Xin mời quý bạn cùng tôi đọc lại một bài thơ chữ Hán tuyệt bút của Nguyễn Du: Quỳnh Hải Nguyên Tiêu.
Quyønh Haûi Nguyeân tieâu
Nguyeãn
Du
瓊海元宵
阮 攸
• Rằm tháng riêng ở
Quỳnh Hải
I /- Vài nét về tác giả:
Nguyễn Du(1766 -1820)
Tượng đài của cụ Nguyễn Du. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nguyễn Du (chữ
Hán: 阮攸; Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766– 1820)
tên chữ Tố Như (素如),
hiệu Thanh Hiên (清軒),
biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (鴻山獵戶), Nam Hải điếu đồ (南海釣屠),
là một nhà thơ nổi tiếng, nhà
văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, Danh
nhân văn hoá thế giới. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là " Đại
thi hào dân tộc".
Tác phẩm "Truyện Kiều" của ông được xem là một kiệt tác văn học, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong văn học Việt Nam.
Tiểu
sử
Theo một bản gia phả của dòng họ
Nguyễn ở làng Nghi Xuân, Nguyễn
Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 3 tháng 1 năm 1766) tại phường Bích Câu, Thăng Long.
Cha là Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy
Tư, hiệu Nghị Hiên,
có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận công.
Mẹ là bà Trần Thị Tần [[1]] (24 tháng 8 năm 1740 - 27 tháng
8 năm 1778), con gái một người làm chức câu kế. Bà Tần quê ở làng Hoa Thiều, xã
Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm (kém chồng 32 tuổi sinh được
năm con, bốn trai và một gái).[2][3]]
Tổ tiên của Nguyễn Du có nguồn
gốc từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam(nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan.
Năm Đinh Hợi (1767), khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo,
hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công nên Nguyễn Du thời đó sống trong giàu
sang phú quý.
Năm Giáp Ngọ (1774), cha Nguyễn Du sung chức tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng
Trong. Từ thời gian này Nguyễn Du chịu nhiều mất mát:
Năm 1775 (Ất Mùi) anh trai cùng mẹ là Nguyễn Trụ (sinh 1757) qua đời.
Năm 1776 (Bính Thân) cha Nguyễn Du qua đời.
Năm 1778 (Mậu Tuất) bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Cũng trong năm này, anh thứ hai
của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Mới 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn
mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn ông 31 tuổi)
Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép
tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh
Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công.
Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón
về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học.
Năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn
Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.
Năm Quý Mão (1783) Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường
(Tú tài). Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh
thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Cũng trong năm
này anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề (sinh 1761) đỗ đầu kỳ thi Hương ở điện Phụng Thiên, và Nguyễn
Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng.
Năm Giáp Thìn Tháng 2 năm (1784), kiêu binh nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của
Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá, Nguyễn Khản phải trốn
lên ở với em là Nguyễn Điều đang là trấn thủ Sơn Tây. Đến năm 1786 thì Nguyễn Khản bị mắc bệnh rồi
chết ở Thăng Long.
Năm Kỷ Hợi (1789) Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với Tây Sơn, giữ chức Thị lang bộ Lại. Lúc này Nguyễn Du về ở quê vợ (Quỳnh Côi, Thái Bình).
Tháng mười, năm Tân Hợi (1791), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh do chống Tây
Sơn nên bị bắt và bị giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá
hủy.
Năm Quý Sửu (1793), Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú
Xuân thăm anh là Nguyễn Đề đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn
Nguyễn Tuấn.
Năm Giáp Dần (1794), Nguyễn Đề được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp
tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự
lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng
nghị Trung thư sảnh.
Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận
bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông
có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù)
Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam
(nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội).
Năm Quý Hợi (1803), Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.
Năm Ất Sửu (1805) ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và
vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão (1807) được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn (1808), ông xin về quê nghỉ.
Năm Kỷ Tỵ (1809) ông được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình
Năm Quý Dậu (1813) ông được thăng Cần chánh điện Đại
học sĩ và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu
tham chi bộ Lễ (hàm Tam phẩm).
Năm Bính Tý (1816), anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con
Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam.
Năm (Canh Thìn) 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được
cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông
bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi.
Năm Giáp Thân (1824), di cốt của ông được cải táng về quê nhà là làng Tiên Điền, Hà Tĩnh[[4]].
Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Du:
Du là người Nghệ An, học rộng giỏi thơ, càng giỏi
về Quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay
nói gì.[[5]]
Đại Nam liệt
truyện chép:
Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tõ ra
kính cẩn, mỗi khi vào yết kiến, sợ hãi như không nói được.[[6]] Người đời sau, như ý kiến của
các ông Trịnh Vân Định, Trần Nho Thìn cho đó là một cách khéo léo để giữ toàn mạng
và thăng tiến trong thời loạn, mặc dù trong văn thơ của Nguyễn Du thường đề cao
những anh hùng thời loạn, nhưng ông chọn cách sống khác, cống hiến nhưng "ẩn
dật" trong chốn quan trường.[[7]]
Tác phẩm
Qua các tác phẩm của Nguyễn Du,
nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên
bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật,
thất ngôn luật, ca, hành... nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt
hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện
Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ
tình to lớn trong thể loại truyện thơ.
Chính trên cơ sở này mà trong
thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn
lên những đường nét sắc cạnh của một bức tranh hiện thực đa dạng. Và giữa những
âm thanh, màu sắc, đường nét vô cùng phong phú đó, Nguyễn Du hiện ra: vừa dạt
dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận. Đây
là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du. Từ
thơ chữ Hán đến truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kỳ lạ ở hầu hết tác phẩm của
ông.[[8]]
Văn
bản
Sáng tác của Nguyễn Du được lưu
hành ngay từ lúc ông còn sống. Tương truyền Truyện Kiều được Phạm Quý Thích nhuận sắc và cho in ở phố Hàng
Gai - Hà Nội lúc ấy. Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ
An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh. Từ đó đến nay, việc sưu
tập, nghiên cứu phổ biến di sản văn học của Nguyễn Du vẫn còn tiếp tục. Còn có
những ý kiến hồ nghi tác giả một số bài thơ chữ Hán vẫn được coi là của Nguyễn
Du. Việc xác định thời điểm ra đời của các tác phẩm chưa được giải quyết, kể cả
thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều. Mặc dù đã mất nhiều công
sức, nhưng các ý kiến trong giới nghiên cứu vẫn còn rất khác nhau.[[9]]
Tác phẩm bằng chữ Hán
Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm
1959 mới được ba nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn
Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nhà xuất bản Văn hóa, 1959) chỉ gồm
có 102 bài. Đến năm 1965 Nhà xuất bản Văn học đã ra Thơ
chữ Hán Nguyễn Du tập mới
do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch,
sắp xếp, gồm 249 bài như sau:
Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78
bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.
Nam trung tạp
ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết
khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.
Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến
đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.
Tác
phẩm bằng chữ Nôm
Những tác phẩm bằng chữ Nôm của
Nguyễn Du gồm có:
. Đoạn trường tân
thanh (Tiếng than mới đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều
truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình
chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc. Về thời điểm sáng
tác, Từ điển văn học (bộ mới) ghi:
"Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói
ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được
nhiều người chấp nhận hơn"[[10]].
. Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại
chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), viết
bằng thể thơ song thất lục bát hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản
do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên "Đông Dương tuần
báo" năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp
làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các
chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãncho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Tác phẩm được làm theo
thể song thất lục
bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm.
. Thác lời trai phường nón, 48
câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón
làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.
. Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ,
98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác.
Đánh giá
Trước
năm 1930
Trong quãng thời gian hơn một
trăm năm này, người bình luận các tác phẩm của Nguyễn Du là các nhà nho. Ở thế
kỷ XIX, các nhà nho thường qua những bài thơ vịnh, những bài tựa mà bộc lộ cách
nhìn, chính kiến của mình với tác phẩm. Sang thế kỷ XX, các nhà nho lại phát biểu
bằng những bài văn chính luận. Nhưng bình luận ở giai đoạn nào họ cũng đều chia
làm hai dòng khen và chê. Tuy nhiên, dù khen hay chê thì tất cả họ đều đánh giá
cao nghệ thuật văn chương của Nguyễn Du.
Từ
1930 đến 1945
Nghiên cứu phê bình văn học thời
gian này đã thành một bộ môn riêng biệt, mang ý nghĩa hiện đại. Các tác phẩm của
Nguyễn Du trong giới nghiên cứu, phê bình thấy rõ ba khuynh hướng sau:
Khuynh hướng phê bình ấn tượng chủ quan với các ông Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều,Lưu Trọng Lư
Khuynh Hướng giáo khoa qua những công trình của các
ông Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm
Cách tiếp cận kiểu khoa học của ông Nguyễn
Bách Khoa
Từ
1945 đến 1975
Trong giai đoạn chia đôi đất nước
này, tại miền Bắc, việc nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du trong quan hệ với hiện thực đời sống
xã hội theo quan điểm mỹ học mácxít. Tác phẩm văn học được nhìn nhận như là sự phản ánh đời sống xã hội và bộc
lộ thái độ của nhà văn đối với hiện thực đó. Hai công trình theo hướng này xuất
hiện sớm và đáng chú ý hơn cả là cuốn: Quyền sống của con người trong "Truyện
Kiều" của Hoài Thanh (1949) và bài báoĐặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội
dung "Truyện Kiều" của Đặng Thai Mai(1955). Vấn đề tinh thần nhân đạo và tính hiện thực của "Truyện Kiều"
được hai tác giả chú ý đặc biệt và coi là giá trị cơ bản của tác phẩm.
Ở miền Nam, thời kỳ 1954 - 1975
cũng có nhiều người để tâm phê bình nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du. Dịp
kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du trên các tập san Văn (số 43, 44) và Bách
khoa thời đại (số 209) nhiều
bài phê bình được công bố. Trước đó, năm 1960 có cuốn Chân
dung Nguyễn Du tập hợp một
loạt bài viết về Nguyễn Du của nhiều tác giả. Trước sau năm 1970 cũng thấy một
số công trình khá công phu của Phạm Thế Ngũ,Đặng Tiến, Nguyễn Đăng Thục...
Từ
1980 đến nay
Trong giai đoạn này, cac tác phẩm
của Nguyễn Du được tiếp cận bởi nhiều phương pháp mới: phong cách học, thi pháp
học, ký hiệu học... Đã xuất hiện một số công trình đáng chú ý của Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu...
Nhìn chung các tác giả đều cố gắng
khách quan hóa việc phân tích tác phẩm, muốn làm cho các kết kuận của mình là
hiển nhiên, "không còn tranh cãi". Tuy vậy mọi việc không đơn giản,
các ý kiến vẫn cứ rất xa nhau, điều đó có nghĩa là những cuộc tranh luận sẽ vẫn
tiếp diễn và như vậy nghiên cứu, phê bình về các tác phẩm của Nguyễn Du sẽ tiếp
tục tiến triển.
Sáng tác của Nguyễn Du không thật
đồ sộ về khối lượng, nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học
và văn hóa dân tộc. Hơn nữa nó lại rất năng sản. Từ Truyện Kiều đã nảy sinh biết bao những hình
thức sáng tạo văn học và văn hóa khác nhau: thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều bằng văn học, sân khấu, điện ảnh;
rồi rất nhiều những dạng thức của nghệ thuật dân gian: đố Kiều, giảng Kiều, lẩy
Kiều, bói Kiều... Đặc biệt là số lượng rất lớn những bài bình luận, những công
trình phê bình, nghiên cứu.
Tưởng niệm
Ngày 17/11/2015, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức họp báo giới thiệu về
các hoạt động kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông. Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 250
năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2015) diễn ra ngày 05/12/2015 tại thành phố Hà
Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.[[11]] với chương trình nghệ thuật “Tiếng
thơ ai động đất trời” do Cục
Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch chỉ đạo và Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam thực hiện với sự tham gia của gần
650 nghệ sỹ[[12]]
Lễ kỷ niệm có các huỗi hoạt động
chính: Tổ chức các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; xuất bản Truyện Kiều, các tác phẩm của Nguyễn Du ra nhiều thứ tiếng khác nhau; xây dựng phim
tư liệu, các tác phẩm âm nhạc, hội họa… về thời đại, cuộc đời, sự nghiệp, tác
phẩm của Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn
Tiên Điền; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, thi ngâm Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều, diễn trò Kiều, nói chuyện về tác phẩm của Nguyễn Du; tổ chức các hoạt động
hưởng ứng kỷ niệm tại Thủ đô Hà Nội là nơi sinh và tại tỉnh Bắc Ninh (quê mẹ của ông); tuần Văn hóa,
Du lịch Nguyễn Du, bắt đầu từ ngày 28/11 đến 05/12/2015 tại Hà Tĩnh.
Bên cạnh đó, từ 17/11 đến
25/11/2015 tại Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh diễn ra Tuần triển lãm về Nguyễn Du do Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh và Công
ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam tổ chức. Triển lãm quy tụ tương
đối đầy đủ các ấn bản bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán, chữ Nôm những sáng tác của Nguyễn Du
cũng như các công trình nghiên cứu, biên khảo, chú thích về Nguyễn Du của nhiều
lớp học giả. Điểm nhấn của triển lãm là những bản Nôm gốc như bản in Kim
Vân Kiều tân tập(năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái - 1906), bản chép tay Kim
Vân Kiều thích chú (Kỷ Mão1879). Ngoài ra, còn có 20 bức thư pháp của các thành viên Chi
hội Thư pháp (Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh) cũng sẽ được trưng bày với nội
dung là những trích đoạn các sáng tác của Nguyễn Du (Truyện Kiều, Văn tế thập loại
chúng sinh…).[[13]]
II/- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ trên:
Quỳnh
Hải Nguyên Tiêu là bài thơ mở đầu cuốn thơ chữ Hán Thanh Hiên Tiền Hậu Tập của
Nguyễn Du. Cuốn này thi hào bắt đầu viết khi đi lánh nạn, trong suốt thời gian
mười năm gió bụi (1786-1796) qua tới 1804. Có điều bài thơ đầu tiên lại không
phải là bài sáng tác trước tiên, mà có sau những bài như Sơn Cư Mạn Hứng, Tự
Thán, Khất Thực...có trong cuốn này, cũng như những tác phẩm được viết từ khi
còn trẻ, nổi tiếng là một trong "ngũ tuyệt", rât đáng tiếc đã mất hết
trong chiến tranh.
Ngũ tuyệt là tên 5 nhà thơ của nền văn học
chữ Nôm, được tôn tụng là “An Nam ngũ
tuyệt”là:
Nguyễn Hành
(1771-1824) được người đời đánh giá là một trong An Nam Ngũ Tuyệt, năm nhà thơ lớn tuyệt diệu Việt Nam trong thời đại
cùng với chú ông là Đại thi hào Nguyễn Du.
Nguyễn Du
(1766-1820), tác giả Đoạn Trường Tân Thanh.
Ba người còn lại
không ai khác hơn là:
Nguyễn Huy Tự
(1743-1790) tác giả truyện thơ Hoa Tiên bằng thơ lục bát, con Thám Hoa
Nguyễn Huy Oánh, con rễ Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Khản.
Phan Huy
Ích (1750-1822) tác giả bản diễn ca thơ nôm Chinh Phụ Ngâm khúc và Dụ Am Ngâm lục.
Địa vị và tài năng của hai tác giả này, văn học đã dành một chổ đứng xứng đáng.
Còn người thứ ba là
Ngô Thời Vị
(1774-1821) em út Ngô Thời Nhậm, một trong những tác giả Ngô gia văn
phái : Hoàng Lê Nhất Thống Chí và tác giả Mai dịch tu dư và Thành phủ công
thi văn, được vua Gia Long trọng dụng ngang hàng với Nguyễn Du: hai lần đi sứ,
lần cuối cùng thay Nguyễn Du mất năm 1820 làm Chánh Sứ, nhưng ông lại mất
trên đường đi sứ về đến Quảng Tây năm 1821. .
Ngô Thời Vị có mặt
trong nhiều giai đoạn lịch sử của Hoàng Lê Nhất Thống Chí, những đối thoại của
Nguyễn Huệ trong triều vua Lê, ông là người chứng kiến và chép sử, khác với ông
anh cả Ngô Thời Nhậm phải lận đận, bận rộn trong công việc triều chính, Ngô Thời
Vị là người có khoảng cách để quan sát, ghi chép và đủ tài năng để khởi thảo một
tác phẩm văn xuôi độc đáo nhất nước ta. Tầm vóc Ngô Thời Vị đương thời sánh
ngang với Nguyễn Du. Thơ chữ Hán ông rất độc đáo.
Trước Hoàng Hạc Lâu,
thi hào Lý Bạch phải thốt lên :Trước
mắt có cảnh không tả được, vì thơ Thôi Hiệu ở trong đầu. Bài thơ Hoàng Hạc
Lâu của Thôi Hiệu tuyệt tác thi hào Lý Bạch phải bí tứ thơ. Ngô Thời Vị
hiên ngang xưng danh : Sứ thần nước
Việt Ngô Thời Vị, Phóng bút đề thơ viếng cảnh này.
Mọi người tôn sùng
Quách Cự trong Nhị Thập Tứ Hiếu của Lê Văn Phức, vì mẹ già chôn con, thì Ngô Thời
Vị kết án:
Ngũ luân nào phải
nhất luân,
Mẹ già,
con trẻ đồng cân rõ ràng.
Lưỡng toàn ví
chẳng đảm đương.
Nghèo thêm một miệng nuôi thường đáng bao?
Cự kia, hiếu nặng
thế nào,
Giết con chẳng khác cầm dao giết mình.
Cự kia, lòng tệ sao đành.
Dù thông đạo hiếu, chưa rành đạo nhân.
Hoàng kim ví chẳng được phần,
Tránh sao một tội bại luân thường rồi?
(Tham Tuyền dịch).
Lý luận của Ngô Thời
Vị thật chửng chạc đanh thép, khác lối hùa theo ngợi khen của người đời thật
là một trong năm ngũ tuyệt. Thời học Trung Học, học Nhị Thập Tứ Hiếu, đến tên
Quách Cự, tôi thấy tức tối, vì hiếu với mẹ mà nỡ chôn con, tên giết người vô
luân kia thế cũng được gọi là hiếu, nay đọc được thơ Ngô Thời Vị thật mát gan
mát ruột.
Có lẽ những tài năng
lớn như Nguyễn Hành, như Ngô Thời Vị đã bị đời sau quên lãng!!!
Năm nhà thơ lớn, thuộc
bốn dòng họ văn học danh tiếng Việt Nam : Nguyễn Tiên Điền,(Nguyễn Du,
Nguyễn Hành); Nguyễn Trường Lưu,(Nguyễn Huy Tự); họ Phan Huy (Phan Huy Ích,
làng Thu Hoạch huyện Thiên Lộc Hà Tĩnh, và họ Ngô Thời, ( Ngô Thời Vị), quê Tả
Thanh Oai (làng Tó), Hà Đông nay thuộc Hà Nội.
(Theo Tiến
sĩ Phạm Trọng Chánh, Paris)
Sau khi rời kinh thành Thăng Long
khói lửa, thất lạc gia đình, Nguyễn Du lang thang giang hồ nghèo khổ một thời
gian, rồi về Thăng Long gập lại anh Nguyễn Nễ đang làm quan cho triều đình Tây
Sơn (bài thơ Long thành Cầm giả ca). Khi Nguyễn Nễ vào Phú Xuân theo công vụ
vào năm 1793, Nguyễn Du không nơi nương tựa, tới sống "gửi rể " nơi
gia đình vợ ở Quỳnh Côi cho tới năm 1796. Gia đình này có tiếng văn học với anh
vợ là tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, từng làm Phó sứ sang Trung Hoa năm 1789 (cùng
sứ đoàn với Nguyễn Nễ), bố vợ là cố hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục, ngự sử triều
Lê (đã mất).
Chúng ta hãy tìm hiểu Quỳnh Hải
Nguyên Tiêu, bài thơ có giá trị văn chương của đại thi hào
Nguyễn Du. Ông là người em-rể-mới chào Trăng rằm tháng giêng ở quê vợ Quỳnh Hải, để ra
mắt bạn bè, họ hàng bên vợ; giới thiệu đôi điều về văn chương của mình với hoàn
cảnh, tâm sự, mối tình riêng của mình đối với " nàng trăng ":
Bản chữ Hán:
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年
阮 攸
Nguồn:Thơ chữ
Hán Nguyễn Du, Thi Viện
Phiên âm:
Quỳnh
Hải Nguyên Tiêu
Nguyên
dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên Xuân hứng, thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên?
Hồng Lĩnh vô
gia huynh
đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.
Nguyễn Du.
Nguồn,
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thi Viện.
Chú thích:
Quỳnh
Hải Nguyên Tiêu
Nguyễn
Du
Đêm rằm tháng
Giêng ở Quỳnh Hải.
Quỳnh Hải tức Quỳnh
Châu thuộc trấn Sơn Nam xưa, nay là huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, quê vợ của
Nguyễn Du. Năm 1786, sau khi Nguyễn Khản, anh trai một cha khác mẹ của ông từ
trần, Nguyễn Du lánh nạn về Quỳnh Côi, ở nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn ở xã Hải An (lúc này Lê
Chiêu Thống chưa chạy sang Trung Quốc).
Nguyên dạ: 元夜,
đêm rằm tháng Giêng.
nguyệt mãn thiên: 月滿天, ánh trăng sáng vằng vặc đầy trời.
Y y bất cải: 依依不改, vẫn vậy, không thay đổi. cựu: 舊, xưa cũ
thuyền
quyên: 嬋娟, dáng vẻ xinh đẹp, dễ thương về người và vật; thường dùng để chỉ những nét khả ái của người
con gái. Ở đây chỉ mặt trăng.
Nhất thiên Xuân hứng: 一天春興, một trời Xuân thú vị, tuyệt vời.
thùy gia lạc: 誰家落, (ai, nhà, rơi), đổ xuống, rơi ngập
tràn vào nhà ai.
Vạn lý: 萬里, mười ngàn dặm, chỉ một nơi rất xa
sinh quán.
Quỳnh Châu: 瓊州, tức là Quỳnh Hải.
thử dạ viên: 此夜圓, ( như thế, đêm, người được hưởng),
ai được thưởng thức một đêm trăng như thế.
Hồng
Lĩnh vô gia: 鴻嶺無家,
ở tại Hồng Lĩnh, (tên núi ở Hà Tỉnh, sinh quán của Nguyễn
Du), không có nhà cửa nữa, vì qua các biến cố lịch sử bấy giờ, nhà cửa của ông
đều bị phá sạch, đốt sạch.
huynh
đệ tán: 兄弟散, anh em chia lìa, ly tán, mỗi người
một phương trời. (Thân phụ Nguyễn
Du là Nguyễn Nghiễm đỗ tiến sĩ, làm quan, có 8 vợ và 21 con (12 con trai). Con
cả là Nguyễn Khản làm tham tụng thời Chúa Trịnh, kế đến là Nguyễn Điều làm Đốc
trấn Sơn Tây. Người anh cùng mẹ là Nguyễn Nễ làm quan cho Tây Sơn. Người anh
khác mẹ là Nguyễn Quýnh âm mưu kết nghĩa chống lại nhà Tây Sơn, bị bắt không chịu
phục, nên bị giết. Dinh cơ của họ Nguyễn cùng nhà cửa của Nguyễn Quýnh đều bị
phá sạch. Anh em Nguyễn Du chạy lánh nạn mỗi người mỗi nơi, chỉ còn người em
khác mẹ là Nguyễn Nhưng).
Bạch đầu đa hận: 白頭多恨, đầu bạc, tuổi già; nhiều nỗi bực dọc, buồn phiền.
tuế thời thiên: 歲時遷,
(năm tháng, tuổi tác; thời; trôi qua, đổi thay) , năm tháng trôi qua; tiếc nuối
cho hoàn cảnh không thể làm gì được, cứ để cho
năm tháng trôi qua trong vô vọng.
Cùng đồ:
窮途, bước đường cùng trong đời.
liên nhữ: 憐汝, thương cho nhà ngươi biết bao.
dao tương kiến: 遙相見, cho dẫu xa xôi mà hai ta
cùng trông thấy nhau, (người và trăng).
Hải giác thiên
nhai: 海角天涯, góc biển, chân trời; chỉ một nơi
heo hút, quạnh vắng, xa lắc.
tam
thập niên: 三十年,
ba mươi năm; ý nói ở tuổi ba mươi.
Câu này có người giải thích là:
"Ở nơi góc bể
chân trời ba mươi năm."
Căn cứ một số chú
giải, giải nghĩa như thế e rằng chưa đúng, vì Nguyễn Du lúc chạy đến Quỳnh Côi
lánh nạn, tuổi mới trên đôi mươi (sinh năm 1765, đậu tam trường năm 1784, chạy
giặc năm 1786, 21 tuổi). Và lênh đênh nơi quê vợ chỉ trên dưới mười năm. Như vậy
phải hiểu, khi ấy, tác giả đang ở
"tuổi ba mươi" mới hợp lý).
*
Dịch nghĩa
Đêm rằm tháng giêng, sân vắng, ánh trăng sáng vằng vặc
đầy trời.
Khuôn trăng như nét đẹp của người
con gái ấy, vẫn hệt như xưa, không hề thay đổi.
Một trời Xuân tuyệt vời đêm nay, không biết tuôn tràn
xuống nhà ai?
Ở nơi Quỳnh Châu xa xôi nầy, mấy ai được thưởng
thức một đêm trăng đẹp như thế?
(Còn ở quê
nhà Hồng Lĩnh), cửa nhà tan tác,
không còn nhà, anh em ly tán, phiêu bạt cả, (mỗi người một phương trời).
Đầu đã bạc, trải
qua biết bao nỗi bực dọc, buồn phiền, trong khi thời gian thì ngày lụn tháng
qua, ảm đạm trôi nhanh.
Đường cùng rồi,
thương cảm biết bao, vầng trăng xưa vẫn còn đoái thương đến ta, cho dẫu xa xôi
ngăn cách, mà trăng và ta cũng còn
có cơ hội lặng lẽ nhìn nhau.
(Vậy là), nơi góc biển chân trời phiêu bạt, có
một người cô lữ, ngổn ngang sầu tư trăm mối bên lòng, vò tơ đòi đoạn, lúc tuổi
đời chỉ mới ba mươi.
Dịch
thơ:
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Trắng tay tam thập,
lao đao cuối trời? (Ảnh minh họa, Google)
(1) Đêm Rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải
Nguyên
tiêu tỏa sáng khắp trời,
Trăng như người
cũ, tuyệt vời không phai!
Trời Xuân ngập xuống nhà ai?
Mấy ai tận hưởng trăng này xa xôi?
Tan
nhà, huynh đệ chia phôi,
Bạc đầu căm giận tuổi đời ruỗi mau.
Trăng
ơi! Đêm vẫn nhìn nhau.
Mới ba mươi tuổi, lao đao cuối trời?
Ngân Triều dịch thơ
III/-Lời bình,
Ngân Triều:
Hai câu đầu:
Cảnh đêm sáng trăng và hình ảnh vầng
trăng:
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nguyên tiêu tỏa sáng khắp trời,
Trăng như người cũ, tuyệt vời không phai!
Đêm Rằm tháng Giêng, nguyên dạ, 元夜, trước sân nhà quạnh
vắng. không đình, 空庭, ánh trăng sáng vằng
vặc, tỏ rõ khắp trời; nguyệt mãn thiên, 月滿天.
Vầng trăng khả ái ngày xưa, như người
tình cũ, cựu thuyền quyên, 舊嬋娟, vẫn vậy, không bao giờ thay đổi, y y bất cải, 依依不改.
Cảnh đêm trăng thi vị tuyệt vời! Vầng
trăng như gần gũi, chan chứa thân thương như người tình cũ, dịu dàng, đằm thắm,
thủy chung…
Để rồi tâm tình riêng được trải lòng qua
4 câu thực-luận:
Thực-luận:
Đó là những tâm tình trăn trở cho người,
cho ta:
Nhất thiên Xuân hứng, thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên?
Hồng Lĩnh vô
gia huynh
đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Trời Xuân ngập xuống nhà ai?
Mấy ai tận hưởng trăng này xa xôi?
Tan
nhà, huynh đệ chia phôi,
Bạc đầu căm hận tuổi đời ruỗi mau.
Một trời Xuân thi vị, hạnh phúc như thế
này, không biết rơi xuống cho nhà ai? Có điều chắc chắn là không phải cho nhà
ta rồi!
Ở nơi xa xôi như Quỳnh Châu đây, có mấy
ai được thưởng thức một đêm trăng đẹp như thế nầy, như ta?
(Còn
ở quê nhà Hồng Lĩnh, 鴻嶺), cửa nhà bị phá sạch, mất nhà rồi, vô gia, 無家, tổ ấm tan tác, anh em ly tán, phiêu bạt cả.
(Mỗi người một phương trời).
Đầu
đã bạc, bạch đầu, 白頭, trải qua biết bao
nỗi bực dọc, buồn phiền, đa hận, 多恨 (trong
bất lực), nhìn ngày tháng lãnh đạm trôi mau, tuế thời thiên, 歲時遷 mà
thấm thía cuộc đời vô vị.
Về nghệ thuật đối rất chính xác, cân xứng,
không những trong tứ thơ mà còn từ ngữ với từ ngữ:
Hai câu thực: đối trong nhịp thơ 4/3:
Nhất thiên Xuân hứng,/ thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu,/ thử dạ viên?
(Xin đối chiếu với phần dịch nghĩa, bên trên)
Hai câu luận: sử dụng tá đối, Hồng Lĩnh (địa danh, hồng
nghĩa là chim hồng, không phải màu hồng đối với Bạch đầu là đầu bạc. Tá đối,
đối vay mượn như thế là đúng luật và hợp
lý.
Tương tự như: hồng 紅 hồng đối với bạt 㧞 = vung kiếm là tá
đối mà hay.(không phải bạc 白 là trắng)
Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa.
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần
火 紅 日 早 轟 天 地
劍 㧞 堅 江 泣 傀 神
(Hai câu đối thờ vị anh hùng Nguyễn Trung Trực, ở Đền
Vàm Nhật Tảo, Tân An)
Nghĩa là: Lửa hồng ở Nhật Tảo nổ rền trời đất, (oanh 轟= nổ rền)
Vung kiếm ở Kiên
Giang, làm cho quỷ khóc, thần sầu, khiếp kinh (bạt: 㧞, vung kiếm; khấp 泣= khóc).
Hỏa hồng và kiếm bạt
là tá đối.
Hai câu kết:
Tâm trạng của tác
giả:
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Mới
ba mươi tuổi, lao đao cuối trời.
Ở
bước đường cùng rồi, cùng đồ,
窮途;
biết bao thương cảm vì vầng trăng xưa như
người tình cũ vẫn hãy còn thương cảm, lân nhữ, 憐汝, cho dẫu xa xôi mà trăng và ta cũng còn có
cơ hội cùng ngắm nhìn nhau, dao tương kiến,
遙相見.
Chỉ nhìn nhau trong đêm trăng sáng này thôi, hay vẫn mãi nhìn nhau trên suốt những
chặng đường đời muôn nẻo sơn khê?
-“Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy,
Giam hãm thân trong cảnh nặng nề.
Vẫn để hồn theo người lận đận,
Vẫn hằng trông đếm bước anh đi”
…
Ta muốn lòng ta cứ lạnh lùng,
Gác tình duyên cũ, thẳng đường trông.
Song le hương khói yêu đương vẫn,
Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng.
Giây phút
chạnh lòng, Thế Lữ.
(Một người “vẫn hằng trông đếm bước anh đi” còn người
kia thì “Phảng phất còn vương vấn cạnh
lòng”. Cho hay: Khi đã yêu thì…nghìn năm hồ dễ đã…ai quên!)
(Thế là), nơi góc biển chân trời, có một
người lưu lạc, chạnh lòng về thân phận mình, lúc tuổi đời chỉ mới ba mươi Xuân.
Tóm lại,
Quỳnh Hải Nguyên Tiêu là một bức
tranh hai màu, cảnh – tình, sáng – tối; một giai điệu đứt ruột của một tâm hồn
chán nản trên bước đường không lối thoát; một nỗi niềm đa hận, bi thương của một một gia đình tan tác; một tiếng tơ lòng, u ẩn, vương vấn tình xưa
và một sự bất lực của một tấm lòng ngao ngán, trước những thay đổi của thời thế
dâu bể, đa đoan, bấy giờ.
Ngân Triều.
Chú thích:
[1] ^ Theo "Tuyển tập Trương
Chính" Nhà xuất bản Văn học 1997. Bà Tần là vợ trắc thất hàng thứ ba, bà
sinh ngày mồng 6 tháng 7 năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Hưng. Bà lấy chồng năm
16 tuổi, năm 17 tuổi bà sinh con đầu lòng là Nguyễn Trụ (1757), sau bà còn có
năm bà khác nữa
[6] ^ Quốc sử quán triều
Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 2, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 357
[7] ^ Trịnh Văn Định, Những cách thế
lựa chọn của kẻ sĩ tinh hoa trong lịch sử, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 29, số 2
(2013), trang 10-18

