Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

Mời quý bạn xem một truyện ngắn duyên dáng của Alphonse Daudet (1840-1897). LES ETOILES/ NHỮNG VÌ SAO (1)

 

Les Etoiles/ Những vì sao/ Alphonse Daudet (1840-1897)/ Bản dịch Trúc Huy


Mời quý bạn xem một truyện ngắn duyên dáng của Alphonse Daudet (1840-1897).
LES ETOILES/ NHỮNG VÌ SAO (1)
Ảnh minh họa, Les étoiles, Google

( Lời thuật chuyện của một gã chăn cừu xứ Provence )
Tác giả : ALPHONSE DAUDET (1840-1897)
Bản dịch Việt ngữ : TRÚC HUY
Trong thời gian tôi chăn cừu trên miền núi Luberon (2), có khi suốt mấy tuần lễ liên tiếp tôi không trông thấy một bóng người, chỉ một mình tôi trên cánh đồng cỏ với chú chó Labri và đàn cừu của tôi. Thỉnh thoảng có vị tu sĩ sống ẩn dật ở núi Ure đi ngang qua đây để tìm kiếm dược thảo hoặc là tôi trông thấy bộ mặt lọ lem dính đầy bụi than của người phu mỏ xứ Piémont; nhưng họ là những người chất phác, khuôn mặt lầm lì vì quen sống lâu ngày trong cảnh cô đơn, không còn hứng thú trò chuyện và chẳng biết gì về những chuyện trong làng ngoài tỉnh mà người ta đang bàn tán ở dưới đó. Vì thế, cứ khoảng mười lăm ngày, khi tôi nghe tiếng lục lạc từ con đường mòn dưới núi đi lên của con la ở nông trại mang lương thực nửa tháng cho tôi, rồi tôi thấy xuất hiện dần dần trên sườn dốc bộ mặt tươi vui của thằng bé miarro (thằng nhỏ giúp việc ở trại) hay chiếc khăn trùm màu hung đỏ của thím già Norade, là tôi cảm thấy trong lòng thật sung sướng vô cùng. Tôi yêu cầu kể cho nghe những chuyện xảy ra ở dưới đồng bằng, những buổi lễ rửa tội, những đám cưới hỏi… Nhưng điều mà tôi chú ý và thích nghe hơn cả là biết tin tức về cô con gái cưng của ông bà chủ trại, vị tiểu thư Stéphanette, thiếu nữ xinh đẹp nhất trong toàn vùng. Cố làm ra vẻ như không mấy quan tâm, tôi hỏi thăm xem nàng có hay đi dự nhiều lễ hội hay dạ tiệc không, có nhiều chàng trai ngấp nghé tán tỉnh không. Và nếu có ai hỏi tôi muốn biết những chuyện ấy có ích lợi gì cho cái thân phận nghèo hèn của một tên chăn cừu miền núi như tôi, thì tôi sẽ trả lời rằng tôi đang ở tuổi hai mươi và đối với tôi nàng Stéphanette là người thiếu nữ xinh đẹp nhất trần gian.
Thế rồi, một hôm chủ nhật nọ, tôi cũng chờ đợi chuyến tiếp tế lương thực cho nửa tháng, nhưng sao lần này nó tới muộn quá. Từ buổi sáng, tôi nghĩ bụng : “Có lẽ vì lễ lớn ở nhà thờ đây thôi.” Rồi đến trưa, một trận mưa giông lớn đổ xuống, tôi lại cho rằng vì đường trơn ướt lầy lội, con la chưa thể lên đường được. Mãi cho đến khoảng ba giờ chiều, trời quang mây tạnh, sườn núi lấp lánh nước mưa và ánh sáng mặt trời, tôi bỗng nghe được, giữa tiếng nước nhỏ giọt róc rách trên cành lá và tiếng suối reo do nước lũ dâng trào, tiếng lục lạc leng keng của con la, nghe thật là vui tươi rộn ràng chẳng khác gì tiếng chuông nhà thờ đổ hồi trong ngày lễ Phục sinh. Nhưng không phải thằng nhỏ ở nông trại, cũng chẳng phải thím già Norade ngồi trên lưng lừa như mọi khi. Mà là… xin bạn thử đoán xem là ai ? Chính là vị tiểu thư trại nhà, bạn ạ ! Đúng vậy, vị tiểu thư Stéphanette đích thân đến. Nàng ngồi ngay ngắn trên mình la giữa những chiếc giỏ mây, đôi má ửng hồng vì khí trời của núi và làn gió mát sau trận mưa giông vừa qua.
Thằng nhỏ bị bệnh, còn thím già Norade thì xin nghỉ phép về thăm con. Nàng Stéphanette xinh đẹp vừa từ trên mình la tụt xuống vừa nói cho tôi biết như vậy. Nàng còn nói thêm vì lạc đường cho nên đã đến muộn. Nhưng trông nàng ăn mặc đẹp đẽ như thế kia, trên đầu kết băng hoa và vận chiếc váy lộng lẫy có thêu đăng ten, tôi thấy cô nàng có vẻ như đã nấn ná ham vui trong một cuộc khiêu vũ nào đó hơn là đã dò dẫm tìm đường trong các bụi rậm. Ôi, người đâu mà xinh đẹp lạ thường ! Tôi say đắm nhìn nàng mà không muốn rời mắt. Thật tình mà nói, tôi chưa bao giờ có dịp được ngắm nhìn nàng ở gần như thế. Về mùa đông, sau khi đã lùa đàn cừu xuống đồng bằng, tôi về nông trại để dùng cơm tối, thỉnh thoảng tôi thấy nàng đi thoăn thoắt ngang qua phòng ăn của chúng tôi, nhưng chẳng mấy khi nàng nói chuyện với kẻ ăn người ở, luôn luôn trang điểm đẹp đẽ và có vẻ hơi kiêu kỳ một chút… Thế mà bây giờ tôi lại có được cái diễm phúc là nàng đứng ngay trước mặt tôi, và chỉ có mình tôi thôi, như vậy thì bảo làm sao tôi không bối rối cho được ?
Sau khi lấy hết lương thực từ trong các giỏ ra, cô nàng bắt đầu tò mò đưa mắt nhìn chung quanh. Nàng vén nhẹ chiếc váy đẹp cho khỏi lấm, bước vào phía bên trong lán, muốn xem chỗ tôi ngủ, chiếc ổ rơm có phủ tấm da cừu, cái áo choàng rộng treo trên vách, chiếc gậy, cây súng đá… Tất cả những thứ đó có vẻ làm cho nàng thích thú.
– Thì ra anh ngủ ở đây à, anh mục đồng tội nghiệp của tôi ! Sống một mình như thế này thì chắc là buồn lắm nhỉ ? Hàng ngày anh làm gì ? Anh nghĩ gì ?
Tôi rất muốn trả lời : “Nghĩ đến cô, cô chủ ạ.” Phải nói như thế mới trung thực với lòng mình, nhưng vì bối rối quá nên tôi không nghĩ ra được một lời nào. Tôi tin rằng nàng cũng nhận thấy sự bối rối của tôi, nhưng cô nàng tinh nghịch lại lấy đó làm thích thú và cố tình trêu chọc để làm cho tôi càng thêm bối rối :
– Mục đồng ơi, thế cô bạn gái thân thiết của anh có thỉnh thoảng lên đây thăm anh không ? Cô ấy chắc hẳn là nàng dê có bộ lông vàng hay nàng tiên Estérelle chỉ quen nhảy nhót trên các đỉnh núi thôi nhỉ ?
Trong lúc nói chuyện với tôi, chính cô nàng mới có dáng điệu giống như nàng tiên Estérelle, với nụ cười duyên dáng, đầu hơi ngả ra đàng sau và vẻ vội vàng muốn ra về, làm cho cuộc thăm viếng ngắn ngủi của nàng chẳng khác nào một sự xuất hiện bất ngờ.
– Thôi, chào tạm biệt mục đồng nhé.
– Xin chào tạm biệt cô chủ.
Thế là nàng đi mất, mang theo những chiếc giỏ không.
Khi nàng đã khuất dạng sau con đường dốc nhỏ, tôi tưởng chừng như những viên sỏi lăn lóc dưới móng chân la đang rơi từng viên một vào lòng tôi. Tôi còn nghe thấy trong lòng tiếng sỏi rơi như thế mãi cho đến lúc chiều tàn, không dám cử động, chỉ sợ làm tan vỡ giấc mơ đẹp của tôi. Chiều tối xuống dần, khi thung lũng bắt đầu ngả màu xanh lam và đàn súc vật kêu be be chen lấn nhau về chuồng, tôi bỗng nghe có tiếng ai gọi tôi từ phía dưới sườn núi, rồi tôi thấy vị tiểu thư của chúng ta xuất hiện, nhưng không còn vui tươi như lúc ban chiều mà run lập cập vì ướt lạnh và sợ hãi. Có vẻ như là, khi xuống phía lưng chừng sườn núi, nàng đã gặp con suối Sorgue bị nước lũ tràn ngập sau trận mưa giông, và vì nàng muốn lội qua cho bằng được nên suýt bị chết đuối. Nghiệt một nỗi, đêm hôm tối tăm, vào giờ này không mong gì về nông trại được nữa; vì đi đường tắt thì nàng không thể một mình tìm ra lối về, còn tôi thì không thể bỏ đàn cừu mà đi được. Ý nghĩ phải ngủ lại qua đêm trên núi làm nàng rất băn khoăn và bối rối, vì sợ ở nhà bố mẹ lo lắng. Tôi cố lựa lời để nói cho nàng yên tâm :
– Trời tháng bảy, đêm ngắn thôi, cô chủ à… Không sao đâu, cô nên chịu khó một chút cho qua đêm thôi.
Tôi vội vàng nhóm một ngọn lửa lớn để nàng hơ chân và hong khô bộ áo bị ướt sũng khi lội qua suối. Rồi tôi mang sữa tươi và pho mát đến cho nàng, nhưng cô bé đáng thương chẳng thiết gì đến chuyện sưởi ấm hay ăn uống gì cả. Nhìn thấy nàng nước mắt lưng tròng, tôi cũng muốn khóc theo với nàng.
Rồi màn đêm cũng xuống hẳn. Chỉ còn một chút ít vầng dương còn vương lại trên đỉnh núi cao và một làn hơi ánh sáng mong manh ở phía mặt trời lặn. Tôi muốn để nữ chủ nhân của tôi vào nằm nghỉ bên trong lán. Sau khi trải một tấm da cừu đẹp và mới tinh xuống lớp ổ rơm mới, tôi chúc nàng ngủ ngon, rồi bước ra ngồi ngoài hiên cửa… Xin có trời chứng giám cho tôi, mặc dầu ngọn lửa tình hừng hực bốc cháy trong lòng nhưng tôi không hề có một ý tưởng xấu xa nào, trong lòng tự cảm thấy rất hãnh diện khi nghĩ đến ở góc lán bên kia, ngay cạnh đàn cừu đang tò mò nhìn nàng ngủ, có cô con gái của ông bà chủ tôi – như một con cừu non quý báu nhất và trắng ngần nhất – đang nằm ngủ và được giao phó cho tôi canh gác. Chưa bao giờ tôi được nhìn ngắm bầu trời sâu thăm thẳm và các vì tinh tú rực sáng lấp lánh như đêm nay…
Bỗng tấm chấn song xịch mở và nàng Stéphanette xinh đẹp xuất hiện bước ra. Nàng không tài nào ngủ được vì đàn cừu cựa quậy khiến rơm rạ kêu sột soạt hoặc là chúng kêu be be trong lúc đang ngủ mê. Nàng thích ra ngồi cạnh đống lửa hơn. Thấy vậy, tôi liền khoác tấm da cừu của tôi lên vai nàng, khêu to ngọn lửa, rồi hai chúng tôi ngồi bên cạnh nhau, im lặng không nói năng gì.
Nếu bạn đã từng ngủ qua đêm ngoài trời dưới trăng sao, chắc bạn cũng biết rằng trong khi chúng ta đang ngủ thì cả một thế giới huyền bí đang bừng sống dậy trong thanh vắng và tĩnh mịch. Lúc ấy tiếng suối reo nghe như rõ hơn, những ao hồ thấy có những đốm lửa li ti nhen nhúm lên. Những thần linh của núi rừng đi lại tự do; và trong không gian có những tiếng sột soạt, những tiếng động rất khẻ, tưởng chừng như ta có thể nghe được một cành cây đang chuyển mình vươn dài ra và cỏ cây đang mọc thêm ra. Ban ngày là đời sống của các sinh vật, còn ban đêm là đời sống của các thực vật và sự vật. Nếu chưa quen với những tiếng động ban đêm, có khi làm cho ta sợ hãi… Thế nên vị tiểu thư của chúng ta, cứ mỗi lần nghe thấy một tiếng động dù là rất nhỏ, nàng cũng đã run sợ và lại nép sát vào người tôi. Có một lần, từ phía mặt ao hồ lấp lánh dưới kia, bỗng vọng lên một tiếng hú kéo dài não nuột, ngân vang uốn lượn về phía chúng tôi. Cũng vừa lúc đó, một ngôi sao băng rực sáng xẹt qua trên đầu chúng tôi và bay về cùng một hướng, tựa như là tiếng than van mà chúng tôi vừa nghe thấy kia đã mang theo một luồng ánh sáng vậy.
– Cái gì thế ? nàng Stéphanette khe khẽ hỏi tôi.
– Thưa cô, đó là một linh hồn vừa được lên thiên đàng. Nói xong tôi làm dấu thánh giá.
Nàng cũng làm dấu như tôi và ngửa cổ nhìn lên trời như thế một hồi lâu, vẻ mặt trầm ngâm. Rồi nàng quay lại hỏi tôi :
– Này mục đồng, có phải các anh đều là phù thủy cả không ?
– Thưa cô, không phải đâu ạ ! Nhưng vì ở đây chúng tôi sống gần trăng sao hơn những người dưới đồng bằng nên biết rõ hơn những sự việc xảy ra ở trên trời.
Nàng vẫn đưa mắt ngước lên nhìn bầu trời, đầu tựa vào lòng bàn tay, vai khoác tấm da cừu, trông cô nàng giống như một mục đồng của nhà trời vậy.
– Ồ, nhiều sao quá ! Thật là tuyệt vời ! Chưa bao giờ tôi thấy nhiều tinh tú như thế này. Mục đồng ơi, thế anh có biết tên của những vì sao không ?
– Biết chứ ạ, thưa cô chủ. Này nhé, ngay trên đầu chúng ta, kìa là Con đường của thánh Jacques (la Voie lactée) (3). Nó chạy thẳng một mạch từ nước Pháp sang nước Tây Ban Nha, do chính thánh Jacques de Galice (4) đã vạch ra để chỉ đường cho Charlemagne dũng cảm tiến quân đánh giặc Sarrasins (5). Xa hơn một chút nữa là Chiếc xe chở linh hồn (la Grande Ourse) với bốn trục xe sáng ngời. Ba ngôi sao đi phía trước là Ba con vật kéo xe (les Trois Bêtes), và ngôi sao nhỏ nhất ở sát ngay cạnh ngôi sao thứ ba là Người đánh xe (le Charretier). Cô có thấy chung quanh có một chùm sao rơi rụng như mưa sa không ? Đấy là những linh hồn mà Thượng Đế không muốn chúng ở cạnh Ngài… Rồi ở phía dưới một chút là sao Bừa cào (le Râteau), còn gọi là Ba Ông Vua (Orion). Đó là chiếc đồng hồ của mục đồng chúng tôi để biết được giờ giấc. Chỉ cần nhìn chúng là tôi biết bây giờ đã quá nửa đêm rồi. Phía dưới một chút nữa, vẫn theo hướng Nam, là ngôi sao Jean de Milan (6) sáng ngời, ngọn đuốc của các vì tinh tú (Sirius). Về ngôi sao đó, mục đồng chúng tôi thường kể chuyện như sau : Vào một đêm nọ, Jean de Milan cùng Ba Ông Vua và sao Rua (La Poussinière) (7) được mời đến dự lễ cưới của một ngôi sao bạn. Theo lời người ta kể, sao Rua vội vã đi trước, theo con đường ở phía trên. Cô nhìn xem kìa, ngôi sao ấy ở chỗ cao tít, tận cuối chân trời… Ba Ông Vua đi đường tắt phía dưới nên đuổi kịp. Riêng anh chàng Jean de Milan, vì lười biếng ngủ quên nên bị bỏ lại đằng sau; anh ta bực mình liền quăng ngay chiếc gậy để cản đường họ. Bởi thế nên người ta còn gọi chòm sao Ba Ông Vua là Chiếc gậy của Jean de Milan… Nhưng cô chủ ạ, ngôi sao đẹp nhất trong tất cả những vì sao lại là ngôi sao của chúng tôi, đó là sao Mục đồng (l’Étoile du Berger), nó soi đường cho chúng tôi lùa đàn súc vật ra bãi lúc bình minh và xua chúng về chuồng lúc hoàng hôn. Chúng tôi còn gọi ngôi sao ấy là Maguelonne, nàng Maguelonne xinh đẹp chạy theo chàng Pierre de Provence (Saturne) và cứ bảy năm một lần lại kết hôn với chàng.
– Thế vậy hả ? Lại có chuyện các vì sao cưới hỏi nhau nữa cơ à ?
– Có chứ ạ, thưa cô chủ.
Và trong khi tôi đang cố giải thích cho nàng thế nào là những hôn lễ của các vì sao, thì tôi cảm thấy như có vật gì tươi mát và mịn màng đè nhẹ lên vai tôi. Thì ra đầu nàng, nặng trĩu vì buồn ngủ, đã tựa vào vai tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng ten và mái tóc gợn sóng của nàng. Nàng ngồi yên không nhúc nhích như thế cho đến khi những vì sao bắt đầu lu mờ dần và nhoà đi trong những tia nắng sáng đầu tiên của buổi ban mai. Còn tôi, tôi nhìn nàng ngủ, trong đáy lòng hơi xao xuyến một chút, nhưng vẫn giữ được sự thanh khiết của tâm hồn, vì đêm sao sáng như thế kia bao giờ cũng đem lại cho tôi những ý nghĩ cao đẹp. Chung quanh chúng tôi, ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc hành trình thầm lặng, ngoan ngoãn như một đàn cừu vĩ đại; và đôi lúc tôi có cảm tưởng như một trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất, sáng ngời nhất, vì lạc mất đường đã đến tựa vào vai tôi và ngủ một giấc yên lành…(hết)
*****
Chú thích:
(1) - Dịch từ nguyên tác Pháp ngữ “Les Étoiles”, trích từ tác phẩm “Lettres de mon moulin” (Thư viết từ chiếc cối xay của tôi) của Alphonse Daudet (1840-1897).

(2) - Luberon: một vùng miền núi không cao, ở gần dãy núi Alpes thuộc nước Pháp.
(3) - Chemin de saint Jacques: dải Ngân Hà (la Voie lactée).
(4) - Galice: tên một thành phố của Tây Ban Nha.
(5) - Sarrasins: tên gọi quân A-rập, thời trung cổ, đã xâm lược châu Âu và châu Phi.
(6) - Jean de Milan: sao Sirius (Thiên Lang).
(7) - La Poussinière (còn gọi là La Pléiade): sao Rua (Kim Ngưu) tên một chòm sao nhỏ ở bắc bán cầu.
***
Nguyên tác tiếng Pháp
LES ÉTOILES (1)
( Récit d'un berger provençal )
par ALPHONSE DAUDET
Chân dung Alphonse Daudet (1840-1897)
*
Du temps que je gardais les bêtes sur le Luberon, je restais des semaines entières sans voir âme qui vive, seul dans le pâturage avec mon chien Labri et mes ouailles. De temps en temps, l’ermite du Mont-de-l’Ure passait par là pour chercher des simples ou bien j’apercevais la face noire de quelque charbonnier du Piémont; mais c’étaient des gens naïfs, silencieux à force de solitude, ayant perdu le goût de parler et ne sachant rien de ce qui se disait en bas dans les villages et les villes. Aussi, tous les quinze jours, lorsque j’entendais, sur le chemin qui monte, les sonnailles du mulet de notre ferme m’apportant les provisions de quinzaine, et que je voyais apparaître peu à peu, au-dessus de la côte, la tête éveillée du petit miarro (garçon de ferme) ou la coiffe rousse de la vieille tante Norade, j’étais vraiment bien heureux. Je me faisais raconter les nouvelles du pays d’en bas, les baptêmes, les mariages; mais ce qui m’intéressait surtout, c’était de savoir ce que devenait la fille de mes maîtres, notre demoiselle Stéphanette, la plus jolie qu’il y eût à dix lieues à la ronde. Sans avoir l’air d’y prendre trop d’intérêt, je m’informais si elle allait beaucoup aux fêtes, aux veillées, s’il lui venait toujours de nouveaux galants; et à ceux qui me demanderont ce que ces choses-là pouvaient me faire, à moi pauvre berger de la montagne, je répondrai que j’avais vingt ans et que cette Stéphanette était ce que j’avais vu de plus beau dans ma vie.
Or, un dimanche que j’attendais les vivres de quinzaine, il se trouva qu’ils n’arrivèrent que très tard. Le matin je me disais : “C’est la faute de la grand’messe”; puis, vers midi, il vint un gros orage, et je pensai que la mule n’avait pas pu se mettre en route à cause du mauvais état des chemins. Enfin, sur les trois heures, le ciel étant lavé, la montagne luisante d’eau et de soleil, j’entendis parmi l’égouttement des feuilles et le débordement des ruisseaux gonflés, les sonnailles de la mule, aussi gaies, aussi alertes qu’un grand carillon de cloches un jour de Pâques. Mais ce n’était pas le petit miarro ni la vieille Norade qui la conduisait. C’était… devinez qui !… Notre demoiselle, mes enfants ! Notre demoiselle en personne, assise droite entre les sacs d’osier, toute rose de l’air des montagnes et du rafraîchissement de l’orage.
Le petit était malade, tante Norade en vacances chez ses enfants. La belle Stéphanette m’apprit tout ça, en descendant de sa mule, et aussi qu’elle arrivait tard parce qu’elle s’était perdue en route; mais à la voir si bien endimanchée, avec son ruban à fleurs, sa jupe brillante et ses dentelles, elle avait plutôt l’air de s’être attardée à quelque danse que d’avoir cherché son chemin dans les buissons. Ô la mignonne créature ! Mes yeux ne pouvaient se lasser de la regarder. Il est vrai que je ne l’avais jamais vue de si près. Quelquefois l’hiver, quand les troupeaux étaient descendus dans la plaine et que je rentrais le soir à la ferme pour souper, elle traversait la salle vivement, sans guère parler aux serviteurs, toujours parée et un peu fière… Et maintenant je l’avais là devant moi, rien que pour moi; n’était-ce pas à en perdre la tête ?
Quand elle eut tiré les provisions du panier, Stéphanette se mit à regarder curieusement autour d’elle. Relevant un peu sa belle jupe du dimanche qui aurait pu s’abîmer, elle entra dans le parc, voulut voir le coin où je couchais, la crèche de paille avec la peau de mouton, ma grande cape accrochée au mur, ma crosse, mon fusil à pierre. Tout cela l’amusait.
– Alors, c’est ici que tu vis, mon pauvre berger ? Comme tu dois t’ennuyer d’être toujours seul ! Qu’est-ce que tu fais ? À quoi penses-tu ?…
J’avais envie de répondre : “À vous, maîtresse”, et je n’aurais pas menti; mais mon trouble était si grand que je ne pouvais pas seulement trouver une parole. Je crois bien qu’elle s’en apercevait, et que la méchante prenait plaisir à redoubler mon embarras avec ses malices :
– Et ta bonne amie, berger, est-ce qu’elle monte te voir quelquefois ?… Ça doit être bien sûr la chèvre d’or, ou cette fée Estérelle qui ne court qu’à la pointe des montagnes…
Et elle-même, en me parlant, avait bien l’air de la fée Estérelle, avec le joli sourire de sa tête renversée et sa hâte de s’en aller qui faisait de sa visite une apparition.
– Adieu, berger.
– Salut, maîtresse.
Et la voilà partie, emportant ses corbeilles vides.
Lorsqu’elle disparut dans le sentier en pente, il me semblait que les cailloux, roulant sous les sabots de la mule, me tombaient un à un sur le cœur. Je les entendis longtemps, longtemps; et jusqu’à la fin du jour je restai comme ensommeillé, n’osant bouger, de peur de faire en aller mon rêve. Vers le soir, comme le fond des vallées commençait à devenir bleu et que les bêtes se serraient en bêlant l’une contre l’autre pour rentrer au parc, j’entendis qu’on m’appelait dans la descente, et je vis paraître notre demoiselle, non plus rieuse ainsi que tout à l’heure, mais tremblante de froid, de peur, de mouillure. Il paraît qu’au bas de la côte elle avait trouvé la Sorgue grossie par la pluie d’orage, et qu’en voulant passer à toute force, elle avait risqué de se noyer. Le terrible, c’est qu’à cette heure de nuit il ne fallait plus songer à retourner à la ferme; car le chemin par la traverse, notre demoiselle n’aurait jamais su s’y retrouver toute seule, et moi je ne pouvais pas quitter le troupeau. Cette idée de passer la nuit sur la montagne la tourmentait beaucoup, surtout à cause de l’inquiétude des siens. Moi, je la rassurais de mon mieux :
En juillet, les nuits sont courtes, maîtresse… Ce n’est qu’un mauvais moment.
Et j’allumai vite un grand feu pour sécher ses pieds et sa robe toute trempée de l’eau de la Sorgue. Ensuite j’apportai devant elle du lait, des fromageons; mais la pauvre petite ne songeait ni à se chauffer ni à manger, et de voir les grosses larmes qui montaient dans ses yeux, j’avais envie de pleurer, moi aussi.
Cependant la nuit était venue tout à fait. Il ne restait plus sur la crête des montagnes qu’une poussière de soleil, une vapeur de lumière du côté du couchant. Je voulus que notre demoiselle entrât se reposer dans le parc. Ayant étendu sur la paille fraîche une belle peau toute neuve, je lui souhaitai la bonne nuit, et j’allai m’asseoir dehors devant la porte… Dieu m’est témoin que, malgré le feu d’amour qui me brûlait le sang, aucune mauvaise pensée ne me vint; rien qu’une grande fierté de songer que dans un coin du parc, tout près du troupeau curieux qui la regardait dormir, la fille de mes maîtres – comme une brebis plus précieuse et plus blanche que toutes les autres – reposait, confiée à ma garde. Jamais le ciel ne m’avait paru si profond, les étoiles si brillantes…
Tout à coup, la claire-voie du parc s’ouvrit et la belle Stéphanette parut. Elle ne pouvait pas dormir. Les bêtes faisaient crier la paille en remuant, ou bêlaient dans leurs rêves. Elle aimait mieux venir près du feu. Voyant cela, je lui jetai ma peau de bique sur les épaules, j’activai la flamme, et nous restâmes assis l’un près de l’autre sans parler.
Si vous avez jamais passé la nuit à la belle étoile, vous savez qu’à l’heure où nous dormons, un monde mystérieux s’éveille dans la solitude et le silence. Alors les sources chantent bien plus clair, les étangs allument des petites flammes. Tous les esprits de la montagne vont et viennent librement; et il y a dans l’air des frôlements, des bruits imperceptibles, comme si l’on entendait les branches grandir, l’herbe pousser. Le jour, c’est la vie des êtres; mais la nuit, c’est la vie des choses. Quand on n’en a pas l’habitude, ça fait peur… Aussi notre demoiselle était toute frissonnante et se serrait contre moi au moindre bruit. Une fois, un cri long, mélancolique, parti de l’étang qui luisait plus bas, monta vers nous en ondulant. Au même instant une belle étoile filante glissa par-dessus nos têtes dans la même direction, comme si cette plainte que nous venions d’entendre portait une lumière avec elle.
– Qu’est-ce que c’est ? me demanda Stéphanette à voix basse.
– Une âme qui entre en paradis, maîtresse; et je fis le signe de la croix.
Elle se signa aussi, et resta un moment la tête en l’air, très recueillie. Puis elle me dit :
– C’est donc vrai, berger, que vous êtes sorciers, vous autres ?
– Nullement, notre demoiselle. Mais ici nous vivons plus près des étoiles, et nous savons ce qui s’y passe mieux que des gens de la plaine.
Elle regardait toujours en haut, la tête appuyée dans la main, entourée de la peau de mouton comme un petit pâtre céleste :
– Qu’il y en a ! Que c’est beau ! Jamais je n’en avais tant vu… Est-ce que tu sais leurs noms, berger ?
– Mais oui, maîtresse… Tenez ! Juste au-dessus de nous, voilà le Chemin de saint Jacques (la Voie lactée). Il va de France droit sur l’Espagne. C’est saint Jacques de Galice qui l’a tracé pour montrer sa route au brave Charlemagne lorsqu’il faisait la guerre aux Sarrasins. Plus loin, vous avez le Char des Âmes (la Grande Ourse) avec ses quatre essieux resplendissants. Les trois étoiles qui vont devant sont les Trois Bêtes, et cette toute petite contre la troisième c’est le Charretier. Voyez-vous tout autour cette pluie d’étoiles qui tombent ? Ce sont les âmes dont le bon Dieu ne veut pas chez lui… Un peu plus bas, voici le Râteau ou les Trois Rois (Orion). C’est ce qui nous sert d’horloge, à nous autres. Rien qu’en les regardant, je sais maintenant qu’il est minuit passé. Un peu plus bas, toujours vers le midi, brille Jean de Milan, le flambeau des astres (Sirius). Sur cette étoile-là, voici ce que les bergers racontent. Il paraît qu’une nuit Jean de Milan, avec les Trois Rois et la Poussinière (la Pléiade), furent invités à la noce d’une étoile de leurs amies. La Poussinière, plus pressée, partit, dit-on, la première, et prit le chemin haut. Regardez-la, là-haut, tout au fond du ciel. Les Trois Rois coupèrent plus bas et la rattrapèrent; mais ce paresseux de Jean de Milan, qui avait dormi trop tard, resta tout à fait derrière, et furieux, pour les arrêter, leur jeta son bâton. C’est pourquoi les Trois Rois s’appellent aussi le Bâton de Jean de Milan… Mais la plus belle de toutes les étoiles, maîtresse, c’est la nôtre, c’est l’Étoile du Berger, qui nous éclaire à l’aube quand nous sortons le troupeau, et aussi le soir quand nous le rentrons. Nous la nommons encore Maguelonne, la belle Maguelonne qui court après Pierre de Provence (Saturne) et se marie avec lui tous les sept ans.
– Comment ! berger, il y a donc des mariages d’étoiles ?
– Mais oui, maîtresse.
Et comme j’essayais de lui expliquer ce que c’était que ces mariages, je sentis quelque chose de frais et de fin peser légèrement sur mon épaule. C’était sa tête alourdie de sommeil qui s’appuyait contre moi avec un joli froissement de rubans, de dentelles et de cheveux ondés. Elle resta ainsi sans bouger jusqu’au moment où les astres du ciel pâlirent, effacés par le jour qui montait. Moi, je la regardais dormir, un peu troublé au fond de mon être, mais saintement protégé par cette claire nuit qui ne m’a jamais donné que de belles pensées. Autour de nous, les étoiles continuaient leur marche silencieuse, dociles comme un grand troupeau; et par moments je me figurais qu’une de ces étoiles, la plus fine, la plus brillante, ayant perdu sa route, était venue se poser sur mon épaule pour dormir…
*****
(1) - Extrait des “Lettres de mon Moulin” d'Alphonse Daudet (1840-1897). Ce récit a paru d'abord dans le journal “Le Bien public”, en 1873 (8 avril). Il fut recueilli dans “Robert Helmont” (1874) d'où il fut retiré pour être joint à l'édition définitive des “Lettres de mon Moulin” (1879).
(2) - Voir aussi :
Những Vì Sao ( Lời thuật chuyện của một gã chăn cừu xứ Provence )
Tác giả : Alphonse Daudet
Bản dịch Việt ngữ : Trúc Huy
The Stars ( Tale of a Provençal Shepherd )
By Alphonse Daudet
Translated by Katharine Prescott Wormeley
Alphonse Daudet – Những Vì Sao – Trúc Huy – YouTube
Les Étoiles – Alphonse Daudet – YouTube (FR3 Marseille - 1979)
Sur un texte d'Alphonse Daudet - Réalisation : Jacques Ordines
Interprété par Robert Ripa, Cécile Paoli et Marc de Negri
Ảnh minh họa
Les étoiles (Những vì sao)
Chân dung Alphonse Daudet (1840-1897)

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Xin mời quý bạn cùng tôi d0ọc lại bài thơ chữ Hán Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn.

Thay lôøi keát

Đến đây, xin mời quý vị cùng NT tham khảo bài thơ Cây đàn gấm của Lý Thương Ân. Bài thơ nầy như cất cao những cung bậc xao xuyến, tiếc nhớ về một thời thơ mộng, vụng dại của tuổi hoa niên đã qua. Niệm khúc lâm ly ấy, khi hồi tưởng, luôn khơi gợi cho lòng ta những nỗi niềm vương vấn, quặn thắt, chạnh lòng. 


Tượng của Lý Thương Ần, 李商隱 [813-858] Google

Cẩm sắt

 Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền, (1)
 Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên. (2)
 Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,   (3)
 Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.    (4)
 Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,  (5)

 Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.      (6)
           Thử tình khả đãi thành truy ức, (7)

 Chỉ thị đương thì dĩ võng nhiên (8)
                                                      Lý Thương Ẩn [813-858]

 

                         Bức tranh có bài thơ Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn, Google

                   .Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:

              錦 瑟
錦 瑟 无 端 五 十

一 弦一 柱 思

庄 生 曉 夢 迷 蝴 蝶
望 帝 春 心 托  杜 鵑

海 月 明 珠 有 泪
田日 暖 玉  生 烟
此  情可待 成  追

只  是当時 已  惘 然
                         李商隱 [813-858]

           Tiểu sử Lý Thương Ẩn, 

Lý Thương Ẩn, 李商隱 [813-858], tự là Nghĩa Sơn, hiệu là Ngọc Khê Sơn. Người Huyện Hà Nội nay (1957) là phủ Hoài Khánh, Tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ông sinh năm thứ 8, đời Đường Hiến Tông, hiệu Nguyên Hòa, năm 813 và mất năm thứ 8, đời Đường Huyền Tông, hiệu Đại Trung, năm 858, hưởng dương 45 tuổi, (theo truyền thống Á Đông cộng thêm 1 tuổi), tức là 46 tuổi.

Lúc thiếu thời, nhờ giỏi văn thơ nên được Lệnh Hồ Sở yêu, cho phép giao du với các con của mình.

Năm 837, 25 tuổi, nhờ thế lực của Lệnh Hồ Đào, con của Lệnh Hồ Sở, Thương Ẩn được chấm dỗ Tiến sĩ. Khi ấy, Vương Mậu Nguyên, trấn thủ Hà Dương, đối thủ chính trị của Lệnh Hồ Sở cũng nến tài của Thương Ẩn, cho ông giữ chức thư ký và gã con gái cho. Vì chuyện nầy, lệnh Hồ Đào cho ông là người vong ân. 

Sau khi Mậu Nguyên qua đời, Thương Ẩn có đến kinh sư nhưng triều đình không ai tiến cử làm việc gì cả.

Sau đó, nhờ Trịnh Á, Thương Ẩn được bổ làm Phán quan. Khi Trịnh Á bị biếm ra đất Lĩnh Biểu, Thương Ẩn cũng đi theo. Sau ba năm, về triều, được bổ làm truyện Tào tại Kinh Triệu.
Khi Lệnh Hồ Đào lên làm Tể Tướng, ông có dâng thơ trần tình nhiều lần nhưng Hồ Đào không xem xét chi.

Cuối cùng, Liễu Trọng Hĩnh, trấn thủ miền Đông Thục dùng ông làm Tiết Độ Phán quan kiêm Hiệu Công Bộ viên ngoại lang.

Về sau, họ Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức.

Ông trở về đất Oanh Dương, bệnh nặng, qua đời.

                                            *

Lý Thương Ẩn nổi tiếng ngang với Ôn Đình Quân và Đỗ Mục. Người đương thời mến mộ, còn gọi ông vớicái tên Ôn Lý và Lý Đỗ.

Tương truyền Thương Ẩn đã yêu nữ đạo sĩ Tống Hoa Dương và các cung nữ Lư Phi Loan, Khinh Phụng. Những bài thơ Vô đề do ông sáng tác đều do cảm hứng từ những mối tình bí ẩn nầy.

Về tác phẩm:

-Phàn Nam Giáp tập (20 quyển)

-Ất tập (20 quyển)
-Ngọc Khê Sinh thi ( 3 quyển)
- Phú (1 quyển) và (1) quyển văn.

                                                *

Vương An Thạch khen thơ ông có cái vẻ tài tình của thơ Đỗ Phủ.
Đời Tống, Dương Ức và Lư Tử Nghi mô phỏng thơ ông, soạn ra tập thơ Tây Côn thù Xướng nên thơ ông còn có tên là Tây Côn Thể.

Chú giải:

Cẩm sắt, : Có người dịch là đàn gấm, nhưng trên thực tế là cây đàn sắt có chạm trổ. Ðàn sắt là loại đàn lớn làm bằng gỗ cây ngô đồng. Ðàn sắt và đàn cầm là hai loại đàn cổ. Chữ cầm sắt, trong câu loan phụng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp: 鳯和 / thường dùng để chỉ vợ chồng hoà hợp, hạnh phúc như đàn sắt đàn cầm hoà nhau. Theo Daijigen (Ðại từ nguyên), cẩm sắt là mỹ danh của cây đàn sắt.

Vô đoan : do đâu, từ đâu, không có lý do.

Ngũ thập huyền : Theo truyền thuyết, khi Tố Nữ gảy đàn sắt tế trời theo lệnh vua Phục Hy, cây đàn này có 50 dây. Nhưng vì tiếng đàn quá ai oán, não nùng, Phục Hy cấm không cho sử dụng đàn này nữa. Sau đó, vì dân chúng vẫn ngầm ái mộ, không chịu tuân lệnh, Phục Hy mới cho phép sử dụng nhưng bớt đi phân nửa số dây. Từ đó đàn sắt chỉ có 25 dây, theo Phong thiền thư, Sử ký của Tư Mã Thiên; hoặc Giao tự chí, Hán thư của Ban Cố đời Hậu Hán.

Trụ : trụ; trục; hay con nhạn  đỡ dây đàn (huyền).

Hoa niên : Thanh xuân; tuổi trẻ; thời kỳ tươi đẹp nhất của đời người.

Tư, tứ : nghĩ, nhớ; ở đây dùng theo nghĩa gợi nhớ. Mỗi dây đàn, mỗi trục, chạnh nhớ lại tuổi hoa niên. Ðọc hai câu mở đầu, ta không khỏi liên tưởng đến hai câu hát ru con Việt Nam:

          Hai tay cầm bốn tao nôi,

Tao thẳng tao dùi, tao nhớ tao thương

Ca dao (Nguyễn Xuân Kính, Đăng Nhật Phan,
Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hoá thông tin, 2001)

 tuy dân dã mộc mạc nhưng có sức gợi cảm vô cùng.

Trang sinh : tức Trang Chu, nhà tư tưởng thời Chiến Quốc. Sách Trang Tử ghi lại những ngôn thuyết của Trang Tử cùng những người cùng phái, chủ trương là mọi việc trên đời như lớn nhỏ, khôn dại, sống chết, v.v. chẳng có gì khác nhau cho lắm; xem vô vi, tự nhiên là đạo đức cao nhất. Thuyết giải về sự khó phân biệt giữa tỉnh và mộng, sống và chết, thiên ‘Tề vật luận’ trong Trang Tử viết : 

Ngày xưa, Trang Chu chiêm bao thấy mình hóa bướm bay nhởn nhơ khắp nơi, tự lấy làm thích chí, quên mình là Chu. Bất giác tỉnh giấc, thấy hình thù mình vẫn là Chu. Không biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Chu! (Hoài nghi là bản chất của triết học)

Vọng Đế : đế hiệu của vua Ðỗ Vũ nước Thục cuối đời Chu (nên còn gọi là Thục Đế). Tương truyền Vọng Đế ra lệnh bộ hạ là Biết Linh đi cứu lũ ở xa nhằm thừa dịp tư tình với vợ của Biết Linh. Sau đó Vọng Đế tự hổ thẹn về hành vi bất chính của mình, từ ngôi, sống mai danh ẩn tích, nhớ thời vàng son nước cũ, thua buồn mà chết. Hồn biến thành con chim cuốc, hay chim đỗ quyên cứ kêu tiếc nước sầu thảm, bi ai; tiếng kêu ấy như cào xé quặn lòng:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia,

Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan.

Cảm tác:

Cuốc cuốc quặn lòng ai nhớ nước,

Gia gia đau xót kẻ thương nhà.

                                      Ngân Triều

*

Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,

Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ.

Năm canh máu chảy đêm hè vắng,

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.

Có phải tiếc Xuân mà đứng gọi,

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ.

Thâu canh ròng rã kêu ai đó,

Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ!

Cuốc kêu cảm hứng, Nguyễn Khuyến

Nhận xét:

Tám câu thơ ngậm ngùi đặc tả tiếng kêu con chim cuốc nhớ thương nước mất. Phải chăng đó chính là tiếng lòng “ngẩn ngơ” của tác giả  trào lệ cho thế sự bấy giờ?

Xuân tâm : , lòng xuân, còn có nghĩa như “xuân tình” : 春情tình yêu trai gái, tình yêu lứa đôi. Nguyễn Du cũng đã dùng chữ “xuân tình”, , tình mùa Xuân, tình của tuổi xuân thì, khi phỏng dịch đoạn thơ này trong Truyện Kiều:

          Khúc đâu êm ái xuân tình,

Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên.

ĐTTT, Nguyễn Du câu 3201-3202

Thương hải : Biển xanh, còn có nghĩa là biển rộng, biển cả. Thương hải cũng có khi dùng để chỉ tên một đại dương hư cấu ở cõi tiên.

Nguyệt minh châu hữu lệ : Theo Văn tuyển (Lý Thiện chú thích), “khi trăng đầy, trai có ngọc (châu), khi trăng khuyết trai không có ngọc (nguyệt mãn tức châu toàn, nguyệt khuy tức châu khuyết; 月滿卽珠全, 月虧卽珠缺). Theo cuốn Biệt quốc động minh ký thời Lục Triều, ngày xưa có người lặn xuống đáy biển tìm ngọc, lạc vào cung điện của nhân ngư, tìm được bảo ngọc do nước mắt của nhân ngư đọng lại. Câu này còn có thể hiểu theo điển tích thương hải di châu, 滄海 移 珠 (hạt ngọc bỏ rơi trong biển cả), ngụ ý là người có tài mà không có chỗ thi thố.

Ngoài ra, thương hải còn có thể hiểu theo thành ngữ thương hải, tang điền, 蒼海桑田, biển xanh, ruộng dâu hay bể dâu, chỉ những biến cố ngoài sức tưởng tượng của con người, thương hải biến vi tang điền 蒼海變爲桑田, Biển xanh hóa thành nương dâu, bể dâu hay dâu bể

          Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

                                                ĐTTT, Nguyễn Du câu 3-4

                                    *

          Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

                                                ĐTTT, Nguyễn Du câu 715-716

Lam điền : 籃田tên một ngọn núi ở Thiểm Tây (Lam điền sơn), còn gọi là Ngọc sơn, nổi tiếng có nhiều ngọc đẹp và quý. Theo Sơn hải kinh, Ngọc sơn là nơi bà tiên Tây Vương Mẫu ở , chi tiết này khiến người đọc liên tưởng đến một cõi tiên hư cấu, giống như “Thương hải” trong câu (5), Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ.

 Ngọc sinh yên : 玉生烟 Theo Lục dị truyện, con gái Ngô Phù Sai là Tử Ngọc yêu người lính hầu là Hàn Trọng nhưng không được Ngô vương chấp thuận, mang mối bi tình xuống tuyền đài. Một sáng, khi Ngô vương đang dùng lược chải tóc, nhìn ra vườn thấy có viên ngọc lớn màu tím chiếu sáng, phu nhân nghe nói chạy ra vườn xem. Khi vừa ôm chầm hòn ngọc thì ngọc tan thành khói biến mất. Lại có thuyết cho rằng tứ thơ trong câu này lấy ý câu sau đây của nhà thơ Ðái Thúc Luân (732-789) thời Trung Ðường : 

Thi gia chi cảnh như Lam Ðiền 

nhật noãn lương ngọc sinh yên,

khả vọng nhi bất khả trí ư mi tiệp chi tiền dã.

詩 家 之 景 如 籃田

日暖良玉生烟

可 望 而 不可 知於眉睫之前也

(Cảnh đẹp đối với nhà thơ, tựa như viên ngọc quý bốc tan thành khói khi Lam Ðiền hửng nắng, chỉ có thể đứng nhìn từ xa chứ không được lại gần).

Khả đãi, 可待: khả đãi trợ từ có nghĩa là: phải, nên, đáng, có thể, chắc có thể, có lẽ, hình như…; hoặc là trợ từ nghi vấn: làm sao có thể…

Võng nhiên : 惘然 không biết gì cả, ngơ ngác như mất hồn, phôi pha. 

Câu 7 có thể dịch là Tình này có thể trở thành một nỗi nhớ;

hoặc
tình nầy còn đọng trong tâm khảm, còn mãi chút gì, để nhớ để thương.
 

Câu 8 thời gian trôi qua, vết thương lòng lành lại, thì tình yêu bất thành đó cũng đã nhạt nhòa, phôi pha.

*                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 *

Thực ra, tiếng lòng vương vấn mãi:

          Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2241-2242

*

Trên chặng đường thương tâm, nước mắt đoạn trường, mỗi lần nhớ quê hương, nhớ người thân, lần nào Thúy kiều cũng nhớ đến Kim Trọng, mối tình đầu thắm thiết, mãi còn phảng phất bên lòng:

Tham khảo ba lần nhớ nhà của Thúy Kiều:

(1) Thúy Kiều nhớ nhà lần thứ nhất:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, (1039)
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
            Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
            Xót người tựa cửa hôm mai, (1043)
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
            Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm. (1046)

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1039-1046

*

Nghĩa của 4 câu thơ 1039-1042:

Tưởng nhớ người cùng uống chén đồng, dưới trăng thề ước,

Mỏi mòn con mắt, mong chờ tin tức,

Ở chân trời góc biển giờ biết ra sao?

Tình yêu ấy cho dẫu phôi pha nhưng làm sao có thể nhạt nhòa.

*

Bơ vơ:không biết giờ ra sao.

Tấm son:  Tấm lòng son, lòng thành tức tình yêu.

Gột rửa: Gột là dùng nước làm sạch vết bẩn như bùn đất; rửa là dùng nước làm sạch những mảng bám dơ trên diện rộng hơn như rửa chân, rửa mặt, rửa rau, rửa xe

*

(2)Thúy Kiều nhớ nhà lần thứ hai:

Nhớ ơn chín chữ cao sâu, (1253)
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà. 
            Dặm nghìn nước thẳm non xa, 
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này! 
            Sân hòe đôi chút thơ ngây, 
Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình? 
            Nhớ lời nguyện ước ba sinh, 
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?  (1260)
            Khi về hỏi liễu Chương-đài, 
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay! 
            Tình sâu mong trả nghĩa dày, 
Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa? 
            Mối tình đòi đoạn vò tơ, 
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài. 

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1253-1266

                                       Cảm tác 8 câu thơ 1259-1264: Ngân Triều

Nhớ nợ ba sinh, lời nguyện ước,

Xa xôi biết có thấu chân tình?

Bồi hồi trở lại Chương Đài liễu,

Chữ hiếu liều thân liễu bán mình!

*

Lời thề trót hứa, khắc tình sâu,
Tình chị duyên em, có bắc cầu?
Đa đoan tim buốt tơ vò rối,

Chập chờn quê cũ giấc canh thâu.

            *

Ba sinh: 𠀧 chữ hán là tam sinh 三生 ,tức là ba kiếp, quá khứ, hiện tại và vị lai, trong ba kiếp ấy đã có duyên nợ vợ chồng với nhau.

Thấu: hiểu rõ cặn kẽ, ngọn ngành về sự việc gì.

Chương Đài liễu : 章臺柳Sách Di văn lục chép rằng Hàn Hoằng lấy một người kỹ nữ tên là Liễu thị. Khi đi làm quan xa, để nàng ở lại Chương Đài, Trường An. Ba năm sau thơ Hàn Hoằng gởi về thăm có câu:

Chương Đài liễu, Chương Đài liễu,

Tích nhận thanh thanh kim tại phủ?

Túng sử trường điều y cựu thuỳ, 

Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.

 

使

Nghĩa là:

Liễu Chương Đài, Liễu Chương Đài,

Xanh xanh ngày ấy, nay còn không?

Có phải cành dài nguyên vẹn cũ,

Hay tay kẻ khác bẻ cành xong?

 Ý nói Liễu thị ngày trước kiều diễm, chẳng hay bây giờ thế nào. “Có phải cành dài nguyên vẹn cũ, Hay tay kẻ khác bẻ cành xong  là tỏ ý hoài nghi. 

Liễu thị trả lời bài Dương liễu chi:

楊 柳 枝

楊 柳 枝 , 楊 柳 枝

可 恨 年 年 贈  離 

葉隨風忽報 秋

縱使君來豈堪 折

*
Dương liễu chi

Dương liễu chi, Dương liễu chi,

Khả hận niên niên tặng ly biệt. 

Nhất diệp tùy phong hốt báo thu,

Túng sử quân lai khởi kham chiết.

                                    *

                                    -- Bản dịch của Trúc Khê --

       Xanh non cành liễu đương tươi, 
Mỗi năm luống để tặng người biệt ly. 
       Thu sang quyện lá vàng đi, 
Chàng về biết có còn gì mơn man!

* 

Cuối đời Thiên Bảo, Liễu thị bị tướng Phiên cướp mất. Sau Hốt Tuấn cướp lại được, trả lại cho Hàn Hoằng, châu về hiệp phố.

*                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               *

                                    (3)Đây là nỗi nhớ nhà, lần thứ ba của Thúy Kiều:

Đoái trông muôn dặm tử phần, (2235)
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.
          Xót thay huyên cỗi xuân già,
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?
          Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã da mồi tóc sương. (2240)
          Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
          Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
          Tấc lòng cố quốc tha hương,

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
          Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2235-2248

*

Nhận xét bốn câu thơ

(Thúy Kiều nhớ Kim Trọng, 2241-2244):

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng thương,
            Ngó ý lìa thân, tơ vẫn vương.

Đã nối duyên em, mong trả nghĩa?

Con bồng con bế, lại con mang?

*

Tiếng thơ nghẹn ngào, cất cao như một tiếng sét yêu thương chung thủy, khắc ghi tình yêu ngàn năm thương nhớ, giai điệu bất hủ của mối tình tha thiết đầu đời, vì hoàn cảnh riêng phải sinh ly nhưng tình yêu đó, vẫn mãi còn vương vấn bên lòng?

   *
Dịch nghĩa bài thơ Cẩm sắt:

Cẩm sắt là một loại nhạc cụ bằng dây, đàn không có đầu, có 50 dây, mỗi dây buộc vào một trụ.

Mỗi dây mỗi trụ liền nhau từ thấp đến cao như gợi nhớ về cái thuở hoa niên ngày xưa. Có lúc, giai điệu tiếng đàn cất lên êm ả như Trang sinh mơ giấc buổi sáng, thấy hóa thành con bướm bay lượn thanh thản, nhởn nhơ.

Có khi não nuột như tiếng kêu bi thiết của chim đỗ quyên thác lòng Vua Thục tiếc thương nước mất. 

Còn tưởng, như âm vang thánh thót của những hạt châu nhỏ lệ, chạm nhau, khi trăng sáng đầy trời, trên biển xanh xao động mênh mông.

Lại còn vọng tưởng như trời hửng nắng ấm, chiếu tan những viên ngọc bốc khói ở núi Lam Điền.

Những nỗi niềm ấy, còn chăng là những ký ức xa mờ,

Mà lúc đương thời ta đã thờ ơ, hờ hững, vô tâm (hoặc ta tuyệt vọng, trong nỗi bất phùng thời, trong thổn thức cam lòng.

« Les plus désespérés sont les chants les plus beaux, 
Et j'en sais d'immortels qui sont de purs sanglots ».

                                                                Alfred de Musset, La nuit de Mai.

*

Ngân Triều dịch thơ:

Tuyệt vọng nhứt là tiếng ca đẹp nhứt,
Bất hủ thay những thổn thức cam long

*!

purs sanglots dịch thoát là những thổn thức cam lòng, tức là cam đành số phận,không oán trách.

Lôøi bình Ngaân Trieàu

Lời thơ trong bài “Cẩm sắt” đượm nét buồn man mác, trải rộng mênh mông trong không gian hữu hạn, thời gian vô cùng, chuyên chở một tình sầu muôn thuở. Có phải chăng đây là tiếng khóc cho người vợ hiền thục chẳng may quá cố? Hay là những lời thương tiếc đầy ân hận về một người tình tên là Cẩm đã đi qua cuộc đời tác giả thuở hoa niên?  Ngoài ra, còn có biết bao giả thuyết khác về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ nầy…

(1) Hai câu đề: Giới thiệu cây đàn gấm, Cẩm sắt.

*

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,

Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.

Cây đàn gấm là một nhạc cụ có dây để gảy, hình dáng và cấu trúc hơi lạ. Đàn không có đầu như các loại nhạc cụ bằng dây khác mà có nhiều trụ, nhiều dây. Năm mươi dây được căng trên năm mươi trụ theo thứ tự từ thấp đến cao.

Ờ nhỉ! Năm mươi dây thấp cao, sao lại giống số năm tháng dài chồng chất trên vai gầy đời ta quá vậy?  Phải chăng  những  dây đàn  như những chương khúc sâu lắng của hồn ta, đang ở lứa tuổi năm mươi,  tuổi ngũ thập nhi tri thiên mệnh, 五十而知天命, nghĩa là năm mươi tuổi mới hiểu mệnh trời.

Còn nhớ, Đức Khổng Tử đã kể lại các giai  đoạn của cuộc đời ngài như sau:

 Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học:                      吾十有五而志于學

 tam thập nhi lập,                                                   三十而立

 tứ thập nhi bất hoặc,                                             四十而不惑

 ngũ thập nhi tri thiên mệnh,                                五十而知天命

 lục thập nhi nhĩ thuận,                                         六十而耳順

thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ.              七十而樷心所 欱不遊

Nghĩa là:

Ta mười lăm tuổi mới chuyên chú vào việc học,

ba mươi tuổi mới tự lập,

bốn mươi tuổi mới hiểu hết mọi sự trong thiên hạ,

năm mươi tuổi mới biết mệnh trời,

sáu mươi tuổi mới có kiến thức và kinh nghiệm hoàn hảo để có thể phán đoán ngay được mọi sự của con người và sự việc mà không có gì trúc trắc khi nghe;

bảy mươi tuổi mới có thể nói hay làm những điều đúng theo ý muốn của lòng mình, đúng theo khuôn khổ của đạo lý.

吾十有五而志于學

三十而立

四十而不惑

五十而知天命

六十而耳順

七十而樷心所欱不遊

 

吾十有五而志于學

三十而立

四十而不惑

五十而知天命

六十而耳順

七十而樷心所欱不遊

 

Ứng xử ở mỗi độ tuổi là một việc, nhưng nếu con người không được thừa hưởng một nền giáo dục tốt, không tự trau dồi kiến văn (những điều trông thấy và những điều nghe thấy, không có bản lĩnh thì sống đến cuối đời với cái tuổi bảy mươi đi nữa, cũng không biết tự lập, không hiểu sự đời, chẳng biết mệnh trời, chẳng biết phán đoán những điều nghe thấy và chẳng biết ứng xử thế nào cho phù hợp với phong tục, đạo lý xã hội.

Điều quan trọng nhất là ở tuổi ba mươi mà nếu không biết  tự lập, vững vàng thì cuộc đời sẽ lắm gian truân; lo cho bản thân không nổi thì làm sao giúp ích cho đời!

(2) Bốn câu thực luận: Đặc tả tiếng đàn




日暖  玉生

*                                                                                                                               *

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,       (3)
Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.        (4)

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,  (5)
Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.      (6)

*

Ôi! Tiếng đàn khi tấu lên nghe nôn nao, xao xuyến, não nùng, ngẩn ngơ biết bao!

Nào là tiếng đàn êm ái, nhớ chuyện Trang sinh trong giấc sáng mơ, thấy mình hóa bướm, nhởn nhơ hoa ngàn, khinh đời ô trọc, thế sự lầm than… tỉnh ra mới thấy ngỡ ngàng, phân vân. Rồi tự hỏi, con bướm ấy chính là ta, vong thân ảo mộng, hay ta đây là bướm, hiện thực vong thân, chập chờn trong thế giới hoang tưởng, phù du. (Hoang mang, nghi hoặc, thờ thẫn,đa đoan).

Nào là tấu khúc du dương, trầm bổng đau đớn, thiết tha, như tiếng kêu não nuột của con chim đỗ quyên, oan hồnVua Thục, trải qua mấy ngàn năm rồi mà vẫn còn khóc thương nước mất.(Thục Vọng Đế, Nước Thục cổ, là một quốc gia cổ ở vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc. Xuất phát quyền lực của nước Thục là đồng bằng Thành Đô (成都), với lãnh thổ chủ yếu nằm ở vùng Trung và Tây bồn địa Tứ Xuyên, cũng như vùng thượng thung lũngsông Hán Thủy (漢水). Dân tộc chủ yếu ở Thục là người Khương. Nước Thục bị Tần đánh bại vào năm 316 TCN. Khi đó kinh đô của Thục đặt tại Thành Đô).

Lại nghe những tiếng thánh thót, bồn chồn  như tiếng của dòng nước nhỏ long lanh, từ  trên cao rơi xuống; xôn xao như âm vang của những lệ châu rơi chạm nhau, khi trăng sáng đầy trời, trên biển xanh mênh mông; trăng cười nhìn biển cất cao tiếng hát qua giàn nhạc đại hòa tấu dạt dào âm ba ngàn năm.

Còn nghe những tiếng đục ấm áp, nhớ mong, như thả hồn bay bổng về khung trời mơ màng đầy nắng vàng  rực rỡ; nắng làm tan thành khói những viên ngọc lóng lánh ở núi Lam Điền.

(3), Hai câu kết: những nuối tiếc, nhớ thương:

此情可待成追憶

只是當時已惘然

Thử tình khả đãi thành truy ức, (7)

Chỉ thị đương thì dĩ võng nhiên (8)

Những nỗi niềm ấy, tình cảm ấy, thử tình , 此情 đối với người xưa, khả đãi可待, còn chăng là những ký ức xa mờ, thành truy ức成追憶, mà lúc đương thời ta đã vô tình, hờ hững, vô tâm, dĩ võng nhiên已惘然  .

Có lẽ tác giả muốn nói về bản chất mộng ảo, mong manh của cuộc đời và tình yêu trần thế, không chỉ là riêng tư của tác giả mà còn là của con người nói chung:

          Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 3-4.

          Đó là những thăng trầm vinh nhục, thất bại thành công, những tình huống vui ít buồn nhiều; những chạnh lòng về những hoàn cảnh ngang trái, éo le; muốn không được mà không muốn cũng không được, trong biển trần khổ não, lầm than:

          Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê…

(CONK, Ôn Như Hầu, Nguyễn Gia Thiều)

Như vậy, phải chăng cẩm sắt, hình ảnh và tiếng đàn có năm mươi dây như khơi dậy nỗi nhớ về tuổi hoa niên, tình yêu đầu đời trong sáng, không bao giờ quên của tinh yêu đầu tiên:

Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,

Nghìn năm hồ dễ đã ai quên.

Lời than thở của nàng mỹ thuật, Thế Lữ

Mà có thể nào quên, cho dẫu cuối đời đã là đầu râu tóc bạc! Mối tình đầu cho dẫu được yêu hay chỉ rung động một một chiều, đắm đuối, ngẩn ngơ đều để lại những vết nhớ sâu đậm trong thâm tâm …thì như vàng đá, suốt đời đâu đã dễ phôi pha.

Hơn nữa, triết lý hoài nghi trong ý thơ cũng được tác giả khắc họa có hệ thống. Hoài nghi giữa mộng và thực đời nầy. Chuyện Trang Chu tỉnh mộng phân vân, con bướm mộng là ta hay ta đã mộng là bướm, nếu không muốn nói bản chất đời nầy chỉ là mộng ảo; cũng như hồn vua Thục hay chim đỗ quyên, không biết là thực hay mơ, trong bối cảnh huyền ảo, ngoạn mục; trong cảnh trăng sáng trên biển xanh, lệ châu vương vấn và cảnh nắng ấm, ngọc tan thành khói bay cao ở núi Lam Điền.

Cuối cùng, khi tình yêu đến, lẽ ra cơ duyên ấy, bản thân phải trân quý nắm bắt, trang điểm cái đẹp tuyệt vời cho đời mình, thì hỡi ôi, tình duyên dang dở, lỡ làng, ngăn cách, chia xa; tình cảm ấy chỉ còn trong chạnh lòng nuối tiếc, trong chua xót,ngậm ngùi.         

Suy cho cùng, phải chăng đời người mong manh như giấc mộng và tâm sự thầm kín của  tác giả như tiếng tơ lòng còn mãi đọng ở năm mươi dây đàn réo rắt, trĩu nặng , se lòng.

Thật là bất hạnh!

Không than sinh bất phùng thời[1],

Vuốt xuôi mái tóc, cả cười ra đi.
Bến trần từ đó sinh ly.
Đôi con đò dọc quản chi sông dài.

Con nhà nho cũ, (Tặng Bùi Hạnh Cẩn), Nguyễn Bính 1943

Nhận xét:

Không than thở, oán trách vì không may mắn,không gặp thời,(1), [tức là đã thất bại],
Khi ấy, hãy vuốt xuôi mái tóc, buông trôi, chấp nhận thương đau, không bận lòng và khảng khái ra đi nơi khác để tiến hành một cơ hội khác.Từ đó, cuộc đời đã ngăn cách, chia xa,

Như con đò dọc kia bao giờ quản ngại sông dài.

*                                                                                                                                                                               *

Hay thể hiện một thái độ biết sống dấn thân, khảng khái[2], can trường, tận nhân lực, tri thiên mệnh, 盡 人 力 , 知 天 命 (2)  như một con chó sói, đã ngộ lẽ đời:

Gémir, pleurer, prier, est également lâche,

Fais énergiquement ta longue et lourde tâche

Dans la voie où le Sort a voulu t'appeler,

Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler.

La mort du loup, Alfred De Vigny (1797-1863)

Ngân Triều tạm dịch: Đoạn thơ của Alfred De Vigny (1797-1863):

                                             Cái chết của con chó sói:

          Van xin, trào lệ, kêu gào,

Đớn hèn, là nước đổ vào lá khoai.
                     Đường trần nặng gánh lá lay
[3],

Thử xem Định mệnh an bài ra sao.

          Xác thân hằn những vết đau,

Cắn răng, lặng lẽ, cúi chào thiên thu.

Tóm lại, Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn là giai điệu của tiếng đàn nhớ mong tiếc nuối, là tiếng tơ lòng u ẩn, buồn thương về mối tình lỡ làng lúc tuổi thanh xuân đã xa mờ, tận cuối trời quên, và cũng là một niệm khúc về những nỗi niềm đã qua, những nỗi niềm vui ít, buồn nhiều, trên đường đời phiêu lãng, không gặp thời của tác giả.

*****

           Tham khảo “vườn thơ” về bài Cẩm Sắt:

 (1) Bản dịch bài 1 của Vĩnh Sinh:

Cẩm sắt vì đâu năm chục dây ?
Mỗi dây mỗi trục nhớ thương đầy.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục Đế tình xuân tiếng cuốc chầy.
Thương hải trăng thanh châu nhỏ lệ,
Lam Điền nắng ấm ngọc tan bay.
Tình này ví thử sau còn nhớ,
Lúc đã tàn phai với tháng ngày !

                     *

(2) Bản dịch bài 2 của Vĩnh Sinh:

Cẩm sắt vì đâu ngũ thập huyền ?
Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế xuân tình gửi tiếng quyên.
Bể cả trăng thanh châu đẫm lệ,
Ðồng xanh nắng ửng ngọc tan liền.
Tình này ví thử sau còn nhớ,
Khi đã qua rồi thuở lứa duyên !

 *
(3) Bản dịch của Huỳnh Minh Đức
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:35
Cẩm sắt vì sao ngũ thập huyền
 
Mỗi dây mỗi trụ, nhớ hoa niên
 
Trang Chu tỉnh mộng, mơ hồ điệp
 
Vọng Đế lòng xuân, gởi đỗ quyên
 
Trăng sáng biển xanh, châu đổ lệ
 
Khói vương nắng ấm, ngọc Lam Điền
 
Tình này sớm tạo niềm nhung nhớ
 
Là buổi đầu tiên, chút nỗi niềm
*
(4) Bản dịch của Nguyễn Hùng Lân
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:36
Đàn năm mươi sợi tơ đồng
Mỗi dây khảy lại nhớ nhung thuở nào
 
Trang sinh mộng bướm sớm nao
 
Lòng xuân Thục Đế gởi vào đỗ quyên
 
Trăng soi biển lệ châu miền
 
Nắng lên hạt ngọc Lam Điền khói xây
 
Tình này đáng lẽ đẹp đây
 
Tiếc thay ngày nọ đã đầy đau thương
*
(5) Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:37
Đàn gấm gồm năm chục sợi liền,
 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ hoa niên.
 
Trang Sinh mộng sớm ngờ thân bướm,
 
Vọng Đế lòng xuân gửi tiếng quyên.
 
Trăng sáng lệ giàn châu đại hải,
 
Nắng xông ngọc bốc khói Lam Điền.
 
Tình xưa hãy để thành lưu niệm,
 
Một thưở yêu đương luống hão huyền!
Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1997
*
(6) Bản dịch của Huyền Lâm

Gửi bởi HuyenLam Tran ngày 14/02/2013 00:37
Huyền ảo năm mươi sợi dây tơ
 
Từng dây nốt phím gợi ngày thơ
 
Trang Chu xưa ngủ mơ thành bướm
 
Quyên vọng lòng xuân nhớ cõi bờ
 
Biển buồn trăng sáng khơi dòng lệ
 
Lam Điền nắng ngọc khói như mơ
 
Tình xưa nay đã thành ký ức
 
Nhưng mãi nhớ thương đến tận giờ
*
(7) Bản dịch của Huyền Lâm
Gửi bởi HuyenLam Tran ngày 14/02/2013 00:50
Năm mươi huyền ảo đàn cầm
 
Từng dây từng nốt gợi thầm ngày thơ
 
Bướm xưa Trang Tử còn mơ
 
Quyên sầu Thục Đế cõi bờ không quên
 
Lệ sầu nhìn biển trăng lên
 
Lam Điền khói quyện phủ trên nắng ngày
 
Tình xưa nào dễ phôi phai
 
Vẫn thương nhớ bóng hình ai đến giờ
*
(8) Bản dịch của Cổ Phong
Gửi bởi Cổ Phong ngày 25/04/2013 21:17
Cẩm sắt không dưng năm chục dây
 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ những ngày
 
Trang Sinh mộng đẹp mơ hồ điệp
 
Vọng Đế lòng xuân gửi đỗ quyên
 
Trăng soi thương hải châu đổ lệ
 
Nắng sưởi Lam Điền ngọc nhả mây
 
Tình này đành đợi thành ký ức
 
Chỉ tội ban xưa lỡ ngẩn ngơ
*
(9) Bản dịch của Trần Trọng San
Gửi bởi Vanachi ngày 03/01/2014 22:22
Cây đàn năm chục đường dây
 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ ngày còn xanh
 
Mơ màng giấc bướm Trang Sinh
 
Lòng xuân Vọng Đế đỗ quyên gửi vào
 
Biển xanh trăng chiếu lệ châu
 
Ngọc phơi nắng ấm khói cao Lam Điền
 
Tình này đợi nhớ nên niềm
 
Thế nhưng đã ngậm ngùi duyên bấy giờ
                                               Trần Trọng San dịch

         (10)

Nguyễn Du đã mượn ý tưởng các câu này để tả tiếng đàn của Thúy Kiều lúc gặp lại Kim Trọng thể hiện qua 4 câu Thực-luận trên: 

        Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
        Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục Đế hay hình đỗ quyên?
        Trong sao trăng rỏ duềnh quyên!
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông.
(ĐTTT Nguyễn Du câu 3199-3204)
*
(11) Bản dịch của Trần Trọng Kim
Gửi bởi Vanachi ngày 03/01/2014

        Đàn cẩm sắt, mấy chục dây, 
Một dây một trục nhớ ngày thanh niên.
 
        Trang Sinh hồ điệp mộng quên,
 
Lòng xuân Thục Đế đỗ quyên gửi mình
 .
        Trăng soi châu đỏ duềnh xanh,
 
Lam Điền trời ấm ngọc lành khói bay.
 
        Tình kia còn nhớ có ngày
,
Hiện nay chỉ thấy gắt gay nỗi lòng.

              Nguồn: Trần Trọng Kim, Đường thi, NXB. VHTT, 1995.
            *

(12) Bản dịch của Phạm Thanh Cải
Gửi bởi Phạm Thanh Cải ngày 26/05/2014

Cây đàn năm chục dây tơ, 
Mỗi dây một trụ hoa thưa phím đàn.
 
          Trang Sinh hồn bướm mơ tiên,
 
Nhớ về Thục Đế đỗ quyên gọi hè.
 
          Biển xanh trăng sáng bốn bề,
 
Lam Điền ngọc sáng vọng về ngọc trai.
 
          Tình nay còn nhớ dằng dai,
 
Nỗi lòng thoáng chốc nhạt phai hay là…

                                       *

(13) Bản dịch của Nguyễn Minh
Gửi bởi Lâm Xuân Hương ngày 07/06/2016 21:49

Đàn gấm vì sao năm chục dây? 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ thơ ngây
 
Trang sinh mộng sớm mơ thành bướm
 
Vọng đế hồn xuân nhập cuốc đây
 
Trăng sáng biển xanh soi ngọc khóc
 
Lam Điền nắng ấm khói châu bay
 
Tình kia có thể thành nhung nhớ
 
Chỉ tiếc chán chường ngay lúc này.

 *

(14) Ngân Triều cảm đề (1):

Đàn gấm lạ lùng năm chục liên? 
Mỗi dây mỗi trụ tình hoa niên!
Như Trang Chu sáng mơ  thành bướm, 
Như Thục vương hồn nhớ nước quyên. 
Như biển sáng trăng, châu đọng lệ, 
Như hương nắng khói, ngọc Lam Điền.
Khối tình vương vấn ngàn năm nhớ, 
Hồn đến bây giờ vẫn vẹn nguyên.

*

                                                                       Khối tình vương vấn ngàn năm nhớ, 
                                                                       Hồn đến bây giờ vẫn vẹn nguyên, Ngân Triều.

(15) Ngân Triều cảm đề (2):

Cẩm sắt tâm dao động[4],
Mỗi trụ mỗi đường tơ,
Năm mươi dây ngẩn ngơ.
Chạnh lòng thời hoa mộng…
                 *
Tiếng đàn trong êm ả,
 
Giấc mơ sáng Trang sinh.
Hóa bướm bay xinh xinh,
 
Mộng tan, phân vân lạ?[5]
                  *
Tiếng đàn  đục đê mê,[6]
Lòng giăng sầu lê thê.
Bơ vơ hồn Thục Đế,
Mong nước cũ quay về.
                 *
Nào âm vang thánh thót,
 
Xôn xao tiếng thủy tinh.
Trăng sáng biển mông mênh,
 
Bồi hồi châu giọt ngọc.
                   *
Âm vực nào tha thiết,
 
Trời hửng nắng ấm đầy!
Ngọc Lam[7] đùn[8] khói biếc,
Tuyệt vời khắp trời mây!
                  *
Ơi! Nhớ thuở thương thầm!
Ngàn năm ươm ký ức.
Vẫn nghe lòng rạo rực,

Đôi mắt biếc, cài trâm.

*

 (16) Ngân Triều cảm đề (3):
Cẩm Sắt đa đoan[9], cảm xúc huyền[10],
 
Chạnh lòng tiếc nhớ tuổi hoa niên[11].
Trang sinh mơ sáng[12] tiêu dao bướm,
Thục đế hồn tan khắc khoải quyên.
 
Dâu bể, trăng thanh[13], châu nhỏ lệ,
Nắng vàng khói ngọc quyện Lam Điền.
Nỗi niềm vương vấn xa mờ tủi,
Sao lúc bấy giờ chẳng bén duyên?

*

Hoàn thành tác phẩm Nhớ Bóng Trăng Xưa, 644 trang, ngày 12 tháng 12 năm 2017, Tác giả Ngân Triều.

Vaøi neùt veà taùc giaû 

(Vài nét về tác giả)


(I) Bản thân:

Ngân Triều tên thật là Nguyễn Văn Triều, sinh ngày 18.08.1942.

Quê quán:Làng Tân Phú Thượng, Đức Hòa, Chợ Lớn, nay là Thị Trấn Hậu Nghĩa, Đức Hòa, Long An.

-Thuở nhỏ đến 1956: Học sinh trường Tiểu Học Bào Trai (Bào viết O).

-1956-1958: Học sinh Trường Trung Học Tư Thục Lê Văn Trung, Tây Ninh.

-1958-1960: Học sinh Trường Trung Học Công Lập Tây Ninh.

-1960-1961: Ở nhà điều trị bệnh vì TNGT.

-1961-1963: Học sinh lớp II B2 (61-62) và lớp IB (62-63).

-1963-1965: Lớp I8 (63-64) và Lớp II7 (64-65)
Vào ngành giáo dục ngày 09/09/1965.

-1965-2002; Dạy học tại Trường THCĐ Đức Lập, Trường THTH Đức Lập, Hậu Nghĩa; Trường THPT Hậu Nghĩa, Long An.

-2003-nay: Nghỉ hưu

Tham gia công tác Hội Cựu Giáo Chức, công tác từ thiện.

(II) Hoạt động văn nghệ:

- BBT Tập san lưu niệm tu nghiệp  năm 1967 của Trung Tâm Tu nghiệp giáo chức Tiểu Học với tùy bút Dọc đường.

-BBT Nội San, Ty Tiểu Học Hậu Nghĩa: số 1 (1969), số 2 (1970), số 3 (1971), số (4) 1972.

-BBT Giai phẩm Xuân Trường THPH Hậu Nghĩa: số 1 (1994), số 2 (1995), số 3 (1996), số 4 (1997).

-BBT Giai Phẩm Xuân, , CHS Bào Trai (Bào viết o):
Số 1: (2009), Số 2 (2010).

(III) Những tác phẩm đã phát hành:

(1) Giai điệu Hồ Xuân Hương, Bà Chúa thơ Nôm (2012), Chú giải thơ Hồ Xuân Hương; CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

Khổ giấy A5, 102 trang

*
(2) Còn Vương Tơ Lòng,
(2013), Bình thơ CGC, CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

 Khổ giấy A5, 122 trang.

*
(3) Hồn Quê,
(2014)Tuyển tập Thơ &Bình thơ Hán-Nôm, CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

Khổ giấy A5, 214 trang.

*
(4) Bông Cỏ may
, (2015) Tập truyện vừa, CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

Khổ giấy A5, 163 trang

*
(5) Nhớ Bóng Trăng Xưa, biên khảo về toàn bộ thơ Hồ Xuân Hương, có chèn chữ Hán-Nôm.và những tư liệu mới về nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Khổ giấy A4, 666 trang



[1] thời vận:nó chung về vận mệnh may rủi,tốt xấu, may mắn hay không may…của đời người.

[2] Khảng khái: , thái độ cứng cỏi, không chịu khuất phục của người có khí tiêt

tận nhân lực, tri thiên mệnh, , : Nỗ lưc hết sức người. mới biết mệnh trời. Khuyên con người nên sống chủ động dấn thân tích cực, đừng thấy thất bại mà ngả lòng, đầu hàng số mệnh,

[3] Lá lay: cắc cớ, trớ trêu, không như mong muốn.

[4] tâm dao động: , lay động trái tim, tâm hồn người nghe.

[5] phân vân , 紛紜hoài nghi, bối rối không biết sự việc ra sao.  Ngã - phi ngã, , có phải chính là ta hay không phải ta vậy nhỉ?

[6] đê mê 低迷;  đê là thấp, mê là không tỉnh;đê mê  低迷là mê mẫn, đắm đuối, chìm ngập trong nỗi thích thú, say mê.

[7] Ngọc Lam  , tức thứ ngọc ở Lam Điền, 籃田.

[8] đùn  xô đẩy khắp mọi hướng, mọi chiều, ở đây là bay nhẹ nhàng , lan tỏa khắp nơi.

                Đây rừng xanh, rừng xanh,

Bụi đùn quanh ngõ vắng,

Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,

Và…lửa loạn xây thành.

Tha La Xóm Đạo, Vũ Anh Khanh.

[9] đa đoan 多端 , nhiêu mối, nhiều dây, còn có ý rắc rối.

[10] cảm xúc huyền 絃,tiếng đàn khi nghe, khơi gợi những nỗi niềm bồi hồi thương nhớ chạnh lòng.

[11] Hoa niên: , tuổi trẻ, tuổi thanh xuân, tươi đẹp nhất đời người.

[12] mơ sáng = hiểu mộng: giấc ngủ buổi sáng, nằm mơ.

[13] trăng thanh = nguyệt quang: , ánh trăng tỏa sáng khắp trời.