Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND, tiếp theo, bài số 11: Thu dạ hữu hoài, HXH.

 Thiên tình sử HXH & ND, tiếp theo, bài số 11:

Thu daï höõu hoaøi (Thu dạ hữu hoài)
Hồ Xuân Hương
Đêm tàn, thương nhớ người phương xa,
Rượu lạnh long lanh ánh nguyệt tà.
*
Bài Thu dạ hữu hoài trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, Xuân Hương gửi Nguyễn Du:
Câu Bóng nhạn về đâu, mây ở lại, nhạn là Nguyễn Du đã bay xa, mây là Xuân Hương còn ở lại. Bài thơ viết khoảng năm 1794.
*
Nỗi nhớ đêm Thu.
Đêm tàn, Xuân Hương còn thức, ngơ ngẩn thương nhớ người đi xa,
Nơi lầu mây, rượu rót không tri âm; hững hờ để lạnh, nửa vầng trăng tà chiếu lóng lánh ánh bạc trong ly.
Nước chảy, gió thổi mãi, giọt nước trong hồ đồng rơi đều.
Hoa hay trăng tự lòng Xuân Hương,
Lòng Xuân vắng vẻ,
Xuân hứng không nhiều?
Bóng người đi như bóng chim nhạn bay về đâu?
Chỉ còn nghe tiếng dế trùng than khóc,
Dòng nước u hoài trôi mãi,
Năm tàn thêm lo…
*
Thu dạ hữu hoài
Dạ thâm nhân tĩnh độc trù trù,
Vân lâu tửu lãnh ngân hoàn bán.
Thuỷ khoát phong trường ngọc lậu cô,
Hoa nguyệt nguyệt hoa chủ nhân ngô.
Xuân tịch tịch,
Xuân hứng bất đa hồ.
Nhạn ảnh hà quy vân tự trụ,
Cùng thanh như khốc thuỷ không lưu,
Tuế án tu đồ.
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋夜有懷
夜深人靜獨躊躇
雲樓酒冷銀環半
水闊風長玉漏孤
花月月花主人吾
春寂寂
春興不多乎
鴈影何歸雲自住
蛩聲如訴水空流
歲晏須圖。
*
Đêm thu cảm hoài
Đêm tàn người thức lòng ngơ ngẩn,
Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà.
Nước chảy gió đùa trơ mặt ngọc,
Hoa hoa, nguyệt nguyệt nỗi lòng ta.
Xuân vắng vẻ,
Xuân hứng chẳng nhiều ư ?
Bóng nhạn về đâu mây ở lại,
Dế trùng than khóc nước trôi hờ,
Đêm tàn nên lo.
Người dịch Nhất Uyên
*
Đêm thu cảm hoài
Đêm sâu người lặng riêng ngẩn ngơ
Lầu mây rượu lạnh nửa vòng bạc
Nước láng gió dài giọt đồng trơ
Hoa hoa trăng trăng người chủ là ta
Xuân vắng vẻ
Hứng Xuân chẳng nhiều ư?
Bóng nhạn về đâu mây ở lại
Dế giun như khóc nước trôi lờ
Năm tàn nên lo.
Người dịch: Bùi Hạnh Cẩn
Mây nhạn về đâu nỗi nhớ nhà. Ngân Triều/ Ảnh Google
*
Ngân Triều cảm đề, Thu dạ hữu hoài:
Đêm tàn, thương nhớ người phương xa,
Rượu lạnh long lanh ánh nguyệt tà.
Nước chảy, gió đưa, hồ rỏ giọt,
Trăng hoa thề hẹn, vẹn lòng ta.
Lòng Xuân đi vắng sao nhiều hứng?
Mây nhạn về đâu nỗi nhớ nhà.
Tiếng dế tỉ tê dòng nước chảy,
Nên lo chuyện cũ cuối năm qua.
*
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp.
3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.
***
Ảnh minh họa Nỗi nhớ đêm Thu, có hỗ trợ của AI:
Đêm tàn, thương nhớ người phương xa,
Rượu lạnh long lanh ánh nguyệt tà.
Nước chảy, gió đưa, hồ rỏ giọt,
Trăng hoa thề hẹn, vẹn lòng ta. (NT)

Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo. Bài số 10: Ký hữu, Nguyễn Du

Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo. Bài số 10:
Kyù höõu (Ký hữu: Gởi bạn).
Nguyễn Du
Một vầng trăng sáng tình ta đó,
Trăm dặm non Hồng chính khí đây,
ảnh minh họa bài 10, google.
Nguyễn Du đã trả lời bài Nhân tặng của Xuân Hương bằng bài Ký hữu, Gửi bạn bài số 33 trong Thanh Hiên thi tập.
Xuân Hương đã viết:
- Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng,
Nguyễn Du đáp lại:
- Một vầng trăng sáng tình ta đó.
*
Ký hữu, Nguyễn Du, Nhất Uyên phiên âm:
Mạc mạc trần ai mãn thái không.,
Bế môn cao chẩm ngọa kỳ trung.
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại,
Bách lý Hồng Sơn chính khí cùng.
Nhãn để phù vân khan thế sự,
Yêu gian trường kiếm quải thu phong.
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc.
Sương tuyết tiêu thời hợp hoá long.
*
Gửi bạn, Nhất Uyên dịch:
Mờ mịt không trung gió bụi trần,
Cửa gài, kê gối mãi nằm không.
Một vầng trăng sáng tình ta đó,
Trăm dặm Hồng sơn chính khí cùng.
Trước mắt phù vân, ôi thế sự,
Bên lưng trường kiếm nổi thu phong.
Đầu sân ngóng trúc lòng không nói,
Sương tuyết tiêu tan sẽ hóa rồng.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
寄 友
漠 漠 塵 埃 滿 太 空
閉 門 髙 枕 臥 其 中
一 天 明 月 交 情 在
百 里 鴻 山 正 氣 同
眼 底 浮 雲 看 世 事
腰 間 長 劍 掛 秋 風
無 言 獨 對 庭 前 竹
霜 雪 消 時 合 化 龍
*
Dịch nghĩa, TS Phạm Trọng Chánh:
Mờ mịt không trung, cát bụi đầy trời, (tình hình chính trị mờ mịt. Nay Vua Quang Trung đã mất, triều đình rối loạn các đại tướng đem quân đánh nhau. Nguyễn Ánh đang nổi lên ở phương Nam ngày một mạnh, đã chiếm Gia Định, chưa biết tình hình ra sao).
Từ ngày về Tiên Điền, đóng cửa nằm khểnh trong nhà,
Một vầng trăng sáng tình ta đó,
Non Hồng dài trăm dặm, đôi ta chung chính khí, tổ tiên hun đúc.
Việc đời trước mắt như đám mây nổi, sớm hiện rồi tan,
Thanh trường kiếm dắt ngang lưng, chưa dùng vào việc gì phất phơ trong gió thu.
Một mình lặng nhìn khóm trúc trước sân.
Sương tuyết tan đi, trúc sẽ hóa rồng, tài năng kẻ sĩ sẽ được trọng dụng.
Một vầng trăng sáng tình ta đó,
Trăm dặm non Hồng chính khí đây. Ngân Triều
*
Ngân Triều cảm đề bài Ký hữu:
Mù mịt non sông gió bụi đầy,
Tiên Điền thắc thỏm dạ không khuây.
Một vầng trăng sáng tình ta đó,
Trăm dặm non Hồng chính khí đây.
Ngán nỗi bể dâu, mây có hiểu?
Mòn lưng trường kiếm gió thu lay!
Lặng nhìn khóm trúc lòng thêm tủi,
Bể lặng trúc-rồng tung cánh bay.
Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI: Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.
***


Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo: bài số 9.

 Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo: bài số 9.

Nhaân taëng (Nhân tặng) 因贈
Hồ Xuân Hương
*
Những bài thơ tình gửi đáp Hồ Xuân Hương & Nguyễn Du từ Tiên Điền đến Nghi Tàm (1794-1796).
Nguồn: Theo TS Phạm Trọng Chánh.
Nguyễn Du về đến Tiên Điền, Hồng Lĩnh không nhà, anh em lưu lạc. Thật sự thì anh em Nguyễn Du chẳng bao giờ ở tại Tiên Điền cả. Những năm cuối cùng nhà Lê -Trịnh, Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại, chức vụ ngang với Thủ Tướng ngày nay, lại kiêm trấn thủ Hưng Yên, Thái Nguyên và Sơn Tây. Tại Sơn Tây Nguyễn Khản giao quyền cho Nguyễn Điều làm Đốc Trấn, có Nguyễn Nể phụ tá, Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ nắm giữ binh quyền tại Hưng Yên. Và tại Thái Nguyên, Nguyễn Quýnh giữ chức Trấn Tả Đội, Nguyễn Du làm Chánh thủ Hiệu quân Hùng hậu hiệu, đội quân mạnh nhất Thái Nguyên; Cai Gia tức Nguyễn Đại Lang làm Quân Sư. Cai Gia nhân vật này có tên trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vốn là người phản Thanh phục Minh, là tay 'giặc già' , được Nguyễn Khản thu nạp làm môn hạ, để dạy võ cho các em. Thái Nguyên là nơi nhiều dân Tàu giang hồ sang khai mỏ, trộm cướp, trốn thuế. Cai Gia là người trị nổi đám người này; Nguyễn Du kết nghĩa sống chết với Cai Gia (Sinh Tử giao tình tại. Bài Tiễn biệt Nguyễn Đại Lang) nên gọi là anh Cả. Khi nhà Trịnh sụp đổ, Nguyễn Du, Nguyễn Đại Lang và Nguyễn Sĩ Hữu (tức Nguyễn Quýnh) chạy sang Vân Nam.
Tôi, (TS Phạm Trọng Chánh), bác bỏ việc Nguyễn Du nhận tập ấm cha nuôi họ Hà, giữ một chức quan võ nhỏ như gia phả ghi. Thật sự Nguyễn Du là đại diện binh quyền cho anh Nguyễn Khản tại Thái Nguyên).
Hai anh lớn Nguyễn Khản, Nguyễn Điều đã mất năm 1786, Nguyễn Nể làm quan ở Phú Xuân, Nguyễn Quýnh bị Tây Sơn giết năm 1790 tại Hà Tỉnh... Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ đại diện binh quyền cho Nguyễn Khản từ Hưng Yên về ở Chu Kiều, Bắc Ninh làm nghề thuốc. Nguyễn Nghi viết truyện thơ Quân Trung Đối dài 1116 câu, và có con là Nguyễn Toản đỗ Tiến Sĩ đời Minh Mạng làm quan đến chức Viên Ngoại Lang. Nguyễn Trứ làm nghề thuốc, đậu Tam Trường năm 1779 đời Gia Long có ra làm quan, Tri phủ Nam Sách, có con là Nguyễn Thích tri phủ Nghĩa Hưng, Nam Định; Nguyễn Trù, tri phủ Vĩnh Tường, và Nguyễn Thị Uyên làm thuốc giỏi được mời vào cung chữa bệnh cho các cung nữ đời Gia Long. Trong anh em Nguyễn Du có lẽ chỉ có Nguyễn Nhưng là ở Hà Tỉnh.
Theo Gs Hoàng Xuân Hãn, trong danh sách những người ra cộng tác với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ở Sùng Chính Viện đời Tây Sơn, có Nguyễn Công con Nguyễn Khản, và Nguyễn Thiện con Nguyễn Điều.
Nguyễn Hành con thứ hai Nguyễn Điều, nhà thơ tài hoa, một trong năm nhà thơ lớn nhất nước bấy giờ, lúc đó cũng đang ở Hồng Lĩnh, nên có nhiều kỷ niệm về các cuộc đi săn của Hồng Sơn Liệp Hộ, Nguyễn Du.
Về Tiên Điền, hai anh em Nguyễn Du, ở trong một căn nhà nhỏ trên bến Quế Giang, đầu sông Long Vĩ, cạnh Giang Đình, để tiện việc coi sóc việc chuyên chở những vật liệu xây dựng bằng đường sông như gạch, ngói, gỗ, đá về xây cất. Nguyễn Du có lẽ nằm nhà trông coi việc trả lương thợ và tiếp nhận vật liệu. Công việc xây dựng lại làng Tiên Điền khá quy mô. Có đến năm đền thờ họ Nguyễn Tiên Điền:
Đền thờ [1]Ông Nguyễn Lĩnh Nam tức cụ Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du.
Đền thờ [2] Ông Nguyễn Tiên Lĩnh Hầu tức Nguyễn Huệ (1705-1733) chú Nguyễn Du.
Đền thờ [3] Xuân Quận Công tức Nguyễn Nghiễm(1708-1776) cha Nguyễn Du.
Đền thờ [4] Nguyễn Lam Khê tức Nguyễn Khản (1734-1786).
Đền thờ [5] Điền Nhạc Hầu tức Nguyễn Điều (1745-1786).ngoài ra còn có chùa Trường Ninh và Cầu Tiên.
Mọi chi phí đều do Nguyễn Nể cung ứng. Cuối năm 1794, Nguyễn Du có vào Phú Xuân nhận món tiền thứ hai.
Về Tiên Điền, Nguyễn Du chỉ còn người bạn, hiệu là Thực Đình (ăn ở đình làng) tặng cho chiếc áo vải, người bạn dạy học lây lất không đủ sống. Nguyễn Du có tặng Thực Đình bài thơ:
* *
Tặng thực Đình
Thiên hạc đàm ngư hà xứ tầm,
La Thành nhất biệt thập niên thâm.
Đồng niên đối diện cách thiên nhưỡng,
Vãng sự hồi đầu thành cổ câm (kim).
Bạch phát tiêu ma bần sĩ khí,
Đề bào trân trọng cố nhân tâm.
Mạc sầu tịch địa vô giai khách,
Lam thủy Hồng sơn, túc vịnh ngâm.
*
Thơ chữ Hán, Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ dịch thơ, bài số 58, trang 138, nxb Văn Nghệ, 2/2007.
Bản chữ Hán Ngân Triều soạn
贈 實 亭
天 鶴 潭 魚 何 處 尋
羅 城 一 别 十 年 深
同 年 對 面 隔 兲 壌
往 事 回 頭 成 古 今
白 髪 消 磨 貧 士 氣
綈 袍 珍 重 故 人 心
莫 愁 僻 地 無 佳 客
藍 水 鸿 山 足 詠 吟
*
Ngân Triều dịch nghĩa
Hạc trên trời, cá dưới đầm, biết đâu mà tìm?
Lần chia tay ở La Thành chốc đã hơn mười năm.
Bạn đồng niên diện kiến mà cứ tưởng không bao giờ tái ngộ.
Chuyện cũ nhìn lại như chuyện xa xưa.
Tóc bạc làm tiêu tan ý chí kẻ sĩ nghèo hèn.
Chiếc áo vải thô, xin trân trọng tấm lòng người bạn cũ.
Chớ sầu đất hẻo lánh không có người khách tốt,
Sông Lam, núi Hồng đủ để cho chúng ta vịnh ngâm.
*
Ngân Triều cảm đề bài Tặng Thực Đình.
Hạc trời cá nước biết tìm đâu,
Nhớ buổi chia tay Thành Nghệ lâu.
Chợt gặp tưởng chừng trong giấc mộng,
Chuyện xưa, rêu cổ tích dầu dầu.
Trắng mây tóc bó tang bồng chí,
Áo vải lòng thành trọng nghĩa sâu.
Chớ tủi quê nghèo không bạn tốt,
Lam Hồng thi hứng gió trăng thâu.
* * *
Sách vở họ Nguyễn Tiên Điền, không kém gì Phúc Giang thư viện họ Nguyễn Trường Lưu với hàng vạn quyển sách, được triều đình sắc phong, bị cháy mười phần còn một hai, chất quanh vách nhà. Ngoài cửa một khóm cúc vàng, bếp vắng lặng vì thiếu người đàn bà bếp núc. Về đây sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, Nguyễn Du phải Khóc cười thời loạn theo trần thế, bệnh yếu lặng câm mà giữ thân.
Về Tiên Điền bệnh cũ mười năm trước ở Vân Nam tái phát, Nguyễn Du: Nằm bệnh mười tuần bến Quế Giang. Ngày xưa tuần là tuần trăng, nửa tháng, từ trăng tròn đến trăng khuyết. và từ không trăng đến tròn trăng.
(Một cách hiểu khác là tuần trăng có mười ngày. Bệnh 10 tuần trăng tức 100 ngày hay ba tháng 10 ngày. Trong bài Mạn hứng kỳ nhất, Nguyễn Du có than thở:
Tam xuân tích bệnh bần vô dược,
Tạp tải phù sinh hoạn hữu thân.
*
三春積病貧無葯
卅載浮生患有身
*
Xuân đau ba tháng nghèo không thuốc,
Cõi tạm ba mươi, bệnh xẻ đời
Trích Hồn quê, quyển [3], trang 200 của Ngân Triều).
***
Nguồn:
1. Đi tìm Cổ Nguyệt đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS. Phạm Trọng Chánh, 2012
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do TS. Nguyễn Xuân Diện cung cấp
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
因贈
嚴審候門别買重
𢆪𠲕坤理㦑波𨃸
買洚𡨸墨珠吏浪
殳𤗖詞𩄎意夢懞
捹抯𢤱𠲖𢵱𦰟渃
掎𢭂群碍悔𦠽紅
𠊚仙𠸠拯擂塵世
𢭄𣎏暈𩇛𤍄𬌔𢙱
*
Những ước người tiên, bay xuống giúp,
Trăng thề soi sáng, sáng soi lòng.Ngân Triều
*
Ngân Triều cảm đề bài Nhân tặng:
Từ đường vọng tộc, bao non núi!
Có dịp may nào để ruỗi dong?
Tha thiết mấy hàng rơi nước mắt,
Ngại ngùng mảnh giấy, gởi hoài mong.
Mênh mông thả lá triều đâu đến,
Quà cáp còn e mỏi cánh hồng.
Những ước người tiên, bay xuống giúp,
Trăng thề soi sáng, sáng soi lòng.
***
Tranh minh họa Nhân tặng có hỗ trợ của AI:
Mênh mông thả lá triều đâu đến,
Quà cáp còn e mỏi cánh hồng.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH với ND: bài số 8

 Bài số 8

Hoïa Thanh Lieân Chí Hieân nguyeân vaän
Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận.
Hồ Xuân Hương
Lưu biệt bài thơ chua xót lắm,
Hững hờ duyên bấy bỏ ra đi. Ngân Triều
Văn bản chép là họa Thanh Liên nguyên vận, nhưng Thanh Liên là bút hiệu thi hào Lý Bạch. Bút hiệu Thanh Hiên là của Nguyễn Du, từ khi về Quỳnh Hải cưới vợ năm 1797 mới sử dụng, năm 1796 Nguyễn Du còn dùng bút hiệu Chí Hiên. Có lẽ lúc này Nguyễn Du dùng bút hiệu Thanh Liên Chí Hiên chăng?
Bài thơ Hồ Xuân Hương viết:
Tay em còn chờ chàng dạy khúc Phượng cầu Kỳ hoàng, chờ chàng ngỏ lời cưới em,
Chàng như cánh phượng đường mây, chàng có tài cao, đường công danh thênh thang đã vội chi.
Chua xót đọc bài thơ chàng viết để lại cho em,
Sao chàng hững hờ duyên em bấy lâu nay mà nỡ bỏ đi.
Thử vàng đá, em treo giá ngọc mà đợi chàng,
Dù hoa có quý báu như phong gấm, hoa nở cũng có thời gian, em là gái chưa chồng, tuổi xuân cũng có lúc,
Lòng như đào thắm mận xanh còn nhiều niềm vui,
Chàng ơi, nỡ nào dứt ra đi!
*
Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận
Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,
Cánh phượng đường mây đã vội chi.
Chua xót lòng xem lời để lại,
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
Phong gấm hoa kia nở có thì,
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,
Xuân ơi đành nỡ dứt chia ly!
Thơ Hồ Xuân Hương, Lưu Hương ký.
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
和清蓮志軒厡韻
曲凰拪月群徐𠰺
𦑃鳳塘𩄎㐌踣之
咮㽾𢙱䀡唎底吏
𢷣哬緣閉𨀈𫥧迻
此鐄𥒥奴撩曽價
丰䌝花箕𦬑𣎏時
桃𧺀槾𩇛群趣夦
春唹𢝜怒䋎𢺹衛
Nguyễn Du có dạy đàn cho Hồ Xuân Hương. Trong thơ Phạm Đình Hổ, bài Sở hữu cảm có câu:
Buông đàn cười chẳng gảy.
Ngại làm ai chạnh lòng.
*
Tốn Phong từ xa đi ngựa đến, đã nghe tiếng nàng đàn:
Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14.
*
Tốn Phong đã từng thổi sáo và Hồ Xuân Hương đánh đàn:
Thần vào sáo ngọc tung sao đẩu,
Hứng nhập ly quỳnh chén cổ kim.
Đàn chuyển tiếng thu vang tỉnh viện,
Mộng chuyền xuân bướm ngát thơm chăn, (bài 7)
*
Khi ấy, thuyền Nguyễn Du ra khơi, để lại một mình Xuân Hương Hồ Phi Mai trên Thạch Đình khóc nức nở, trông theo cho đến khi cánh buồm còn một chấm nhỏ, dần dần mất hút dưới chân trời, biển mênh mông, đầy sóng gió, xa mờ…
和清蓮原韻 – Họa Thanh Liên nguyên vận, Hoạ vần thơ Thanh Liên. Bài thơ này hoạ vần bài "Thạch Đình tặng" (được cho là của Nguyễn Du) chép ở trước. Có thể ở đây là một lầm lẫn do chép nhầm từ Chí Hiên,Thanh Hiên ra Thanh Liên? (Theo Ts Phạm Trọng Chánh)
*
Ngân Triều cảm đề:
Kỳ hoàng, kỳ vọng lời giao ước,
Cánh phượng đường mây, đã vội chi?
Lưu biệt bài thơ chua xót lắm,
Hững hờ duyên bấy bỏ ra đi.
Thử vàng treo giá chờ tri kỷ,
Phong gấm, đời hoa nở có thì,
Đào thắm mận xanh duyên đắm đuối,
Xuân ơi, sao nỡ biệt kinh kỳ!

Ảnh minh họa , có hỗ trợ của AI.
Nguồn:
1. Đọc Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương do Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm và chú thích, TS. Phạm Trọng Chánh, 2012
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do TS. Nguyễn Xuân Diện cung cấp.
***
Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI:

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo. Bài số 7

 Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo.

Bài số 7:
Thaïch Ñình taëng bieät
(Thạch Đình tặng biệt)
Hồ Xuân Hương
Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời, 
Nước non sầu nặng muốn đi về.
Cung hoàng dịệu vợi đường khôn lọt,
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ ma hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi.
Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương đã chép trong Lưu Hương ký.
*
Nguyễn Du đã ứng khẩu tặng Hồ Xuân Hương bài thơ chữ Nôm (dịch nghĩa bài thơ trên):
Bấy lâu nay ta đã quen biết nhau, có tình có nghĩa với nhau nhiều kỷ niệm,
Nay nặng lòng với việc nhà, việc nước anh phải về quê hương.
Khúc Phượng cầu Kỳ hoàng như lời ngỏ ý anh chưa tỏ cùng em,
Lòng em đã mơ màng giấc chiêm bao rồi.
Có chắc ta yêu nhau chưa mà cho lửa tình bén cháy,
Những giọt lệ tình tiếc mùa xuân đi qua.
Tình như lá xanh hoa vàng nếu chẳng phụ lòng nhau,
Rồi đây chúng ta sẽ có ngày sum họp.
*
Chú thích:
Cung Hoàng: 宮凰 Chỉ khúc "Phượng cầu Kỳ hoàng".
*
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
石亭贈别
塘義悲𥹰㤕捤撝
渃𡽫愁𨤼㦖迻衛
宮凰妙溈塘坤𢯰
堂月𢠩恾𥋏唉謎
㐌𠺵香𫤩㧣焒𤊰
淚麻花吏獧春迻
𩇛黄丞負𢙱恩愛
𧷺陣𨩍情共𣎏欺
*
Kỳ hoàng, âm sắc gieo bao nỗi,
Đường nguyệt cô miên nhớ đoạn trường.
*
Ngân Triều cảm đề:
Tình nghĩa keo sơn, dạ mến thương,
Quan san lòng nặng, nghĩa quê hương.
Kỳ hoàng, âm sắc gieo bao nỗi,
Đường nguyệt cô miên nhớ đoạn trường.
Có chắc thơm đâu nồng bén cháy?
Hoài Xuân giọt ngọc, tủi thân vương.
Xanh vàng chẳng bạc tình chung thủy,
Tái ngộ ngày vui nắng nhuộm đường.
*
Bài thơ khá chua chát! Chắc là Nguyễn Du muốn thử lòng nàng có thật yêu mình không. Chúng ta thấy Xuân Hương tha thiết, chân thành yêu Nguyễn Du, nhưng chàng có lẽ vì còn mộng công danh, hoài bảo của một sĩ phu con nhà gia thế, quốc gia hưng vong thất phu hữu trách, muốn đi vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, nên lòng còn phân vân, chưa quyết. Chàng hẹn với Hồ Xuân Hương khi xênh xang áo gấm, sẽ quay lại với nàng như gương vỡ lại lành:
Tròn trặn gương tình cũng có khi.
***