô 僂吳 hay Lũ Tàu, chỉ tàn quân Tôn Sĩ Nghị, chạy trốn về Tàu, được tha
cho về nước; niệm Nam mô, ý ca ngợi Tây Sơn từ bi như Phật.
[40] Kim thang; 金湯
kim thành, thang trì: Xây thành bằng chất liệu kim khí, hào lũy nước nóng, ý
nói thành rất kiên cố.
[41] Lấy ý câu: trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn, Luận ngữ: 知者樂水,仁者樂山, người trí trích nước, người nhân
thích núi.
[42] Thanh dung: 清容dáng
vẻ thanh tao.
[43]Chính
thống: 正統,
triều đại khai sáng một cách quang minh chính đại. Trái ngược với ngụy triều,
là không chính đáng như cướp ngôi, đoạt quyền (như nhà Hồ, nhà Mạc).
[44] Tua Rua: tên chòm sao
xuất hiện vào tháng 6 âm lịch.
[45]bảy thiên thể gồm mặt trời, mặt trăng và 5 thên
thể khác, còn gọi là thất tinh.
[46] Đẩu khu:
斗
枢, hay đẩu xu, then máy ở sao Bắc Đẩu.
[47] Ta bà
là phiên âm từ chữ Saha của Phạn ngữ, Ta
bà chẳng khác gì quán trọ, nhân loại sống trong cõi này đều giả tạm, vô thường,
không thật. Tại sao không thật? Vì suốt cả cuộc đời bị sinh, lão, bệnh, tử, tiền
tài, danh vọng chi phối, bức bách thật là khổ não. Tất cả đời sống vật chất cho
dù làm vua, làm quan, giàu sang đến cỡ nào đi nữa nhưng khi ra đi không mang được
gì cả, cho nên mới gọi là không thật.
[48] Theo tích: Gió Nam thổi mát, vua Thuấn gảy
đàn và hát:” Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề”. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮. Gió Nam mát mẻ, có thể giải được
sự nóng bức cho dân ta.
[49] Ngũ bái:
五拜, 5 lạy. Bề tôi phải lãy vua 5 lạy.
[50] Tam hô:
𨑜三呼,
ba lần hô. Hán Vũ Đế vào núi nghe sơn thần tung hô 3 lần vạn tuế.
[51] Vũ lộ: 雨露 mưa
móc, chỉ ơn vua.
[52] Tường quang:
祥光, ánh sáng báo điềm lành.
[53] Vu viên: 于園,
hồng nhạn vu viên, chim nhạn về làm tổ ở vườn nhà. Ý nói dân chúng chạy loạn,
trôi giạt, bây giờ cảm đức của vua, về nhà cũ an cư lạc nghiệp.
[54] Tức là [54] Ê phù tại chử: 鷖鳧在渚, cò, vịt trời ở bến nước, Ca ngợi nền thái bình nhà
Chu, Kinh Thi.
[55] Tức là Tạc canh:
鑿耕, tạc tỉnh nhi ẩm, 鑿井而飲 canh điền nhi thực: 耕田而食, Đào giếng mà uống, cày ruộng mà
ăn. Chỉ cảnh sống no đủ dễ dàng.
[56] Bặt quỷ im hồ:
匐鬼庵猢, vắng bặt ma quỷ, hồ ly tinh đều
im lặng.
[57] Thái lãng:
太朖, thái bình và sáng sủa.
[58] Thôi hoa: 摧花,
thúc giục hoa nở. Theo sách Nguyên Hòa Dị sử, đời Đường Minh Hoàng, ghi rằng,
vua sai Cao lực sĩ đánh 1 hồi trống, khi đó các loài mai ở vườn ngự uyển đều nở
hoa.
[59]
薰蕕 là 2 thứ cỏ, huân, cỏ thơm; do, cỏ
thối; chỉ kẻ tốt, người xấu.
[60] Chiểu đài:
沼台, ao và nhà lầu, chỉ cảnh sống thái
bình của Chu Văn Vương.
[61] Tu tề trị bình:
tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. 修身,
齐家, 治国,
平天下. Đó là con đường xuất xử của Nho
sĩ.
[62] Hải ngu: Góc biển chân trời, vùng sâu,
vùng xa.
[63] Hu lịch:
樗櫟, loài gỗ xấu, chỉ kẻ bất tài.
[64] Gia cầm:
loại thú có cánh nuôi trong nhà như gà, vịt, ngổng
[65] Chim loan
là chim mái. Phượng 鳳 là chim trống; loan 鸞,
là chim mái. Tác giả tự khiêm” trong hàng các quan của Tây Sơn, ông chỉ là con
chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.”
[66] Ngự đạo: 御道,
đường đi của vua.
[67] Tức là: Muôn
kỷ dao đồ: 閍紀遙圖,
muôn=vạn=10.000, kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là
thời gian lớn lắm. Dao đồ 遙圖, là cơ đồ tươi sáng, rạng rỡ như
ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.
