Bài [100] Nhớ
Quê
Thơ Trần Văn Sửu, k1 SPS; lời bình Ngân Triều, K2 SPS.
Đăng ngày: 08:19 20-03-2012
http://vn.360plus.yahoo.com/nhungnguoibanspsg
Xin giới thiệu một chút, bài thơ nầy
từ 1 cựu giáo sinh SPSG khóa 1, ly hương, bày tỏ lòng mình khi mơ về quê cũ và một
bài bình thơ của một thân hữu, nguyên là CGS.SPS, khóa 2.
Mời các bạn
xem... tâm trạng và nỗi niềm của một người khách ly hương... NT.
Khói sương rừng núi, chim bay mỏi
Quê cũ, vời trông, một mái nhà.
Ảnh Google.
Toùc roái
bay bay, chieàu thöông
nhôù,
Raùng vaøng giaêng luïa,
cuoái trôøi xa.
Khoùi söông röøng nuùi, chim bay moûi,
Queâ cuõ, vôøi troâng, moät maùi nhaø.
Chiều buồn Sanjoseù (1997)
Traàn Vaên Söûu ֎
CGS k 1. SPS 62-64
Lời Bình Ngân Triều:
Bài thơ nầy được sáng tác trong thời
điểm tác giả vừa mới rời xa quê hương, sống nơi xứ lạ quê người. Cuộc sống bước
đầu, chắc là khó khăn và gieo neo lắm! (1997).
Tóc rối bay bay chiều thương nhớ, câu 1, không những là chi
tiết chọn lọc, trữ tình, cảm khái, còn đượm phong cách thơ chữ Hán của Nguyễn
Du, (1766- 1820), hoàn cảnh sống lúc ấy cực kỳ khó khăn khi ở quê
vợ Quỳnh Côi:
Sinh vị thành danh thân dĩ suy [1]
Tiêu tiêu [2]
bạch phát mộ phong xuy
Tính
thành hạc hĩnh hà dung đoạn
Mệnh
đẳng hồng mao bất tự tri.
Tự thán kỳ 1, Nguyễn Du, (1765-
1820)
生未成名身已衰,
蕭蕭白髮暮風吹.
性成鶴脛何容斷?
命等鴻毛不自知.
Chưa có danh gì, thân yếu hẳn,
Gió
chiều tóc bạc gió miên man.
Tính
thành chân hạc sao đành ngắn?
Mệnh tựa
lông hồng chẳng biết thân.
Ngân
Triều dịch
Như vậy, có thể hiểu những khó khăn
trong vạn sự khởi đầu nan ở xứ người đã được gỡ rối dần dần. Kết hợp với “khói
sương’’ không sáng sủa, còn mờ mịt của cuộc sống tương lai phía
trước và hình ảnh “chim bay mỏi’’là rã rời, đuối sức …để
ta hình dung tâm trạng và sự phấn đấu vượt bậc của tác giả, nơi xứ lạ, quê
người.
Ráng
vàng giăng lụa cuối trời xa câu 2, là
một câu tả cảnh, một bức tranh ngoạn mục, đậm nhạt về màu sắc, hình ảnh cổ điển
như 2 câu thơ trong bài Đằng Vương các tự của Vương Bột, (650–676), một
trong tứ kiệt đời Sơ Đường:
Thu thuỷ cộng
trường thiên nhất sắc.
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色.
Ráng chiều
xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,
Làn
nước Thu với nền trời nối dài một sắc.
Đằng Vương
các tự, Vương Bột, (650–676).
Ở đây, tác giả hạ bút “Ráng vàng giăng lụa”
vừa nhân hoá, vừa tạo một hình ảnh thẩm mỹ, tổng hợp được tính chất vừa cổ điển
vừa tân kỳ. Cũng có thể hiểu mục đích và hoài bảo phải lìa xa quê
hương, còn quá xa vời.
Về nhịp thơ, tác giả sử dụng 3 câu
nhịp 4/3 đều đặn, dịu êm…để câu kết, bất ngờ đổi nhịp 2/2/3 như nức nở, nghẹn
ngào của tâm trạng bâng khuâng, ray rứt, ai hoài của một con người cô lữ.
Bên cạnh đó, chúng ta có
thể thấy dụng ý kín đáo của tác giả về nỗi lòng và tâm tình thương
nhớ quê hương qua 2 nhóm từ “chiều thương nhớ’’ (cuối câu 1) và “một
mái nhà” (cuối câu 4). Đó là một tấm lòng hoài mong vời vợi về
quê hương ở một phương trời, nơi có hình bóng cha mẹ già, những người thân
trong gia đình, những bạn bè quen thuộc…
Vời trông, câu 4, là nhìn ra thật xa, xa tít, xa vô cùng, xa tận cuối
chân trời. Quê cũ bây giờ đường đi diệu vợi, muôn trùng xa cách.
Nhìn thấy “một mái nhà”, nơi “quê cũ’’ là những hình ảnh
không có thực, đó chỉ là hình ảnh trong tâm tưởng để lòng khát khao một mái ấm
nơi làng quê xa xăm, vút cao những giây phút chạnh lòng trong nỗi niềm thương
nhớ quê hương một cách thiết tha; đồng cảm:
Yên ba giang
thượng sử nhân sầu.
Hoàng Hạc
Lâu, Thôi Hiệu, (704 – 754) [4]
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông
khói sóng cho buồn lòng ai?
Tản Đà, (1889 - 1939) dịch
Mặt khác, ý thơ thể hiện chỉ là
những cái nhìn tuy bình thường nhưng gợi cảm:
nhìn lại bản thân, nhìn tận cuối trời xa, nhìn qua rừng núi nhạt nhoà trong sương,
thấy những cánh chim bơ vơ, lạc loài, bạt gió, mỏi cánh bay về đâu…và nhìn
thấy một mái nhà trong tâm tưởng … chắc là rất buồn để ao ước một hạnh
phúc sum họp đơn sơ của gia đình trong mỗi buổi chiều tà…nỗi niềm đó, chỉ một
mình mình biết, một mình mình hay… như một tâm tình:
Dừng
chân ngoảnh lại trời non nước,
Một
mảnh tình riêng, ta với ta
Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan,
(1805 – 1848)
Tôi lúc nhỏ, cùng học chung, chơi
chung với tác giả, thời êm đềm tuổi mộng Bào Trai.[5]
Khi lên trung học thì mỗi đứa cầu học theo mỗi hướng khác nhau. Tôi học TrườngTrung
Học Tây Ninh, tác giả học Trường Trung Học Mạc Đỉnh Chi, Sài
Gòn. Ở chặng cuối đời học trò áo trắng, chúng tôi lại gặp nhau ở Trường Sư
Phạm Sài Gòn (Sửu, khoá 1 và Triều, khoá 2).
Khi
ấy, sau những lần lãnh học bổng xong, được 200 đồng/tháng, hoặc được trả thù
lao đi dạy kèm ban đêm, chúng tôi thường rủ rê nhau đi ăn nghêu luộc sả
ớt ở đường Nguyễn Tri Phương, có 2 đồng/ thau nhỏ = 1 tô lớn, uống bia
trâu Larue 5 đồng/ chai <quá rẻ>; hoặc sang trọng hơn, ghé
mấy quán bia 33 ướp lạnh đường Bùi Viện; thường thì kèm món bò lúc lắc, vài
miếng fromage “La vache qui rit” cùng với một dĩa đậu phộng da cá “Hưng
Ký’’.
Nhiều
lúc, sau khi xem phim ở Rex, Đại nam, Eden, Lê Lợi…chúng tôi
vào Thanh Bạch ở đường Lê Lợi, thưởng thức món Pâté
chaud, càfé đá…thư giãn, chuyện khào và ngắm những “bóng hồng … nhác
thấy nẻo xa’’ để cùng liếc mắt, để cùng lòng ưa…
Sau
nầy, khi có gia đình riêng, chúng tôi ở cùng một khu phố, nhà cách nhau chừng
một trăm mét, lại cũng thường rủ rê, cà phê cuối tuần. Nối nghiệp nhà, ngoài việc
đi dạy, nhà thơ còn có mở một tiệm may, tên Bảo Tịnh. Đến bây giờ, dù
đã không còn tiệm may đó nữa nhưng người ta vẫn gọi con hẻm dọc hông nhà tác
giả là Hẻm Bảo Tịnh, rồi tên đường mới lại là Đường
Hẻm Bảo Tịnh. (Nào ai biết, con đường đó, nguồn gốc do chính tác giả đã đặt
tên cho tiệm may của mình).
Chúng
tôi đã từng là Hiệu Trưởng và sau nầy dạy lớp Trung Học. Tác giả
dạy Toán rất hay, nổi tiếng ở trường, vì trường đó có rất nhiều học sinh giỏi Toán.
(Ngay cả khi giải những bài toán nâng cao, các giáo viên trẻ thường xính vính, nhưng
khi đến tay tác giả, thì được giải liền, một cách thông suốt như nước chảy)
Tôi
muốn nói dông dài như vậy để cho các bạn biết thêm phần nào về mối quan hệ
thân thiết của chúng tôi và nhận ra ý nầy: giáo viên dạy Toán, hay những
môn tự nhiên khác, không phải không thể làm thơ mà còn có thể làm thơ
hay. Thơ hay thì một bài cũng được nhiều người ngưỡng mộ, và cũng có
thể nổi tiếng.
“Nhớ quê’’, một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, với nhiều hình ảnh, thủ
pháp nghệ thuật chọn lọc, cân nhắc, ý tứ mạch lạc, đậm nhạt ý tưởng cổ
điển-tân kỳ.
Quả
là một bài thơ hay. Vì sao bài thơ nầy hay? Bởi lẽ, nhà thơ đã suy nghĩ
trong bối cảnh chân thực của mình, cảm xúc trái tim,
đậm đà những tình cảm quê hương tha thiết và chọn lọc
hài hoà những giai điệu thi tứ chặt chẽ, trữ tình vì “Thơ là tiếng
lòng sâu thẳm, mênh mông, bao la, tuôn trào qua ngôn ngữ dạt dào, cảm xúc của
trái tim”.
Tôi
đọc đi đọc lại bài thơ để ngưỡng mộ, khâm phục, khẳng định và xin giới thiệu:
Đây là một bài thơ hay đến ngỡ ngàng.
Ngân Triều {
[1] Nguyên văn chữ
Hán:
生未成名身已衰,
蕭蕭白髮暮風吹。
性成鶴脛何容斷?
命等鴻毛不自知
Danh
chưa thành thân đà xơ xác,
Ngọn gió chiều tóc bạc phất phơ.
Lẽ nào chân hạc đem cưa,
Mệnh kia ai biết lửng lơ lông hồng.
Quách
Tấn, (1910 – 1992) dịch.
Nguyễn Du (1766- 1820), tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh
Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất
thân trong một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa
Trịnh. Đó là một gia đình có truyền thống yêu chuộng văn chương và nghệ thuật.
[2] tiêu tiêu là
âm thanh tiếng gió thổi.
[3] Nguyên văn
chữ Hán:
秋水共長天一色.
Lạc
hà dữ cô vụ tề phi [3]
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Nghĩa là:
Ráng chiều xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,
Làn nước Thu với nền trời nối dài một sắc.
Vương Bột (王勃) (650–676), tự Tử An, người Long Môn, Giáng Châu (ngày nay là Hà Tân, Sơn Tây) thời nhà Đường. Vương Bột được
xem là một trong "Sơ Đường tứ kiệt" (bốn nhà thơ kiệt xuất giai đoạn
đầu của nhà Đường), 3 nhà thơ còn lại là: Dương Quýnh (杨炯), Lư Chiếu Lân (卢照邻)
và Lạc Tân Vương (骆宾王).
[4] Nguyên văn chữ
Hán:
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Hoàng Hạc Lâu, Thôi
Hiệu, 崔顥, (704 – 754)
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
Tản Đà (傘沱, 1889 -
1939) dịch
Thôi Hiệu, 崔顥, (704 – 754), quê ở Biện Châu, phủ Khai Phong, tỉnh
Hà Nam, Trung Quốc, ông đỗ tiến sĩ năm 723, sau đó làm quan đến chức Tư huân
viên ngoại lang. – Ông sáng tác rất nhiều thơ với những đề tài khác nhau, nổi
tiếng nhất là bài Hoàng Hạc lâu (Lầu Hoàng Hạc) được truyền tụng rộng rãi qua
hàng ngàn năm.
[5] Trường làng Bào Trai, ngày ấy tên trường với chữ “Bào”
viết o là vậy.