Thứ Năm, 5 tháng 11, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND (tiếp theo): Bài số 25: Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu, Hồ Xuân Hương

 Thiên tình sử của HXH & ND (tiếp theo):

Bài số 25:
Caûm cöïu kieâm trình
Caàn Chaùnh Hocï Só Nguyeãn Haàu
* Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu
Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương gặp Nguyễn Du trên đường đi sứ năm 1813..
Tháng 2 năm Quí Dậu 1813 Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Học Sĩ tước Du Đức Hầu, được chọn làm Chánh Sứ đi tuế cống triều nhà Thanh.Thiêm sự Bộ Lại Trần Văn Đại, Thiêm sự Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong làm Phó Sứ. Cống phẩm gồm: 200 lạng vàng, 1000 lạng bạc, lụa và cấp mỗi thứ 100 cây, hai bộ sừng tê giác, 100 cân ngà voi, 100 cân quế; Sứ đoàn gồm 27 người, đi đến mỗi địa phương đều có bàn hương án và quan quân hộ tống. Đoàn đi từ Phú Xuân đến Vị Hoàng bằng thuyền và từ đó đi đường bộ. Theo gia phả con đầu là Nguyễn Tứ, 12 tuổi, có theo cha đi sứ.
Tin này ra đến Thăng Long, Hồ Xuân Hương đã gửi đến Nguyễn Du bài thơ: Cảm cưụ kiêm trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu (Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân). Bài thơ này là một chứng cớ rõ ràng, không thể chối cải, nhưng thoạt đầu chẳng mấy ai tin. Ngay cả Xuân Diệu đọc bao nhiêu lần cứ viết: Xuân Hương phục người có tài hơn mình. Chẳng ai tin việc này, vì là thật nó kéo theo sự sụp đổ của một Hồ Xuân Hương dâm tục cả thế kỷ đã bàn tán và viết về nàng. Có thể toàn bộ sách giáo khoa viết về Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du phải viết lại.
Chàng đi sứ hoàng hoa, xa quê hương, nơi đất khách ngàn dặm lòng em muôn nghìn nỗi nhớ nhung.
Mượn ai tới đó để gửi thơ cho chàng, nói rõ tấm lòng em.
Chữ tình đôi ta ba năm trọn vẹn (1790-1793),
Nhưng rồi tình như mộng như bài thơ Ký Mộng chàng đã gửi cho em, tan mộng rồi chẳng còn thấy nhau.
Em trộm mừng cho chàng từ ngày ra làm quan, hãnh tiến, xe ngựa đưa đón, có nhiều thê thiếp, nhiều mối duyên tình.
Riêng phận em là gái, phấn son càng tủi cho mình số kiếp long đong.
Biết chàng có bịn rịn vấn vương đến mối tình em,
Nơi Cổ Nguyệt đường, em vẫn mãi cùng đèn in bóng, bâng khuâng thao thức, suốt năm canh.
Nguồn: TS Phạm Trọng Chánh, Mối tình của Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du.
*
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không, Google
Nhôù Ngöôøi cuõ
Nhớ Người cũ
Viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu Tiên Điền
Nghi Xuân (tức Nguyễn Du)
Hồ Xuân Hương
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mấy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
[*] Đăng lại bổ sung bài nhớ người cũ trang 244]
*
Văn bản chữ Nôm Ngân Triều soạn:
𢘾 𠊚 𡳰
𨤮 揢 閍 𠦳 浽 𢘾 絨
摱 埃 細 蒂 𠳚 㧣 穷
𡨸 情 祝 㐌 𠀧 𢆥 院
𠺵 夢 𠱤 𦋦 姅 克 空
𦀺 馭 濫 𢜠 沿 笠 𨃺
坋 崙 乾 𢣃 分 滝 𢫝
别 群 氽 㤕 霜 超 氽
樓 月 𠄼 更 隻 䏾 炵
*
Đại ý:(1-2) :Nỗi nhớ nhung mênh mông.
(3-4) Tình và mộng.
(5-6): Trộm mừng và tủi phận.
(7-8) Nỗi niềm của tác giả.
Diễn ý:
Người đi sương gió, dặm khách xa xăm; người ở chạnh lòng, nhớ nhung muôn nỗi.
Biết có ai đi đến nơi ấy, để gửi bao thương nhớ cho cùng.
Chuyện tình mình gắn bó đến nay, phút chốc đà ba năm vẫn vẹn.
Thường gặp nhau trong giấc mộng vàng; chợt tỉnh mộng chỉ là hư ảo!
Trộm mừng người công danh hãnh tiến; tơ duyên nay đông đúc vui vầy.
Cảm nỗi phận mình, tủi cho số kiếp long đong.
Vương vấn lòng, biết còn mảy may nào không nữa?
Trên lầu nguyệt, năm canh, chỉ mình ta với chiếc bóng soi.
*
Ảnh minh họa, Google
Thái Hy họa thơ:
Dặm khách người đi, bao nhớ nhung,
Biết ai đem đến gửi cho cùng.
Ba năm chốc đã… tình luôn vẹn,
Chợt tỉnh bàng hoàng, ảo mộng không.
Tấp nập trộm mừng duyên hãnh tiến,
Lẻ loi càng tủi phận long đong.
Có còn mấy chút vương thương nhớ?
Lầu nguyệt năm canh trơ bóng chong.
*
Long đong còn chút vương thương nhớ!
Thương nhớ canh tàn trơ bóng chong.
Tranh minh họa có Gemini hỗ trợ:
*
Ngân Triều họa thơ:
Dặm khách sơn khê, bao nhớ nhung,
Nhớ nhung ai biết gửi cho cùng.
Cho cùng thương nhớ, ba năm vẹn,
Năm vẹn bàng hoàng, giấc mộng không.
Giấc mộng trộm mừng duyên thuận nẻo,
Thuận duyên càng tủi phận long đong.
Long đong còn chút vương thương nhớ!
Thương nhớ canh tàn trơ bóng chong.
***
Long đong còn chút vương thương nhớ!
Thương nhớ canh tàn trơ bóng chong. (NT)

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND; bài 24 Chơi Tây Hồ nhớ bạn, HXH. (tiếp theo)

 Bài số 24:

Chôi Taây Hoà nhôù baïn
Hồ Xuân Hương
Xuân Hương trở lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, Nguyễn Du về quê một tháng, sau đó được lệnh vào Phú Xuân thăng Đông Các học sĩ hàm ngũ phẩm, tước Du Đức Hầu, chức vụ dâng sách cho vua đọc mỗi ngày, và soạn thảo chiếu biểu cho vua Gia Long.
Hồ Xuân Hương viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du. Nguyễn Du viết:
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu. (Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư).
Xuân Hương trả lời:
Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa.
Em đã trở về, em không chết như nàng Tiểu Thanh đâu ?
Vườn cảnh có tay em chăm sóc đã trở lại như xưa.
Người đồng châu, cùng quê Nghệ Tĩnh với em biết bao giờ trở lại.
Nhật Tân đê lở, như duyên em dù lỡ làng cũng còn lối vào.
Chùa Trấn Quốc rêu phong vẫn còn lưu lại bài thơ em viết ngày nào đề thơ cùng chàng.
Nơi vực Trâu vàng trăng lặn bóng.
Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ những kỷ niệm đôi ta;
Hồ kia thăm thẳm sâu bao nhiêu
Cũng không bằng lòng em nhớ chàng.
*
Chôi Taây Hoà nhôù baïn
Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa,
Người đồng châu trước biết bao giờ.
Nhật Tân đê lỡ nhưng còn lối,
Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ,
Nọ vực Trâu vàng trăng lặn bóng,
Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ.
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy,
So dạ hoài nhân dễ chửa vừa. Hồ Xuân Hương
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
𨔈 西 湖 𢖵 伴
風 景 西 湖 拯 恪 𠸗
𠊛 同 州 𠠩 别 包 𣇞
日 新 堤 𨓐 礽 群 𡓃
鎮 國 𧄈 風 吻 泿 詩
奴 淢 𤛠 鐄 綾 𣵰 䏾
箕 𡽫 鳳 地 𤌋 澊 𤎎
湖 箕 探 瀋 溇 羕 閉
摳 腋 懷 人 𥚯 渚 𣃣
*
Thăm thẳm hồ sâu, hồ thẳm thẳm,
Nào bằng nỗi mộng, nhớ người mơ?Ảnh minh họa, Google
*
Ngân Triều cảm đề:
Chơi Tây Hồ nhớ bạn
Còn đây, nào khác, cảnh Tây Hồ,
Người cũ đồng châu, vẫn nhớ chờ.
Đê lở Nhật Tân, chưa hết lối,
Rêu phong Trấn Quốc vẫn còn thơ.
Trâu vàng kìa vực trăng lồng bóng.
Non Phượng nào đâu dải khói mờ?
Thăm thẳm hồ sâu, hồ thẳm thẳm,
Nào bằng nỗi mộng, nhớ người mơ?
Tranh minh họa của Gemini
*



Tượng đài Nguyễn Du, Google.
Tượng đài Cụ Nguyễn Du ở Khu lưu niệm, thuộc làng Tiên Điền, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 50km, cách Tp. Vinh (Nghệ An) khoảng 8km.
Nguồn: TL Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình của HXH và ND/ Ts Phạm Trọng Chánh.
***

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH, ND, (tiếp theo): Bài số 23: Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du

 Thiên tình sử của HXH, ND, (tiếp theo):

Bài số 23:
Ñoäc Tieåu Thanh kyù
Độc Tiểu Thanh ký
Nguyễn Du
Nhờ ba năm lưu lạc (1786-1799) thành nhà sư Chí Hiên đi muôn dặm chu du Trung Quốc, Nguyễn Du nói thạo tiếng Trung Quốc, nên khi ra làm quan được mấy tháng từ Tri huyện Phù Dung, Nguyễn Du được thăng lên Tri phủ Trường Tín đặc trách tiếp sứ Thanh sang phong vương vua Gia Long. (Nguyễn Án được bổ làm tri huyện thay Nguyễn Du ở Phù Dung)… Đường công danh thăng tiến, nhưng người vợ họ Đoàn qua bốn lần sanh, chỉ để lại một con Nguyễn Tứ và qua đời.Mùa thu năm 1804, Nguyễn Du xin nghĩ bệnh một tháng. Từ Thường Tín, Nguyễn Du về thăm lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, đến nơi thì vườn cảnh đã hoang vu thiếu bàn tay chăm sóc của Hồ Phi Mai.
Từ khi lấy anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, chẳng bao lâu anh thầy Lang mất, nàng lại trở về với mẹ, Cổ Nguyệt đường dạy học, rồi yêu Mai Sơn Phủ, mối tình để lại những bài thơ nồng nàn thắm thiết, thề thốt.. trong Lưu Hương ký. Mai Sơn Phủ cũng người ở Vinh (Vịnh Phố) trở về quê để cậy cha mẹ cưới hỏi, chàng về quê thì biệt tăm trong chiến tranh, trong trận đánh cuối cùng vua Gia Long và Tây Sơn. Hồ Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Phú thì gặp một học trò cũ của cha, là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, Xuân Hương nhận làm lẽ, nhưng vợ cả ghen tuông, nàng đang đau ốm, có thai 6 tháng, thân phận như nàng Tiểu Thanh.
Bên song cửa Cổ Nguyệt đường, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh ký gửi Xuân Hương, Hồ Phi Mai:
Vườn cảnh Cổ Nguyệt đường nơi Tây Hồ đã thành gò bãi hoang vu vì thiếu bàn tay chăm sóc của nàng,
Bên song cửa, xao xuyến và chua xót đọc lại một trang sách sót lại của nàng.
Người con gái tài năng xuất chúng, (có thần), cho dẫu sầu đời chết đi, chắc là hồn nàng vẫn còn oán hận.
Văn chương vô mệnh dù đốt cháy vẫn còn tàn dư.
Mối hờn xưa nay chỉ có biết hỏi trời, vì đâu những người phong lưu tài sắc lại có cái án oan nghiệt như thế.
Chẳng biết hơn ba trăm lẻ nữa,
Người đời ai còn khóc tố như ?
Ba trăm năm lẽ nữa, kể từ nàng Tiểu Thanh đến thời điểm sáng tác bài thơ nầy, ba trăm năm lẽ sao ai sẽ khóc nàng Xuân Hương Hồ Phi Mai. (Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết; như là như cũ, như vậy, giống như.
Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.
Ảnh minh họa: Bên bờ Hồ Tây ngày xưa, Google
*
1- Bản dịch của Lê Thước
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:40
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
*
2- Bản dịch của Quách Tấn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Hồ Tây hoa kiểng giải gò hoang,
Cửa hé trang thư chạnh điếu nàng.
Hận luống vương thêm hồn phấn đại,
Tro chưa tàn hết nghiệp văn chương.
Thanh thương khó hỏi oan chồng chất,
Phong nhã đành chung nợ văn chương.
Rồi Tố Như nầy ba k nữa,
Trần gian ai kẻ sụt sùi thương.
*
3- Bản dịch của Thân Bá Trường Sơn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Tây hồ hoa cảnh thảy thành hoang,
Trước cửa tờ thư khóc điếu nàng.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn mang.
Sầu hận xưa nay trời khó hỏi,
Nỗi oan phong nhã khách còn vương.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như ?
*
4- Bản dịch của Nhất Uyên
Đọc Tiểu Thanh ký
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu,
Bên cửa viếng nàng một áng thư.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương vô mệnh cháy còn dư.
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách lụy sầu.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Còn Nàng ai khóc một niềm đau.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.
*
5- Bản dịch của Vũ Tam Thập
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:42
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
*
Chú thích:
Hoa uyển, 花苑có bản chép mai uyển theo thơ Tốn Phong trước nhà Xuân Hương có trồng nhiều mai trắng. Tốn Phong còn gọi nhà nàng là Mai đình. Tại Tây Hồ Hàng Châu trước nhà Tiểu Thanh cũng có rừng mai rộng bát ngát, thi sĩ Lâm Bô đời Tống vào rừng mai thưởng hoa đi lạc không biết đường về.
Tố Như, 素如, tên tự của Nguyễn Du 阮攸; Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766– mất năm 1820, tên tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ 鴻山獵戶, Nam Hải điếu đồ 南海釣屠, là một nhà thơ nổi tiếng, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là " Đại thi hào dân tộc".
***
Tượng đài Hồ Xuân Hương
Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,,
Còn ai thương cảm Tố Như nương?
Ảnh minh họa, Google
*
6- Ngân Triều cảm đề, bài Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du.
.Tây Hồ dâu bể hóa gò hoang,
.Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
.Duyên kiếp phũ phàng, nào oán hận,
.Văn chương lửa hận, vẫn còn oan.
Tranh minh họa, Gemini hỗ trợ
.Xưa nay uẩn khúc , trời khôn hỏi,
.Cái nghiệp oan gia , khách tự mang.
.Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,
.Còn ai thương cảm Tố Như nương? (NT)
*
Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận vì phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Không thể kéo dài cuộc sống:
Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Vì Tổng Cóc yêu thương như chuột vọc:
Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
…Một tháng đôi lần có cũng không.
…Chàng Cóc ơi, Chàng Cóc ơi, thiếp bén duyên với chàng thế là đủ rồi. Thiếp xin dứt tình với chàng từ đây như nòng nọc đứt đuôi. Dù chàng có cho thiếp nghìn vàng, thiếp cũng như con cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại với chàng. Cóc hay vào nhà trốn vào xó bếp hay gầm giường, đuổi đi, hay bắt bỏ ra xa cũng quay đầu trở lại, chỉ có bôi vôi vào đầu là đi biệt luôn không dám trở lại nữa.
*
KHÓC TỔNG CÓC
Hồ Xuân Hương
Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi! (1)
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi. (2)
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, (3)
Nghìn vàng không chuộc dấu bôi vôi. (4)
*
Chú giải:
Tổng Cóc tên thật là Nguyễn Bình Kình, ở làng Gáp nay là Tứ Xã, Lâm Thao-Phú Thọ. “Bài thơ tài tình lắm trong câu chữ (cóc, bén (nhái), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), bôi vôi…) nhưng để lại biết bao điều võ đoán. Cả trăm năm trước, bài thơ đã bị nhiều người hiểu lệch. Trước hết bài thơ gợi cho người đọc, nghĩ đến vợ khóc chồng vừa quá cố. Sự thực đâu phải vậy! GS Lê Trí Viễn có phân tích và cho rằng bài thơ vừa bộc lộ nỗi đau xót vừa thể hiện sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không nói là hờn oán. Có vẻ như bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Bài thơ không ra lời tang mà như lời tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình”. (Nguyễn Cẩm Xuyên-Hồ Xuân Hương, huyền thoại và sự thật-Tạp chí KTNN số 663 ngày 10/01/2009).
Ảnh chụp Bản chữ Nôm:
Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi
(Bản khắc 1921)
Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đình Hổ và bè bạn, Xuân Hương đã mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đã sinh con:
Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ,
Chốn dời Mai mới nở thêm cành.
(bài 15)
Tiếc thay đứa con gái sinh ra là mất, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm Tốn Phong ca tụng tít trời xanh.
Quán sách nàng là nơi các học trò ông nghè Phạm Quý Thích lui tới, để ngắm bà chị.Trong đám học trò thường đến hiệu sách của nàng có cậu bé lên tám bị mắng là:
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa,
Có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu về sau sẽ cùng Cao Bá Quát nổi tiếng qua lời khen của Vua Tự Đức:
Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,
Thi đáo Tùng Tuy nhất thịnh Đường
文 如 超 适 無 前 漢
詩 到 從 綏 一 盛 唐
Tạm dịch:
Văn như Siêu và Quát, mà so với văn đời Tiền Hán thì văn thời Tiền Hán cũng không có giá trị gì;
Đến thơ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thì là số một so với thơ của thời Thịnh Đường”.
Sở dĩ, cho là của Tự Đức là hai câu trên nói theo khẩu khí đế Vương, gọi xách mé tên tục Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, 阮文 超. (1799-1872) là “Siêu”; cử nhân Cao Bá Quát, 高 伯 适 ,(?-1854) là “Quát” thì chỉ có Đức Kim Thượng (Vua đương thời) mới dám gọi “thần Siêu, thánh Quát” như thế; còn bình thường tôn trọng đều gọi “Nguyễn Phương Đình” và “Cao Chu Thần”.
Tùng ở đây là Tùng Thiện công, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, 阮 福 綿 審,(1819-1870) và Tuy là Tuy Lý công, Nguyễn Phúc Miên Trinh, 阮 福 綿 寊,(1820-1897). Sau hai vị này được truy tặng là Tùng Thiện Vương, 從 善 王 và Tuy Lý Vương, 綏 理 王, (1936) đều là con Vua Minh Mạng, và vai vế vào hàng chú của Vua Tự Đức.
***
Tranh minh họa có Gemini hỗ trợ:
Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,
Còn ai thương cảm Tố Như nương? (NT)

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

Bài số 22, Chí Hiên tặng (2), Nguyễn Du, Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo.

 Bài số 22:

Chí Hieân taëng (2)
Chí Hiên tặng (2)
Nguyễn Du
Bài Chí Hiên tặng II. Nguyễn Du không trách móc nữa mà bày tỏ lòng mình:
Rủi may nào sá gì, nghĩ rằng cùng tắc thông, thông tắc biến, biến tắc hóa theo Kinh Dịch…
Ra Bắc phen này (1796) mong làm nổi việc,
Nghĩ lại việc vào Nam (1794) cũng hoài công, Hà Tỉnh chẳng ai theo, chẳng thể lập cứ địa chống Tây Sơn, cũng chẳng thể vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh…
Bạn thơ cũ nay đâu, ngồi uống trà một mình, uống bao nhiêu bình nước rồi ấm trà đã nhạt.
Quán trọ đêm qua năm canh không ngủ được vì manh áo quá mong manh, trời đã vào lập đông…
Trông ra sông hồ mù mịt sương khói từ biển thổi vào.
Người xưa Cổ Nguyệt đường lòng như tấm gương trong nào thấy đâu?
*
Chí Hiên tặng II, Nguyễn Du:
Rủi may nào sá nghĩ cùng thông,
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng.
Ra Bắc phen này mong nổi việc,
Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công.
Bạn thơ năm hết mâm trà lạt,
Quán khách canh chầy mảnh áo mong.
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể,
Nguyệt đường bao nã thấy gương trong
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
㩡𢆧芾咤𢣂窮通
諸𠴭知音祖𢚶𢙱
𦋦北畨尼懞挼役
𠓨南𡄎𠓀共壞工
伴詩𢆥盡𣙺茶𤁕
舘客更迡𤗖𥜌𤘁
憾洱矓𦋦模𤌋𣷭
月堂包那𧡊𨩍𤄯
*
Ngân Triều cảm đề Bài Chí Hiên tặng (2), 
                                               Nguyễn Du.
Rủi may nào sá tắc cùng thông,
Chưa phải tri âm để tỏ lòng.
Ra Bắc phen này lòng đã quyết,
Vào Nam, giúp Chúa, sự hư không.
Nhạt trà bằng hữu còn đâu nữa,
Đêm rét đơn y, ngủ chẳng xong.
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong?
*
Nguyễn Du tìm đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan cho Tây Sơn, nhà cao cửa rộng, chẳng kém gì các biệt thự các vị quan to thời trước:
Trên bờ sông Nhị nhà chen gần,
Đã chiếm cả thành hết cảnh Xuân,
Cầu gác Đông Tây cao ngất dựng.
Ở Quỳnh Hải, Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út cho Nguyễn Du và giao gia trang, năm 1797. Từ đây Mùa Xuân Quỳnh Hải, Quỳnh Hải nguyên tiêu, sau khi nếm trải phong trần, góc biển chân trời ba mươi tuổi, con thuyền lênh đênh của Nguyễn Du mới an phận cập bến hạnh phúc:
*
Quỳnh Hải Nguyên Tiêu
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên Xuân hứng, thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên?
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.
*
瓊海元宵
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年
*
Rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải
Nguyên tiêu lồng lộng khắp trời,
Trăng như người cũ, tuyệt vời không phai!
Trời Xuân ập xuống nhà ai?
Mấy ai tận hưởng trăng này xa xôi?
Tan nhà, huynh đệ chia phôi,
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Tấm thân tam thập lao đao cuối trời.
Ngân Triều dịch thơ. Tranh của Gemini.
Bạc đầu căm giận tuổi đời ruỗi mau.
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Tấm thân tam thập lao đao cuối trời.
Ngân Triều dịch thơ.
Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời Mười năm gió bụi có vợ con, dạy học, dạy văn và võ, hoàn tất Truyện Kiều.
Năm năm Quỳnh Hải (1797- 1802) Nguyễn Du đã giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn, Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ, học trò và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa ,bò, heo dâng sớ đón rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam thì gặp Vua Gia Long, vua phong ngay cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc, người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phù Dung nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.
***
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong? (NT)

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo, bài số 21, Chí Hiên tặng (1), Nguyễn Du.

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo,
Bài số 21:
Chí Hieân taëng (1)
Chí Hiên tặng (1)
Nguyễn Du
Sau khi gửi bài thơ này cho Hồ Xuân Hương năm 1795. Hồ Xuân Hương hiểu mối tình mình chỉ là giấc mộng. Nguyễn Du thôi làm Hồng Sơn Liệp Hộ mà làm Nam Hải Điếu Đồ, đi câu cá biển Nam Hải. Tâm sự Nguyễn Du lúc này trong bài Tạp thi I viết:
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử Đông hàn đoạt thiếu niên.
Tạp thi kỳ nhất, Nguyễn Du
*
Bạc đầu tráng sĩ ngửng trời than,
Dựng nghiệp mưu sinh thảy lỡ làng,
Thu Cúc, Xuân Lan thành mộng ảo.
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh…
Nhất Uyên dịch thơ
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
壯 士 白 頭 悲 向 天
雄 心 生 計 兩 茫 然
春 蘭 秋 菊 成 虛 事
夏 暑 東 寒 奪 少 年
雜 詩 其一 , 阮 攸
*
Nguyễn Du cho rằng chuyện tình của mình với cô Cúc làng Trường Lưu hay với Xuân Hương làng Nghi Tàm đều đã thành mộng ảo.Về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du tâm sự với người bạn cũ Thực Đình (bút hiệu có nghĩa là người ăn ở đình làng) Họp bạn khó tìm người mắt biếc.
Sau vụ khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, người sống sót chẳng ai dám tỏ một thái độ gì. Do đó Nguyễn Du không thể ở lại, dạy học, cũng không thể tìm ra thủ hạ, do đó, tôi bác bỏ đoạn gia phả Nguyễn Tiên Điền chép:
Nguyễn Du từ Hà Tỉnh dẫn thủ hạ mang quân lương ra tiếp rước Vua Gia Long. Và được đưa ra Bắc phong tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.
Bước đường tìm cách vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, có lẽ Nguyễn Du đã rơi vào bẫy của quan biên phòng của Hiệp Trấn Hà Tĩnh Nguyễn Văn Thận, nên thay vì vào Khánh Hoà, Nguyễn Du bị chở thẳng vào tù. Nguyễn Văn Thận nể tình bạn thân với Nguyễn Nể, và tài thơ văn Nguyễn Du nên chỉ cho ở tù sơ sơ mười tuần (ba tháng).
Trong Bài Cảm Hứng trong tù Nguyễn Du cho rằng nỗi lòng mình không ai biết:
Tâm sự chút lòng, ai biết tỏ,
Như sông Quế sâu dưới non Hồng.
Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, vua Gia Long tiến đánh, Thận thua trận chạy ra Thanh Hóa và bị giết ở đó.
Tin tức Nguyễn Du bị tù đã ra tới Thăng Long. Hồ Phi Mai lên đường về nhà chồng anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.
Nguyễn Du sau khi ra tù , ban đêm Nguyễn Du đã đi bộ trốn ra Thăng Long bài Dạ hành:
…
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu
Bạch đầu vô lại chuyết tang than
Dạ hành, Nguyễn Du
*…
Trăng xế biển Nam ngàn dặm chiếu,
Đường xa gió lộng một người trông.
Đêm đen mờ mịt bao giờ sáng
Đầu bạc mà còn vụng dấu thân.
Nhất Uyên dịch
*
Chữ Hán, Ngân Triều soạn
…
南溟殘月浮千 里
古陌寒風共一 人
黒夜何其迷失暁
白頭無賴拙藏 身
夜行, 阮 攸
*
Trên đường đi Nguyễn Du phải đi ăn xin: Bài Khất Thực, Nguyễn Du viết:
Khất thực
Tầng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên,
Triển chuyển nê đồ tam thập niên.
Văn tự hà tằng vi ngã dụng,
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên (lân)
*
Chống gươm ngạo nghễ thét trời xanh,
Ba chục năm trong bùn hôi tanh,
Chữ nghĩa ích gì cho cuộc sống,
Nào ngờ đói rách người thương tâm.
Nhất Uyên dịch thơ
*
Chữ Hán Ngân Triều soạn
乞 食
嶒 崚 長 劍 倚 青 天
輾 轉 泥 塗 三 十 年
文 字 何 曾 為 我 用
饑 寒 不 覺 受 人 憐
*
Đến Thăng Long Nguyễn Du đến một quán khách quen biết bên bờ Hồ Tây, chủ quán cho hay Xuân Hương Hồ Phi Mai đã đi lấy chồng, anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Chủ quán mời một bình trà, Nguyễn Du uống bao nhiêu lần, không tiền nên chỉ xin nước sôi uống trà lạt, ngồi viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên. Bài thơ oán trách Hồ Xuân Hương thậm tệ. Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn nhưng nàng vẫn trân trọng lưu trong tập thơ Lưu Hương ký.
*
Chí Hiên tặng I, Nguyễn Du.
Chữ giao nguyền với mấy năm tròn,
Xe nón tình kia mãi mãi còn.
Chẳng biết dạ người đen tựa mực,
Sao hay lòng khách thắm như son.
Còn tai chửa lãng lời vàng ngọc,
Có mắt mà xem mặt nước non.
Chớ trách chúa Xuân lòng mỏi mệt;
Mận đào được thế tiếng công môn.
Thơ chữ Nôm Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đã ghi trong Lưu Hương ký.
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
𡨸交𡅪唄買𢆥𧷺
車𥶄情箕買買群
拯别胣𠊚顛似墨
𫳵咍𢚸客𧺀如崙
群𦖻𣗓𢠯𠳒鐄玉
𣎏眜麻䀡𩈘渃𡽫
詛責主春𢙱痗瘼
槾桃得屉㗂公門
*
Nhất Uyên diễn ý
Đã giao du với nhau mấy năm tròn,
Thề thốt tình thâm giao xe, nón mãi mãi còn…
(Xe nón車𥶄 do chữ Xa lạp車 笠, theo sách Phong thổ ký, phong tục nước Việt thuần phác. Trong buổi sơ giao, hai bên làm lễ kết nghĩa thường có lời thề: Anh cỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau sẽ xuống xe vái chào tôi, anh cầm ô tôi cỡi ngựa, khi gặp nhau tôi sẽ xuống ngựa chào anh... Thơ Khổng Bình Trọng: Việc đời biến đổi khôn lường, chớ vì cởi xe mà khinh kẻ đội nón. Vì thế tình thân là xạ lạp chi giao, mối giao tình xe nón...)
Không biết tại lòng nàng tham giàu sang mà thay dạ đổi lòng, lòng đen tựa mực đi lấy chồng thầy thuốc,
Còn tôi mới ra tù, tình tôi vẫn thắm như son, một lòng yêu nàng.
Tai tôi chưa quên lời vàng ngọc của nàng,
Nàng có mắt hãy xem tôi làm nên sự nghiệp với nước non.
Chớ trách chúa Xuân, vì sợ chờ đợi tôi mà mỏi mệt, sợ lỡ thì.
Tình nàng sớm mận tối đào như thế có xứng đáng dòng dõi con nhà quyền quí chăng?
[Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn?]
*
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Ngân Triều cảm đề, bài Chí Hiên tặng (1):
Giao tình ròng rã mấy năm tròn,
Xe nón lòng đây vẫn mãi còn.
Sớm tối lòng ai đen tựa mực,
Bể dâu tình khách đỏ như son.
Đá vàng sao vội quên lời hẹn,
Chống mắt mà xem rỡ nước non.
Chớ trách chúa Xuân, chờ đợi lỡ,
Lẳng lơ ai dám rước, lầu son?
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình HXH và ND của TS Phạm Trọng Chánh.
***
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Đá vàng sao vội quên lời hẹn,
Chống mắt mà xem rỡ nước non.
Chớ trách chúa Xuân, chờ đợi lỡ,
Lẳng lơ ai dám rước, lầu son? (NT).