Quý bạn thân mến, Việc đăng bài rời rạc trước đây để quý bạn đọc tham khảo cũng hơi bất tiện. Kể từ hôm nay tôi xin trích đăng lại lần lượt các bài chọn lọc trong quyển sách của tôi với tiêu đề là THƠ VĂN PHẠM THÁI. Tác giả nầy là một ngôi sao sáng trong nền Văn học thời Tây Sơn. Trước đây truyện thơ SƠ KÍNH TÂN TRANG của Ông đã được đua vào chương trình chứng chỉ Văn chương quốc âm, Đại Học Văn Khoa và thơ văn của ông đã được giảng dạy trong chương trình Trung học phổ thông và tôi biên khảo về tác giả nầy vì ông vẫn chưa được các soạn giả quan tâm nghiên cứu. NT.
***
Chương I
Thay lời mở đầu
Ñeâm buoàn
Đêm buồn
Tạp
bút, Ngân Triều.
Không biết đêm nay vì sao
tôi buồn,
Buồn vì trời mưa hay bão
trong tim?
Đã mấy thu qua tôi vẫn đi
tìm.
Để rồi buồn ơi! Nghe tiếng
mưa đêm...[1]
-Giai điệu và ca từ của bài hát đã đến
với tôi trong một đêm mưa; quả là buồn rượi! Mưa buồn, bài bát buồn, làm cho
đêm mưa nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn. Tự nhiên cái nỗi buồn
không biết ở đâu lại đến, đeo bám trong tâm hồn tôi, khiến cho lòng tôi chơi
vơi buồn nhớ vu vơ. Một nỗi buồn vô cớ! Nỗi buồn ấy phảng phất theo từng cơn
gió nhẹ lạnh lùng. Buồn ơi chào mi, lại rủ rê thêm Nhớ ơi xin chào,
người bạn tri kỷ của nó đến đậu vào tâm trí tôi những mảng sầu nhớ đa đoan. Vì
sao vậy nhỉ? Tôi tự hỏi. Phải chăng đây là những biểu hiện của tuổi “mùa thu
lá bay”, cái tuổi nghỉ hưu để mặc cảm thấy mình như thành người vô dụng của
xã hội và là người đang ở cái thời điểm xa trời gần đất. Mà thực thế. Ở cái tuổi
nhân sinh thất thập cổ lai hi,[2]
sức khỏe mỏi mòn, suy yếu; vợ chồng sống nhờ gia đình con cháu, dòng họ;
nhóm bạn bè cố tri, xóm giềng tốt bụng sớm tối, những mối quan hệ xã hội cố hữu
thân quen… trông đi ngoảnh lại thì “Bạn bè lớp trước nay còn mấy, Chuyện cũ
mười phần chín chẳng như”[3].
Rõ ràng, cái thân lực bất tòng tâm, thành trụ hoại không, cuối cùng sẽ
trở về không, cái không hư vô, zero; hay cái thân sinh trụ dị diệt,
đến chữ diệt cũng sẽ là chấm dứt, là hết và cái thân sinh lão bệnh tử
thì đến nấc tử cũng sẽ không còn;
chờ ngày hóa thân cùng cát bụi, thoát khỏi kiếp phù sinh, biển trần khổ vơi
vơi trời nước,[4]
trở về quê cũ, nơi mà hạt bụi của mình đã lên bệ phóng, xuất phát phiêu du.[5]
Khoảng trời đất cổ kim,
kim cổ,
Mảnh hình hài không có,
có không.
Lọ là thiên tứ, vạn chung [6].
-Buồn, chữ Hán viết là sầu:
愁; gồm có chữ Thu
秋, mùa thu lá rụng
+ chữ tâm tấm lòng 心;
tức là khi mùa Thu về, lá cây rụng hết, khiến lòng ta sầu
não. (Thu 秋 về
ngắm cảnh mặc dầu, Lòng 心
buồn da diết âu sầu 愁
lắm thay!
-Buồn,
còn có nghĩa là muộn 悶;
gồm chữ môn 門,
hình cái cửa + chữ tâm 心;
tức
là tâm hồn hay tấm lòng 心 của
người trong cánh cửa 門,
gởi cho người phương xa, hay kẻ ở lại thương nhớ người ra đi. (Lòng 心 lão
thân buồn 悶 khi
tựa 門 cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm;[7]
hay: Nỗi lòng 心 biết
tỏ cùng ai, Thiếp trong cánh cửa 門,
chàng ngoài chân mây [8]).
-Nhớ chữ Hán còn viết là niệm
念 nỗi
nhớ, nghĩ đến, mong mỏi; gồm có chữ kim 今 là nay + chữ tâm 心 lòng mình; tức là đối với những sự việc đã qua,
nay 今 cố dùng tâm
心 của mình mà nhớ lại. (Thuyền
ơi! [nay] 今
có nhớ 念 bến
chăng? Bến thì một dạ 心 khăng
khăng đợi thuyền).
-Nhớ
còn viết là tưởng 想
gồm tướng 相
là xem lại hình ảnh của người trong tâm 心 trí mình. (Bởi
lòng 心 tạc
đá ghi vàng, Tưởng 想 nàng
nên lại thấy 相 nàng
về đây).[9]
-Nhớ
còn viết là hoài 懷
(gồm chữ y 衣
trong từ y phục + chữ thế 涕
văn cổ là nước mắt; biểu thị lòng ta ẩn giấu nỗi niềm gì, khi nghĩ đến là muốn
khóc, tức là hoài niệm 懷念.
Ta ngã hoài nhân: 嗟我懷人.
Ôi! Ta nhớ người yêu [biết bao]. Kinh Thi; Nội hoài gian hoạt, quốc
chi sở hoạn, 内懷奸猾, 囯之所患. Hoài (trong lòng) chất
chứa điều gian dối, đấy là điều đáng lo của tổ quốc. Hán Thư. Đã
không kẻ đoái người hoài, 懷
Sẵn đây ta thắp một vài nén hương. Kiều, Nguyễn Du: 1766-1820, câu 91-92).[10]
-Lòng
buồn dạt dào, tôi chợt nhớ đến cái thuở lớp ba trường làng. Nhớ người Thầy già
kính yêu đã giảng cho chúng tôi một bài học thuộc lòng trong sách Quốc Văn giáo
khoa thư, một bài ca dao cổ khuyết danh, Đêm qua ra đứng bờ ao. Lời giảng
của Thầy nghe trầm buồn, xa vắng tưởng như Thầy muốn khóc. Lớn lên mới hiểu,
hóa ra bài học đó cũng là tâm sự của Thầy về tình yêu và thời thế.
-Có
thể, Alzheimer, bệnh quên quên nhớ nhớ, là bạn người già. Vậy xin mời quý bạn
cùng tôi, trong đậm nhạt nhớ quên, đọc lại bài ca dao mượt mà này xem:
Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi! Sao hỡi! Nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê [11] nước chảy hãy còn trơ trơ.
Nguồn:
1. Mã Giang Lân, Tục ngữ và ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999
(tái bản lần thứ 5.
2. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Kho tàng ca dao người Việt,
NXB Văn hoá thông tin, 2001.
Đại
ý:
Tâm trạng trông chờ, tưởng nhớ người xa và tấm lòng trung trinh sắt đá của nhân
vật trữ tình trong hoàn cảnh éo le ngang trái của cuộc đời.
Bố
cục:
Hai câu đầu: Thời gian và nỗi
niềm mong nhớ:
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông
cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.
Trước
hết, bài ca dao làm theo thể phú, nói thẳng vào vấn đề là lời kể lại của tác giả
hay tự sự. Khung thời gian thuộc về ban đêm, đêm qua. Khoảng không gian
là cái bờ ao nhà, nơi vương vấn một câu chuyện lòng.
(Ngày
xưa, ở nông thôn, có một thời, nhà nào cũng có vườn rau, ao cá. Vì khi cất ngôi
nhà mới, người ta đào ao, đào mương, lấy đất đấp nền nhà; nền nhà cao hơn mặt
ruộng, ao sâu thả cá; không lấy đất đâu xa, nhất cử lưỡng tiện. Trên bờ mương
phía ngoài, người ta trồng tre, trúc, tầm vông vừa để làm hàng rào bảo vệ gia
đình vừa để làm vật dụng đan lát, ăn măng, vừa để làm chuồng trại, làm giậu vườn
rau; cái ao sâu để dự trữ nước mưa, thả bè rau muống, rau nhúc để nuôi cá hoặc
cá ở đồng ruộng về mùa mưa theo mương vào ao nhà. Ao nhà là nơi sinh hoạt của
gia đình, có cầu ao, có bờ ao).
Cho nên còn có câu
ca dao:
Ta
về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn
hơn.
-Trở
lại câu chuyện, tác giả hay nhân vật trữ tình đã nêu lên điều gì? Đêm qua,
người ấy đã ra đứng rất lâu bên bờ ao nhà, để cúi đầu nhìn xuống
mặt ao, trông cá, để không thấy cá, cá lặn; rồi ngẩng đầu nhìn
lên trời cao, trông sao; để chẳng thấy ngôi sao nào của mình, sao mờ.
Mục đích của việc trông xuống, trông lên đều không như ý muốn, nếu không nói là
vu vơ, vô ích. Tìm cá, không thấy cá mà tìm sao trên trời cao cũng chẳng ra
sao. Vô vọng. Trông nghĩa là để con mắt đến sự việc gì, và mong đợi điều
gì. Trông cá ngoài nghĩa tường minh là nhìn con cá trong ao ban đêm,
không thấy nó đã đành, vì nó đã lặn mất; mà kể cả ban ngày, chúng ta cũng không
thấy nó, chỉ thấy cái đớp móng của nó trên mặt ao thôi.
-Ngoài
ra, trông cá, cá lặn nghĩa là trông mong, đợi chờ tin tức của ai đó ở
xa, mà tin tức ở xa đưa lại thì hoàn toàn không có tin tức chi hết, cá lặn.
Trông sao trên trời thì sao mờ, lẫn lộn, không biết được sao quen là sao nào và
hiện giờ nó đang “định vị” nơi đâu. Hoặc không biết người xa giờ ở góc biển
nào, sao mờ. Tin tức của người xa bặt tăm! Không biết tin tức, không biết
người phương trời giờ ở nơi đâu, thì nỗi buồn như chờn vờn ngày càng tăng tiến
thêm trong tâm tưởng.
-Trong
văn hoá truyền thống, hàm nghĩa văn hoá của cá được thể hiện dưới nhiều
phương diện. Thời cổ có "ngư tố", tương truyền đó là hình thức
dùng lụa viết thư, sau đó nhét vào bụng cá để gửi đi, nên gọi là "ngư
truyền xích tố". Loại thư tín dùng cá để truyền đi này còn gọi là "ngư
thư", hoặc "ngư tiên".
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
Bóng
chim tăm cá biết đâu mà nhìn.[12]
-Như vậy, hai câu
thơ đầu cho biết mối sầu thoang thoảng chợt đến vì nỗi niềm lạc lõng, tâm trạng
cô đơn, bơ vơ.
Bốn câu tiếp theo:
Cảnh buồn trong nỗi chạnh lòng:
Buồn
trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn
trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Phải
chăng bốn câu thơ khắc họa một nỗi buồn cụ thể trong lòng nhân vật trữ
tình với ít nhiều thất vọng, vời vợi nhớ thương.
-Buồn
trông, là nhìn sự vật qua nhãn quan nội tâm phiền não,
ủ ê. Kìa là một con nhện nào trong tầm mắt, đang dệt, giăng những
mối tơ cho tổ ấm của nó. Những mối tơ mong manh, khéo léo và bền chắc chủ
quan. Con nhện phơi phới nhẹ buông sợi tơ hoàn hảo, mối tơ nào cũng nõn nà,
cũng dính, cũng hợp lý, cũng hay!
-Nhìn
mối tơ nhện, chạnh tưởng phận mình: Con nhện kia còn có mối tơ vương; còn mối
tơ duyên của bản thân ta, vẫn còn linh đinh, vô định, giờ nầy vẫn chưa biết tấm
thân sẽ phiêu linh về đâu. Phải chăng, tấm thân nầy, không phải như một tấm lụa
đào giữa chợ, mà thê thảm như một con nhện lạc loài, mòn mỏi đợi chờ mối ai?
-Âu
là ta phải chờ, phải đợi. Nhưng biết phải chờ đợi bao lâu, trong khoảng không
gian hữu hạn, đường đi gian nan vì cách núi e sông; thời gian vô định, trong
khi tuổi Xuân, ngày càng héo úa, nhạt phai. Thật là một khoảnh khắc đêm sầu ảm
đạm, biết tâm sự cùng ai?
-Thôi
thì, hãy trông lên cuối trời xa vậy. Đó là một ngôi sao Mai nghiêng nghiêng, chênh
chếch điểm sáng phía chân trời rạng đông! Ánh sao Mai đang mờ dần, mờ dần
vì ánh sáng rực rỡ của mặt trời bình minh thăng hoa. Sao mờ là sao mất dần
ánh sáng tự thân do đối diện với nguồn sáng mạnh hơn của mặt trời. Sao Mai mờ
như vậy là sao Mai buồn! Nỗi buồn luôn hòa quyện cùng nỗi nhớ. Vậy, Sao Mai ơi!
Sao có nhớ ai không… mà buồn chênh chếch? Phải chăng Sao Mai phương xa đó, đang
buồn nhớ đến ta?
-Giai
điệu nhện ơi nhện hỡi, sao ơi sao hỡi, cất lên âm thầm trong
cõi lòng tuyệt vọng, trong nội tâm đa đoan, trong một đêm không trăng, đường trần
mịt mờ muôn lối, tối tăm. Người ơi! Hãy nhìn đăm đăm về phía trời xa, cất cao
tiếng lòng vời vợi, chết trong lòng một ít; âm thầm rưng rưng cất cao tiếng sầu
thảm xé lòng, vì nghịch cảnh đành phải ly tan: “Xin đừng quên tôi!”; “Hãy nhớ
lấy tình tôi”:[13]
Rồi có khi nào ngắm bóng
mây,
Chiều thu đưa lạnh gió heo may.
Dừng chân trên bến sông xa vắng,
Chạnh tưởng tình tôi
trong phút giây.
Thế
Lữ (1907-1989)
Hay:
Rồi có khi nào trong phút giây
Trăng lên khỏi núi gió
đùa mây
Thì anh nên nhớ người năm
nọ
Xưa đã cùng anh sống những
ngày.
Mộng Cầm.[14]
(1917-2007)
(Sao Hôm và sao Mai
là những khái niệm quen thuộc trong văn hóa dân gian Việt Nam. Sao Mai xuất hiện
lúc bình minh và sao Hôm xuất hiện lúc chập tối. Tuy nhiên không phải ai cũng
biết rằng sao Mai và sao Hôm thường gọi là hai sao như thế nhưng thực ra nó
chỉ là một ngôi sao, đúng ra là hành tinh thứ hai của hệ mặt trời
chúng ta, tên là Sao Kim (Vénus)[15]
Sao
Kim ở gần Mặt trời hơn Trái đất, buổi sáng, nó nằm ở phía Tây của Mặt trời, khi
đó, chúng ta quan sát từ Trái đất sẽ thấy nó hiện lên ở phía Đông vào rạng
sáng, sớm hơn Mặt trời, và dân gian gọi nó là sao Mai.
Khoảng
14 giờ thì nó ở trên đỉnh đầu chúng ta, khi đó, chúng ta có thể thấy rõ nó bằng
mắt thường trong lúc trời quang mây, ánh sáng thuận lợi. (Người viết bài nầy
cùng một nhóm bạn cũng đã nhìn thấy nó bằng mắt thường vào năm 1957, lúc 15 tuổi,
khi học lớp đệ lục ở Tây Ninh, nhưng phải tinh mắt và cố lắm mới thấy sao Kim
như một thiên thể to bằng hạt chuỗi trắng, nhìn trật ót).
Ngược
lại, buổi chiều, lúc sao Kim nằm ở phía Đông của Mặt trời, nếu chúng ta quan
sát về phía Tây vào thời điểm sau khi Mặt trời hoàng hôn lặn xuống chân trời,
chúng ta sẽ thấy hành tinh này sáng dần trên chân trời lúc chập tối và dân gian
gọi nó là sao Hôm).
Ảnh sao Mai, lúc rạng đông, Google.
Đọc tiếp 4 câu kết:
Khẳng định lòng chung thuỷ
sắt son.
Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao Tinh Đẩu đã
ba năm tròn.
Đá
mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê nước chảy hãy
còn trơ trơ.
Song,
tâm tình buồn khi mong đợi tin tức người xa, trong đêm qua không trăng, không
phải chỉ một lần. Đó là tâm tình khôn nguôi niềm nhớ vì nó cứ diễn ra liên tục,
bất tận, đêm đêm. Tưởng nghĩa là nhớ. Dải Ngân hà [16]
chỉ sự ly tan, ngăn cách. Còn nhớ đến chia ly chính là còn tha thiết ước
mong tao ngộ, tương phùng.
(Sao
Tinh Đẩu là chòm sao Đại Hùng, Big Dipper, gồm 7 ngôi sao sáng như
cái gàu lớn, định vị phương Bắc để xác định ngôi sao Bắc Đẩu, Polaris. Ở
Việt Nam, dân gian gọi nó là Sao Bánh Lái lớn, định vị hướng Bắc để ngư
dân phải đi biển vào ban đêm không lạc lối lúc trở về nhà).
Ảnh chòm sao Đại Hùng Tinh, Big Dipper, Cái Muỗng lớn; Tiểu Hùng Tinh, Little Dipper, Cái muỗng nhỏ và Sao Bắc Cực, Polaris. Sao Bắc Cực không sáng lắm. Nó nằm ở cuối chòm sao Little Dipper. Sao Merak và sao Dubhe là sao dẫn hướng để định vị sao Bắc Cực, bằng cách nối dài hai sao nầy theo hướng từ đáy muỗng trở ra + 5 lần khoảng cách đó, có sai số tương đối theo góc nhìn đôi chút là đến sao Bắc Đẩu hay sao Polaris. Nguồn: EarthSky.org:
-Từ ngày ly biệt, thắm thoát, chuôi
sao Tinh Đẩu đã quay ba vòng giáp mối. Đã ba năm tròn ròng rã. Xa mặt thời
cách lòng là thói đời yêu thương qua đường, yêu cuồng sống vội, trong xã hội vật
chất, kim tiền. Người phương xa ơi! Người có đổi trắng thay đen như thế hay
chăng?
Thức
mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi
sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài.[17]
-Người
ta thường nói, nước chảy thời đá mòn, đó là quy luật của tự nhiên. Còn
quy luật gắn bó tơ duyên trong tình yêu đôi lứa là tấm lòng chung thủy son sắt,
kiên định trung trinh. Tấm lòng chung thủy đó là tấm lòng không thay đổi, trước
sau như một, dạ chẳng mòn.
Cuối cùng, nhân vật trữ tình đã minh họa cho tấm lòng chung
thủy ấy là hình ảnh một khe suối, chắc là tên một khe suối nổi tiếng ở quê nhà,
Khe Tào, Tiên Sơn, Bắc Ninh. Tào Khê kia, dẫu đã muôn ngàn năm nước
chảy, mà nó hãy còn trơ trơ, vẫn nguyên vẹn, sừng sững như
tình yêu đôi ta. Tấm lòng của thiếp, tấm lòng của chàng mãi mãi
rực rỡ như phẩm chất của
loài hoa hướng dương, cứ luôn luôn nhìn bóng mặt trời:
Hướng dương lòng thiếp dường hoa
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái
Hoa để vàng bởi tại bóng dương.[18]
Lời kết:
Tóm lại, bỏ qua cái hay, cái bóng bẩy về
ngôn từ của hình thức nghệ thuật đặc sắc, bài ca dao đã thông đạt một nỗi niềm
thương nhớ, ngẩn ngơ của đôi lứa ở đầu và cuối sông Tương. Tan hợp là quy luật
thường tình của thế nhân. Có mấy ai, chia ly mà lòng không bồi hồi thương nhớ?
Mong một lần tái ngộ vô định thì biết đâu quá xa vời. Con Tạo quá vô tình! Tưởng
một đằng, nó quằng một nẻo. Thôi thì cam đành. Cho lòng buồn u uất trong quạnh
vắng, trơ trọi, ngân ngất nhớ thương.
Chim
xa rừng còn thương cây nhớ cội,
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà không biết thì thôi,
Biết rồi mỗi đứa một nơi cũng buồn.
Ca dao
- Thế mà, đêm mưa buồn vẫn
còn dai dẳng, chưa tạnh. Nhạc Đèn khuya thì đã tắt lâu rồi. Dòng nước mưa rơi đều
đều từ máng xối xuống chậu nước trước hiên nhà tôi tạo thành một âm thanh dịu
êm như ru hồn vào mộng. Đôi lúc âm thanh đó tí tách như chờ đợi, bẽn lẽn, ngập
ngừng; đôi lúc lại như trầm lắng, tỏ lòng; như lời của một người đầu sông Tương
âm thầm nhờ tiếng gió nhắn nhe. Phải chăng người ấy cũng buồn, cũng đồng cảm với
tôi, chia sẻ với tôi trong một khoảnh khắc buồn nhớ vu vơ mà sâu lắng của một đêm buồn không tên?
Nghẹn
ngào xa nhau
Lệ
nhòa đôi mắt
Cho
lòng se thắt
Phương
trời ánh sao!
*
Mong
ngày gặp nhau
Cho
ngời đôi mắt
Tình
xưa bát ngát,
Ngàn
sao! Ngàn sao!
Ngân Triều
[1] Ca từ bài hát Đèn khuya, sáng tác 1958 của nhạc sĩ Lam
Phương. Ông tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh năm 1937 tại Rạch Giá. Nhạc của
ông chuộng điệu mambo nhưng đa dạng với rất nhiều đề tài.
-Nói lên cảm xúc về năm 1954 ông có "Chuyến đò vĩ tuyến",
"Nhạc rừng khuya", "Đoàn người lữ thứ" và "Nắng đẹp miền
Nam".
-Nói về tình quân nhân ông có "Tình anh lính chiến",
"Chiều hành quân"…
-Nói đến tình mẫu tử ông có "Đèn khuya", "Tạ ơn
mẹ"...
-Nói đến những kiếp sống lầm than
ông có "Kiếp
nghèo", "Chiều tàn"…
-Riêng về tình ca, có thể nói ông là một suối nguồn
phong phú. Ông là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc miền
Nam Việt Nam với khoảng 200 tác phẩm…
Tin mới nhận
được: Nhạc sĩ Lam Phương đã từ trần tại Fountain Valley, California, Hoa Kỳ, ngày 22.12.2020. Nguồn: wikipedia.org
[2] Nhân sinh thất thập cổ lai hy: Trích trong bài Khúc Giang 2, 曲江其二, (Đỗ Phủ: 712 – 770):
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,
Nhân sinh thất thập cổ lai hy.
Nợ tiền uống rượu vốn chuyện thường, nơi nào cũng có;
Xưa nay đời người sống tới bảy chục là hiếm hoi.
Nợ tiền quán rượu đâu không thế?
Sống bảy mươi năm đã mấy người?
(Tản Đà: 1889-1939)
dịch.
[3] Mậu Thân tự thọ, Nguyễn Khuyến: 1835-1909, Mậu
Thân tức năm 1908, Quốc
văn tùng ký bản số (AB.383) và Nam âm thảo (VHv.2381).
Có bản chép là Cảm hứng, Đại lão…cả câu trích
dẫn trên là nỗi niềm cay đắng trong cô đơn, đời mười phần không vừa ý
mình đến tám, chín phần và cảm thấy mình xa lạ, lạc loài trong chốn cũ.
[4 ]Biển trần khổ vơi vơi trời nước. Ánh Thái Dương rọi trước phương Đông…
Kinh cúng nước, Đạo Cao Đài.
[5] sinh ký tử quy, 生寄死歸 nghĩa là sống gửi, ở đậu, cõi tạm;
tử, chết, trở về nơi mình đã ra đi.
[6] Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập - tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004: Trích trong bài hát nói Uống rượu tiêu sầu của Cao Bá Quát: 1808-1855.
Xưa nay, mảnh hình hài của
thân xác ta là vô nghĩa. Tại sao ta phải bỏ hết đời mình tích cóp, vung quén để
lo làm giàu? Khi chết có đem theo đâu?
[7]Chinh Phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn: 1710 hoặc1720-1745; Đoàn Thị Điểm: 1705-1749, traduit en Francais par Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng, nxb Bộ Giáo Dục và Thanh Niên, năm 1969, câu 157-158:
Votre mère est triste: sur le seuil elle attend.
Votre enfant
bouche bée réclame sa béquée. Page 42
[8] Sđd như trên, câu 111-112:
A qui peut-on confier le secret de son coeur?
Moi, derrière ma porte et vous, à l’horizon!
Page 34.
[9] Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du: 1766-1820, câu 2855-2856:
Son coeur s’était attaché aux serments gravés sur la pierre et l’or dans le passé.
En lui pensant, il croyait qu’il la voyait revenir dans une rêverie.
[10] Puisque personne n’est souvenu d’elle, n’a jetté sur elle unregard,
Par cette occasion, je vais bruler et offrir quelque batonnêts d’encens.
Poème de Nguyễn Du: 1766-1820,
traduction Francaise en vers libres par Lưu Hoài, nxb Văn Học-Hà Nội
2003, trang 55.
[11] Tào Khê: Khe Tào, nay còn dấu vết ở Tiên
Sơn, Bắc Ninh.
[12] Truyện Kiều bản 1780, Nguyễn Du: 1766-1820, Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, khảo dị, nxb Văn Học & TTNC Quốc Học, 2003, câu 2943-2944;
tăm cá: bọt cá ở dưới nước nổi lên, tăm cá hoặc tăm hơi, nghĩa hàm ẩm là tin tức, thư từ.
Bóng chim: Trên trời
thẳm thì dò đâu ra bóng chim mà tìm chim. Nghĩa rộng: Tô Vũ đi sứ Hung
Nô, bị đày ở Tây Bá Lợi Á 19 năm. Ông xé áo viết nhiều thư, cột vào chim nhạn gởi
về quê nhà. Biết ông còn sống, Hán Vũ Đế, (140 tcn-87 tcn) can thiệp rước ông về
quê nhà.
Cố nhân biệt hậu khuê nam bắc,
Lý thư nhạn bạch, vô tiêu tức,
Chia tay với cố nhân, kẻ về Nam,
người đi Bắc
Từ đây bức thư nhạn cá không còn biết tin tức gì.
(Lý thư, 鯉書, Thư trong bụng cá lý ngư; Nhạn bạch: 鴈帛, dải lụa buộc chân nhạn để gởi thư).
Trích Linh Châu Ngân Giang dịch, 靈州銀江驛; Nghỉ ở trạm Ngân Giang thuộc Linh Châu,
Thơ đời Trần, Nguyễn Trung Ngạn,
阮忠彥,
(1289–1370).
[13] Truyền thuyết văn học Pháp
nói rằng trong thời Trung cổ, một hiệp sĩ cùng người tình đi dọc theo bờ sông
nước chảy xiết. Chàng hiệp sĩ cố nhổ một cụm hoa, tặng cho người yêu nhưng do bộ
áo giáp quá nặng nề chàng đã rơi xuống nước. Khi bị chìm xuống, chàng đã ném bó
hoa cho tình nhân của mình và kêu lên "xin đừng bao giờ quên anh" "Ne m'oubliez
jamais". Vì thế loài hoa này gắn liền với chuyện tình lãng mạn
và định mệnh bi thảm. Nó thường được các cô gái mang theo như là biểu hiện của
lòng chung thủy và tình yêu vĩnh cửu- Sự tích Hoa Lưu Ly, Myosotis,
Forget me not…
Vào thế kỷ XV ở Đức, người ta cho rằng những người mang theo hoa này sẽ
không bao giờ bị người tình quên lãng.
[14] Bà Mộng Cầm, (1917-2007), tên thật là Huỳnh Thị
Nghệ sinh ngày17/7/1917. Quê Mộng Cầm ở Phan Thiết, gần lầu Ông Hoàng nhưng
thân sinh bà ra làm việc tận Nghệ An, nên mới có tên Huỳnh Thị Nghệ. Sau đó bà
được gửi về trọ ở nhà ông cậu ở Phan Thiết học trường Pline Exercices. Mộng Cầm
là cháu gọi nhà thơ Bích Khê bằng cậu nên bà cũng có "máu thơ văn". Hàn
Mặc Tử (1912-1940) là mối tình đầu của bà năm Bà 17 tuổi. Tình yêu của đôi
bạn thắm thiết và trong sáng. Sau khi Hàn Mặc Tử mất, bà Mộng Cầm lập gia đình
và sinh được 7 người con. Ngày 23/7/2007, bà Mộng Cầm qua đời tại số nhà số
300, Trần Hưng Đạo, Phan Thiết. Theo lời trăng trối của bà Mộng Cầm, cô con gái
đã mai táng bà trên lưng đồi lầu Ông Hoàng. Theo Người đưa tin, Google.
[15] Hệ mặt trời của chúng ta có 9 hành tinh, thứ tự từ gần mặt trời ra xa:
[1] Sao Thủy, Mercure; [2] Sao Kim, Venus; [3] Trái đất, Earth; [4] Sao Hỏa, Mars; [5] Sao Mộc, Jupiter; [6] Sao Thổ, Saturn; [7] Sao Thiên Vương, Uranus; [8] Sao Hải Vương, Neptune; [9] Diêm Vương Tinh, Pluto.
Đầu năm 2016, các nhà khoa học bác bỏ Diêm Vương Tinh vì trong rìa dải Kuiper Belt (vành đai mặt trời) mà nó hiện hữu còn có các hành tinh khác tương tự và lớn hơn nó, theo thứ tự: Ceres; sao Diêm Vương, Pluto; Haumea; Make Make; Eris…các sao nầy dạng băng, chờ nghiên cứu, được gọi là hành tinh lùn của hệ mặt trời. Kiến thức mới hiện nay, Hệ mặt trời có 9 hành tinh quay quanh mặt trời hình ellip,
vòng trong có 4 hành tinh dạng rắn như sao Thủy, sao kim, Trái Đất, Sao Hỏa;
vòng ngoài có 5 hành tinh dạng khí là Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và hành tinh thứ 9 mới phát hiện vào đầu năm 2016. (chưa công bố tên).
[16]Dải Ngân hà: Theo điển tích Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bê việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nãi việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận dữ, đày cả hai phải cách xa ở hai bên bờ sông Ngân. Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình gia ơn, cho hai người mỗi năm được gặp nhau vào ngày mùng bảy tháng Bảy âm lịch, được chim ô thước làm cầu. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ ôm nhau, khóc sướt mướt, thời gian sum vầy quá ngắn, không thỏa nỗi nhớ thương. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành mưa Ngâu. Ở đây, ý thơ nói về thời gian đôi lứa chia ly cách biệt nay đã ba năm tròn.
[17] Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần
Côn: 1710 hoặc 1720-1745 và Đoàn Thị Điểm: 1705-1749 , Maxreading, câu
313-316.
[18] Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn: 1710 hoặc 1720-1745 và Đoàn Thị Điểm: 1705- 1749, câu 303-306.


