Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 17 & 18

 

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 17 & 18, (tiếp theo)

Bài số 17:
Thu nhaät töùc söï (Thu nhật tức sự)

                                                                     Hồ Xuân Hương

Xuân Hương lại gửi cho Nguyễn Du một bài thơ khác, bài Thu nhật tức sự:

Ngọn gió Tây đêm qua mang lạnh về,

Giậu cúc đìu hiu dù vẫn còn tuyết đọng.

Mưa rơi nặng mặt nước sông mờ mịt,

Mưa dứt, trơ trọi một đám mây đùn quanh đỉnh núi xanh, như  ai vẽ những đường mi.

Sen tàn, cuối hạ, trời còn lưu lại một chút hương mùa xuân cũ.

Bên cây liễu thuớt tha, như còn dư hương trong tán lá màu xanh biếc.

Kìa chim vui hót, biết  có ai thấu hiểu nỗi niềm riêng.

Những lời của người xa vẫn còn đọng  mãi trong mối tình chân thành.

Trong thơ Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, gió Tây không chỉ là gió Lào từ hướng Tây, mà là quân Tây Sơn ra Bắc, do đó ta có thể đọc một cách khác những ẩn ý trong bài thơ tả cảnh để nói lên tình hình chính trị đương thời. Quân Tây Sơn ra Bắc làm cho tình hình đìu hiu. Cuộc chiến đang diễn ra trong Nam với quân Chúa Nguyễn, tình hình vẫn còn mờ mịt. Nay chỉ còn một mình Vua Tây Sơn nơi đất Bắc, triều đại nhà Lê suy tàn nhưng lòng người cũng còn nhớ đến. Có ai thấu chăng lòng mình còn nhớ đến quê hương. 

*

          Ngày thu tức cảnh 

Đêm qua lành lạnh gió Tây về,  
Giậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi.  
Mưa nặng sông chia mờ mặt nước,  
Mây trơ núi biếc vẽ đường mi  
Sen tàn cuối hạ làn xuân rớt,  
Liễu rũ hương thừa áo biếc che.  
Chim hót nỗi mình ai có thấu,  
Lời lời còn đọng mối tình quê.[1]

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Hương Đình Cổ Nguyệt Thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

*

Thu nhật tức sự

Tây phong tạc dạ áp hàn chi, 

Ly cúc tiêu sơ tuyết vị phi.

Mật vũ tà si phân thuỷ diện,

Cô vân miêu chức viễn sơn my. 

Liên dư tàn hạ lưu xuân đới, 

Liễu bạng nhiêu hương lão thuý y. 

Đề điểu mạc phi tri ngã huống, 

Thanh thanh trường động cố hương ty (tư).

*

Nguồn: 

1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 

2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam
3.Tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh

*

Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:

     秋 日 即 事
西 風 昨 夜 壓 寒 枝 
籬 菊 蕭 疏 雪 未 飛 
密 雨 斜 篩 紛 水 面 
孤 雲 描 織 遠 山 眉 
蓮 餘 殘 夏 留 春 帶 
饒 香 老 翠 衣
啼 鳥 莫 非 知 我 況 
聲 聲 長 動 故 鄉 思

*

Dịch thơ 1- Ngày Thu tức cảnh
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Đêm qua lành lạnh gió Tây về, 
Giậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi. 
Mưa nặng sông chia mờ vẻ mặt, 
Mây trơ non thẳm vẽ đường mi. 
Sen tàn Hạ cuối dây thơm sót, 
Liễu ngã Xuân thừa biếc áo che. 
Chim hót nỗi mình chăng có thấu? 
Lời lời dài đọng nỗi lòng quê.

*

Ngân Triều cảm đề

Bài Thu nhật tức sự:

Gió Tây, đêm rét lạnh tư bề,

Giậu cúc buồn tênh ngậm tuyết chi?

Nặng hạt mưa chiều, sông mịt mịt,

Ngớt  mưa, mây gắn núi bờ mi.

Sen tàn cuối Hạ còn thơm rớt,

Hương liễu Xuân già, áo vẫn khoe.

Chim hót thấu chăng lòng lữ thứ?

Tiếng buồn vang vọng nỗi niềm quê.

 

*****

Bài  số 18:
Thu nhaät kyù höùng (Thu nhật ký hứng)

                                                                                Nguyễn Du

Nguyễn Du lại viết một bài thơ Thu nhật ký hứng, mở đầu bằng chữ Tây Phong đáp lại bài thơ Thu nhật tức sự của Hồ Xuân Hương:

Gió Tây mới đến, anh vẫn chưa về

Mà đã thấy khí trời lạnh lắm.

Non sông nước cũ ngắm trông buổi chiều tà.

Dù có xa em thân thế mặc như đám mây trôi nổi.

Giật mình sợ cái cảnh già đến,

Đêm qua tiếng gió thu ở đâu nổi lên.

Cười mình đầu bạc mà còn vụng thu xếp,

Để lá vàng rơi rụng  đầy sân.

Gió Tây ám chỉ Tây Sơn, bài thơ còn ký thác tâm sự Nguyễn Du:

Vì Tây Sơn ra Bắc nên chàng chưa về Thăng Long, không khí chính trị làm cho lòng dạ tái tê. Nhìn non nước cũ nhà Lê thời vận đã tàn, ở quê mình mà cũng như quê người, thân phận tha hương vẫn như đám mây trôi nỗi (khóc cười theo thời thế, im lặng giữ thân) Sợ rằng tuổi ngày một cao mà chưa làm nên việc gì, Đêm trước có nghe gió thu, từ phương Nam 

             Lạy trời cho chóng gió Nồm,

Để thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra

 mọi người đều hay biết.

Tự trách mình bạc đầu còn vụng tính, đẻ cho lá vàng rơi rụng đầy sân.

Ngày Thu cảm hứng 

Thu nhật ký hứng

Gió Tây mới đến khách chưa về,  
Khí lạnh mười phần dạ tái tê.  
Nước cũ non sông trời lặng ngắm,  
Quê người thân thế gửi mây che.  
Cái già chợt sợ nay đà đến,  
Thu đến nơi nơi đêm trước nghe.  
Tự trách bạc đầu ta vụng tính,  
Lá vàng rơi rụng, rụng đầu hè. 

*

Tây phong tái đáo bất qui nhân, 
Đốc giác hàn uy dĩ thập phần. 
Cố quốc hà sơn khan lạc nhật, 
Tha hương thân thế thác phù vân. 
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị, 
Hà xứ thu thanh tạc dạ vân, 
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu thập 
Mãn đình hoàng lạc diệp phân phân.

 

                            Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

Chú giải:

Bạch đầu: 白 頭, Nguyễn Du thường tả mình dầu bạc, có lẽ ông bị bệnh bạc tóc sớm. Thế kỷ 18,19 tuổi thọ trung bình người Việt Nam chỉ trên năm mươi.Đặc biệt làng Tiên Điền có tục ăn lão năm 53 tuổi, trên tuổi này được xếp vào hạng trưởng lão, ăn trên ngồi trước trong làng. Anh em Nguyễn Du chỉ sống trên dưới 55 tuổi.

Tha hương: 他 鄉, Nguyễn Du còn ở Hà Tỉnh, đang nghĩ chuyện tha hương, vào Nam theo Chúa Nguyễn Ánh.

Tham khảo Bản chữ Hán, Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ dịch thơ, bài số 111, trang 238,NXB Văn Nghệ, 2007.

                         Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:

秋  日  寄  興

Thu Nhật Ký Hứng

 西  風  再  到  不  歸  人

Tây phong tái đáo bất quy nhân

頓  覺  寒  威  已  十  分

Đốn giác hàn uy dĩ thập phân

故  國  河  山  看  落  日

Cố quốc hà sơn khan lạc nhật

他  鄉  身  世  托  浮  雲

Tha hương thân thế thác phù vân

忽  驚  老  景  今  朝  是

Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị

何  處  秋  聲  昨 夜  聞

Hà xứ thu thanh tạc dạ văn

自  哂  白  頭  欠  收  拾

Tự thẩn bạch đầu khiếm thu thập

滿  庭  黃  葉  落  紛  紛

Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân.

*

Dịch thơ: Ghi hứng ngày Thu

Gió Thu tới chưa được về,

Chợt nghe rét mướt sắt se gấp mười.

Chiều tà non nước trông vời,

Quê người thân thế nổi trôi không nhà.

Sáng nay chợt sợ cảnh già,

Tiếng Thu xào xạc đêm qua chốn nào.

Trách mình vụng tính bạc đầu,

Lá vàng lả tả xạc xào đầy sân.
          *

Gió thu lại về, nhưng tác giả chưa được nghỉ ngơi. Cái lạnh như lạnh thêm gấp mưòi. Niềm nhớ quê làm người xa quê thấy mình như mây nổi, thấy sợ cảnh già, chẳng còn biết tiếng thu ẩn náu nơi nào. Chỉ còn  trách mình vụng tính. Đầy sân lá vàng rơi lã tã.

 *

                  Ngân Triều cảm đề bài Thu Nhật Ký Hứng:

Gió Tây mới  đến, vẫn  xa quê,

Lãng đãng [2] khí trời lạnh tái tê.

Nước cũ chiều tà như gấm vóc,

Chạnh lòng thân thế, mây lê thê.

Cảnh già sợ lắm nay đà biết,

Tiếng gió thu đâu lại trở về.

Đầu bạc tự trào còn vụng tính,

Lá vàng rơi lạc xạc đầy hè.

          Ngân Triều.



[1] tình quê: tình chân thành, trung thực

[2] lãng đãng, trạng thái di động chậm chạp, nhẹ nhàng.

Ảnh minh họa bài 18:

Nước cũ chiều tà như gấm vóc, 

Tha hương thân thế, mây lê thê.

                    Ngân Triều/ Ảnh minh họa Google


Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Thiên tình sử HXH & Nguyễn Du, bài 15 & 16

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 15 &16:

Bài số 15:
Coá kinh thu nhaät

                                       Hồ Xuân Hương

Rồi mùa thu sau. Xuân Hương lại gửi đến Nguyễn Du bài thơ chữ Hán. Cố kinh thu nhật, trong Hương Đình Cổ nguyệt thi tập:

Thắm thoát đã bao mùa thu qua, bóng trăng xế bóng, tuổi càng cao ngày một quá thì,

Nơi chốn cũ phồn hoa nhớ xưa cùng mời rượu chàng

Dòng sông Tô nước chảy cuồn cuộn về hướng Tây, bất tận,

Trời quang đảng trông rõ bóng núi Tam Đảo phía Bắc xa xa.

Dưới đèn sáng tỏ, nơi Cổ Nguyệt Đường, thương chăn xanh, vật cũ di sản nho học dòng dõi cha ông.

Sương móc trắng rơi đọng lại quanh nhà, sương móc trắng không chỉ rơi nơi nhà anh (bài Thu Dạ II), mà nơi em cũng như vậy nữa.

Ước gì đôi ta gặp lại nhau cho dạt dào nỗi nhớ?

Năm hết, Tết sắp đến, anh vẫn mãi biền biệt thế a ? 

*
Ngày Thu kinh đô cũ
 

(Người dch: Bùi Hnh Cn)

Thm thoát đường Thu ánh nguyt tà, 

Chn xưa li chuc chén phn hoa. 

Dòng Tô nước cun v Tây hết, 

Tam Đo tri quang ngó Bc xa. 

Đèn rng chăn xanh thương vt cũ, 

Sương buông móc  trng đng mô nhà.

Ln này gp mt càng mong nh, 

Khách mãi năm tàn ni thế a!

Nguồn: 

1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 

2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam

3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.

*
Nhất Uyên phiên âm,

Cố kinh thu nhật

Nhiễm nhiễm chinh đồ thu nguyệt tà. 
Nhất bôi hoàn đối cựu phồn hoa. 
Nhất Tô thủy lạo Tây vô tận, 
Tam Đảo tình quang Bắc vọng xa. 
Đăng nguyệt thanh chiên[1] bi cố vật, 
Sương tiền bạch lộ lạc thùy gia. 
Thử lai tương đối trùng tương đắc 
Khách cũ niên thâm nhược nại hà ?

*
Bản chữ Hán
, Ngân Triều soạn:

     故  
 
 
西  
 
 
 
 

*

  Ngày Thu cố kinh

Thắm thoát đường Thu ánh nguyệt tà  
Chốn xưa rượu chuốc chén phồn hoa.  
Dòng Tô nước cuốn về Tây mãi,  
Tam Đảo trời quang vọng Bắc xa.  
Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ,  
Sương buông móc trắng đọng bên nhà.  
Ước gì gặp lại vơi mong nhớ,  
Khách cũ, năm tàn mãi thế a? 

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

*
Ngân Triều họa thơ của Nhất Nguyên,

Bài Cố kinh Thu nhật:

Thắm thoát thu qua, bóng nguyệt tà,

Chốn xưa đối ẩm rượu phồn hoa.

Dòng Tô nước chảy về Tây mãi,

Tam Đảo trời quang núi Bắc xa.

Di sản chăn xanh, thương nghiệp cũ,

Sương pha móc trắng quyện quanh nhà,

Ước gì tái ngộ dào mong nhớ?

Biền biệt năm tàn mãi thế a? 

                                                                   *****

                                                       Bài số 16:

Khai song

                          Nguyễn Du

Nguyễn Du phúc đáp bài Cố kinh Thu nhật của Hồ Xuân Hương bằng bài Khai song, dùng lại điển tích thanh chiên và cũng ý mùa Thu. Nguyễn Du vẫn giữ mãi cái chăn xanh, như tấm lòng yêu thương nàng, và cho biết đang chữa bệnh nên chậm thư phúc đáp.

Cảnh vật trước nhà đã ra sao rồi?

Nhàn hạ mở cửa sổ, nhìn cảnh vật, chạnh lòng suy tưởng,

Sáu tháng qua có gió lớn đưa cánh chim Bằng[2] bay mãi không nghỉ.

 (Phải chăng chim Bằng là Bằng quận công, gặp thời nhứ gió bay cao. Nguyễn Hữu Chỉnh thuộc hạ Hoàng Đình Bảo, khi Bảo bị kiêu binh giết, trốn vào Nam phò Tây Sơn, đem quân ra Bắc diệt Trịnh thao túng quyền hành Bắc Hà rồi bị tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm giết. Tuy nhiên tình hình lúc Nguyễn Du làm bài này là lúc Gia Long liên tiếp thắng nhiều trận lớn từ Gia Định đang đánh tới, Bình Thuận, Diên Khánh,  Nha Trang)

Một sân mưa đọng kiến bò cao, xã hội đầy những kẻ thấp kém bất tài thừa cơ nước lụt bò lên cao. Nguyễn Du ám chỉ quân Tây Sơn thời mạt vận chăng? Khác với anh Nguyễn Nể phò nhà Tây Sơn, được vua Quang Trung trọng dụng, ưu đãi, hai lần được đi sứ, được giao cho trấn đóng Thành Bình Định, quê hương nhà vua, được dâng sách, dạy vua đọc hàng ngày và thảo chiếu biểu cho Vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Du theo Gia Long và khinh miệt Tây Sơn, khi cho Tây Sơn là kiến, khi là sâu trùng. (Cóc nhái quần bếp vắng, Sâu trùng bò mé ngoài, bài Bất Mị

Chiếc chăn xanh vật cũ, như thanh danh của cha ông, vẫn giữ mãi,

Chí cao, tóc đã bạc, chua xót không nói nên lời.

Bệnh cũ khổ thân, còn phải lo chạy chữa,

Không biết ý Thu giờ đến nhà ai?

                   Mở cửa sổ

Trước nhà cảnh vật đã ra sao,  
Mở cửa ngày nhàn sinh ý nhiều.  
Sáu tháng gió tung bằng lượn mãi;  
Một sân mưa đọng kiến bò cao.  
Chăn xanh vật cũ khư khư giữ. 
Tóc bạc hùng tâm luống nghẹn ngào.  
Trở bệnh hãy còn lo chạy chữa,  
Biết chi Thu tứ đến nhà nao?

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.

*
Bản chữ Hán
, Ngân Triều soạn:

 
 
 
 
 
 
調 

*

                Nhất Uyên phiên âm bài Khai song 

Môn tiền yên cảnh cận như hà? 
Nhàn nhật khai song sinh ý đa. 
Lục nguyệt bồi phong bằng tỷ địa, 
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa. 
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích, 
Bạch phát hùng tâm không đốt ta. 
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực, 
Bất tri Thu tứ đáo thuỳ gia?

*

Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang:

Trước nhà phong cảnh hiện nay sao?

Mở cửa nhìn xem sinh ý nhiều.

Sáu tháng gió đưa bằng đổi chỗ,

Một sân mưa đọng kiến bò cao.

Nệm xanh vật cũ lo gìn giữ,

Tóc bạc lòng hăng luống nghẹn ngào.

Còn bệnh hãy nên lo chạy chữa,

Chẳng hay Thu tứ đến nhà nào?

*

Bản dịch của Trương Việt Linh

          Trước nhà phong cảnh nay sao?

Mở nhìn vạn vật sắc màu xinh tươi.

          Chim bằng cưỡi gió tung trời,

Sân mưa nước đọng, kiến dời tổ đi.

          Bạc đầu thôi thở than chi!

Nệm xanh vật cũ đến nay vẫn dùng.

          Bệnh nhiều nên chạy chữa luôn,

Nhà ai Thu đến mộng hồn bâng khuâng.

*
Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Phong cảnh trước nhà nay sao rồi?

Ngày nhàn mở cửa vẫn vui tươi.

Sáu tháng chim bằng bay cưỡi gió,

Sân đọng mưa lâu kiến di dời.

Vật cũ nệm xanh yêu quý giữ,

Hùng tâm, tóc bạc thở than thôi.

Bệnh xưa vẫn phải lo điều dưỡng,

Không biết nhà ai tứ Thu rơi?

*

Bản dịch của Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh
            Gửi bởi tôn tiền tử ngày 05/01/2015

Trước nhà cảnh vật đã ra sao?

Mở cửa ngày nhàn sinh ý nhiều.

Sáu tháng gió tung bằng lượn mãi,

Một sân mưa đọng kiến bò cao.

Chăn xanh vật cũ khư khư giữ,

Tóc bạc, hùng tâm luống nghẹn ngào.

Trở bệnh hãy còn lo chạy chữa,

Biết chi Thu đã đến nhà nao?

*

Ngân Triều cảm đề, bài Khai song:

Băn khoăn cảnh cũ đà thay đổi? 
Nhàn rỗi, khai song, thanh thản vui. 
Xuôi gió chim bằng bay bổng miết! 
Ngập hang lũ kiến bò cùng nơi. 
Chăn xanh nếp cũ gia phong quý, 
Tóc bạc mong gì, than thở thôi.

Lại bệnh, phải còn lo chạy chữa, 
Ý  Thu lan tỏa nhà ai rồi?

(Còn tiếp)

*
Ảnh minh họa bài 15 & 16:

                 

     Biền biệt năm tàn mãi thế a? Ảnh minh họa,  Google                                               

 









  Xuôi gió chim bằng bay bổng miết! 

                  Ngân Triều, ảnh Google


[1] Thanh chiên: chăn xanh lót bằng tơ tằm thô, hay bông vải, làm mền đắp cho khỏi lạnh. Vương Hiến Chi đời Tấn, đêm thấy kẻ trộm vào nhà lấy nhiều đồ vật. Ông ung dung bảo với tên trộm rằng: Lấy gì thì lấy nhưng cái chăn xanh là vật cũ của nhà ta, nên bỏ trả lại ta. Về sau người ta dùng chữ thanh chiên để chỉ những nhà dòng dõi Nho học. 

[2] Chim Bằng: Qua câu thơ của Nguyễn Du, Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa: : Sáu tháng qua có gió lớn đưa cánh chim Bằng bay mãi không nghỉ. Sách Trang Tử, thiên Tiêu dao du: Loài chim ấy thấy biển động bèn bay sang biển Nam. Chim Bằng bay qua biển Nam, làm sóng nước nổi lên ba ngàn dặm, nương gió bay lên chín vạn dặm, bay sáu tháng mới nghỉ. Bởi vậy khi chim Bằng bay lên cao, cưỡi lên lớp gió dưới nó.