Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026

Bài số 10, Trạo thanh ca, (Trổi tiếng ca chèo), thơ chữ Hán HXH trích trong Lưu Hương ký; Ngân Triều chú giải.

 

Bài số 10:

Traïo thanh ca

                                       Trạo thanh ca

                                                                                            Hồ Xuân Hương

棹 聲 歌

玲 瓏 四 璧 列 雲 屏

玉 筍 參 差 水 面 平

漸 覺 桃 厡 山 作 戸

秪 從 魚 浦 石 屯 兵

盡 教 謝 客 遊 難 遍

這 莫 雲 林 畫 不 成

遥 望 水 窮 山 盡 處

忽 然 沖 岀 棹 聲 

*

Phiên âm

Linh lung tứ bích liệt vân bình,

Ngọc duẩn sâm si thủy diện bình.

Tiệm giác đào nguyên sơn tác hộ,

Chỉ tùng ngư phố thạch đồn binh.

Tận giao tạ khách du nan biến,

Giá mạc vân lâm họa bất thành.

Dao vọng thủy cùng sơn tận xứ,

Hốt nhiên xung xuất trạo thanh ca. 

*

Dịch nghĩa:

Trổi tiếng ca chèo

Long lanh bốn vách giăng những bức bình phong vẽ cảnh mây,

Đá hình cây măng ngọc lô nhô mọc trên mặt nước.

Thấy rõ ràng rằng lối vào Đào Nguyên có cửa bằng núi đá,

Lạ thay! Sao mà bên bến cá lại có thành xây bằng đá để đóng đồn binh.

Mặc lòng chàng Tạ Linh Liên đến chơi đây, đi xem đâu hết,

Dẫu là họa sĩ Ngọc Vân Lâm vẽ cảnh cũng không thật đúng.

Ngóng trông đến chỗ cuối nước hết núi,

Thình lình nghe tiếng chèo và tiếng ca trỗi lên.

*
(1) Gs. Hoàng Xuân Hãn dịch thơ:

Gửi bởi Vanachi ngày 28/õ/2006 

Long lanh bốn phía rũ màn mây,

Nước phẳng lô nhô măng ngọc đầy.

Mới biết nguồn Đào ngăn cửa đá,

Nào ngờ bến cá có đồn xây.

Mặc cho họ Tạ xem đâu hết,

Dẫu có chàng Lâm vẽ chẳng tày.

Xa ngóng chân trời non lẫn nước,

Bỗng nghe chèo hát nổi đâu đây.

*

(2) Nguyễn Kim Trân dịch thơ:

Bốn phía lung linh toả sắc mây,
Nước êm lố nhố ngọc măng đầy.
Đào Nguyên cửa núi Thần Tiên ngự,
Bến cá đồn thành đá tảng xây.
Vạn núi, Tạ Liên xem mỏi mắt,
Vân Lâm vẽ cảnh cũng đờ tay.
Bình phong khép lại vuông màu biếc,
Văng vẳng chèo ca vọng đến đây.

*

(3) Ngân Triều dịch thơ:

Long lanh bốn hướng, bình phong mây,

Măng ngọc lô nhô mọc nước đầy.

Nào biết Đào Nguyên đâu, cửa đá?

Lạ thay! Bến cá thạch thành xây!

Chập chùng Liên Tạ xem sao nổi!

Cho dẫu Vân Lâm vẽ rụng tay.

Vời ngắm chân trời xa tít núi,

Bỗng nghe chèo hát vọng đâu đây?

***
Ảnh minh hoa có hỗ trợ của AI:








Long lanh bốn hướng, bình phong mây,

Măng ngọc lô nhô mọc nước đầy.

Nào biết Đào Nguyên đâu, cửa đá?

Lạ thay! Bến cá thạch thành xây!

                       Ngân Triều


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

Bài số 9, Nhập An Bang, (Đến an Bang), Thơ chữ Hán HXH; Ngân Triều chú giải.

 

Bài số 9:
Nhaäp  An Bang

Hồ Xuân Hương


Lãng tích phong trần vị nhạ cương,
Phiêu linh thư kiếm nhập An Bang.
Cừ lô thiên địa tâm thiên lý,
Oa giốc sơn hà nhãn nhất soang (song).
Thi giá cảm vân sơn quỷ khấp,
Sầu thành liêu giả tửu binh hàng.
Hứng hàm dục tá Tinh châu tiễn,
Tiễn thử kỳ phong thuỷ bán giang.

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

入安邦

浪跡風塵未迓繮

漂零書劍入安邦

渠爐天地心千里

蝸角山河眼一雙

詩價感雲山鬼泣

愁城僚者酒兵降

興含欲借倂州

剪此其風水半間

*

Chú giải

Lãng tích: ,dấu chân đi lang thang.

phong trần: ,gió bụi, nỗi khó nhọc gian nan khi đi đường.

nhạ: ,đón rước nhau.

Cương: , dây cương ngựa.

Phiêu linh: 漂零,lênh đênh, vất vả, khổ sở.

Cừ lô: 渠爐, cái lò lớn, cái bầu lớn.

Oa giốc (giác): 蝸角, cái sừng của con ốc sên.

Oa giốc sơn hà: 蝸角山河,Sách Trang Tử viết: trong cùng sừng con sên có những quốc gia có tên là Xúc và Man.

Hàng: ,chịu phục tùng, chấp nhận.Hứng hàm: 興含Lưu hứng, nhân hứng

dục tá: 欲借, muốn mượn

Tinh châu tiễn: 倂州剪, cái kéoTinh Châu.

Tinh Châu tiễn: Thơ Đỗ Phủ đề tranh sơn thuỷ của Vương Tế có câu: "Sao lấy được chiếc kéo sắc châu Tinh, Cắt lấy Ngô Trung nửa sông núi".

*

Ngân Triều dịch:

Đi lang thang chưa ai đón rước lấy dây cương.

Lênh đênh gươm sách đến An Bang.

Đây là cái lò lớn trung tâm đất trời, hàng  ngàn dặm,

Sông  núi, lô nhô tựa như giang sơn trong  đôi mắt của sừng ốc.

Lúc thi hứng  dâng  cao cùng mây núi, tứ thơ làm cho quỷ khốc, thần sầu.

Khi thành sầu ngẩn ngơ, bè bạn đều là những lính men bại trận.

Nhân hứng muốn mượn chiếc kéo Tinh Châu,
Xén ngay phân nửa núi sông ngoạn mục nầy vậy.

*
(1) Lưu Đức Thọ dịch thơ:

Yên cương vó ngựa vẫn lang thang,

Gieo neo[1] thư kiếm đến An Bang.

Khung trời khoáng đãng[2] tâm ngàn dặm,

Sông núi lô nhô ốc nổi hàng.

Cao hứng lời thơ nghe quỷ khốc,

Phá sầu say khướt rượu vô đoan[3]

Ngẩn ngơ muốn lấyTinh Châu kéo,

Xén nửa kỳ quan mới thoả gan.

*
(2) Thơ Bùi Hạnh Cẩn:

Gió bụi lông bông bước vẫn tràn,
Lênh đênh gươm sách tới An Bang.
Sừng sên sông núi đôi con mắt,
Quán trọ càn khôn dạ dặm ngàn.
Thơ tứ dám rằng ma núi khóc,
Thành sầu đành mượn lính men hàng.
Say toan nhờ kéo châu Tinh cắt,
Non nước xinh này cắt nửa gang.

*











Thi hứng thi đề, thi quỷ khốc,

Chén đầy chén cạn, chén miên man…Ngân Triều

(3) Ngân Triều dịch thơ:

Gió bụi long đong chưa kẻ rước,

Lênh đênh thư kiếm đến An Bang.

Đất trời lò lớn, tâm ngàn dặm,

Sừng ốc lô nhô, đá vạn hàng.

Thi hứng thi đề, thi quỷ khốc,

Chén đầy chén cạn, chén miên man…

Ngất  ngây muốn mượn Tinh Châu kéo,
Khoe nửa kỳ quan, khắp thế gian.

Có thuyết cho rằng bài này không phải của Hồ Xuân Hương. An Bang là tên xa xưa của Hoa Phong, tức Nghiêu Phong hay Hạ Long ngày nay. 

*

Nguồn: Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999.



[1] Gieo neo: vất vả, khó khăn.

[2] khoáng đãng: 曠蕩 rộng rãi, bát ngát, mênh mông.

[3] Vô đoan : , cứ uống mãi, không có lý do.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Bài 8, Nhãn phóng thanh, thơ chữ Hán, trích trong Lưu Hương ký của HXH; Ngân Triều chú giải.

 Bài số 8:

Nhaõn phoùng thanh

Nhãn phóng thanh (Nhìn bao quát)

Hồ Xuân Hương

*


               Phảng phất mây giăng trời sụp tối, 

Cao tăng tĩnh tọa tụng Di Đà. Ngân Triều. 

                                    Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn 

Nhãn phóng thanh (Nhìn bao quát)                                       

          

  

 
 
 
 
 
 
仿
 

*

Phiên âm:

Nhãn phóng thanh 

Vi mang loa đại tháp thương minh       (1)
Đáo thử tu giao nhãn phóng thanh 
Bạch thuỷ ma thành thiên nhẫn kiếm    (3)
Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh 
Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp                 (5)
Thần lực hề dung tạc Ngũ Đinh 
Phảng phất vân đồi đầu ám điểm           (7)
Cao tăng ưng hữu toạ đàm kinh.

Dịch nghĩa 

Nhìn bao quát.

Màu lam nhạt mờ mờ nối trời xa với bể xa. 
Đến đây, tưởng như trong mắt toả sắc xanh ra 
Nước bạc mài đá thành nghìn mũi gươm nhọn 
Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa xuống. 
Vách đá hình kì quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại khoa, 
Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như vậy. 
Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã xẩm tối, 
Chắc đã có vị cao tăng ngồi yên lặng tụng kinh.

*

(1) Thơ của Gs Hoàng Xuân Hãn

Gửi bởi Vanachi ngày 27/04/2006 09:03
Bể xanh lấp loáng tận trời xa, 
Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra. 
Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm, 
Đầm im rơi xuống một sao sa. 
Quái hình chưa dễ đề khoa bảng, 
Thần lực đâu đà tạc tượng ma. 
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối, 
Cao tăng đang tụng chốn chiền già.

*

(2) Dịch thơ của Trương Việt Linh

Gửi bởi vietlinh11 ngày 25/08/2016 15:01

Biển xanh mịt mịt trời xa 
Màu xanh từ mắt tỏa ra khắp vùng? 
Nước mài thành vạn mũi gươm 
Một ngôi sao rụng giữa đầm nước thanh 
Quái hình đâu chỗ đề danh 
Tượng kỳ ắt bởi sức thần tạc ra 
Đầu non mờ mịt mây sà 
Cao tăng ngồi đó đang là tụng kinh

*

(3) Dịch thơ của Ngân Triều

Chân trời giáp bể nhạt mờ xa, 
Cứ tưởng màu xanh mắt toả ra. 
Nước bạc đá mài nghìn mũi nhọn, 
Giữa đầm lóng lánh ánh sao sa.

Đá hình bảng hổ ai làm được?

Ai dễ  sức phàm kiến tạo ra?
Phảng phất mây giăng trời sụp tối, 
Cao tăng tĩnh tọa tụng Di Đà.

Ngân Triều

Nguồn:Theo tài liệu của TS Phạm Trọng Chánh, Paris.