Boâng
coû may
Truyện Võ Kim Ngân
Ngân Triều phóng
tác
Tôi đã trải qua một tuổi thơ hồn
nhiên rất đẹp với nhiều kỷ niệm của thuở học trò trường Tiểu học Bào Trai Hậu
Nghĩa (Ngày xưa, Trường Tiểu học Bào Trai[1],
viết chữ o như thế nầy). Đó là năm học 1954 – 1955 và 1955 –1956, lúc ở tuổi
choai choai 13, 14, 15. Hồi đó, mỗi tuần lễ học sinh miền quê phải đi học 6
ngày. Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu là học nguyên ngày, còn những ngày còn
lại, học một buổi. Những ngày học hai buổi, học sinh ở xa như chúng tôi phải giở
theo cơm đựng trong một cái“mo cơm” làm bằng bẹ tàu cau, ăn trưa,
ngay lớp học của mình, hoặc rủ nhau ăn chung từng nhóm, nơi hành lang, lớp học,
hoặc dưới gốc cây điệp to ở hai bên cổng trường.
Sau bữa cơm trưa lúc tan học sáng
10h30, chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống đám rừng chồi của con Suối Bào
Trai[2]
(Hậu Nghĩa) để vui chơi. Chúng tôi
thường tản ra thành nhiều nhóm thân quen để cùng chơi chung những trò chơi
nhỏ, lùng sục, các lùm bụi, học ôn bài…vì buổi chiều vào học lúc 2giờ.
Có nhóm đi hái những trái dại, tìm
kiếm những loại trái cây rừng mà có thể học sinh bây giờ, khó lòng biết được.
Chẳng hạn như trái nhãn lồng, trái nhãn chài có vị mát miệng; trái bời lời,
trái cò ke làm đạn bắn ống thụt bằng trúc, đạn
nổ lốp bốp vui tai, chia phe bắn vào nhau rất hồi họp. Trái nhăn chín màu đỏ
như cái nanh heo rừng; lủng lẳng trên những dây leo mảnh mai; ngọt ngọt. Trái
kim cang từng chùm đính trên một dây gai, lá to bằng bàn tay, ăn lờ lợ, nhớt nhớt.
Trái chùm gởi từng ổ, trên những cành cây trăm cao, nhỏ như trái cùm nụm ăn vui
miệng. Trái mây rắc (mây rừng) ăn chát chát; trái chùm mòi, trái dấm chua chua.
Trái mua có 5 cánh hồng, khi chín mở thân ra làm hai với năm múi tím đen ngọt
ngọt thường có nhiều kiến hôi. Trái đu đủ rừng (trái đ.. chó), trái và lá có nhiều lông tơ trị ho, chát chát, ăn
không khéo, mắc nghẹn. Trái táo rừng chua ngọt khắp nơi trên những nhánh nhỏ nằm
ngang, đầy gai nhọn và nhiều nhất là trái cà na trong mùa mưa, cà na đắng, cà
na chua, trái nù mới ngon và trái trăm đen sẫm khi chín, trăm móc, trăm sắn;
mùa trăm chín rộ là sau Tết Nguyên Đán. Những trái to thì có những trái Bình Bát,
chín vàng trên những cành cây khó trèo, tàng cây de ra hai bên bờ suối. Những
trái Dứa Gai thơm lừng lựng nhưng không ăn được vì rất ngứa miệng. Những trái Ồi
rừng, Ổi lộn kiếp, cơm mỏng hạt nhiều, chẳng đứa nào muốn hái ăn và những trái
điều[3],
điều nếp màu vàng và điều đỏ trông rất đẹp mắt.
Nhóm con gái chúng tôi thường bẻ những
hoa dại xinh xinh. Hoa Dù Cồn đầu có một núm tròn nâu trên một cọng ngồng cao,
điểm những cánh hoa vàng nhỏ xíu, mọc bạt ngàn trong các vũng nước. Hoa Cây Nổ
màu xanh biếc, cánh hoa mỏng manh, trái từng chùm như chân gà con; khi thả chùm
trái khô vào nước, trái nở ra và phát ra những tiếng nổ lách tách như tiếng
pháo chuột. Hoa Bí Bái màu trắng thơm thơm đặc trưng. Hoa Cắt Lồi thân thẳng
như một cái roi mây. Trên đầu roi có một búp hoa tròn màu đỏ kết một chùm trái
bằng nắm tay, nở hoa trắng liên tục, hết hoa nầy đến hoa khác, thường có mấy
chú ong bầu chui vào hút mật. Hoa Dây Chiều màu xanh tím, gắn trên một thân dây
leo có một lớp lông tơ cứng. Hoa Cúc Rừng nho nhỏ như đôi hoa tai, màu cam lấm
tấm thơm thơm. Hoa trắng tím của dây Chùm Bao (Lạc Tiên) rất dễ thương; những
trái chín tròn màu vàng trong một cái bao lưới trắng, ăn chua chua ngọt ngọt.
trong một cái bao rỗng nhọn, kín mít.
Bông và trái cò ke
Ống thụt và đạn bắng trái Cò ke.
Trái và bông Chùm Bao, (Lạc Tiên)
Hoa bìm bìm leo lên những bờ thấp, cười duyên
Hoa Mua với 5 cánh hồng, với chùm sợi nhị vàng, trái chín mở thân ra làm hai…
Bông Cắt Lồi
Hoa Lẹo nhiều bông nhỏ kết thành một
chùm to màu đỏ, màu đỏ của miền quê may mắn, thanh bình…
Có mấy bạn thường rút những tàu lá
Dứa gai để thắt những chiếc chong chóng dứa, những trái banh dứa để đánh đũa,
đôi dép dứa, chiếc đồng hồ đeo tay bằng dứa, cả những sợi dây nịch dứa và chiếc
kèn bằng dứa nữa.
Cũng có bạn đi tìm những tổ Ong Lá,
mang về làm mồi đi câu cá rô. Bạn bắt tổ Ong Lá rất tài. Chỉ cần một mảnh giấy
xếp dọc, rón rén đặt giấy phía dưới tổ ong, châm lửa đốt. Khói lửa bốc cao, bầy
ong bảo vệ tổ sợ lửa bay xa, còn trơ tổ không là bạn thò tay bắt lấy (ha ha... chiều mai mình sẽ câu được một đục
cá rô đấy!) Hoặc có bạn cao hứng bứt những dây Bòng Bong và những sợi tơ hồng
để kết làm chiếc mão đội làm tướng, huơ tay múa chân, vuốt râu, lắc nghiêng cái
đầu mới học được trong tuồng hát bội của đoàn Sơn Đông mải võ lưu động đi bán
thuốc quảng cáo:
-Ải ải…Ta là Tiết
Đinh San cầu Phàn Lê Huê[4]
đây!
-Xin hỏi Tiết Đinh
San, cầu Phàn Lê Huê ở đâu vậy?
-Thì ở Cầu Phàn Lê
Huê, chớ ở đâu!
-Cầu Phàn Lê Huê
chắc là một cái cầu có trồng nhiều cây “lê”.
-Chắc là ở miền
“quê” rất xa…
-Bậy nào! Chắc là ở
tiệm tạp hóa “Mai Huê” gần trường mình đó mà…
-Ừa hén! Cái cầu thì
phải có suối, có sông. Tiết Đinh San ở cầu nào, ở đâu cũng được mà…
-Hát tiếp đi! Đinh San ơi!
-Ải ải…
Có nhóm bạn đằm thắm hơn, rủ nhau
leo lên cây trăm học bài, nhìn các bạn
khác chơi, nhìn trời, nhìn đất, tán chuyện vu vơ rất vui:
-Ước gì mình có
cánh như tiên, bay lên trời cao chắc là vui lắm!
-Bạn có cánh, tụi
nầy không cánh. Bay một mình, đâu vui! Tui ước cái cây trâm nầy hoá thành cây
đa, tụi mình bay lên trời như Chú Cuội…Cây nó chở mình bay chầm chậm, nghiêng
qua nghiêng lại…bay lên mặt trăng luôn…đêm đêm nhìn xuống thế gian …
-Ý! Không được
đâu! Lên trên ấy, làm sao mà về… nhớ
nhà, nhớ cha mẹ, bà con…và nhớ đứa em mình nữa…
-Chắc là mình mượn
cái thang của Chú Cuội và Chị Hằng leo xuống, về nhà, đi học mà…
-Thôi đi bạn! Tui
không chịu đi đâu! Biết sao không! Nếu tụi mình leo xuống, về nhà thì trần gian
sẽ bị biến đổi hết. Chuyện Từ Thức lên Tiên mới có một năm mà khi về trần thì ở
trần gian đã trải qua mấy trăm năm lận…Coi chừng, tụi mình cũng như vậy à
nghen!
-Còn tui thì tui
muốn có con ngựa sắt, chiếc roi sắt…như Phù Đổng Thiên Vương[5]…đi
đánh giặc Ân xâm lược, cứu nước, cứu dân…[6]
-Hay đó! Cô mình kể,
Thánh Gióng đã lên ba tuổi, cứ nằm chờ sứ giả, không thèm nói năng gì hết. Giặc
Ân xâm lược nước mình, tiếng nói đầu tiên
trong đời của ông là “tiếng nói yêu nước, thương dân”, tiếng nói xin đi đánh giặc
cứu nước…
-Giặc
phương Bắc điêu trá, hung tàn. Muôn đời, lúc nào lũ nó cũng lăm le thôn tính nước
mình. Nước mình tuy nhỏ hơn chúng nhưng vua biết nghe theo ý dân, biết trọng
nhân tài, dân mình đoàn kết một lòng… nên một khi chúng nhào vô nước mình kiếm
ăn, vơ vét thì đều bị đánh tan tành, thê thảm…
-Như
Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, chặt đầu Thái Tử Hoàng
Thao. Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên, chiến thắng Bạch Đằng; Thoát
Hoan cùng đường, sợ chết vì cung tên tẩm độc nhà Trần, phải chui vào ống đồng
cho tàn quân kéo chạy về nước.
-Năm
1789, Hoàng Đế Quang Trung đánh tan giặc nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị hồn xiêu, phách
lạc; đại bác nước Nam sao đặt được trên lưng voi (?); quân nước Nam từ dưới đất
xông lên, hay trên trời bay xuống; đến nỗi thân hắn không kịp mặc áo giáp, lưng ngựa không kịp thắng
yên, không kịp đem theo ấn tín…
-Kinh
hồn bạt vía, quân giặc khiếp đảm, giẫm đạp lên nhau, cố chạy thoát thân, chạy cong
đuôi như chó, hoảng loạn quang quác như gà…, thây phơi thành núi, máu chảy
thành sông…
-Các
bạn thuộc bài giảng của cô mình khá đấy! Đố bạn nào còn nhớ cô mình giảng một
câu đối của sứ nước ta, hạ nhục Vua Tàu Nhà Minh không?
-Ờ ờ…Tui
chỉ nhớ vua Tàu nhà Minh muốn sỉ nhục nước Nam trước các chư hầu, mới ra câu đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục[7]
Sứ nước mình[8]
khảng khái liền “chơi lại” ngay:
"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng[9]
-Hóa
ra “gậy ông đập lưng ông” nhục nhã trước chư hầu, mới hạ lệnh giết sứ nước mình
đó.
-Quả
là anh hùng tử, khí hùng nào tử! Cao cả như Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma[10]
nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.
(Trước
thời điểm đó khoảng 300 năm, trong bài Bạch Đằng Giang
phú 白 藤 江 賦, Ông Trương Hán Siêu [?-1354] cũng đã hạ bút hai câu ngời ngời
thiên cổ…
至 今 江 流
Chí kim giang lưu,
Chung bất tuyết sỉ.
Đến nay sông nước tuy
chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa
nổi.
-Bạn con thầy
giáo, nói hay quá, chắc là…chắc là sau nầy sẽ “hổ phụ sanh hổ tử”! “Con thầy
giáo, sẽ làm thầy giáo”.
-Còn bạn thì không
phải là con thầy giáo chắc? “Cái mộng ngành y, nhân đạo cứu người”, có giấu được
ai…
-Ha ha…
…..
Khi hơi chán thì ngồi xúm xít dưới
những tán cây cao hay những đám cây mặt cật, nói chuyện gẫu rù rì. Thời gian
như ngừng đọng, lặng im. Thỉnh thoảng có tiếng cất lên, gọi tên nhau ơi ới và
nhiều lúc nói cười vang rân.
Dòng suối Bào Trai hiền hòa, không
sâu, nhiều chỗ nước ngang đến bụng, có thể lội băng qua được. Tôi rất sợ lội
qua suối vì suối có rất nhiều đỉa. Muốn biết có đỉa không thì lấy cây khoắn xuống
nước, rồi chờ xem. Đỉa mén lội phăng phăng ngang dọc hàng chục con; mấy con đỉa
trâu, dài hơn gang tay, màu đen, có sọc vàng hai bên lưng, túa ra tìm mồi.
Trông nó vẫy đuôi dợn sóng mà ớn lạnh xương sống …
Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc tắm suối. Đứa thì biểu diễn “thả
ngữa”, đứa thì “lội ếch”, đứa thì “lội chó”, đứa thì “lội đứng, lội sải, lội
đập”, rồi bất chợt chia phe té nước vào nhau, nước văng tung tóe. Chơi
chán, từng đứa leo lên bờ, co giò, bịt mũi, nhảy ùm xuống nước, lặn đua... Tiếng
la hét hòa lẫn với tiếng cười sằng sặc, in ỏi, bất kể câu nói cảnh giác của ai
đó:
- Mấy đứa! Coi chừng
đỉa chun lỗ tai !
Đến đây, tôi chợt nhớ đến một chuyện
kể, cảnh giác về đỉa mà tôi được nghe hồi đó. Và câu chuyện này, chính là lý do
làm cho tôi sợ đỉa.[11]
Ghê quá! Biết nhóm nữ chúng
tôi sợ đỉa, còn có một vài bạn “rắn mắt” bắt đỉa để nhát hoặc bắt đỉa
“lộn thinh”[12]
trong cành cây nhỏ rồi vừa quăng đỉa về phía chúng tôi vừa la to “Đỉa đó”! Không biết phản ứng như thế nào, chúng tôi
hét lên “Oái”, rồi xanh mặt chạy thật
xa, không dám ngoái lại và để nghe phía sau lưng, một tràng cười dài đắc thắng.
Như vậy
đó!
Những buổi đi chơi giữa giờ buổi
chiều thường nhiều màu sắc như vậy đó!
Những cuộc đi chơi rất vui, giúp
chúng tôi gần gũi, thân thiết nhau. Chúng tôi không sợ trễ giờ vì có trống trường “kêu gọi” bằng một hồi dài và 3 tiếng
báo hiệu trước chừng 5 phút. Chỉ cần chạy một mạch là về kịp lúc sắp hàng vào lớp.
Thường thì chúng tôi thả lần về trước, nhưng cũng có vài lần, đang mải mê vui
chơi, bỗng nghe trống điểm, phải ù té, hào hễn chạy về trường, quăng bỏ hết dọc
đường những “chiến lợi phẩm” của mình đã làm ra hoặc kiếm được, mệt muốn
đứt hơi, mà vui.
Những ngày học một buổi, nghỉ buổi
chiều, chị Tám rủ chúng tôi đi vào nhà một số bạn bè trong xóm chơi; thường
thì chúng tôi kéo về nhà chị ở xóm Gò Cao, khoảng giữa hai làng Đức Lập – Tân
Phú Thượng. Chúng tôi ham vui và hiếu kỳ, nên đi ngay, sau khi xin phép
gia đình. Nhóm chúng tôi; trai có, gái có, ở chợ có, ở xóm khác có; thường
khoảng hơn chục bạn, cùng đi theo chị.
Có lúc đi ăn xoài chua, chấm mắm đường
tán; đường tán được gọt bằng một cái lưỡi hái; tham ăn xót ruột. Có lần, rủ
nhau đi ăn trái trăm, trăm sắn hoặc trăm móc để rồi môi và lưỡi đứa nào đứa
nấy đều tím đen. Có khi đi ăn điều chín, điều đỏ, điều vàng ngọt ngọt, chát
chát để rồi sau đó, chị gom góp hạt điều cũ, nướng mẻ hạt điều, xịt khói cháy
đen, rồi đập vỏ lấy ruột ăn, béo lạ. Có dạo cùng đi hái trái cà na, trái nù mới
chua ngon, ăn với mắm ruốc, chát chát, chua chua rất ngon. Số cà na còn lại, chừng
một rổ, cả nhóm ăn chán rồi, chị Tám và chúng tôi lấy dao khía dọc thân trái mấy
đường, đem ngâm muối với cam thảo, khi đi học chị lại đem theo vào lớp để “nhấm
nháp” trong giờ chơi, vui miệng. Hái cà na, vui nhất là cảnh, một bạn trai, làm
người hùng, “leo cây hái trái”. Can đảm lắm! Nhưng khi bạn leo lên cây thì cành
động. Cành động thì lũ kiến vàng túa ra tấn công. Kiến vàng tấn công cắn bạn đỏ
ở tay chân, ở cổ, cả mặt mũi… Lũ kiến đặc nghẹt, “mãnh tướng nan địch bầy kiến vàng”! Bạn phải lật đật tuột xuống gốc
cây như bay, như nhảy xuống đất, nhăn nhó để các bạn trai khác xúm nhau…phủi kiến.
Và buồn cười nhất là bạn đó phải ba chân bốn cẳng chạy ra chỗ khuất, chắc là có
mấy con Kiến Vàng xung phong cắn
vào…chỗ kín!
Nhớ có lần, để tổ chức bữa trưa, chị
Tám đảm đang, phân công người nào việc nấy rất khoa học.
Nhóm nam đi kiếm rau: rau muống,
rau nhút, rau dừa, nhổ bông súng đỏ và bông súng chỉ, nổi dưới ao nhà; hoặc nhổ
rau chóc, lá hẹ, rau bợ ngoài ruộng nước; hái rau tiêu (rau càng cua) ngoài bờ
tre; kiếm rau dền cơm, dền gai, dền điều, (không hái dền voi) rau đầu rìu quanh
nhà, bẻ đậu rồng, mồng tơi ngoài rào và có khi đào trùng câu cá hay câu ếch
trong ao. Câu ếch thì rất dễ! Mấy bạn đi bắt một con nhái sọc ngoài ruộng, móc
vào lưỡi câu trê, không quên ngắt một đoạn ngồng cỏ mần chầu làm một cọng “lông
hồng”, để lưỡi câu không dính vào bụi cỏ. Bung sợi nhợ hướng vào lùm cỏ ở góc bờ
ao, nhấp nhấp… hễ có ếch là ếch nhảy đến ăn mồi liền. Nó rất tham ăn. Nó đã ăn
mồi! Đừng vội! Chờ một tí cho nó ngậm mồi vào trong cái miệng rộng của nó xong,
giật ngược hướng ngồi của nó hoặc giật bổng là không sẩy con nào cả. Trong khi
đó, có mấy bạn đi móc ếch, hoặc móc cua trong hang cua.
Vào mùa mưa, nước ngập ruộng, mới
vào vụ cày lật, các bạn trai đi nhũi một lát là được một nồi kho: nào là cá
lòng tong, cá trào cửng, cá ròng ròng, cá trê con, nào là cá chạch nhỏ, cá sặc
rằn, cá sặc trắng, cá bãi trầu, nhiều nhất là cá rô binh tích hay cá rô hạt bí
và cua con. Đôi lúc được rất nhiều con bù niễng, con ăn mày, con đòn gánh, con
cà cuống… và cả mấy con đỉa trâu nữa! Bỏ rong rêu, rác rến, chỉ bắt những đối
tượng ngon lành…và chuẩn bị chế biến kho quéo...
Nhớ có lần nghe các anh chị công cấy hò đối
đáp với nhau:
-Hò
ơ ớ…Thương anh em bẹt cẳng ra,
Để
anh đứng giữa…đẩy mà một hơi!
-Hò
ơ ớ…Sỗ sàng, bất nhã…những lời,
Trông
anh thanh tú, coi trời bằng vun!
-Hò
ơ ớ…Câu đố tục, đâu phải khùng,
Giảng thanh không đúng… em “tùng xẽo”[13]
anh!
Hò ơ
ớ…Vậy sao, thì đáp cho nhanh,
Nếu
mà lố bịch ta đành…xa nhau.
-Hò
ơ ớ…Đây nè, anh giải đáp mau,
Anh
đố cái Nhũi…em đâu có ngờ!
Ai
trong sáng, ai lờ mờ?
(Giải câu đố tục giảng thanh về cái nhũi:
-Thương anh em bẹt
cẳng ra; là
hai cái gọng nhũi.
Để anh đứng giữa…đẫy
mà một hơi;
là thao tác đi nhũi cá.)
*
Chị Tám và chúng tôi chắt ruột cá lớn,
gỡ bỏ mai cua lớn, đánh vải cá lớn, bẻ cánh bù niễng, cà cuống và ngắt mỏ nó, rửa
sạch, làm đồ kho, ướp muối, ướp nghệ, nước mắm, nửa tán đường, bỏ hành, bỏ
tiêu, một ống bột ngọt, năm bảy trái ớt Xiêm đỏ, kho quéo…thơm ngon hết ý…
Nhóm nữ chúng tôi trổ tài làm nước
chấm tỏi ớt, lấy nước mắm trong một cái “tĩn”, (một loại hũ bằng sứ thô nung, hình quả bóng đá, miệng và đít tóp lại, miệng
tròn, có thể đưa bàn tay vào và miệng có trám lại bằng một cái nắp vũm thường bằng
sứ thô màu đỏ bằng đất
nung, có dung tích chừng 5 lít), hay nước chấm tương hột có trộn đường, có
món mắm chua cá con do chị làm sẵn và nấu canh rau với tôm khô, bột
ngọt hoặc mấy con cá, mấy con ếch câu được trong ao nhà. Nhiều bữa cơm “cây
nhà lá vườn” tại nhà bè bạn hoặc nhà chị, thường đơn sơ đạm bạc; “ba tay chụm lại”,
mỗi bạn một tay; sao mà ngon miệng lạ lùng.
Tĩn nước mắm đang đóng nắp, chờ phân phối
(Google images)
Nhớ có bận, chị Tám, các bạn và
tôi, về quê ngoại tôi ở Lục Viên, mùa mây rắc và gùi. Trên đường đi, có biết
bao tiếng chim ca lúc nhặt, lúc khoan nghe rộn ràng, thanh thản. Nhạc khúc đồng
quê thân thương của những loài chim bay lượn đầy trời, khắp nơi trong các hàng
cây, bụi rậm, trên những con đường mòn, đường mồi,[14]
chúng tôi đi ngang qua…như những âm thanh ngân nga, say đắm của một thời đất nước
thanh bình, trong lịch sử xa xăm.
Kìa, có con chim chiền chiện nào, cứ khoe tài ca hát. Nó bay vút lên trời thật cao rồi nghiêng cánh cho thân mình rơi xuống đất từ từ, đồng thời cất lên một liên khúc dài trong trẻo, ríu rít, nôn nao. (Có đứa bảo đó là chim sơn ca).
Chim Chiền Chiện
Chim cưởng
Phía bên hàng tre cao nhà ai, chim
sáo, chim cưởng bay từng đàn, gọi nhau lảnh lót. Tôi cứ tưởng như mình đang ngậm viên ngọc rắn của Công Dã Tràng
nghe xem loài chim nói chuyện thế nào. Tiếng chim hoành hoạch cất tiếng “học… học …học… nhớ nghe bạn…nhớ nghe bạn…”
bằng một hơi rất nhanh như tiếng nói của Ông Thiện từ bi, trong khóm dây chùm
bao rậm rạp, (học mà chơi…chơi mà học! Học
thời như gấm thêu hoa, Có văn, có chất mới ra con người). Tiếng Chim Cu thư
thả, giục giã: “cực cứ tu…thì tu”, “cực cứ tu…thì tu” hoặc “tu chửa được…tu chửa được…” như tâm trạng của ai, muốn thoát tục,
lánh chốn bụi hồng mà hãy còn tiếc nuối …
-À!
Đố các bạn giải được câu ca dao:
“Ở đời
có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”
-“Ngu”
là rất kém về nhận thức, ứng xử, ngây ngô, dại dột …để có thể bị mắng chửi, bị
nhận lãnh trách nhiệm vô cớ…điều mà bản thân chẳng nên nhập cuộc, dính vào.
-Nói
rõ vì sao ngu đi!
-Vầy
nè: Một là “làm mai mối”, môi giới
cho đôi trai gái nên vợ, nên chồng.
-Đó
là xe duyên tốt phúc. Sao ngu?
-Đành
rằng đó là việc nghĩa, tốt phúc. Nhưng “chén úp trong sống chén còn khua” huống
chi vợ chồng trăm năm, dễ dầu gì gia đạo cứ mãi thăng hoa, mà “không tiếng chì
tiếng bấc”, không to tiếng cãi nhau…
-Và
khi ấy người làm mai mối bị đem ra mắng chửi…là ngu, đúng không?
-Đúng
rồi! Làm mai mối chi mà phải bị chửi, bị mang tiếng là ngu si. Đại để “Tiên tổ
cha đứa nào mối lái kết duyên x…với y… mà sự thể thế nầy”. “Mẹ kiếp cái thằng
cha z đó, chớ ai?”
-Ha
ha…
-Còn
lãnh nợ thì rõ ràng rồi. Tự nhiên đứng ra lãnh nợ cho người thứ ba. Người ta
không trả nổi hay quịt nợ thì bản thân mình phải trả vì người chủ nợ chỉ biết
người vay nợ là mình mà thôi…Vậy là ngu, “thầy pháp ăn, bắt thầy chùa chịu”.
Tình ngay lý gian, phải đem tài sản mình ra gán nợ, mà mình có tiêu xài gì cho
cam, lắm lúc cười ra nước mắt![15]
-Ờ
hén! Còn chuyện đi “gác cu” hay bẫy cu?
-Các
bạn biết đó, người đi bẫy cu, có đồ nghề là một “cái lụp” hai ngăn có ngụy
trang, ngăn trong đặt con cu mồi, ngăn ngoài để mở, có một nút bẫy. Cái lụp được
gắn chặt với một đầu của một cây trúc đá làm sào, dài khoảng 5-6 mét. Đến điểm
gác cu, chỉ cần đưa cái lụp đó lên cành cây hay cành tre cao, đầu sào còn lại,
cắm vào mặt đất cho chắc để cố định cái lụp phòng khi có gió mạnh, cái lụp bị
ngả xuống đất, con chim mồi hoảng sợ, tâm lý không tốt, khó có thể bình thường
được trong mấy buổi (Thế là phải xách lụp về nhà, dang dở cuộc chơi).
Khi
đã đặt xong cái lụp trên cao là yên chí núp ló, ngồi rình, chờ đợi trong một
cái thum (chỗ núp, ngụy trang sơ sài bằng
cành cây gần đó). Việc gác cu bắt đầu có hiệu quả. Đã được huấn luyện, khi ấy,
con cu mồi bắt đầu cất tiếng gáy vang. Đám cu bổi (cu đối tượng đánh bẫy) nghe
tiếng gáy liền bay đến tìm con cu mồi để đánh đuổi. (Đứa nào, ở đâu…mà dám xâm
nhập lãnh địa của ta?!). Nó bay đến chỗ chim mồi, chui vào cửa của cái lụp đó,
hung hăng, xù lông cổ, xòe cánh, giương mỏ tác chiến…nhưng vừa quay qua, quay lại…chân
chạm vào nút bẫy…cửa ngoài của cái lụp liền sập xuống, chú cu bổi quay đão lung
tung, cố tìm đường thoát ra trong vô vọng. Chỉ chờ có thế, người gác cu chạy đến
hiện trường, nhẹ nhàng hạ sào xuống, một tay vừa mở cửa ngăn ngoài của cái lụp
ra, tay kia thò vào tóm con cu bổi ngu dại, cho vào một cái lồng không. Thế là
được một con cu bổi, một cách dễ dàng. Ngăn ngoài cái lụp lại được mở ra, cài
chốt bẫy và được đặt lại vị trí cũ…Người gác cu quay lại “cái thum” (chỗ núp ngụy
trang), chờ đợi, ngồi rình…
-Như
vậy, gác cu, đâu có nghĩa gì…là ngu?
-Ngu
chớ sao không! Này nhé, nông dân mình thường cư trú tại đất nhà, trong một
vuông rào có lũy tre bao bọc, vuông rào nhỏ thì khoảng 30-50 cao, vừa vừa thì
70-80 cao, rộng lớn thì 1-2 mẫu đất, (30 cao là 3.000m2, một mẫu là 10.000m2).
Ngoài khu vực nhà ở, chuồng trâu bò, chuồng gà vịt, chuồng heo…là vườn rau, vườn
cây ăn trái, ao cá…Vườn cây yên ắng, thanh bình, rậm rạp,“đất lành chim đậu”nên
có nhiều loài chim cư trú, làm tổ, cả ngày tiếng hót líu lo… nhất là có nhiều bầy
cu về ở…
Từ sáng
sớm tinh mơ, người chủ gia đình đã ra đồng cày ruộng, đắp bờ, tát nước, rải
phân cho lúa…trẻ em đều đi học trường làng, ở nhà chỉ có người già hoặc vợ nhà
nội trợ…Gác cu thì núp ló, rình rập chim gần hay trong vuông rào nhà người
ta…khiến cho người ta nghi ngờ là phường đạo chích giả bộ gác cu …để sẽ làm một
“ phi vụ” (một đêm ăn trộm…bằng ba năm làm!) như trộm gà, trộm vịt, trộm cá, trộm
những công cụ nhà nông, trộm vặt…mà tệ hại nhất là lợi dụng người chồng bận rộn
công việc đồng áng, không có ở nhà, giả bộ gác cu, vào nhà xin nước uống, hòng
tán tỉnh, ve vản vợ người ta…Cho nên, người chủ gia đình, khi có mất trộm món
gì đều nghi ngờ nhắm ngay đối tượng người gác cu…Như vậu gác cu thiệt thòi cho
danh dự và đạo đức của mình…chưa kể là bị chửi lén huyên thuyên…Bị chửi là
ngu…đúng không?
-Rất
chí lý! Rất hay! Chắc là thầy ở nhà đã giải nghĩa phải hôn?
-Đâu
có, khi hầu rượu cho Ba mình và Thầy Ba láng giềng, mỗi chiều, nghe chuyện “trà
dư tửu hậu”, đàm đạo mà biết đó thôi.
-À!
cái ngu cuối nữa, “cầm chầu là sao?
-Bồ
nói nghe chơi!
-Cầm
chầu là đánh trống khen chê, hay dở về cách trình diễn của diễn viên trên sân
khấu trong một đám hát dân gian như là đoàn hát bộ lưu động đến làng mình hoặc
hát trong các dịp kỳ yên, cúng đình. Người cầm chầu đám hát là một trong 12 hương
chức trong ban hội tề. Ban nầy, nếu không có ai cầm chầu thì cử người có uy
tín, giàu có… sành điệu hát tuồng. Đó là người lèo lái cảm hứng dân gian, phẩm
bình hay dở thay cho công chúng qua tiếng trống. Khi các vai diễn thể hiện câu ca, lời hát, điệu
bộ, pha trò hay… thì người cẩm chầu đánh
trống khen hay, bằng cách hai tay gõ trống, vừa đủ nghe, một hồi trống ngắn
dài trên mặt trống, “tung tung…tung
tung”, như cho điểm khen, nhiều hay ít. Ngược lại là trống chê dở cách trình
diễn chưa đạt hoặc dở tệ bằng một hồi ngắn hoặc dài, trên tang trống, lắc cắc… lắc cắc… để tạo không khí hào hứng và để
các diễn viên điều chỉnh màn trình diễn của mình…
-Mình
chưa hiểu, sao như vậy là ngu.
-Nói
dài dòng là vậy. Ba mình nói, “thiên hạ, trăm người ngàn ý, làm người khó lắm,
vi nhân nan, vi nhân nan...
-Hí
hí…vi mo nan… vi mo nan…làm cái mo cau khó lắm…
-Ha
ha…Ha ha…
-Do
đó, khi người cầm chầu đánh trống khen hoặc chê, thì thế nào cũng có nhiều người
phản bác, bất bình chửi thầm. (Thằng cha già lãng nhách, vô duyên, ngu ngốc…dở
như vậy mà cũng khen! Hoặc người ta diễn hay như vậy…mà lại chê! Như vậy, đó là
bị chửi…là ngu…
-Hiểu
rồi! Trong bốn cái ngu ấy có ba cái ngu bị mắng chửi. Tuy bị chửi nhưng vô hại.
Chuyện qua rồi thì thôi. Còn cái ngu “lãnh nợ” thật là thảm hại! Mất tài sản vì
chuyện tình cảm…thương người, động lòng trắc ẩn nên bị lường gạt…bản thân có
vay đâu…mà có trách nhiệm phải trả nợ?
-Thực
ra, bài ca dao trên, có giá trị đạo đức, cảnh giác, hướng tới một thái độ sống
tốt ở đời. Nhưng phê phán, đánh giá, ứng xử theo “bốn cái ngu” ấy thì phải tùy
việc, tùy hoàn cảnh, tùy người mà áp dụng một cách linh hoạt, hợp lý, hợp tình.
Quyết định không dính vào bốn cái ngu trên…là một điều thái quá; mà sự gì thái
quá thì không tốt.[16]
-Hay quá hén! Sao
chữ “ngu”có nghĩa không hay như thế mà đời nhà Hồ lại đặt quốc hiệu nước mình
là Đại Ngu vậy cà? Hồi đó, dân nước mình “ngu” lắm phải không?
-Đâu phải vậy. Quốc
hiệu “Đại Ngu” có nghĩa “an vui”, “tên một triều vua nước Tàu”. Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, Hồ
Quý Ly đặt quốc hiệu như vậy với hoài bảo xây dựng một nước Đại Việt mới, như
nước Ngu thời Ngu Thuấn, một trong ngũ đế thời thượng cổ, lấy dân làm gốc, hùng
cường, thịnh vượng, an vui. Tiếc thay, vì chế độ nhà Hồ,(1400-1407) không được
lòng dân (vì cướp ngôi nhà Trần) nên sớm bị tiêu vong.
( Đại Ngu 大 虞: an vui, hòa bình, thịnh vượng
khác với ngu 愚 không thông minh).
Vừa đi đường vừa chuyện gẫu cho
quên đường xa. Còn tôi cứ như tiếp tục ngậm ngọc…
Kìa! Có tiếng chim Tu Hú “thuyết
pháp”, hô hào, còn chần chờ chi nữa, mà không đi tu: “tu hú… tu hú…tu hú!...” Nghe lạ tai và buồn là tiếng Chim Mồ Côi
kêu thương không ngớt như lạc đàn, như bơ vơ vang vọng, như nức nở tìm kiếm người
thương trong gia đình: “Ba…má…anh…đâu mất
tiêu rồi!
Ba…má…anh…đâu… mất tiêu rồi!
Chim Tu Hú
Chim Cu Cườm (Cu Đất)
Đàn Cò trắng bay
Chim Bói Cá (Chài Chài)
Chim đa đa hót: “Coi chừng giặc…xa xa…”
Lũ Quạ thì khác, lúc nào cũng la
hét, thở than: “họa…hoạ mà…”, “họa…hoạ mà…”, như hãy còn nguyền rủa
cho nỗi nhục nhã đau thương của đất nước trong dĩ vãng 1000 năm đô hộ. Có tiếng
chim quốc kêu: quốc…quốc…quốc…”, khắc
khoải, đau lòng. Tiếng chim đa đa
nghe như tiếng Hồn Quê luôn cảnh giác, nhắc nhở: “Coi chừng giặc…xa xa…”, “Coi
chừng giặc…xa xa… Tham vọng
thôn tính láng giềng truyền kiếp của giặc phương Bắc.[17]
Tiếng chim bìm bịp như bổ sung
cho những câu nói liên tưởng, cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi, như phỉ báng
lũ tàu khựa tham tàn. Bọn cầm quyền mập ú, núc ních đó, dẫu bề ngoài thơn thớt nói cười nhưng trong
huyết quản của chúng, lúc nào, bọn chúng cũng chỉ là một lũ gian trá, thâm độc.
Phải chăng con chim bìm bịp nôn nao giục giã kêu lên, như một hồi trống trận
dài… cho con nước, lúc “con Nước” Sông Vàm Cỏ Đông chuyển dòng từ “nước lớn”
sang “nước ròng” ?!:
“Đồ bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…”
Bìm bịp kêu Nước lớn hỡi ai!
Hiểm sâu, độc hại! Tẩy chay đếch cần.
Chim bìm bịp
Chim chích chòe
Tiếng chim chích chòe cất cao lời
phê phán bằng một tràng dài huyên thuyên lảnh lót như “trăm[18]
tiếng Tây”. Con chim chích nhỏ xíu,
bay bay chớp chớp theo mỗi lượt vỗ cánh lên cao như “nhảy cừu”, cũng hô hào “ghét…ghét…ghét…”,
“bết…bết…bết…”.
Bầy chim se sẻ trên những đọt cây
cau cứ rộn ràng đấu khẩu với nhau: “nè…nè…nè…”,
“thù…thù…thù…”.
Thỉnh thoảng, khi chúng tôi đi ngang qua mấy bụi rậm,
vài con chim mỏ nhác, hay con chim cút nào thấy người sợ hãi, bay vù, làm mấy đứa
yếu vía, giật mình, đánh thót, phì cười…
(Tôi
cứ ngỏn ngoẻn cười thầm một mình, hoang tưởng coi như đang ngậm viên ngọc nghe
tiếng loài vật của Công Dã Tràng, nghe chúng nói lên tâm trạng và cảm nghĩ của
chúng và thả hồn theo những trang sử cảnh giác, quật khởi của bản lĩnh Việt tộc,
qua tiếng chim có ý nghĩa thú vị, bên tai).
…..
Khi lúa phất cờ, trổ đều trên tấm
thảm lúa mênh mông khắp đồng, những bông lúa cong trái me, nhấp nhô theo từng
cơn gió thoảng, trông thật đẹp mắt. Những bông lúa chín vàng như ươm tơ! Hương
đồng ngào ngạt, thơm thơm mùi lúa chín. Sắp đến mùa thu hoạch của nhà nông! Khi
ấy, không biết từ đâu bay vể, từng bầy chim lá rụng, chim sắc, chim áo già,
chim giòng giọc, chim manh manh… khắp những cánh đồng… rậm rật ăn lúa. Mỗi khi
có tiếng ai đó “hù…hù…” một hơi là bầy chim bay lên rần rần…một đàn có thể khoảng
vài trăm con…
(Thế
là có nhừng ông bù nhìn được đem ra trấn giữ khắp nơi trên những cánh đồng. Thường
thì Ông mặc môt chiếc áo đen rách, áo tơi, nón lá. Tay cầm một cái dây trúc
dài… những bầy chim tinh khôn, mới đầu còn e ngại…Sau đó, chúng nó phớt lờ, tỉnh
bơ, chúng nó vẫn sà xuống, xông vào trước mặt Ông bù nhìn canh gác…mà ăn lúa
như đi ăn đám giỗ! Xót ruột, nhà nông phải thay thế hoặc đem vứt đi, để rồi
đích thân ra ruộng, đuổi lũ chim bay đi nơi khác)
Trơ mắt ngó, chim kéo vào đục khoét,
Bù nhìn[19]
kia, sao không kíp quăng đi!
|
*** Nguyễn Dư ------------------------- |
|
Sở dĩ dám gọi
đùa là "dở ông dở thằng" là bởi vì không phải lúc nào và ở đâu người
ta cũng gọi bù nhìn và phỗng là thằng. Thỉnh thoảng hai "thằng" này
cũng được gọi thân mật, kính trọng là bác là ông. Thằng Bù Nhìn Quyền trọng ra uy trấn cõi bờ Lê Thánh Tông Bài
thơ này được đặt tên là Thằng bù nhìn, không rõ tác giả
là ai. Người thì cho là của vua Lê Thánh Tông, người khác lại cho là của Hồ
Xuân Hương, người khác nữa lại kết luận rằng bài thơ này là của người đời sau
làm (Hoàng Xuân Hãn, tập 3, Giáo Dục, 1998). Còn một thằng bù nhìn khác, gốc gác tương đối chắc
chắn hơn, nằm trong Hồng Đức quốc
âm thi tập (Văn Học, 1982) . Bài thơ mang tên Cảo nhân, nội dung gần giống bài
thơ chép bên trên. Chỉ có thằng bù nhìn thứ ba mới đích danh là thằng
bù nhìn, được chính Tản Đà (1889-1939) đặt tên: Lơ láo kìa ai đứng cạnh bờ Cả
ba bài thơ đều tả thằng bù nhìn đứng ngoài cánh đồng, đuổi chim. Xem
vậy thì nhân vật bù nhìn đã có mặt tại nước ta ít ra cũng hơn năm thế kỉ rồi.
Chúng ta lại được biết thêm rằng người xưa, đời Hồng Đức (1470-1497 , gọi thằng
bù nhìn là Cảo nhân ( nghĩa là người
làm bằng cành cây khô, hay bằng rơm rạ ) . Ngày
nay dường như chẳng còn ai nhắc đến tên Cảo nhân nữa. Mọi người, từ thành thị
đến thôn quê, chỉ biết có thằng bù nhìn thôi. Biết mặt nhưng chưa chắc đã biết
tên. Đúng hơn là không biết cái tên bù nhìn kia từ đâu đến nhập cư về thôn
quê Việt Nam? Mời các bạn cùng chúng tôi thử đi tìm quê quán của thằng bù
nhìn. Trong
bộ sưu tập tranh dân gian của Oger có tấm Dũng hình, 俑 形 Nguyễn Mạnh Hùng Ký
họa Việt Nam đầu thế kỷ 20, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh,1990) dịch là
Bù nhìn. Tưởng là nắm
được lí lịch của đương sự, nhưng xét kỹ thì thấy có điều đáng ngờ. Trước
hết là ý nghĩa của tên tranh. Chữ dũng 俑 (hoặc dõng) được
Thiều Chửu (1942) và Đào Duy Anh (1932) dịch là: - tượng gỗ - cái tượng gỗ, tục xưa dùng để chôn theo người
chết Ngoài chữ dũng, tiếng Hán còn có từ quỷ lỗi (cũng
đọc là - tượng gỗ (Thiều Chửu). Như vậy thì, theo Thiều Chửu và Đào Duy
Anh, dịch Dũng hình là cái tượng gỗ. Tượng gỗ muốn giới thiệu ai? Tấm tranh vẽ một cô gái tươi cười, đầu đội nón ba
tầm, khoác tấm áo tơi bằng lá gồi còn lành lặn. (xem hình trên). Cô gái thật
là xa lạ đối với thằng bù nhìn đầu đội nón mê, áo quần tả tơi, đứng giữa trời
phất cờ đuổi chim của nông dân. Cô không thể là một "chị bù nhìn" như Nguyễn Mạnh Hùng đã ngộ nhận! Tượng
gỗ cũng không phải là hình nhân (con nộm) của tín ngưỡng dân gian, bởi vì
hình nhân không được làm bằng gỗ. Hình nhân luôn luôn được đan bằng tre, phất
giấy, để khi đốt dễ cháy, thành tro. Vả lại, người ta không chôn chân hình
nhân xuống đất, hoặc dầm dưới nước, như trong tranh vẽ. Tôi
cho rằng tượng gỗ này là một con rối
của sân khấu múa rối nước, thủ vai một chị chăn vịt, được nghệ nhân trang điểm
đẹp đẽ, điều khiển di động trên mặt nước. Bây
giờ xin bàn đến nguồn gốc hai chữ bù
nhìn. -Thằng bù nhìn bắt đầu có mặt trong ngôn ngữ Việt
Nam từ lúc nào? -Khó trả lời chính xác. Một
điều chắc chắn là hai tiếng bù nhìn đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam trễ nhất
cũng là từ năm 1926, năm bài thơ Thằng bù nhìn được đăng trong sách Văn
Đàn Bảo Giám (Mặc Lâm, Saigon, 1968) của Trần Trung Viên.
Cũng vào thời kì này, năm 1928, Nguyễn Văn Ngọc soạn sách Tục
ngữ Phong dao (Sống Mới,
Hoa Kỳ, 1978), đã sưu tầm được thành ngữ bù nhìn giữ dưa.
Thành ngữ này nằm chung với nhiều câu tục ngữ phong dao cổ xưa của Việt Nam,
khiến nhiều người nghĩ rằng bù nhìn cũng đã có mặt trong ngôn ngữ Việt Nam từ
lâu rồi? -Rất có thể là như vậy. Nhưng bên cạnh những câu tục ngữ phong dao cổ,
Nguyễn Văn Ngọc còn sưu tầm cả những thành ngữ mới có của thời đó như thày
cung, thày cò. Từ cò của miền Nam và từ cẩm của miền Bắc đã đến từ chữ commissaire của tiếng Pháp. Trong
mục câu đố, Nguyễn Văn Ngọc đưa ra câu: Để im thì nằm
thin thít Hễ động liếm
đít, là chạy tứ tung và giải là cái tem dán thư (timbre).
Rõ ràng là Nguyễn Văn Ngọc đã sưu tầm cả những câu mới có từ khi người Pháp đến
cai trị nước ta, trong đó biết đâu lại chả có câu bù nhìn giữ dưa? Đại
Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) cũng đã chép rải
rác một vài tiếng mới đến từ tiếng Pháp như: - cúp (tóc): hớt tóc, cắt tóc. - cái cúp: cái chén có quai. Chúng
ta có thể nói rằng ngay từ cuối thế kỷ 19, một số tiếng Pháp đã được Việt hóa
và đã đi vào ngôn ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, Huỳnh Tịnh Của vẫn chưa biết đến thằng
bù nhìn. Do
đó, dựa vào mốc thời gian của hai bộ sách tôi đoán rằng hai tiếng bù nhìn có
mặt trong ngôn ngữ Việt Nam vào khoảng giữa năm 1895 và năm 1926. Tự
điển Việt-Hoa-Pháp của Gustave Hue (Trung Hòa,1937) có từ bù
nhìn và được dịch sang tiếng Pháp là mannequin pour effrayer les
animaux (hình nộm dùng để dọa súc vật) .Định nghĩa này gần giống
định nghĩa của từ épouvantail trong từ điển Larousse: mannequin mis dans les champs, les
jardins, pour effrayer les oiseaux (hình nộm đặt ngoài cánh đồng,
ngoài vườn, để dọa chim) . Sự trùng hợp của hai định nghĩa khiến tôi nghĩ rằng
tên bù nhìn của ta đã được đến từ chữ épouvantail của Pháp. Chữ bù là
âm Việt của pou (cũng như poupée được
Đào Duy Anh ghi là bu bê). Chữ nhìn có thể được hiểu là động
tác nhìn, canh giữ của thằng bù nhìn, nhưng cũng có thể chỉ là biến âm của chữ nhân nghĩa là người. Gần đây, Hoàng Văn
Hành (Từ láy trong tiếng Việt, KHXH, 1985) đã thử xếp hai chữ bù nhìn vào
loại từ kép, từ láy của tiếng Việt. Nhưng khi đi tìm hiểu ý nghĩa của từ, tác
giả phải thừa nhận rằng "các
từ, kiểu như bâng quơ, bù nhìn là
những từ mà người bản ngữ hoàn toàn không còn có thể nhận hiểu được nghĩa của
từng yếu tố tạo thành. Hơn thế nữa, người ta cũng không thể căn cứ được vào bất
kỳ đặc điểm nào về hình thái hay về ngữ âm để giải thích nghĩa của từ cả.
Quan hệ âm-nghĩa ở các từ này rõ ràng là quan hệ võ đoán, quan hệ không có lý
do.". -Phải
chăng chỉ vì thằng bù nhìn của ta vừa lai Pháp, vừa có họ hàng bên Tàu, nên
quê quán của nó mới mù mờ, tên của nó mới khó hiểu, vô lí như vậy? Ngày
nay, bù nhìn và con rối thường được dùng với nghĩa bóng để chỉ một loại nhân vật chính trị. Người Trung quốc
và Đại Hàn gọi thằng bù nhìn đuổi chim của họ là đạo thảo nhân (người
làm bằng rơm rạ) , nghĩa cũng giống như cảo nhân. Thằng phỗng,
ông phỗng Có lẽ Nguyễn Khuyến (1835-1909) là người để ý đến
nhân vật phỗng nhiều nhất. Ông là tác giả của hai bài thơ được nhiều người biết: Tượng
sành trên non bộ Ông
đứng làm chi đấy hỡi ông *** Người đâu tên họ là gì? *
青 山 自 笑 頭 將 鶴 滄 海 誰 知 我 亦 鷗 * Phỗng còn là tượng
dân gian bằng đất, bằng sành hay bằng sứ, cỡ nhỏ, dáng to béo, sắc diện lạc
quan, để bày chơi trong các gia đình.Tuỳ theo tượng nặn một người lớn hay một
trẻ con và tuỳ theo tượng được đặt ở nơi thờ tự hay làm đồ chơi mà dân gian gọi
là ông phỗng hay thằng phỗng.-Tên phỗng từ đâu ra? Căn cứ vào hai kia vẽ thằng phỗng đội nến (lạp),
chúng ta thử đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên. - Chữ phỗng (ông phỗng) được viết bằng chữ bổng và
dấu nháy, một kí hiệu để chỉ rằng đây là chữ nôm. Bổng nghĩa là bổng lộc, tiền lương của
quan lại. Nghĩa này không thích hợp với nhân vật phỗng của tấm tranh. Vì vậy, phải hiểu rằng chữ nôm phỗng ở đây không
phải là được viết với chữ bổng, mà đã được viết bằng bộ nhân và chữ phụng (nhân+phụng=bổng).
Bộ nhân chỉ người. Phụng nghĩa là hầu hạ, vâng lời, dâng biếu. Nghĩa này
thích hợp với nhân vật phỗng, một kẻ đứng hầu nơi thờ tự, giữ việc đội hoặc
bưng nến, còn gọi là dâng nến. - Chữ phỗng trong tranh thằng phỗng đội nến viết
hơi khác chữ phỗng của tranh ông
phỗng. Người viết chữ nôm dùng bộ nguyệt làm kí hiệu
thay cho dấu nháy, phần còn lại thì giống nhau (bộ nhân và chữ phụng) . - Bảng tra chữ nôm (khoa Học
Xã Hội, Hà Nội, 1976) viết chữ phỗng bằng chữ phỏng nghĩa
là bắt chước, phỏng theo. Nghĩa này cũng có vẻ xa lạ đối với thằng phỗng của
dân gian Việt Nam. Ngôn ngữ Việt Nam còn có thêm hai chữ phỗng khác: - phỗng
tay trên: lấy hớt của người khác. - phỗng:
gọi ăn trong một ván bài tổ tôm, tài bàn, một con bài thứ ba của bất cứ người
nào khi trong tay mình có hai con như thế. Xét theo nghĩa thì hai chữ phỗng này có thể đến từ
chữ phủng, nghĩa là bưng, dâng, biếu. - thành ngữ ngồi im như phỗng và đứng
im như phỗng đực, có nghĩa là ngồi và đứng không động đậy, giống
pho tượng đồ chơi của trẻ con, hoặc giống ông phỗng nơi thờ tự. * Ông phỗng đá
thứ nhất của Nguyễn Khuyến đứng trơ trơ, “đêm ngày coi sóc cho ai đó”,
chắc phải là ông phỗng đứng bưng nến hay đội nến ở chùa chiền, đền miếu. * Ông phỗng đá
thứ nhì dang tay ngửa mặt lên trời, có
vẻ lạc quan, thiếu trang nghiêm, hẳn phải là ông phỗng đồ chơi. * Chữ phỗng
không có trong tự vị của Huỳnh Tịnh Của. Có thể đây cũng là một chữ mới
có từ đầu thế kỉ 20. Theo Nguyễn Dư 13/4/2000. *** |
Chim & tổ
giòng giọc mái
Tổ chim giòng giọc
trống
Chim giòng giọc luôn ồn ào giành
nhau những vị trí tốt trên các cành cây xoài cao, những đọt tre ngất nghểu.
Chúng đan những tổ chim khéo léo và rất xinh đẹp bằng những sợi cỏ khô mềm. Những
tổ chim giòng giọc ngoạn mục, lủng lẳng, đong đưa theo gió nhẹ, trang điểm cho
bức tranh quê vào mùa lúa chín, thật là một vẻ mỹ quan khó quên. Chim mái làm tổ
có vòi dài rất đẹp mắt. Chim trống cũng tự đan một tổ nhỏ đơn sơ hình tròn, lớn
hơn nắm tay người lớn, có dây ngang làm chỗ đứng, canh gác, tránh nắng, tránh
mưa. Đây là mùa sinh sản, duy trì nòi giống của loài chim giòng giọc để hết mùa
lúa chín, chúng bay đi vùng khác.
Nhớ có bận, các bạn và tôi đi vào
trong rừng Miểu Lục Viên, gần nhà ngoại tôi để hái gùi. Cái miểu chỉ là một cái
chòi tranh nhỏ, vách bằng phên tre, tiền diện để trống. Trên một cái bàn gỗ cũ
đơn sơ có một tấm bài vị với mấy chữ Nho sơn son thiếp vàng đã phai màu, một lư
hương ở giữa, hai bên bài vị đặt một cái chò để chưng trái cây và một bình hoa
bằng sành. Miểu Lục Viên là nơi thờ phượng người có công đức với làng xóm, quê
hương.
-Dây
gùi là vầy sao?!
Một bạn nào chợt cất tiếng. Dây nó
to bằng bắp chuối, sần sùi, cong queo. Nó bám vào một cây cám hay cây gì to
cao, nhìn lên trật ót. Chúng tôi ngồi lên những dây gùi nằm sõng soài dưới gốc
cây nghỉ chân. Có bạn rắn mắt cưỡi ngựa, đánh đu, đong đưa như ngồi trên võng.
Có một bạn nào dạn dĩ ôm bám dây gùi leo lên rất cao để hái mấy trái gùi chín
vàng trên đọt cây. Dây gùi cứ lắt la lắt lẻo…Trái gùi còn xa lắc tầm tay. Những
trái gùi dễ hái, người ta đã hái hết, chỉ còn sót lại mấy trái thách thức trên cao. Sợ rủi ro, Chị Tám
ra lệnh:
-“Xuống đi, Tarzan ơi! “Ne pas pouvoir” rồi! Xuống đi, đi hái mây!”.[23]
Thế là không hái được một trái gùi
nào cả, loại trái cây rừng mà chúng tôi háo hức muốn ăn cho biết vị. Vòng vo,
lùng sục một lúc quanh mấy bụi mây rừng tua tủa gai, chúng tôi chỉ còn hái được
hai quài mây rắc chín và một rổ quài mây rắc còn xanh.
Theo hướng nhà ngoại tôi gần đó,
chúng tôi rảo bước đi, một hơi là đến. Gặp Ngoại, các bạn lễ phép, khoanh tay,
cúi đầu: “Thưa Bà Ngoại”. Riêng tôi đứng
ra giới thiệu bạn bè với Bà. Ngoại tôi mặc một chiếc áo túi trắng, tóc bạc phơ,
mắt đã lòa, nhưng tai còn tỏ và hãy còn sõi lắm. Bà vỗ nhẹ lên đầu các bạn với
giọng cười hiền lành và giục tôi bắt gà làm cơm, nhưng cả bọn thưa rằng đã ăn
trưa rồi, chỉ muốn ăn mây cho vui thôi.
Nhanh như tép nhảy, Chị Tám lẹ làng
suốt những trái mây ra một cái rổ long mốt, xối nước, rửa cho hết bụi bám vỏ, đâm
giập “mây xanh”, để nguyên vỏ, trộn nước mắm, một ít đường, một ống bột ngọt, một
ít tiêu và ớt bột cay cay…Trộn đều, thế là xong! Chị và mấy đứa con gái chúng
tôi trịnh trọng đặt giữa bàn tròn một thau tráng men đầy trái mây xanh đã chế
biến và một chồng chén dĩa, muỗng, đũa.
-Mại
dzô! Mại dzô! Các bạn ơi! Ngon lắm!
-Mây xanh nóng hỗi, vừa thổi vừa ăn nè!
-Ăn
mây…là ngậm, là nuốt mây, cưỡi mây như Tôn Tẫn, Bàng Quyên…
-Như
đằng vân, đứng trên đám mây, mây bay vùn vụt hén!
-Xí!
Làm sao bay được…Dụ con nít, xưa rồi!
-Ha…ha…
-Mây nào cũng mây mà!
-Khác
nhau là cái chắc. Mây trời có hái, có ăn được đâu!...
-Đố
các bạn, vật gì mà “chặt không đứt, bứt
không rời, phơi không khô, chụm không cháy?”
-Khó
à nghen!
-Là
tên bạn Thu Thủy, là nước đúng
không?
-Chắc
là tên của bạn Triều, nước thủy triều
đó!
-Hay
là tên của 2 bạn Vân, Vân Đặng, Vân
Trương, vân là mây, mà mây cũng từ hơi nước mà ra thôi…
-Phải
tên bạn Ngọc, bạn Thoa (Khanh)…đâu
ai dám đem đồ trang sức quí giá của mình mà chặt, mà phơi…
-Có
lẽ là tên của bạn Thu Hương, Xuân Lan…Hương
không nắm được, Lan đâu dám nâng mạnh tay…
-Vậy
là tên các bạn Xuân, Sĩ, Sửu, Hầu, Lợi,
Nhơn, Đức, Nhuần (Văn), Minh Tân, Nhính, Lý (Ba), Chạng, Cuống, Thu (Yếu) Chị
Tám và Ngọc Chân, em út của Kim Ngân… tên có nghĩa riêng, bứt chữ rời ra
thì không thể được…
-À,
vậy, cũng như tên Lê Kim Quynh, Nguyễn
Thị Nhiên, tên hai lớp trưởng, của tụi mình, chắc là phải gắn ví nhau suốt
đời, làm sao bứt rời ra được…
-Ờ
hén! Cũng như tên của 2 bạn Ngân nè,
Ngân Võ và Ngân Nguyễn, âm thanh làm sao lấy được mà chặt, mà phơi…
- Ờ!
Hay quá! Hay quá! Đủ một số tên các bạn hay chơi chung với nhóm bọn mình …Tên một
số các bạn ở hai lớp nhứt A,B…Câu đố nầy rất có ý nghĩa…
-Vậy
là nhóm mình có nghĩa “Chặt không đứt, bứt
không rời, phơi không khô, chụm không cháy” nhen!
-Hi
vọng là như vậy đi! Ha…ha…
-Kha
…kha…
…..
-Còn
tui đố các bạn nhen. “Cha tôi đi giết
người. Mẹ tôi đi cứu người”[24],
có nghĩa là gì nè!
-Ghê
quá!
-Cứu
người thì có, chứ giết người …Ai mà dám làm chuyện ác?
-Giết
người là hung tàn, “hại nhân, nhân hại”, sẽ bị ở tù, xử tử.
-Không
phải vậy đâu! Hiểu theo nghĩa hàm ẩn, chứ
đâu phải nghĩa tường minh.
-Để
coi… Giết người là hại người, độc ác.
Cứu người là ngược lại…
-
“Xuất gì” đi chớ!
-Xuất
công việc nhà nông.
…
-À!
Có phải làm đất, trồng trọt không?
-Ráng
suy nghĩ thêm đi. Gần đến “đáp số” rồi.
-Vậy
là, đi cày và đi cấy.
-Chính
xác!
-Cha
tôi đi giết người là đi làm đất, giết
cỏ: đi cày. Mẹ tôi đi cứu người, là tạo nguồn lương thực cho
người. Có lương thực, người ta có cơm ăn mới sống là đi cấy.
-Très
bien! Très bien! (Giỏi lắm!)
-Ha
ha…
Ghi chú:
[*] TheoTruyện Vũ
Công Duệ, Nam Hải Dị Nhân, Phan Kế Bính:
VŨ CÔNG DUỆ
Công Duệ người làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh
Sơn Tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi làm ruộng vắng nhà, Công Duệ chơi với một bọn
trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bươm bướm làm hai tai, cắm con đĩa
làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra con voi đất mà vẫy được tai, vòi co
lên quắp xuống và chân đi được, ai trông thấy cũng cho là tinh quái.
Một
khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:
- Bố mày đâu?
Đáp lại:
- Bố tôi đi giết người.
- Mẹ mày đâu?
- Mẹ tôi đi cứu người.
Người
đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi thì
nói rằng:
- Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ
cho mà biết.
Người
kia mới dỗ bảo rằng:
- Mày cứ nói cho thật đi, tao sẽ tha
nợ cho nhà mày không đòi nữa.
Công Duệ sẵn cầm một cục đất dẽo, bảo người kia in tay vào đấy để làm tin.
Người kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao. Công Duệ mới nói rằng:
- Cha tôi đi nhổ mạ mà mẹ tôi thì đi cấy.
[Nhổ mạ thì phải nhổ đôi ba ngày trước
khi cấy, công cấy thì phải nhổ mạ, một buổi mạ là (300-400 bó mạ, tùy theo
hương ước địa phương). Thiết tưởng đi
cày và đi cấy sẽ hợp lý hơn:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” Chú giải
NT].
Người
kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước
ra, và nói rằng:
- Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?
Người kia đứng ngẩn
mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công Duệ cho đi học,
và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua sách.
Công
Duệ học thông minh lắm, nội các sách vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm
Hồng Đức thứ 23 đời vua Thánh Tôn nhà Lê, Công Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng
nguyên khoa ấy.
Lúc làm quan, tính
khí cương trực, vua cất lên làm Đô ngự sử, các quan ai cũng kính sợ.
Đến
khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình thần nhiều người a dua về Mạc Đăng Dung, ai
không nghe phải giết. Đăng Dung sai người dụ Công Duệ theo về làm quan với
mình, Công Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch thần;
nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự sử đâm đầu
xuống cửa bể Thần Phù mà chết.
Cách
60 năm sau đó, nhà Lê Trung Hưng, khôi phục được kinh thành Thăng Long, sai đúc
ấn Ngự sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn, mới sai người lặn xuống cửa bể
Thần Phù tìm quả ấn ngày xưa. Khi người lặn xuống đến nơi thì thấy Công Duệ vẫn
còn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn ở dưới đáy bể ,
uy nghi như thuở sinh thời.
Người
ấy sợ hãi, lên tâu chuyện với vua Trang Tôn. Vua lấy làm lạ, cho là thần khí
trung với nước của Công Duệ đã khiến cho ông đã hóa thần, mới sai quan làm lễ
khấn bái, rồi sai người đem xác Công Duệ lên, dùng lễ trọng, khâm liệm, bỏ vào
áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình Xá an táng, truy phong làm Thượng đẳng
phúc thần.
Theo Wikipedia
…..
-Đố bạn nào giải
được:
“Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra giòng liu điu”.
-Là theo nòi giống.
Ai tài giỏi, bao dung… thì con cháu tài giỏi, bao dung... Ai hèn hạ, độc ác,
ngu ngốc… thì con cháu hèn hạ, độc ác, ngu ngốc…
-Theo truyền thuyết
và lịch sử, dân tộc mình là con rồng cháu tiên, khí phách anh hùng, có lòng
nhân nghĩa. Chẳng hạn, Giặc Minh vô cùng tàn ác, thế mà khi chiến thắng vẻ vang
bọn chúng, Ta chẳng những không trả thù, chẳng những tha mạng không giết hại mà
còn cấp lương thực, ngựa xe, thuyền bè…để chúng về nước, đoàn tụ người
thân…Chúng cứ nghĩ Ta giả vờ như vậy nhưng trên đường về…hạ thủ độc thủ như bản
chất của chúng (suy bụng ta, ra bụng người)…cho nên tán đỡm kinh tâm, thất kinh
hồn vía, đâu biết, đó là tinh thần đại
nghĩa , chí nhân của dân tộc ta.
-À!
Tui nhớ rồi, Cô đã giảng như vậy và đọc cho lớp mình nghe mấy câu trong bài
Bình Ngô Đại cáo. Vầy nè:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn.
Lấy chí nhân mà thay cường bạo…
*
“Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà tim đập chân run…
*
-Dân tộc
mình thật là bản lĩnh…
-Đoàn
kết, yêu nước, có lòng trắc ẩn…
-Các nhà viết lịch
sử đã sử dụng rất nhiều…rất nhiều từ ngữ và hình ảnh hoa mỹ để ca ngợi bản sắc
Việt Nam…
-À! Có
phải rắn liu điu có nọc độc, có đuôi thật dài, ám chỉ sự thâm độc và cái đuôi
chệt của giặc phương Bắc, “ba tàu”?
-Rõ
như ban ngày, ai mà chẳng biết!
-Dân
mình thì có lòng quảng đại như rồng, bay tận chín tầng mây. Bọn giặc ở phương Bắc
thâm độc, như là loài bò sát dưới đất, rắn liu điu, chui rúc ở những nơi dơ bẩn,
hôi thối…
-Chưa
hết đâu, Cô mình nói, khi đô hộ nước mình, bọn giặc Minh rất là độc ác, thối
tha… bài Bình Ngô Đại Cáo còn rành rành ra đó:
Độc ác thay! Trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay! Nước Đông Hải khôn rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha!
Ai bảo thần dân chịu được.
-Phải
chăng dân ta kêu nó là “Tàu khựa” hay
“Chệt khựa”; “Đồ dơ dáy, hôi tanh, tỡm lợm”?
-Chắc
là…có thể là …đúng vậy!
-Thầy
mình đã giảng, bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, xưa nay chúng nó đều có âm
mưu thôn tính nước ta nhưng dân Việt mình rất bản lĩnh, rất yêu nước, rất anh
hùng…trẻ già, nữ giới, thiếu nhi một lòng hi sinh, quật khởi đấu tranh nên Tổ
quốc Việt Nam mình mới trường tồn, mới không bị đồng hóa, không thể nào mất gốc…
-Thật
vô cùng tự hào Tổ quốc Việt Nam nước ta!
-Tổ
tiên mình…muôn năm!
-Ha
ha…
[Ngân Triều bổ
sung: Mãi sau nầy tôi mới đọc được mấy câu thơ hào sảng về Tổ quốc Việt
Nam, cũng không nhớ tên bài thơ và hoàn cảnh sáng tác, xin được ghi lại để tham
khảo:
Sống
vững chãi bốn nghìn năm sừng sững,[25]
Lưng
đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.
Trong
và thực sáng hai bờ suy tưởng,
Sống
hiên ngang mà nhân ái, chan hòa.
Huy Cận.
Tứ
thơ như tổng kết lịch sử đấu tranh oai hùng, bản sắc, tâm hồn Việt Nam và khẳng
định nước ta, một đất nước “sừng sững”trường tồn vĩnh cửu, sánh vai cùng các nước
quốc tế trong năm châu, bốn biển; một dân tộc hiên ngang, bất khuất, nhân ái,
bao dung]
Vừa ăn vừa tán gẫu. Bầu không khí tở
mở, đầy tiếng nói cười rôm rã, quên luôn lời khen lịch sự cho món “mây xanh”.
Song, tôi không thể nào quên cái hương vị đậm đà của nó hơi chát chát, ngọt ngọt,
mặn mặn, ăn trệu trạo, nhai nhai nhè nhẹ luôn cả hột, khi nuốt vào, cảm nhận
cái dư vị ngọt ngọt của nó, đọng lại nơi thực quản, ngon ơi là ngon. Tuổi mới lớn, ăn gì cũng ngon…Nhất là bữa ăn đơn
sơ lồng trong một bầu không khí vui tươi, rộn rã tiếng cười giòn tan không dứt…
Nhớ có lần, chúng tôi rủ nhau đi nhổ
nấm tràm ở vạt tràm cháy của Nội tôi tận ấp Đức Ngãi (Làng Đức Lập, Đức Hòa, Chợ
Lớn). Rất hên! Chúng tôi đi hái nấm đúng mùa. (Tức là vào thời điểm sau những cơn mưa chập chũm của tháng ba âm lịch,
nắng nóng có sao, đồng ruộng khô cằn. Trên
những đám ruộng, chỉ còn trơ gốc rạ ngả nghiêng, trên những bước đi trên con đường
cỏ may cát trắng, gió làm tung bụi mịt mù). Gió chướng buổi chiều xa đưa, sau
những chiếc xe bò trên đường đất, cuồn cuộn những vầng bụi cát trắng, bay thấp
thoáng qua những dãy ruộng và tan biến sau lũy tre xanh.
Khi đến nơi đã định, chúng tôi tỏa
ra, lùng sục nấm tràm với nhãn quang của
Tề Thiên Đại Thánh(!), đôi mắt sáng cứ chăm chăm chú mục vào những gốc
tràm. Cuối cùng, chúng tôi thu hoạch được rất nhiều nấm tràm, đựng đầy trong những
chiếc nón lá và các nón bàng con trai. Mỗi lần gặp một ổ nấm tràm, tiếng reo mừng
tở mở, vang rân…
Đến nhà, dồn đi dồn lại, “chiến lợi phẩm” nấm tràm rất nhiều, đầy
5 chiếc nón lá và một số nón bàng. Để riêng ra một số nấm làm quà đem về
gia đình, còn lại, lặt gốc, bỏ đất dơ, ngâm rửa với nước muối… Rồi chúng tôi lấy
cái nồi to nhất của Nội, thường dùng nấu cơm cho công cấy ăn, hoặc sử dụng
riêng cho ngày giỗ, nấu được khoảng nửa nồi cháo nấm tràm, thơm ngon hết ý, “khao
quân”. Nấm đen đen, trắng trắng, búp búp; có gạo rang thơm; có đậu xanh hòa
quyện; có mấy con cá lóc cựu còn sót lại trong cái ao sâu của nhà, nay đà cạn
nước; mấy bạn nam quậy nước đùng đùng rồi thò hang bắt được; tóm thêm ba con ếch
bự nằm “mà” dưới đống “rơm nhao” trên bờ ao; có “bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”; có
đường, có bột ngọt, có muối, có gừng…
(Chị
Tám rất thạo việc nấu ăn, đứng bếp. Chắc là chị thường đi phụ đám tiệc ở quê nên
mới có những chiêu làm bếp tuyệt vời như thế. Sau nầy có gia đình riêng, chắc
là thế nào chị cũng một “nội tướng” đảm đang. Mà thật vậy, tôi thấy ở chị có những
phẩm hạnh tốt của người phụ nữ nông thôn như: xinh đẹp, vui vẻ, mến khách, chu
đáo, ngăn nắp, quán xuyến, tháo vát, tài ba…)
Chẳng mấy chốc, mùi cháo nấm tràm
thơm ngon lan tỏa khắp nhà, nghe cồn cào trong bụng. Sau khi múc ra để dành phần
cho Nội, Chị Tám với khuôn mặt ửng hồng, do đứng bên bếp lửa, khả ái, tươi cười,
đon đả:
-Ăn đi các bạn, cháo nhiều lắm, nấm tràm
mát lắm, học bài mau thuộc!
Thế là một nồi cháo to, một thoáng
hết sạch. Bữa ăn còn gắn với những chuyện vu vơ, trêu ghẹo lẫn nhau, những câu
chuyện têu tếu, vô thưởng vô phạt…và những tràng cười hồn nhiên, hể hả.
Chị Tám rất dễ thương qua nụ cười
và giọng nói hiền lành. Chị quả là một “đầu đàn” của bọn tôi thuở ấy.
Nhà tôi ở, ngay ngã tư Đức Lập, còn
gọi là Ngã Tư Mây Tàu, thuộc ấp Mây Tàu, giáp ranh với Rẫy Ông Ầm.[26]
Mỗi ngày tôi thường đi bộ theo đường
tắt để đến trường Tiểu Học Bào Trai. Bộ ba “tam sênh” của chúng tôi
gồm chị Tám, Thoa và tôi luôn
luôn đi chung với nhau. Có bạn hỏi chúng tôi đi học bằng phương tiện gì,
tôi cười đáp vui là đi bằng xe “lô ca chưn”. (Mặc dù bấy giờ còn có xe thổ mộ,
lộ trình Đức Lập- Bào Trai, khách lên đầy xe thì xe lóc cóc khởi hành. Dân
chúng và học sinh đi xe đạp, rất hiếm thấy).
Mỗi sáng, Khanh và tôi đi từ Đức Lập
đến nhà chị Tám (Gò Cao) đường đá lởm chởm, hơn 1km. Rồi ba đứa chúng tôi tiếp
tục đi khoảng 1km đường đá đó (TL 8) mới đến đường tắt. Con đường nầy thực ra
là một “lối mòn”, do nhiều người đã từng đi qua mà thành. Hai bên lối mòn ấy giăng
đầy bông cỏ may, men theo rừng chồi của bờ suối Bào Trai, dọc theo vuông rào lớn
của ông Bộ Tao, đi qua một vạt đất trồng đậu phộng, băng qua một mương nước cập
lộ 10, qua cống suối Bào Trai là đến trường, độ chừng 1,5 km.
Đi bộ tổng cộng 3,5 km.
Có lần tôi thử tính đường đi học của mình:
-Đường đi học và về mỗi ngày 2 lượt: 3,5km x
2 =7km.
-Đường đi học và về trong 1 tuần, 6 buổi
là :7km x 6 = 42km.
-Đường đi học và về trong 1 năm, 32 tuần
là: 42km X 32= 1.344km.
*Đáp số: Trong một năm học,
một nữ sinh tên Võ Kim Ngân đi được 1.344km.
Thật
là một kỷ lục khá lớn! Đường đi học trong một năm của tôi dài xấp xỉ bằng đường
dài từ Sài Gòn đến Hà Nội, mặc dù, bấy giờ tôi chỉ biết Sài Gòn, Hà Nội, và cả
cố đô Huế, qua quyển sách Địa Dư, do cô mua, phát ra vào dịp đầu năm học. Bộ ba
chúng tôi đi bộ như vậy chẳng nhằm nhò gì, vì hãy còn gần, khi so với phần lớn
các bạn ở vùng trên: Tân Mỹ, Gò Sao, Rừng Muỗi, La Cua … Đường xa gấp
đôi, gấp ba lần đường đi của chúng tôi, mà vẫn… lon ton… ôm cặp cuốc bộ.
Đường xa thì mặc đường xa… chúng
tôi cũng có những trò vui nhỏ trên đường đi học về. Thú vị nhất là ngắm và bắt
những côn trùng bay quanh bờ suối. Dễ phát hiện nhất là mấy chú ong bầu. Lưng
nó màu vàng nghệ, bụng màu đen. Khi bay, nó kêu o… o…rầm rì.
-Kìa!
Nó đang chui vào hoa cắt lồi hút mật! Để tui bắt, đem về cho nó hát bội nghe
chơi!
- Nó
chích đau lắm đó!
-Để
tui bắt cho coi! Nè! Biết cách bắt thì dễ ợt hè!
Chị Tám chuẩn bị cái khăn tay (mouchoir),
khi ong bầu chui vào đài hoa ngang của hoa cắt lồi hút mật, chị lấy khăn túm lại
như làm một cái túi tròn, đặt sẵn ở bên ngoài. Khi hút mật xong, ong chui nhanh
ra khỏi hoa, là nó rơi ngay vào cái túi khăn ấy. Chị liền lẹ làng túm khăn lại.
Thế là được một chú ong bầu trong chiếc khăn tay.
(Ngày nay trẻ em
thường dùng túi nilon đề bắt ong bầu).
Rồi hai chú, ba chú…Chỉ cần một con
cũng đủ. Nhiều ong hơn thì hát bội vui hơn, con nầy hát mệt thì con khác
thay...Có khi hai ba con cùng hát một lúc, trẻ em rất ưa thích…
-Nhưng
làm sao cho nó “hát bội” hả chị?
-Đem về đựng mỗi con trong một cái ve chai nhỏ, hay chai nước ngọt rỗng,
nhớ làm lỗ thở cho nó. Muốn cho nó
hát thì lấy cọng bàng làm que chọc vào nó là nó khắc hát o…o…ò…ò…ọ…ọ….như hát bội
rất vui tai. “Tiếng hát” của nó rất đơn điệu, lâu dần sẽ nhàm chán và gây buồn
ngủ.
-Vậy
à! Cũng hay! Thôi thả nó ra đi chị! Tội nghiệp quá! Mất nó, gia đình nó chắc là
buồn lắm! Nó có cha mẹ, anh em, chắc là
nó cũng giống như con người!
-Tui
biểu diễn bắt ong bầu chơi thôi, chớ ở nhà, tìm một cái ve chai không, đâu phải
là chuyện dễ. Cho em bé chơi thôi…chớ mình mà chơi gì nữa! Thỉnh thoảng tui cũng
có bắt chuồn chuồn trâu cho tụi nó hoài…
“Thi
hành nghị quyết”,
chị liền mở khăn ra, tức thì mấy con ong bầu tung cánh bay vút cao lên và bay
xa tít. Chúng tôi cứ nhìn theo vòng bay của chúng nó. Ô! Tự do! Có gì vui sướng
bằng tự do. Chắc là chúng nó rất vui thích, bay vút một mạch, lượn tít lên cao,
rồi khuất dạng trong khóm cây um tùm xa xa.
-Ha ha…Tụi mình vừa thể hiện một
niềm vui cho gia đình con ong bầu, phóng thích “tù binh”, cũng như ngày rằm,
người ta mua chim, mua cá đến Chùa cúng dường, phóng sinh…
- Chắc
là gia đình nó làm tổ ở hướng đó. Mà bắt chuồn chuồn chắc là khó lắm?
-Dễ ợt
thôi! Nhưng về nhà đã. Là vầy: Giống như bắt ve sầu hay hay bẫy chim sắc. Lấy
nhựa cây sung hay cây mít, đem nhựa bôi lên đầu cây trúc cao chừng “một với”[27]
…rồi đem cắm ở chỗ có chuồn chuồn bay…Bay một hơi, chúng thường tìm chỗ đậu nghỉ
cánh. Chuồn chuồn thích đậu trên cao để nhìn tám hướng…Đậu vào…đầu trúc có thoa
nhựa cây…là dính bẫy. Hạ cây trúc xuống là bắt…Biết cho con nít chơi sao không?
Lấy sợi chỉ buộc vào chân chuồn chuồn. Lúc nắm sợi chỉ, chuồn chuồn bay vòng
tròn rất vui. Tụi nhóc thích thú như chơi bong bóng bay. Nhưng bắt kiểu nầy,
chân chuồn chuồn dính nhựa, sau dính thêm đất nên chơi không được lâu. Không bằng
thò tay bắt nó.
-Nghe
nói mình cho con chuồn chuồn cắn rún, khắc mình biết bơi... biết có đúng không?
-Làm
sao tin được! Nó cắn đau lắm! Trò lừa dụ con nít xưa rồi! Đâu phải là phép mầu
của chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa! Có tập bơi, khắc biết bơi, có học võ nghệ,
khắc biết nghề. Có nghề, hễ ai ỷ mạnh, ăn hiếp, đánh mình…thì mình dư sức dùng
“miếng trả miếng với nó”. Bộ không nhớ Cô đã giảng cho mình ở bài Đức Dục, Tự lực
tự cường sao?
-Ờ
hén! Hãy luôn cảnh giác với Giặc Phương Bắc. Lúc nào chúng cũng lăm le xâm chiếm
nước mình qua cái bản chất tham tàn, điêu trá …ẩn sâu trong đầu óc quỷ quyệt của
chúng. Từ đời Nhà Đinh, Nhà Trần…Ông cha ta lúc nào cũng đã nhắc nhở sâu và di
huấn cho hậu sinh.
a/-Thời Đinh Tiên Hoàng (968 -980), có câu:
“Bắc
môn tỏa thược”[28]
北 門 鎖 鑰
còn ghi chữ “Bắc môn tỏa thược” 北門 鎖 鑰
b/-Di
chúc của Vua Trần Nhân Tông[29]
(1279 – 1293). Lập ra hơn 700 năm trước, đã từng cảnh giác cho muôn đời sau:
“Nếu chúng (Giặc Tàu) không thôn tính được ta thì gậm
nhấm ta. Họ (Tàu khựa) gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của
ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.
Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
“Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt
vào tay kẻ khác”.
-Bạn thuộc bài và
tiếp thu lời giảng của cô mình y boong! Cô còn liên giảng gì nữa, nhớ không?
-Đó là hai câu ca
dao lịch sử răn đời: Hãy xem cái hèn mạt,
phản quốc: “Nước loạn, không cứu; theo giặc, cầu vinh” như Trần Ích Tắc”.
“Cỏng rắn về cắn
gà nhà”, như Vua Lê Chiêu Thống, chết lưu vong nhục nhã ở tuổi 28. Đời cha ông
anh hùng mà con cháu chẳng ra gì…Ô nhục muôn đời:
“Trăm năm bia đá
thì mòn,
Nghìn năm bia miệng hãy còn …trơ trơ”.
-Tui
“ghét cay, ghét đắng…ghét vào tận tâm”…những bè lũ bù nhìn, phản dân, hại nước,
“theo giặc, cầu vinh”.
…..
Buồn cười, nhớ có lần, Cô
Thu dạy thêu “mũi xương cá” trong giờ nữ công. Thoa và tôi, vừa
may xong áo bà ba trắng mới, chúng tôi liền thực hành, tự thêu vào bâu áo,
trang trí vạt áo của mình bằng những xương cá màu đỏ, rất dễ thương. Có một bạn
nam lớp A nào, để ý, gọi hai chúng tôi là “hai
nàng tiên cá”. Một cái tên rất ngộ nghĩnh, hay hay. Cũng như có một số
bạn nam lớp A gọi bộ ba chúng tôi (Thoa, Tám và tôi) là “ Ba người đẹp Mây
Tàu”, (Đức Lập). Phương danh đó rất đúng với hai bạn kia, nhưng với
tôi thì chưa đúng lắm. Tôi được Thầy và các bạn nói là hiền thục, dễ thương và
các bạn đã từng trêu tôi là Ngân Tóc Hoe.
Hồi đó, thú vị nhất là những ngày
được nghỉ học để rủ nhau tùy tiện đi chơi… Nhưng vui nhất là nghỉ lễ Tết Âm Lịch
khoảng hai tuần, thường có đoàn hát bộ đến hát. Chúng tôi có dịp đi xem những
trò vui dân gian chốn quê trong những ngày Tết.
Sáng mùng một, sau khi mừng tuổi Ba
Mẹ, tôi dạo quanh chợ Đức Lập để thấy chợ vắng hoe, người ta nghỉ bán để ăn Tết.
Bên hông đình làng, rất đông người; những sòng đỏ-đen cho bà con thử thời vận
may mắn đầu xuân. Nào là hai ba sòng lúc lắc “bầu cua cá cọp”, một sòng
đánh bong vụ, mấy sòng đánh bài cào, bài cách tê, xì phé và bài tam cúc. Sôi nổi nhứt là “trường
đá gà nòi” cá độ.
Có lần, Triều, chị Tám, Ngân, Ngọc,
Khanh và tôi cùng đi xem “hát bộ”. Rạp dựng trong sân đình làng, người
ta trét vách đất cho kín, rất nóng nực mà cũng rất đông khán giả. Hình như người
dân rất khao khát món ăn tinh thần nầy. Chúng tôi chưa hiểu nhiều về sự tích tuồng
hát và nghệ thuật của “hát bộ” nhưng xem hát rất vui. Khi vãng hát, chúng tôi dạo
quanh những hàng quán lèo tèo trước rạp hát. Đó là những lều che tạm bằng cột
tre, kèo tre, mái lều là những tấm liếp xắt thuốc lá. Những điểm dưa hấu, với một
đống dưa cao, từ Tây Ninh chở về; quầy hàng nước mía, chủ quán ép mía với hai
trục lăn nhôm; sạp nước giải khát là bán nhân sâm ,“sưng sáo”, đười ươi, hột é,
đá đậu, bánh lọt, sương sa hạt lựu. Hàng nước giải khát đóng chai thì có xá xị
con nai, Limonade, nước bạc hà, bia con cọp Larue. Hàng ăn thì có cháo lòng
heo, cháo gỏi vịt, bì bún-chả giò, hột vịt lộn, hủ tiếu mì, bánh canh, cơm tấm
và có quán nhậu đặc sản bán rượu “ Đà quốc tửu ”[30]
ký hiệu NN, có rất nhiều bác nông dân đến uống.
Cuối cùng, chúng tôi lắc cắc mấy gói đậu phộng rang, mỗi
đứa một ly nước mía, ngắm nhìn thiên hạ vui chơi, bàn luận về tuồng hát và giang
tay ra về.
Hãy quay lại với con đường đi học của
tôi. Cây cỏ may thường mọc trên gò, trên lề đường đá, trên bờ ruộng, nơi
nghĩa địa và bạt ngàn trên các lối mòn dọc theo con đường tôi đi học. Cây
cỏ may có sức sống mãnh liệt cũng như các loại cỏ khác nhưng khác nhất là mỗi bụi
có một cọng cỏ ngồng cao, ngồng cỏ thân tròn, cao khoảng 1,5 đến 2 gang tay.
Trên đọt ngồng cỏ đó, có đính một chùm bông
cỏ may, khi còn non màu tím, khi trưởng thành đổi màu trắng. Mỗi bông đều
có một cái cuống dài khoảng 2 – 3mm rất dẽo dính vào chùm bông. Khi ấbông khô
và già, nó sẵn sàng “may” một cách
nhiệt tình vào những ống quần dài nào lướt ngang qua nó. Nếu bông cỏ may “găm” vào quần dài chừng 5-10 bông thì
không sao. Nhiều hơn, dày đặc hơn là vô cùng khó chịu vì những cái mũi của nó “găm” tiếp vào ống chân, rất ngứa và xót
chân. Cho nên, tôi rất ghét bông cỏ may và luôn luôn đi né tránh những bụi
cỏ may trên đường đi học. Vậy mà ngày nào cũng như ngày nấy, tôi thường bị những
bông cỏ may “quá giang” trên ống quần tôi, theo mỗi lượt đi về. Có lúc,
không còn đủ thì giờ nhổ bỏ từng bông, tôi phải dùng bề sống của con dao mỏng
cào nhẹ trên vải quần để loại trừ nó cho nhanh…Tuy vậy, việc gì không tốt gắn với
ta lâu dần, nó cũng trở thành thân quen. Tôi xem những bông cỏ may như những người bạn đồng hành bé xíu, duyên dáng, dễ
thương, của một thời tiểu học nhiều kỷ niệm trong sáng, vô tư.
Bông
cỏ may, bông cỏ may ơi!
Duyên
đâu mà dệt bước chân tôi?
Mỗi
bông găm một niềm vui nhỏ?
Hay
nỗi sầu, vương vấn, cuộc đời?
Chú thích:
[1] Bào Trai: Tôi còn nhớ, đối diện Trường Tiểu Học Bào Trai của chúng tôi là một cái đồn Tây có tấm bảng La poste de BaoTrai, trên mái ngói của một dãy nhà sát lộ của đồn Tây, có vẽ chữ BaoTrai bằng sơn trắng rất lớn; sát bên trường là một cái chợ nhỏ, mặt tiền nhà lồng chợ chó chữ Chợ Bào Trai. (Chữ Bào được viết với chữ o cuối).
Ngày nay, chữ Bàu Trai
viết với chữ u cuối, theo từ điển Tiếng Việt.
[2]
Suối Bào Trai, nay thành kinh Bàu Trai, có cầu Bàu Trai
(xưa là một cái cống, với 3 ống cống to thoát nước ra sông Vàm Cỏ Đông); có ghe
thuyền miền Tây và miền Đông lui tới buôn bán những đặc sản theo mùa, như mua
lúa, mua đậu phọng; bán tro cho nhà nông; bán cây chiết cành; bán đồ sành sứ…
[3] Trái
điều, còn gọi là đào lộn hột, ngọt ngọt mà chát, nước trái điều dính
vào áo, giặt không ra. Hột điều nằm phía dưới trái điều. Tụi con trai thường lấy
hột điều chơi đánh đáo. Hột điều nướng, ăn béo và bùi, vị ngon khó quên.
[4] Tiết
Đinh San cầu Phàn Lê Huê: tên một tuồng hát Bội, viết theo truyện Tàu, khuyết
danh; Tiết đinh San chinh Tây. Tiết Đinh San khi ấy gặp Phàn Lê Huê, nữ tướng Tây Liêu có tài cao, si mê Tiết Đinh San, đầu phục
nhà Đường, được kết duyên cùng Đinh San. Hai vợ chồng có công trong việc chinh
Tây.
“cầu”
là tìm, là cầu hôn.
Do các bạn không biết chuyện tuồng…nên
đối đáp ngây ngô rất buồn cười như vậy.
Đời Hùng
Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông bà lão nghèo chăm chỉ làm ăn và
có tiếng là phúc đức thế mà họ vẫn chưa có con. Một hôm bà ra đồng thấy 1 vết
chân rất to liền ướm thử xem thua kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai
và 12 tháng sau sinh được 1 cậu bé khôi ngô tuấn tú.
Kì lạ
thay, cậu bé ấy lên ba mà vẫn không biết nói cười, đặt đâu nằm đấy. Gặp lúc
trong nước có tin nguy cấp, có giặc Ân tàn ác sang cướp phá nuớc ta. Vua sai sứ
đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo
mẹ ra mời sứ giả vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một áo giáp sắt và một
con ngựa sắt, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ
vươn vai hóa thành người cao lớn, liền phi ngựa vung gươm ra trận, quan quân
theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Trâu. Con ngựa sắt cũng phun lửa đốt
cháy quân giặc. Bọn giặc giẫm đạp lên nhau mà chay cũng không thoát chết. Tan
giặc, Thánh Gióng đến chân núi Sóc Sơn, cởi áo giáp, phi ngựa lên trời mà đi.
Để tưởng
niệm, Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế.
Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến
Sơ, hương Phù Đổng).
[6] Cốt
truyện Phù Đổng Thiên Vương
Chuyện kể rằng:
Vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có
hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có
một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn
chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai
và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng
lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười,
cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ có giặc Ân phương Bắc, xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua
lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé
nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói:
-Mẹ ra mời
sứ giả vào đây!
Sứ giả vào, đứa bé bảo:
-Ông về tâu
vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ
phá tan lũ giặc này.
Sứ giả vừa
kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ săt ngày
đêm làm gấp những vật chú bé dặn.
Càng lạ hơn
nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no,
áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng nấu nướng bao nhiêu thức ăn cũng
không đủ cho con ăn no, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều
vui lòng gom góp gạo thóc, thức ăn nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc,
cứu nước.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa
lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn
vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt.
Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc
áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng
đến
nơi có giặc, lao vào thiên binh vạn mã toát lên bá khí cường liệt dị
thường, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh
đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng
sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Thánh Gióng dập đầu lạy mẹ cha, tạ ơn công
nuôi dưỡng sinh thành rồi lên đỉnh núi Sóc Sơn cưỡi ngựa bay về trời. Vua nhớ
công ơn, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.
Tượng
Phù Đổng Thiên Vương
Tương truyền, Cao Bá Quát khi viếng đền thờ của Phù Đổng Thiên Vương, có cảm đề
,2 câu đối kiệt xuất, được người đời tán tụng -nay còn bút tích (?):
破 賊 癉 嫌 三 歳 晚
騰 雲 由 恨 九 天 低
-Phá tặc đản hiềm tam tuế vãn,
Đằng vân do hận cửu thiên đê.
-Đánh
giặc lên ba, e quá muộn,
Tung
mây còn bực chín trời gần.
Ngân Triều dịch
Hiện nay, đền thờ
người anh hùng diệt giặc cứu nước vẫn còn ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng
Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội linh đình. Người ta kể rằng những bụi
tre màu ngà, ngả nghiêng.rải rác ở huyện Gia Bình vì bị ngựa phun lửa bị cháy
sém, mới ngả màu vàng óng như thế, dân làng gọi là những “bụi tre pheo”;còn những
dấu chân ngựa sắt ngày xưa, nay đã thành những hồ ao liên tiếp, trải dài. Người
ta còn nói khi ngựa phun lửa giết giặc, vòi lửa vô tình đã làm cháy một ngôi
làng, cho nên làng đó, dẫu đã được xây dựng từ lâu đời, tục nay vẫn còn gọi là
Làng Cháy.
Theo Wikipedia
[7] Đồng Trụ đến giờ, rêu vẫn lục! (xanh lục)”.
[8] Anh
hùng sứ giả nước Nam tên là Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638)
tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Lê Trung
Hưng. Ông được mệnh danh là vị sứ
thần "Bất nhục quân mệnh" 不 辱 君 命 (Không
để nhục mệnh vua) vì đã hiên ngang, bất khuất, thẳng thừng đối lại câu đối
của vua Minh Tư Tông nhục mạ nước ta, trong một buổi lâm triều, có đầy đủ sứ bộ
các nước. Nhục nhã, bất chấp thị phi, vua hạ lệnh hành hình ông vào năm 1638, thọ 65 tuổi.
Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mang (vừa công
nhận nhà Hậu Lê và vừa công nhận nhà Mạc) với mục đích muốn cho cuộc chiến tranh
Lê-Mạc cứ tiếp diễn vì hai chế độ
đều có chính thống. Khi ấy, Trưởng đoàn sứ bộ ngoại giao của Nhà Hậu Lê là
Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.
Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông , Chu Do Kiểm (tức Sùng Trinh) lấy lý do "Vì lệ cũ không có những
quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc
thư để tưởng lệ" với mục đích là chưa công nhận sự chính thống của nhà Hậu
Lê cũng như vẫn “ lập lờ” công nhận nhà Mạc.
Đồng thời, trong buổi lâm triều, Chu Do Kiểm
còn ngạo mạn, sỉ nhục nước ta nên đã ra một vế đối như sau:
Đồng trụ chí kim
đài dĩ lục
銅 宙 至 今 苔 已 綠
Nghĩa là:
Đồng trụ đến giờ, rêu vẫn lục. [màu xanh lục]
Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ
- tức Đại Việt - bị diệt vong).
Đằng Giang tự cổ
huyết do hồng
籐 江 自 古 血 由 紅
Nghĩa là:
Đằng Giang muôn thuở, máu còn hồng.
Vế đối này không những đối một cách chan
chat về ý mà về hình thức nghệ thuật rất sắc sảo, chính xác, từ với từ, còn có
ý nhắc lại việc người Việt đã hai lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên
sông Bạch Đằng.(Máu của giặc đã chết trận tự ngàn xưa, do
đại bại ở Sông Bạch Đằng, đời Nhà Ngô, Nhà Trần, hòa nước sông, tuôn ra biển cả,
đến bấy giờ vẫn còn màu hồng, như rửa trôi chưa hết.- NT)
Vào lúc đó, câu đối này được xem như là một cái tát “đòn hằn”, và “hạ gục”
vào mặt hoàng đế nhà Minh, trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ
bộ các nước chư hầu. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận, quá nhục nhã, quên mất thể
diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã ra lệnh giết ông bằng cách cho
trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem "Sứ thần An Nam to gan, lớn
mật đến đâu".(!!!)
Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Tuy
nhiên, cuối cùng, khibình tâm, Minh Tư Tông vẫn kính phục một bậc trung thần
nghĩa sĩ, hết lòng vì vua vì nước, cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và cho
đưa thi hài ông về nước.
Khi thi hài của Ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đều vô cùng thương tiếc, bái kiến linh cữu và truy tặng Ông chức Công
bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, với sắc phong:
使 不
辱 君 命,
可 爲 千 古 英 雄
.
"Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng"
(tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).
Cuối cùng Ông được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông
Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này hiện còn có một cái quán (như một ngôi
nhà nhỏ) là nơi linh cữu ông đã được quàng lại một thời gian ngày xưa để các
quan lại, sĩ phu và nhân dân thương tiếc bái biệt, được gọi là Quán Quàng. Hiện
nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn
hóa.
Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên
Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội.
[9] Đằng
Giang muôn thuở, máu còn hồng.
Vế đối nhắc
lại Sông Bạch Đằng là mồ chôn giặc phương Bắc. Ngô Quyền chôn cọc gỗ lim trên
sông Bạch Đằng, đánh tan quân Nam Hán, chém đầu Hoằng Thao, tk X, năm 938; Trần
Hưng Đạo cũng chôn cọc gỗ lim trên sông Bạch Đằng đánh tan quân Nguyên, tk
XIII, năm 1288. Thuyền giặc bị vướng cọc ngả nghiêng, không nhúc nhích, quân
ta thừa thế giết giặc máu nhuộm đỏ cả khúc sông. Các tướng giặc đều bị quân ta
bắt sống như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc…
[10] Thiết tưởng từ “ma nước Nam” ở đây hợp lý
hơn “quỷ nước Nam”. Ma có vẻ hiền lành, quỷ hung ác. NT
[11] Xưa có một nàng dâu của một gia đình nghèo. Để “làm dâu”, ngày ngày chị phải đi bắt cua, bắt cá quanh suối. Chị nấu cơm, kho cá, luộc rau, nấu canh, chiên cá đều tốt. Sau một thời gian, chị bỗng “dở hơi”, ngẩn ngẩn ngơ ngơ và nhất là lần nào nấu cơm cũng sống cả. Để ý, người mẹ chồng rình xem thì thấy khi cơm sôi, chị lấy nắp vun nồi cơm đặt trên đầu mình một cách liên tục, có vẻ rất thoải mái. Thấy vậy, người mẹ chồng bước ra, quát:
-Mầy nấu cơm gì kỳ vậy? Hèn gì cơm sống!
Thuận
tay, đang cầm chiếc đũa bếp, bà gõ vào đầu nàng dâu. Nàng dâu chỉ kêu “Á!” một
tiếng rồi ngã lăn ra chết. Bà mẹ chồng hốt hoảng, nhìn xem thì thấy chỗ vết
thương tét sọ, đỉa bò ra lúc nhúc. Bà mới vỡ lẽ là nàng dâu đã bị đỉa chun lỗ
tai và đỉa đã sinh sôi nẩy nở trong đầu con dâu…
[12]Lộn
thinh đỉa: Là lấy 1 que dài hơn đỉa, luồn vào 1 đầu đỉa, cho đến lhi que
qua đầu kia. Con đỉa bị lộn ngược, phơi bụng ra ngoài, nắng nóng khô lại và nó
sẽ chết tiệt.
[13] tùng
xẽo là hình phạt thời Trung cổ rất
ghê gớm. Tội phạm gian ác bị lột trần, cột vào một trụ đứng. Khi một tiếng trống
“tùng” vang lên là bị “xẽo” một miếng thịt…cho đến chết. Hoặc
nướng đỏ các loại dao, kiềm…đem áp vào tội nhân, kiểu như vậy.
[14] Đường mồi
là một con đường đất nhỏ, ăn vào một con đường khác lớn hơn.
[15] Trần Tế Xương 1870-1907, năm 1900, thi trượt và cũng vì tin bạn,
lãnh nợ dùm bạn, cho nên phải mất nhà…Ông đã tâm sự trong một bài thơ bi lụy,
ngao ngán tình đời:
Gần Tết than việc nhà
Bố
ở một nơi, con một nơi,
Bấm
tay tháng nữa hết năm rồi!
Văn
trường ngoại hạn, quan không chấm,
Nhà
cửa giao canh, nợ phải bồi.
Tin
bạn hóa ra người thất thổ[15]
Vì
ai nên nỗi quyển đâm vôi.
Ba
mươi mốt tuổi đà bao chốc,
Lặn
suối trèo non đã mấy hồi
Bài nầy được sang tác vào cuối năm Canh Tý,
1900, khi đã hõng thi. Lúc ấy gia đình Ông bị Mụ Hai An tịch biên đoạt ngôi nhà
247 Phố Hàng Nâu, phải đi tá túc nhà người bà con là Trần Đăng Chu. Sau đó, Mẹ
vợ, Bà Hai Sửu thương tình, mới nhường cho gia đình Ông ngôi nhà 280 Phố Hàng
Nâu.
Trích Thơ Trần Tế
Xương, nxb Văn Hóa-Thông Tin, 1998. (NT
chú giải)ái thum
[17]Vua
Trần Nhân Tông (陳仁 宗; 1258 – 1308) nói:
Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường
chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện
khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra
những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm
đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành
cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền
nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó
như một lời di chúc cho muôn đời con cháu…
(trích từ chương 14 tiểu thuyết Huyền
Trân công chúa của nhà văn Hoàng Quốc Hải)
[18]
trăm là nói, “trăm hay không bằng tay
quen”= nói hay khộng bằng làm giỏi.
[19] Có bạn
giải thích “tếu”; bù là thua; nhìn là xem, ngó, canh giữ. Vậy bù nhìn là không
nhìn được; canh giữ là thua. Phải chăng cũng đúng?
[20] Trích
trích trơ trơ, từ láy, ý nói trơ
lỳ mặt ra, chẳng có phản ứng chi hết/ Nguyễn Công Trứ cũng đã viết:” Cũng trơ
trơ trích trích không nao” (Con Tạo ganh ghét)/ Trăng thề còn đó tri tri (Hoa
Tiên)
[21] hội lạc: Đời Tống, Văn Ngạn Bác mời 12 sĩ phu,
có tài, có tuổi dự tiệc rượu sang trọng ở nhà Phù Bật. Tương truyền là Lạc
Dương kỳ anh hội, Hội các bậc kỳ anh ở Lạc Dương
[22] Hai câu thơ chữ Hán: Nhìn núi xanh, ta tự cười đầu ta bạc trắng; Trước cảnh biển xanh (tượng trưng cho cảnh dâu bể khôn lường), ai có biết rằng ta cũng như con chim âu.(Chim âu tượng trưng cho người ẩn dật, không màng đến thế sự thăng trầm).
Phỗng được định nghĩa là tượng người bằng đất,
đá, đặt ở đền chùa, miếu mạo, được coi là người đứng hầu nơi thờ tự.( NT )
[23] (Hồi
đó, ở lớp nhì và lớp nhất chúng tôi được học Tiếng Pháp, ne pas pouvoir, có nghĩa là không
được, không thể. Tarzan là nhân vật chính, giỏi đu giây và leo trèo, trong bộ
phim Tarzan, người rừng, mà chúng tôi đã được xem bấy giờ)
[25]Trích Đi trên mảnh đất này- Huy Cận
[28] Bắc
môn tỏa thược nghĩa là Cửa Bắc
đóng chặt, hiện nay còn ghi ở cổng vào đền thờ của Vua Đinh Tiên Hoàng. Ý nói
nước ta phải luôn cảnh giác với cái họa mất nước từ phương Bắc, nên, khóa chặt
cửa hay luôn luôn đề cao cảnh giác với chúng. (Xem ảnh)
Trước đây, trên mạng chia sẻ cho mọi người, nói rằng
đây là di chúc của Vua Trần Nhân Tông. Thực ra, đoạn văn trên chính là lời nói
của Vua Trần Nhân Tông, trích từ chương 14, tiểu thuyết “Huyền Trân công
chúa” của nhà văn Hoàng Quốc Hải. (Ngân
Triều ghi chú).
[30]“
Đà quốc tửu” NN: là rượu đế Đức Hòa, Long An, Nước Nếp, được dân Lưu
Linh đối ẩm một thời. Gọi vui là vậy.
***
Cáo lỗi vì bài có rất nhiều hình nên không thể tải được. Mong quý bạn thông cảm.
Ảnh minh họa:
(1) (2) (3) Tổ chim giòng giọc mái
![]() |
| Hoa Cắt lồi |




