Ảnh Chiều Hồ Tây, ảnh tư liệu, Google.
*******
Chiến tụng
Tây Hồ phú
------------------------------
Phạm
Thái (1777-1813)
范彩 [1777 – 1813]
Bản Hán Nôm: Ngân Triều phiên âm &
chú giải.
Bản Tiếng Việt, Phạm Thái và
SKTT, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon 1973 trang 194-217.
Tiểu dẫn của tác giả:
Năm Canh Thân (1800) mùa hạ, ta đến chơi với bạn ở Tràng An, nghe bạn ngâm bài Tụng Tây Hồ phú. Hỏi ai làm bài ấy mà hay thế? Bạn rằng: Chương Lĩnh hầu Hữu hộ Lượng làm ra. Ta rằng: Chao ôi! Hữu hộ Lượng à! Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm ngụy, lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt! Ghét đứa nịnh làm sao! Nhớ xưa có bài thơ "Chiến cổ", nay nhân bỉ kẻ làm Tụng, ta cũng làm bài "Chiến tụng" để góp một chút trò cười với đời.
戰誦西湖賦
(l.1)-Ngán nhẽ tụng Tây Hồ;
Ngán nhẽ tụng Tây Hồ!
L1-𢞆理頌西湖;
-𢞆理頌西湖!
(l.2)-Vốn
trước đã lở hầm toang hoác [1]vũng;
-Có lẽ đâu mọc đá nhấp nhô gò?
L2-本𠓀㐌𡋿𡌢徇壑淎;
-𣎏理兠𠚐𥒥𣱿濡塸?
(l.3)-Người rằng nơi Long tử khoét làm vũng, bởi được bùa quái
chú Huyền trao, vậy cáo trắng hách hơi vào đại trạch,
-Kẻ bảo ấy Cao vương đào chặn mạch,
vì mảng [2]tiếng
chuông thầy Khổng nện, nên trâu vàng theo dấu đến trung đô.
L3-𠊚㖫坭龍子抉爫淎,
𤳄得符怪詋伭𢭂, 丕𤞺𤽸哧𣱬𠓨大宅,
-仉保意高王掏陣陌, 爲𢟨㗂鍾偨孔𢬧, 𤛠鐄蹺𨁪𦤾中都.
(l.4)
Bốn mặt chứa châu cung,
kim điện;
-Một doành thâu băng
chử, ngọc hồ.
L4-𦊚𩈘𧸓珠宮, 金殿;
-沒溋收冰渚, 玉湖.
(l.5)-Bãi Dâm Đàm gió thét trận Trưng Vương, khi chướng vụ khua
ran đầu lính ngất;
-Gò Lãng Bạc tuyết tan đồn Bắc
tướng, đàn lộ âu tắm lẩn bóng trăng nhò [3].
L5-𤁣淫潭𩙍𠯦陣徴王, 欺瘴霧 摳㘓頭𠔦屹
[4];
-𡍢浪泊雪散坉北將, 鷤鷺鷗沁𣵰奉𣎞𤍶. (l.6)-Có thu nguyệt mới nước trời in
sắc;
-Chửa xuân thiên sao hoa cỏ theo
mùa?
L6-固秋月買渃𡗶印色;
-渚春天牢花𦹯遶務?
(l.7)-Cát xô lên Mỏ Phượng[5]
lù sù, hình thu nữ thẹn lên lầu nguyệt kính;
-Nước chảy xuống hàm rồng róc rách,[6]
dáng xâu lang rót lại chén đồ tô.
L7-𡋥摳𨑗㖼鳳瀘樞,
形秋女𢢆𨑗樓月敬;
(l.8)-Toà Thạch Tháp đã tan bình xá lị;
-Đống thổ đôi đà nát dấu linh phù.
L8-座石塔㐌散𤭸舍利[9]
-埬土堆㐌𡐘𨁪靈符.
(l.9)-Lưới Mục lang âu nát mất cả giềng, gian chẳng bắt, nữa hoài
công bắt hổ;
-Gươm Trấn Võ chỉ còn trơ những
sống, giặc không giam mà cố sức giam rùa.
L9-䋥穆郞𤮥𡐘𡘮奇𦀚[10], 姦拯扒,
姅懷工扒虎;
-劍鎮武只群諸仍𩩇, 賊空㩜麻故餙㩜𪛇.
(l.10)-Thiên niên nếu được lâu, sao quán nát;
-Vạn bảo nào có báu, để ghềnh nhô.
L10-千年𡀮得𥹰, 牢舘
𡐘;
-萬保芾固宝, 氐埂濡.
(l.11)-Ngắm tăng ni thơ thẩn khổ tu hành, anh xe vóc, chị mũ vàng,
đảnh đảnh thế, ở làm trò Phạm Vũ;
-Xem đồng quan dở dang chiều lý thú,
đứa dải đào, thằng khăn thắm, láo lức thay, chạy đến quấy Nghi Vu.
L11-𥌹僧伲他吲苦修行, 英𦀺纀,
姉𢃱黄, 鼎鼎
世, 𣄒爫𡀔范武;
-䀡東關唋延朝悝趣, 仃𢄩桃, 𠊟䘜𧺀, 閙慝[11] 咍,
掛沂圩.
(l.12)-Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu;
Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa.
L12-翁𥒥𤉒油形象廟;
妑釘咏𡴯㗂鍾㕑.
(l.13)-Nhà tranh đua đều khấn bụt cầu ma, đường Quan thánh khéo
lăng nhăng lít nhít;
-Chợ xao xác những buôn hùm bán quỷ,
mái Trương Lương nghe lếu láo y o.
L13-家爭𨅮調𡄩侼求魔, 塘官聖窖夌仍[12]列折,
-𢄂𡁞𠳗忍𧶭𤞻𧸝鬼, 張良 𦖑𠮩咾衣嗚.
(l.14)-Khói lò gạch thổi lưng trời ngùn ngụt;
-Sóng cánh hàn[13]
xô sườn đá ồ ồ.
L14-𤌋爐坧𠺙𠦻𡗶𤍉𤈡,
-㳥𦑃寒摳𦘹𥒥𤀙𤀙.
(l.15)-Bãi Đuôi nheo tanh ngắt giống tinh chiên,[14]
nước trong
hồn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái
chạy ra cho chóng;
-Hồ cổ ngựa thối hoăng mùi đại tiểu,
hoa thơm giận chiều xuân sao nỡ phụ, lều cư nhân tranh nát đã như vò.
L15-𤁣𡓋饒𦎬𡴯種腥膻, 渃𡧲魂𡲈月拯群𢛨, 船游子梩𧼋[15]𦋦㧣𨄞[16];
-湖𦙶馭𠺙荒味大小, 花𩡋恨𣊿春牢𡝖媍, 𦫼居人𦱊𡐘㐌如扜.
(l.16)-Yên công tử[17]
ắt đà long
cổ nối;
-Mộc vũ thần[18]
âu hẳn gẫy ta co.
L16-㯊公子乙㐌龍故𦀼; -木武神𤮥𠳾𢭮些𢯐.
(l.17)-Thoi oanh dầu dệt liễu nên tơ, cửa nam khó xỏ kim thêu túi;
-Đèn đóm dẫu soi sen thấy lửa, quân
Tây[19]
khôn hút điếu hun lò.
L17-槯轟怞𥿹柳𢧚絲, 𨷯南苦𢯧針繞繓;
-畑𧍈𠶢𤐝蓮𧡊焒, 軍西空唿弔,
焝爐.
(l.18)-Quyên oán hạ thiên đà khắc
khoải;
-Ve hờn nam địa mới rì rù.
L18-鵑怨复天㐌尅 快;
-蟡恨南地貝洟㾄.
(l.19)-Chùa Châu long hương cúng
khét mù, nghe mõ cá đã rúc vang cầu Trúc;
-Hồ Bạch mã sen bay mất cả, làm giấy
hoa đem bán dải sông Tô.
L19-㕑珠龍香𫚱𤋸眓, 楳 𩵜㐌哫㘇橋竹;
-湖白馬蓮𩙻𠅐奇, 爫𥿄花躭𧸝𣄒滝蘇.
(l.20)-Ngắm cảnh trí cũng mảng vui mấy thú;
-Xem phong quang nào có vẻ một khu.
L20-𥋴景致共𠻵𢝙貝趣;
-䀡風光芾固𡲈沒區.
(l.21)-Cái cô đình cho gió lọt hoa
kề, lơ thơ cảnh đượm màu sương, đường tạo hoá đã in chân thuý bích;
-Con tiểu đĩnh đã mây che nước chở, lóng lánh sóng in sắc nguyệt, ngỡ khuôn
trời còn đúc bạc đào châu.
L21-丐孤亭渚𩙍律花𠀫, 盧疎景㷋牟霜, 塘造化㐌印蹎 翠碧;
-𡥵小鼎㐌𨗠𨑤渃䢐, 弄伶㳥印色月, 囷𡗶群 𩟵鉑掏珠.
(l.22)-Góp cảnh vật đủ tháng ngày
cũng hó[20];
-Lấy cỏ hoa làm bầu bạn mà no.
L22- 𢵰景物睹𣎃𣈜共𧁷,
-𥙩苦花爫泡伴麻𩛂.
(l.23)-Cành dưới trên sương hãy
nhuộm màu xanh, ca ngư tử đã xua tan vầng ngọc thỏ;
-Cây ngang dọc tuyết vừa đông bãi
bạc, địch mục nhi đã thổi sáng bóng kim ô.
L23-梗𨑜𨑗霜唉染牟𩇛, 歌漁子㐌摳散彚玉𤟛;
-核卭槈雪𠱀凍泊,
笛牧兒㐌𠺙𠓇䏾金鎢.
(l.24)-Truyện Tần Hán kẻ kia cười lả
lướt;
-Giấc Hy Hoàng[21]
người nọ gáy phi pho.
L24-傳𥘿漢仉箕唭扡洌;
-聀羲皇𠊚奴𠵨啡捊.
(l.25)-Cuộc doanh thâu bàn bạc Bắc Nam
chơi, khúc lưu thuỷ
gảy vài cung réo rắt;
-Thơ thanh nhã đề ngâm phong nguyệt
mới, rượu càn khôn rót mấy chén thơm tho.
L25-局嬴輸𡂑嚗北南, 曲流水𢭮𠄧弓嘹𡂒;
-詩清雅啼吟風月𡤔, 溜乾坤捽買𡓥𩡋萩.
(l.26)-Vuông đất tròn trời, thu về
chặt túi;
-Ngang sông dọc núi, chở lại đầy kho.
L26-𣃱坦𧷺𡗶,
揪衛㩫繓;
-卭滝槈𡶀, 渚吏𣹓庫.
(l.27)-Hóng thanh phong nằm khểnh
tót Tam sơn,[22]
phơi bụng trí để đãi đàn ong kiến;
-Chở minh nguyệt tếch về ngay Nhị
thuỷ,[23]
giương mắt thần mà ngắm thế trai cò.
L27-哄清風𦣰警卒三山,
㫵䏾致底待壇蜂蜆;
-渚明月踖衛𣦍洱水,
𢬥眜神麻𥋴世𧕚𪂮.
(l.28)-Bấy nhiêu đã lấy chi làm
thắng khải;
-Còn những đâu mà dám nói nhàn ngu?[24]
L28-悲蕘㐌𥙩之爫勝愷;
-群仍兠麻㦑訥閑娱?
(l.29)-Cao minh chi mà biết phép quan ngư, nào có phải Ba La
cổ sắt[25];
-Tài cán ấy khó làm mưu dụ tượng, dễ
mà như Hư Tĩnh thư[26] phù;
L29-高明之麻 别法𩹌魚, 芾固沛𠀧椤鼓瑟;
-才幹意𧁷爫謀誘象,
易麻如虚靜詛符;
(l.30)-Đường ngoạn thưởng lờ
mờ móng ngựa;
-Cung du quan mù mịt bóng dù.
l 30-塘玩賞矑𥊚𤔽馭;
-宮遊觀眓𩆪𣈖𢂎.
(l.31)-Đồ ăn thức mặc, ngán nỗi phố
phường, xem phong vị khó như đời đại hữu;
-Kẻ ám người gian, gớm thay quân
tướng, ngẫm minh lương[27]
nào phải đạo trung phu.[28]
L 31-途咹𠲧袜,
舖坊, 䀡風味𧁷如𠁀代右;
-仉暗𠊚姦,
憾咍軍將, 吟明良沛道忠夫.
(l.32)-Chữ lối cua bò, lằng nhằng
thư thảo;
-Thơ ròng chó chạy, láo nháo xướng thù.
L32-𡦂𨇒蠏𨁏, 䗀讓書草;
-詩𡭸㹥𧼋, 咾嚛唱讐.
(l.33)-Nhạc tiêu thiều[29] còn
lõm bõm khúc xưa, tiếng thanh điểu gọi người đi kẻ lại;
Sắc chương phủ[30]
hãy lờ mờ dấu cũ, ngọn kim phong lay lá rụng chồi khô.
L33-樂簫韶群𤃢渀曲𠸗, 㗂青鳥噲𠊚迻仉倈;
-色章甫唉矑拕𨁪𡳰,
𦰟金風𢯦𦲿拥𣑳枯.
(l.34)-Con túc vũ[31]
mờ mờ về đỉnh quạnh[32];
-Cái cô hồng thăm thẳm tếch sương mù.
L34-𡥵鷫羽𥊚𥊚𧗱嵿郡,
-丏孤鴻𠽉瀋踖霜瞙.
(l.35)-Chốn thi đình ve giục mới hè
sang, bốn vách in sầu thơ bạch nhạn;
-Mái cầm viện dế kêu liền thu đến, vài gian kết thảm lưới thanh thù.[33]
L 35-坉詩庭蟡𠽖唄夏𨖅, 𦊚壁印愁詩白雁;
-𠃅琴院𧍝嘺連秋𦤾, 𠄧間結憯䋥青蚨.
(l.36)-Đàn dế rúc sương, cung ánh
ỏi,
-Lửa huỳnh đưa gió, bóng tù mù.
L36-彈𧍝哫霜, 宮映喂,
-焒螢拸𩙍, 泅瞙.
(l.37)-Cát xô lên mặt nước trắng
phau phau, nghĩ ấy thầy Tân[34]
đem hạc múa;
-Trăng lặn xuống đáy hồ trong
vằng vặc, tưởng rằng ông Lý[35]
cưỡi kình mò.
L 37-𡋥摳𨑗𩈘渃𤽸𤽵𤽵,
意偨新抌鶴𢱖;
-𣎞𠓬𨑜渧湖𤄯𠓅淢, 想𠺘翁李騎鯨摸.
(l.38)-Khóc khí vận tối căm con đỗ
vũ;
-Kêu cơ hoang sớm tủi cái hà mô[36].
L38-哭氣運最惍𡥵杜宇;
-嘺基荒𣌋𢢇丏蝦蟆.
(l.39)-Quyên thét lâu thì luống để
hờn lâu, bên cầu vồng nghe nhịp trống khua trăng, vì Nam tướng phải căm lòng
Bắc sĩ;
-Ếch kêu mãi lại càng thêm oán mãi,
trên thành trì lắng ngọn còi huýt gió,
bởi Tây triều[37]
mà ghét chí Đông phu.[38]
L39-鵑𠯦𥹰時𡏡底恨𥹰, 边橋
釯𦖑擛喋𠸙摳𣎞, 爲南將沛㤌𢙱北仕;
-螠嘺買吏乾潘怨買, 城池𠻴𦰟𧥇鬩𩙍, 罷西朝麻𢢂志東伕.
(l.40)-Than với đất cả đàn ong lũ
kiến;
-Thở cùng trời từ cái cốc đàn cò.
L40- 嘆買坦𪥘殫蜂僂蜆;
-呲共𡗶自丐𪁴弹𪂮.
(l.41)-Thưởng nghiên trà cho cá lội
hạc bay, khi hứng vịnh nguyệt dòm quanh bóng quế;
-Nhớ thuần lư sẵn ngòi sâu nước
rộng, buổi quy lai gió thổi rụng cành ngô.
L41-賞硯茶朱𩵜洡寉飛, 欺興咏月𥆡洸𣈖桂;
-𢘾蒓廬産𣳢漊渃𢌌, 歸來𩙍璀梇梗梧.
(l.42)-Kẻ cao sĩ ắt nhiều nơi trực
bút;
-Đứa tiểu nhân âu lắm lúc hàm hồ[39].
L42-仉髙士乙𡗉坭直筆,
-仃小人慪夦𣅶唅糊.
(l.43)-Phường[40]
Khán sơn[41] hoa
kết võng vừa rồi, đoàn kỹ nữ bẻ bai[42] hình đến
phố;
-Chợ Võng thị rượu nồng hương mới
chín, lý tuý ông tất tưởi dáng sang đò.
L43-坊看山花結網皮𠱤, 團妓女把𠾦形𦤾埔;
-𢄂惘市𨢇香𡤔𤇪, 俚醉翁蹕載樣𨖅艔.
(l.44)-Khói viễn thôn khi ngọn gió
ra vào, trông thấp thoáng ngỡ nhà ma cửa lấp;
-Trông cổ quán lúc tấm mây cuốn mở,
thấy xa xa dường núi ngất cây rù.
L44-𤌋遠村欺𦰟𩙍𦋦𠓨, 曠語茄魔𨷯拉;
-𥉫古舘𣅶𡌽𩅹捲𨷑, 柁柁𠍵𡶀𡴭核㾄.
(l.45)-Chim bay nhảy đầu non vì vụt;
-Cá xuống lên mặt nước thập thò.
L 45-𪀄飛𧿆頭嫩爲
𨅗;
-𩵜𨑜𨑗𩈘渃辻措.
(l.46)-Cảnh vừa khi quân tướng những
ta xưa, thú cỏ hoa thì ai cũng chiều chơi, nào ngờ tuyết lạnh sương tan, lòng
dạ ấy phải biết cho người với;
-Người đến buổi quan hà về kẻ khác, thù
non sông nghĩ mình chưa trả được, dẫu có trăng trong gió mát, mặt mũi nào mà
vui với cảnh ru!
L46-景𣃣欺軍將仍𢧲𠸗,
趣𦹵花時俟共𢢅𨔈,
芾疑雪冷霜㪚,
𢙱腋意沛别㧣𠊚買,
-𠊚𦤾𣇜關河𧗱仉恪, 讎𡽫滝𢣂𨉟諸啫得, 唒固𣎞𤄯𩙍𩗂, 𩈘𪖫芾麻𢝙買景𠱋!
(l.47)-Quải cả văn chương hòn đất
lấp;
-Chảy băng danh vọng khúc sông nhô.
L47-掛𪥘文章𡉕𡐙拉;
-沚掤名望曲滝濡.
(l.48)-Quỷ dạ xoa quấy bụt xuống chi
đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não;
-Thần hạn bạt[43]
nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông[44]
mong chẳng được tô nhu[45].
L48-傀夜釵撌侼𨑜之底,
𠊚百芸𦤾兠調苦惱;
-神旱魃𡐘埃𦋦帝些,
仉三農懞丞得甦濡.
(l.49)-Cơn binh lửa trải mấy tao[46]
dời đổi;
-Buổi phong trần thêm mấy dịp tranh đua.
L49-𩂀兵焒𣦰買騷移對;
-𣇜風塵 沾買𣋑爭𢵋.
(l.50)-Lớp tang thương rơi rụng tựa
hoa tàn, ngẫm thiên đạo cũng vui thay cảnh thú;
-Cuộc[47]
Nam Bắc được chăng dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuôn phù[48]!
L50-垃桑蒼𣑎拥似花殘, 吟天道共𢝙咍景趣;
-局南北得庄羕𩅀迭,
時機添𢞆𢚶匡扶.
(l.51)-Đường vinh nhục nọ dòng nước
chảy;
-Áng lợi danh kìa đá lửa khua[49].
L51-塘榮辱奴𣳔渃沚;
-盎利名箕𥒥焒摳.
(l.52)-Gánh quân thân[50]
ai đã mỏi vai rồi, kẻ tráng sĩ làm thinh đi chẳng dứt;
-Vạc quốc bảo khách còn dang cánh
kéo, đứa nhâm nhân[51]
gắng sức lại mà hò.
L52-梗君親俟㐌𢵹𦠽𠱤,
仉壯士爫請迻丞𠞹;
-鑊國寶客群𢬥𦑃抖, 仃壬人𠡚飾吏麻㗅.
(l.53)-Du hồ dễ mấy ai Phạm Lãi;[52]
-Phù hải âu chẳng một Tử Do.[53]
L53-遊湖𠴭買俟范蠡;
-浮海謳丞沒子由.
(l.54)-Cửa âm dương khép mở sớm
khuya liền, cơ huyền diệu khó lường sinh với tử;
-Xe nhật nguyệt dẩy dun xuôi ngược
mãi, kiếp phù hư[54]
khôn tính hữu hay vô.
L54-𨷯陰陽抾𨷑𣋽𣅙連, 機玄妙𠸋量生買死;
-車日月搎𢩽𣵶逆買, 劫浮虛坤并有咍無.
(l.55)-Vầng trăng nọ tròn rồi lại
khuyết
-Bình nước kia đầy lắm có khi rò.
L55-暈綾奴𧷺𠱤吏决;
-坪渃箕𣹓夦固欺𢲛.
(l.56)-Nhớ khi thanh dạ tần[55]
trăng, sen thoang thoảng đưa phong trà ướp mộc;
-Tưởng buổi đoan dương [56]quạt
gió, lửa bừng bừng đun ấm rượu ngâm bồ.
L56-𢖵欺青夜頻綾, 蓮倘倘拸楓茶押木;
-想𣇜端陽抉𩙍, 焒𤇊𤇊燉堷𨢇
吟酺.
(l.57)-Thanh cung khi hạ tới nắng
đương nồng, nhồi phấn phun hương, so thanh lãnh với đông kia chẳng kém;
-Lãng uyển [57]buổi
thu tàn hoa chửa rã, thêu hồng kết lục, vi phân phương cùng xuân ấy không thua.
L57-青宮欺細𪱆當燶, 抐坋噴香, 摳青冷買冬箕拯劍;
-閬菀𣇜秋殘花渚𣳮, 繞紅結綠,
爲分芳共春意空誇.
(l.58)-Thủa ngự du đưa đĩnh phượng
thuyền rồng, thẻ thanh hồng hoa cắm chặt áo tiên, thu được cả vương hầu khanh
tướng;
-Khi tứ yến bầy đàn loan quân
phượng, khúc vũ nghê gió thổi lên cung nguyệt, vui mừng đều thành thị hải ngu[58].
L58-𣇫御遊拸鼎鳯舩 𧏵,
笶青紅花㩒㩫袄仙, 揪得𪥘王侯卿相;
-欺四燕排彈鵉軍鳳, 曲舞霓𩙍𠺙𨑗宮月, 𢝙𢜠調成是海隅.
(l.59)-Nông nỗi ấy kể càng thêm thảm
nhỉ;
-Cơn cớ này ai hầu dễ biết cho.
L59-譨浽意𠸥乾沾惨洏;
-汗故尼俟𠴭別㧣
(l.60) Đến nay:
-Tan tành phong cảnh;
-Nát bét qui mô[59]!
L60- 𦥃尼:
-散𤀜風景,
-𡐘𦛺規模!
(l.61)-Cơn thảo muội[60]
những gặp điều biến cải[61];
-Lúc phong trần khôn thấy hội đô du[62].
L 61-汗草昧忍﨤調变攺;
-𣅶風塵坤𧡊會都遊.
(l.62)-Nhận cố cung phai nhạt màu
xưa, tới mộc thạch cũng đeo sầu tiêu xác[63];
-Xem hồ thuỷ thẹn cùng sắc nước, đến
cỏ hoa đều ê ủ phân phu[64].
L62-扔故宮沛𤁕牟𠸗, 細木石共㧅愁消殼;
-䀡湖水𢢆共色渃, 𦥃𦹵花調𠲖塢紛敷.
(l.63)-Thấy địa trận lắm nơi xoay
gió lốc;
-Xem thiên văn đương lúc thẳng sao Rua[65].
L63-𧡊地陣夦坭搓𩙍祿;
-䀡天文當𣅶𣦎𣋀𣉵
(l.64)-Thuở bát chuyên[66]
độn lại thêm phiền, Canh Thân[67]
ấy ắt còn bền tựa đá;
-Quẻ lục hợp[68]
bói ra cũng phải, Nhâm Tuất kia âu hẳn nát như tro.
L64-課撥摶沌吏沾煩, 庚申意乙群𥾽似𥒥;
-𩳴六合𧴤𦋦共沛; 壬戌箕謳𠳾𡐘 如
𤉓.
(l.65)-Vận hội ấy nghĩ cũng đà nên
biến;
-Công lao kia xem chửa chút nào bù.
L65-運會意𢣂共㐌𢧚变;
-功勞箕䀡𤀞㤕芾哺.
(l.66)-Nếu ra tay thì núi lở sông
reo, thề chí ấy để vững ngôi nhân thế;
-Hễ chớp mắt hẳn trời xoay đất
chuyển, quyết gan này đem lại đứng thiên khu[69].
L66-𡀮𦋦拪時𡶀𥓅滝嘹, 誓志意底𠊡位人世;
-盻𥊝眜罕𡗶搓地轉, 訣肝尼抌吏𥪸天區.
(l.67)-Có trung nghĩa hẳn không cùng
lưỡng lập[70];
-Để tinh thần cho thấu đến cửu u[71].
L67-固忠義罕空共兩立;
-底星辰㧣漱𦤾久幽.
(l.68)-Rửa quan hà sạch dấu tanh
hôi, vạn vũ[72]
được nhờ ca hữu tượng[73];
-Quét thành thị hết loài gai góc,
bốn phương đều đội đức vô ngu[74].
L68-𤀗關河瀝𨁪腥𦤠, 萬舞得𢘾歌有象.
-抉城巿盡𩑛荄𫈅; 方調隊德無麌.
(l.69)-Bởi con Tạo có tơ gây lắm
mối;
-Vậy thợ Trời không thắm nhuộm nên
ngù.
L69-摆𡥵造固絲㧡夦䋦;
-丕𠏲𡗶空瀋𣑱𢧚𣮇.
(l.70)-Kèn Thọ Xương đưa khách Bắc
Nam về, thổi vu ký vu quy [75]hồ hi hí;
-Văn Quảng Bá viếng người khanh tướng
chết, khó vô cô vô cố vi ô hô![76]
L70-𧤥壽倀拸客北南衛, 璀雩記于歸乎譆譆;
-文廣霸咏𠊚卿相𣩂, 𠸋無姑無故爲嗚乎!
(l.71)-Kèn thổi thế dễ ai đua ngón
được;
-Văn khóc kia mấy kẻ
đặt lời so.
L71-𧤥璀世𣉷俟𨅮𢭫得;
-文泣箕買仉噠唎摳.
(l.72)-Nghĩ thời cơ [77]
mà thêm cám
cảnh thay, thử liếc mắt ngắm cùng
con âu lộ;
-Ngắm thế sự mới cùng ngao ngán nhẽ,
sẽ rỉ tai bàn với lũ mục sô[78].
L72-𢣂時機麻沾敢景台, 試𥉬眜𥋴共𡥵鷗鷺;
-𥋴世事買共熬𢞆𥙧,
𠱊𠯇𦖻盤某僂牧芻.
(l.73)-Rằng thiện ác vì ai dùi đứt
lưới;
-Hỏi thịnh suy nào kẻ đạp toang lò.
L73-𠺘善惡爲俟錐䋎䋥;
-𠳨盛衰芾仉蹋酸爐.
(l.74)-Vận hoang niên[79]
nào có ít tử hung,
được vui thoả hẳn quên câu oán nhạn[80];
-Người loạn thế biết bao nhiêu cơ cận,
lúc no say đà gợi khúc ca phù[81].
L74-運荒年芾固𠃣死凶得𢠿妥𠳾𠅳句怨雁,
-𠊚亂世别包蕘機近, 𣅶𩛂醝㐌𢭮曲歌𠅳.
(l.75)-Máy trời đất chẳng khác chi
bàn rối;
-Vòng cổ kim xem tựa giống đèn cù.
L75-𣛠𡗶坦丞恪之柈𦇒;
-妄古今䀡似種畑岣.
(l.76)-Chính sự này đừng nói với ta
chi, nỏ kim quy để nhằm con quái thỏ;
-Văn chương ấy chớ khoe cùng tớ nữa, cung mộc tinh dành bắn cái yêu hồ.
L76-正事尼𠏦訥買些之,
弩金龜底𥄮𡥵怪兔;
-文章意𠤆誇共伵姅, 弓木星𠼵𡭉丐妖狐.
(l.77)-Gẫm nhân sự biết rằng cơ trị
loạn;
-Xem hồ quang đã không dấu thanh du[82].
L77-𡄎人事别㖫幾治亂;
-䀡湖光㐌空𨁪清游.
(l.78)-Con lộc kia nào có phép toàn
đâu, ông ngồi mã thượng hãy rình theo, còn
quen thói nịnh tà[83]
mà chỉ lộc;
-Khóm do nọ hẳn đến ngày thì cắt, kẻ
muốn tình chung mà rửa sạch, bỗng buông tuồng gian ác lại sùng do.[84]
L78-𡥵鹿箕芾固全兠, 翁𡓮馬上唉偵遶, 群慣𢟔佞邪麻只祿;
-㯲莸奴𠳾𦤾𣈗時㓤, 仉㦖情終麻𣳮瀝,
𣈖捹㗰奸惡吏崇蕕.
(l.79)-Đá khiết bạch[85]
khó mài mầu xiểm nịnh;
-Nước thanh quang khôn lọt vết tham
ô[86].
L79-𥒥潔白𧁹磨牟忝佞,
-渃清光坤律𧿭貪污
(l.80)-Quốc đã nguy mà tướng lại
không tài, phép đâu biết rằng cơ trị loạn;
-Quân thì ám vả thần du chỉ nịnh, lẽ nào hay đến chốn điêu trù[87].
L80-國㐌危麻將吏空才,
法兠别㖫幾治亂;
-軍時暗吧神悠只佞, 理芾咍𦤾坉彫疇.
(l.81)-Nẻo Tiên cũng khó tìm nơi
hoá;
-Dấu Phật càng khôn xuống đấy tu.
L81-𡑩仙共𠺟尋坭化;
-𨁪佛乾坤𨑜帝修.
(l. 82)-Võ sự xem ra khổ man di[88], thằng
bước tới đứa chen vào, chiến trận thế cũng cờ giong trống giục;
-Đạo học ngẫm chẳng theo hiền thánh, kẻ bày lời người thưa dịch, thi cử gì mà
cửa lệch sân xô.
L82-武事䀡𪞷𧁷蠻夷, 僶𨀈細𡥥擅𠓨, 戰陣勢共旗𩢦𪔠𠽖;
-道學𡄎丞蹺賢聖,
仉排唎𠊚𠽔役,
葹擧咦麻𨷶裂𡓏搊.
(l.83)-Khí tượng ấy cũng chưa vương
được nhỏ;
-Anh uy này toan lại đế cho to.
L83-氣象意共𣗓𥿁得𡭾; -英威尼酸吏帝㧣𢀱.
l.84) Đây nay:
-Chơi thì
đã trải;
-Ở cũng
không thô[89].
L84 低尼:
-𨔈時㐌𣦰;
-𣄒共空粗.
(l.85)-Nghĩ
chước[90]
sợ lây hơi chung đỉnh[91];
-Nên mình
còn nhẫn dấu phần du[92].
L85-𢣂斫𢜝唻唏鐘鼎;
-𢧚𨉟羣忍𨁪枌楡.
(l.86)-Giận vì thằng sao nỡ đặt
"Tụng
Hồ", bênh nguỵ tặc bỏ ơn đời đế thế[93];
-Cho nên
đây phải hoạ vần "Chiến
tụng",
nguyện ngô quân [94]đem
lại nếp hoàng đồ[95].
L86-恨爲僶牢𢖵噠 “頌湖”, 𦛼僞賊𠬃恩𠁀帝世;
-㧣𢧚低沛和運 “戰頌”, 願吳君躭吏攝皇圖.
(Hết)
---------------------
[1] toang hoác
徇 壑 làm cho to và rộng ra;
[2] Mảng 𢟨, nghe
[3] Nhò, có thể là nhòa 𤍶
[4]
屹 (thv ngật); cao chót vót.
[5] Mỏ Phượng: 㖼鳳tên 1 cái gò ở cạnh Hồ Tây.
[6] Róc rách: 様𤃝, tiếng nước chảy nhè nhẹ.
[7]
Sưu 搜từ HV=xâu): công việc dân phải làm
cho nhà nước.
[8] đ ồ t ố 酴
酥; tên thứ rượu).
[9]
利
lợi=lị; xá lợi: 舍利 di cốt của Đức Phật.
[10]
𦀚: giềng
mối.
[11]
閙 慝
náo nức=láo lức, hăm hở, nhộn nhịp.
[12]夌仍
Lăng nhưng= lăng nhăng, GT, quàng xiên, nhăng nhít.
[13] Sóng cánh hàn: 㳥𦑃寒,
sóng lớp lớp đưa cái lạnh
đên.
[14] Tinh chiên: 腥膻, hôi tanh.
[15] 𧼋 (chạy=tẩu+trại); đi nhanh từ nơi nầy sang nơi khác.
[16] (Chóng=túc+tốc), nhanh.
[17] Yên, 㯊, cái yên ngựa…
[18] Mộc vũ thần: 木武神, cái mộc của bầy tôi bên võ.
[19] Quân Tây: chỉ quân Tây Sơn
[20] 𧁷
Khó (hó có thể đánh chữ sai,
thiếu chữ k), tôi xin viết là khó như trên.
[21] Giấc Hy Hoàng, chỉ Đào Tiềm, 陶潛, (? - 427), xem chú giải số 33 ở
trên.
[22] Tam Sơn: Núi Tam Đảo.
[23] Nhị thủy: 洱水,
sông Nhị Hà. Theo giải thích trong sách "Đại Nam nhất thống chí", đoạn sông
Nhị Hà chảy qua địa phận Hà Nội, uốn cong như hình
vành tai, mới có tên Nhĩ Hà, gọi lệch là Nhị Hà.
[24] Nhàn ngu: 閑娱, nhàn nhã, vui vẻ.
[25] Phật Ba la, gảy đàn sắt để xem cá. Cổ 鼓=đánh trống, gảy đàn sắt 瑟.
[26]
詛
thư, trù giập người khác.
Xưa đạo sĩ Hư Tĩnh vẽ bùa mà hàng được rồng, trấn áp ma quỷ.
[27] 明
良 (minh
lương: Vua hiền, tôi trung lương)
[28] trung phu: một quẻ dịch chỉ lòng ngay thẳng.
[29] 簫
韶 Tiêu thiều, nhạc đời Ngu Thuấn; tiêu= 1 loại
nhạc khí; thiều= sáng láng, vẻ vang
[30]
章 甫 Chương phủ=mũ của Khổng Tử đội khi ở nước Lỗ
[31]鷫
羽 túc vũ= chim le le.
[32] Lĩnh quạnh, 嶺郡, đỉnh núi có đường đi vắng vẻ.
[33] Thanh thù:
青蚨,
con nhện xanh.
[34] Thầy Tân:
偨新, Lã Đồng Tân, trong bát tiên thường
cưỡi hạc đi dự yến ở Dao Trì.
[35] Ông Lý
翁李:
tức Lý Bạch, đại thi
hào đời Đường, tự xưng là Hải thượng kình
khách, khách cưỡi cá kình trên biển.
[36]
Hà mô 蝦
蟆, =con ễnh ương.
[37] Tây triều:
西朝,
triều đình Tây Sơn.
[38] Đông phu:
東伕,
sĩ phu thành Đông
Kinh, (Hà Nội)
[39]Hàm
hồ: 唅糊:
nói hoặc làm không rõ ràng.
[40]
Phường:
坊 từ HV:1 làng nhỏ hay 1 khu ở trong
thành
[41] Khán sơn:
看山 tên núi đất gần Hồ Tây do vua Lê
Thánh Tông đắp để xem tập trận giả.
[42] Bẻ bai:
把𠾦 bắt bẻ+chê bai.
[43]thần
hạn bạt 神
旱 魃=
thần làm nắng
[44]Kẻ tam nông: 仉 三
農, người canh tác ruộng chia 3 hạng: thượng,
trung, hạ nông.
[45]
Tô nhu, 甦濡, sống
lại và thấm nhuần ơn huệ.
[46] Tao, từ cổ, 騷,
phen, cuộc.
[47] Cuộc: 局 hiện
tượng, bàn cờ.
[48] Khuôn phù: 匡
扶=giúp, nâng đỡ=assister
[49] Lửa do cọ đá mà thành, dày công mà
chóng tắt.
[50] Quân thân:
君親 vua và cha mẹ.
[51]
Nhâm nhân
壬 人
người gian xảo tức kẻ tiểu nhân
[52] Cả câu: Phạm Lãi giúp vua Việt là Câu Tiển, thắng vua Ngô là
Phù Sai, xong việc, không màng công danh, bỏ đi ngao du nơi ngũ hồ.
[53] Cả câu: Tử Do tức là Tử Lộ. Khổng Tử nói rằng Trọng Do có thể
trôi nổi trên biển (phù hải) mà theo ta.
[54] Kiếp phù hư: 劫浮虛kiếp người trôi nổi, vô định, vô nghĩa.
[55] tần, 頻, aHV, nhiều lần
[56] đoan dương, 端 陽
(mùng 5 tháng 5 âl, giỗ Khuất Nguyên)
[57] Lãng uyển,
閬 菀,
chỗ tiên ở
[58] Ngung
theo Dương Quảng Hàm, hải ngung, 海 隅 (Hải Ngung=Góc biển).
[59] Qui mô
規
規,
qui mô; thước
khuôn, mẫu mực, kế hoạch
[60] Thảo muội 討thảo
昧 muội, = rậm rạp mờ tối.
[61] Biến cải,
变 改
đổi mới, thay đổi, changer.
[62] Đô du 都
遊=đi chơi nơi thành đô.
[63] Xác 殼, cái vỏ bọc ngoài.
[64]Phân
phu, 紛 敷=bày ra lộn xộn; tơi tả.
[65]Sao
rua, 𣋀 𣉵 sao tua rua: nhật+sô.
[66] Bát chuyên,
撥 摶,
kêu gọi đồng tâm.
[67] Canh thân: 庚申năm
1800.
[68] Lục hợp: 六
合, là trời đất và 4 phương.
[69] Thiên khu,
天 區 cái
cột của Trời.
[70] Lưỡng lập, 兩
立, đứng hai phía, hai mặt.
[71]
Cửu u, 久
幽,
nơi tối tăm mãi mãi, tức
âm phủ.
[72] Vạn vũ, 萬
舞, muôn cõi.
[73] Hữu tượng,
有 象,
có điềm tốt.
[74] Vô ngu,
無 麌,
không lo lắng.
[75] Vu qui 于
歸, gái về nhà chồng.
[76] Tiếng khóc người chết oan: Không có tội gì, không vó
duyên cớ gì mà phải chết.
[77] Thời cơ, 時 機, cơ hội trong buổi ấy.
[78] Sô, 芻, cỏ
khô.
[79] Hoang niên, 荒
年, năm mất mùa
[80] Oán nhạn, 怨 雁, oán hận vì đời phiêu bạt như con
chim nhạn.
[81] Ca phù,
歌𠅳,
khúc ca của 1 loài
chim nước như loài cò, diệc, le le; ca hát thảnh thơi như cò như diệc.
[82] Thanh du,
清 游, bơi
thuyền trên dòng nước trong.
[83] Nịnh tà,
佞邪, (Nịnh=nói tôn làm cho vui lòng; tà, không
ngay thẳng.
[84]
Sùng do: 崇蕕,
chuộng cỏ do, thứ cỏ có mùi thối, chỉ kẻ xấu xa,
[85] Khiết bạch, 潔
白, sạch sẽ trong trắng.
[86] Tham ô,
貪污 tham lam và ăn dơ.
[87] Điêu trù,
彫疇
điêu tàn hay trù mật
[88] Khổ man di,
𧁷
蠻 夷, làm cho dân khổ như dân mọi rợ.
[89] Thô, 粗, thô lậu, quê mùa, sơ suất, qua
loa.
[90] Nghĩ chước,
𢣂斫 chước/, nghĩ đến mưu chước.
[91] Chung đỉnh,
鐘 鼎,
giàu sang, quyền quý: nấu cơm bằng đỉnh, cái vạc lớn; khi ăn phải đánh chuông.
[92] Phần du,
枌 楡, cây bưởi, cây dâu, chỉ quê hương.
[93] Đế thế,
帝 世, đế nghiệp chính thống trải qua biết bao thế
hệ.
[94] Ngô quân, 吳 君, vua ta, chỉ vua Lê
[95] Nếp hoàng đồ, 攝 皇 圖, cơ đồ của chế độ cũ để lại bao đời.
***
Một góc nhìn ngoạn mục cảnh Hồ Tây xưa, Google.
Dịch thơ
[2] Chieán tuïng Taây Hoà Phuù,
Phaïm Thaùi
Ngân
Triều
***
1P (1-4), 4 liên; Ngân Triều dịch thơ PT, 12 câu: Nguồn gốc Hồ Tây:
Ngán thay kẻ
tụng Tây Hồ! (1)
Lở hầm toang hoác lững lờ nước xô.
Lẽ đâu gò đá
nhấp nhô,
Người đồn Long tử làm ra nhờ bùa.
Hách hơi cáo
trắng nô đùa, (5)
Quanh năm đầm lớn bốn mùa náo nương.
Người thì
nói bởi Cao Vương,
Yểm đào long mạch triệt đường địa
linh.[1]
Có người nói bởi trâu vàng,
Nghe chuông tưởng mẹ xoáy thành nơi
đây. (10)
Điện vàng
cung ngọc tứ vây,
Ngọc hồ bãi biếc vui thay một dòng.
***
2P- (5-8), 4 liên; Ngân Triều dịch thơ PT, 12 câu: Hình thể của Hồ Tây.
[…một dòng]
Dâm Đàm,
chạnh nhớ Trưng Vương,
Sương dày bất chợt sa trường tiến
quân.
Lãng Bạc
giặc Bắc tiêu tan, (15)
Dấu xưa cò vạc vờn trăng bóng nhòa.
Trăng thu trời nước hài hòa,
Chưa Xuân hoa cỏ theo mùa được sao?
Cát xô Mỏ Phượng lao xao,
Như hình thiếu nữ lên lầu ngắm
trăng. (20)
Nhấp nhô
nước xuống Hàm Rồng,
Giống như tri kỷ châm nồng chén Tô.
Tan bình
Thạch Tháp, thờ ơ,
Linh phù nát dấu trên gò đất thiêng.
***
3P-(9-13), 5 liên; Ngân Triều dịch thơ PT,
16 câu: Các đền chùa chung quanh Hồ Tây.
[…đất thiêng]
Mục Lang lưới đã nát giềng, (25)
Dung gian bắt hổ lòng phiền đa đoan.
Lưỡi gươm Trấn Võ đà mòn,
Không giam giặc cướp lại còn nhốt qui?
Thiên niên lộng ngữ mà chi,
Kìa xem quán nát cảnh thì hoang sơ. (30)
Báu nào có báu ghềnh nhô?
Tăng ni khổ hạnh, làm trò Phật môn.
Dở dang lý thú đồng quan,
Dải đào khăn thắm mơ màng Nghi Vu.[2]
Tượng hình Ông Đá dãi dầu, (35)
Bà Đanh vắng ngắt chuông chùa lặng
thanh.
Cầu ma khấn bụt nhà tranh,
Kìa đền Quan Thánh lăng nhăng, xô bồ.
Buôn hùm bán quỷ, đủ trò,
Nhớ người khai quốc bây giờ ngu ngơ. (40)
***
4P-(14-27), 14 liên; Ngân Triều dịch thơ
PT, 44 câu: Các thắng cảnh chung quanh Hồ Tây.
[…ngu ngơ]
Lưng trời ngùn ngụt khói lò,
Cắt da sóng lạnh ồ ồ sườn non.
Đuôi Nheo
tanh tưởi tinh chiên,
Chơi trăng nước biếc chán chường thờ
ơ.
Cổ Ngựa hôi thối bốn bề, (45)
Hoa thơm tủi phận não nề mùi hương.
Dân cư nghèo
khổ cảm thương,
Lều tranh tơi tả thê lương cơ hàn.
Thiên thời đâu dễ xoay vần thiên cơ. (50)
Thoi oanh dệt liễu nên tơ,
Cửa Nam thêu túi khó dò xỏ kim.
Đóm kia chớp tắt soi sen,
Quân Tây hút điếu, hay đem hun lò.
Quyên sầu khắc khoải trời Hè, (55)
Ve buồn Nam quốc tiếng nghe rì rù.
Châu Long
hương cúng khét mù,
Trúc vang mõ cá sương thu ngút ngàn.
Sen tiêu Bạch Mã điêu tàn,
Giấy hoa rao bán dọc làng sông Tô. (60)
Lòng vui ngắm cảnh cũng vui,
Phong quang lạc lõng xứ người xa
quê.
Cô đình gió lọt hoa kề,
Đường sương thúy bích lơ thơ cảnh buồn.
Mây che sóng
chở con thuyền, (65)
Ánh trăng lóng lánh như vàng châu
rơi.
Tháng ngày
trải bước rong chơi,
Cỏ hoa vui thú mà đời no say?
Sương dày đã
nhuộm ngàn cây,
Ca buồn ngư phủ thuyền đầy ánh
trăng. (70)
Cây xanh tuyết bạc bãi bằng,
Mục đồng thổi sáo sáng vầng hồng
tươi
Hán Tần kẻ lướt nụ cười,
Lánh đời cổ đại có người ngủ ham.
Doanh thâu
bàn bạc Bắc Nam, (75)
Tiếng đàn lưu thủy tri âm ngẫu
thành.
Vần thơ
phong nguyệt tân thanh,
Đất trời bầu dốc say tình đê mê.
Tròn trời vuông đất, thu về,
Ngang sông dọc núi, bốn bề nhóc kho. (80)
Tam Sơn hóng mát dành cho,
Nằm phơi bụng trí để chờ kiến ong.
Chở trăng
sông Nhị xuôi dòng,
Ngẫm trai cò đấu thỏa lòng lão câu.
***
5P-(28-32), 5 liên; Ngân Triều dịch thơ,14
câu: Hồ Tây trải qua các triều đại.
[…lão câu]
Ít nhiều
thắng khải sao đâu, (85)
Vì sao tâng bốc khen nhầu nhàn ngu?
Cao minh rằng phép quan ngư,
Nực cười Cổ Sắt lu bu gảy đàn.
Dụ tượng mưu
ấy khó làm,
Đâu như Hư Tĩnh chiêu hồn rồng ma. (90)
Khách du dấu
ngựa lờ mờ,
Du quan mù mịt bóng dù chơi vơi.
Chán chường
ăn mặc, hợm thời,
Xem phong vị khó như đời hoàng kim.
Quân gian
tướng dởm tham lam, (95)
Tôi hiền vua sáng dở dang một trò.
Lằng nhằng
thư thảo cua bò,
Thơ rông chó chạy xướng thù mặc ai.
***
6P-(33-46), 14 liên; Ngân Triều dịch thơ, 48 câu: Hồ Tây trong thời Lê mạt:
[…mặc ai]
Tiêu thiều
lõm bõm nhạc ngây,
Chim xanh gọi bóng trời Tây nực
cười. (100)
Nho phong
dấu cũ mấy người,
Thu vàng lá rụng bồi hồi lòng đau.
Chiều mờ túc
vũ, núi cao,
Cô hồng thăm thẳm nghẹn ngào trong
sương.
Trường thi
ve trổi hè sang,
(105)
Bốn vách bạch nhạn mênh mang thơ
sầu.
Dế kêu thu đến
nhạc lầu,
Vài gian chen lưới thanh thù tơ
buông.
Nỉ non đàn
dế rúc sương,
Tù mù lửa đóm bốn phương dạt dào.
(110)
Cát hòa mặt nước trắng phau,
Thầy Tân cưỡi hạc Bàn Đào tiên nga.
Đáy hồ lồng
bóng sáng lòa,
Tưởng rằng ông Lý say mò vớt trăng.
Cuốc kêu vận
nước tối tăm, (115)
Ễnh ương than thở cơ hoang bần hàn.
Cuốc càng
than thở oán hờn,
Cầu vồng chờ nhịp trống dồn gọi
trăng.
Lạ gì phong
cách tướng Nam,
Nhân tài đất Bắc căm hờn lòng đau.
(120)
Ếch càng rên
siết dãi dầu,
Trên thành còi đã lặng gào gió ru.
Tây triều
sớm tối ái ưu,
Lại thêm dè dặt sĩ phu Bắc Hà.
Thấu trời ta thán chim cò, (125)
Đàn ong lũ kiến, cuộc cờ đổi thay.
Chén trà cá
lội hạc bay,
Ý thơ cao hứng trăng say bóng mình.
Nhớ quê
hương vị đã đành,
Khi về giông tố gãy cành cây ngô. (130)
Tiểu nhân
sẵn tính hàm hồ,
Những người cao sĩ thực thà trực
ngôn.
Vừa rồi hoa
kết Khán Sơn,
Bẻ bai kỹ nữ, chê còn vụng công.
Hương mới
Chợ Võng rượu nồng,
(135)
Lý ông tất tưởi say mong sang đò.
Khói chiều
mấy xóm xa xa,
Gió đưa thấp thoáng nhà ma cây đầy.
Vời trông cổ
quán quang mây,
Non cao chớn chở, rừng cây vô hồn.
(140)
Chim bay vì
vụt đầu non,
Thập thò móng nước cá còn đợi mưa.
Bồi hồi
thương những ngày xưa,
Thế thời bỗng chốc, thời đưa bẽ
bàng.
Mối thù chưa
trả giang san,
(145)
Thẹn cùng gió núi trăng ngàn, hổ
ngươi!
***
7P-(47-59), 12 liên; Ngân Triều dịch thơ: Hồ Tây trong thời Tây Sơn:
[…hổ ngươi.]
Văn chương thiêu
đốt mất rồi,
Tiêu tan danh vọng sông bồi đất nhô.
Dạ Xoa quấy
Phật xuống chi,
Cho người bách nghệ lưu ly khổ nàn.
(150)
Thần nắng
thiêu ruộng khô cằn,
Nông gia mùa thất cơ hàn dân đen.
Cuốn theo
gió bụi bao phen,
Thăng trầm mấy lớp đua chen mấy lần.
Tang thương đầy
xác hoa tàn, (155)
Vui chăng thiên đạo quanh quàng quẹo
xiên?
Chiến chinh
Nam Bắc liên miên,
Thời cơ không có vô duyên trí phàm.
Nhục vinh
nước chảy lỡ làng,
Lợi danh mây nổi, tro tàn mà thôi.
(160)
Quân thân
dường mỏi vai rồi,
Thế thời tráng sĩ đứng ngồi không
an.
Còn đang kéo
vạc cứu nàn,
Đứa gian đâu đã giành phần hò vang.
Bỏ đi Phạm
Lãi[5]
chẳng màng, (165)
Theo thầy một dạ đá vàng Tử Do.[6]
Thời gian
vùn vụt thoi tơ,
Tử sinh giây phút thiên cơ khó
lường.
Đêm ngày biến
đổi vô cùng,
Nổi trôi bèo bọt có không sự đời.
(170)
Trăng đầy
rồi lại trăng vơi,
Bình kia đầy lắm đến thời vỡ tan.
Nhớ khi đêm
vắng ngắm trăng,
Hương sen thoang thoảng, trà ngon
thơm lừng.
Đoan Dương[7]
chạnh tưởng tiệc mừng, (175)
Lửa bừng đun ấm rượu nồng ngất ngây.
Thanh cung
Hạ đến nắng đầy,
Trăm hồng ngàn tía, Đông vầy kém
đâu.
Thu tàn Lãng
uyển[8]
dãi dầu,
Thêu hồng kết lục, Xuân nào chẳng
mong. (180)
Ngự du[9]
tấp nập thuyền rồng,
Áo tiên hoa cắm, nức lòng tướng
quân.
Yến bày ca
vũ ngân trăng,
Than ôi! Phút chốc thành hoang thị
tàn.
Nỗi niềm thê
thảm biết chăng,
(185)
Nguồn cơn cớ sự tỏ lòng cho ai?
***
8P-(60-83), 24 liên; Ngân Triều dịch thơ: 72 câu: Ca ngợi công đức Nhà Tây Sơn.
[…cho ai?]
Đến nay:
Tan tành
phong cảnh đến nay;
Qui mô nát bét chờ ngày tiêu vong.
Thảo muội đã
biến cải xong,
Không còn mở hội đô phong du trần.
(190)
Cố cung màu
sắc phai dần,
Đeo sầu cây đá điêu tàn ngẩn ngơ,
Nước hồ e
thẹn sắc phô,
Cỏ hoa ủ dột bơ phờ tả tơi.
Chiến trường
gió bụi nơi nơi,
(195)
Thiên văn tiên đoán Tua Rua hết
thời.
Thời loạn
lạc, khó tin người,
Canh Thân[10]
tựa đá còn cười tung hô.
Lục Hợp cũng
đã bói ra,
Đến năm Nhâm Tuất[11]
thành tro hết đời.
(200)
Tiêu tan vận
hội đương thời,
Công kia như chửa bù lời ra sao.
Ra tay núi
lở sông reo,
Lời thề chí ấy thuận theo nhân hòa.
Trời xoay
đất chuyển tung hoành, (205)
Chống trời một trụ, thanh bình bốn
phương.
Nghĩa trung
chỉ đứng một đường,
Tấm lòng son sắt huy hoàng cửu u.
Núi sông tẫy
sạch bợn nhơ,
Muôn phương hữu tượng được nhờ uy
linh. (210)
Gốc gai nhẵn hết thị thành,
Vô ngu trăm họ ơn lành bao la.
Phải chăng con tạo có tơ?
Quăng vô số mối bơ phờ thế nhân.
Thợ trời
không nhuộm tơ chăng? (215)
Cho nên tơ phải rối ren nên ngù!
Kèn Xương
khách Bắc Nam về,
Vu qui, vu ký hồ hi... cả cười.
Văn Quảng,
khanh tướng viếng người,
Vô cô vô cố, một hơi khóc đời. (220)
Kèn thổi
thế, dễ ai chơi,
Văn kia mấy kẻ đặt lời bi ai.
Nghĩ thời
cơ, cám cảnh thay!
Được như âu lộ tháng ngày thảnh
thơi.
Phiêu du
ngao ngán chán đời, (225)
Rỉ tai thông đạt lũ người mục sô,
Vì ai thiện
ác vô bờ,
Thịnh suy ác quỷ phất cờ thúc quân.
Mất mùa đầy
kẻ tử hung,
Ly hương lữ thứ cam lòng biết sao.
(230)
Binh đao, khói
lửa, lao đao,
Ấm no mong ước xiết bao, thanh bình.
Máy trời rối
loạn vô minh,
Cổ kim như cảnh xoay quanh đèn cù.
Chính trường
chẳng thiết mặc dù,
(235)
Kim Quy thần nõ để trừ thỏ tinh.
Văn chương
chớ khá khoa trương,
Cung tinh dành bắn những phường hồ
ly.
Cho hay loạn
lạc qua thì,
Nước hồ không dấu thanh du[12]
đâu nào. (240)
Săn lộc thì phải bám sau,
Buồn cười tâng bốc cao rao nịnh tà.
Cỏ do hôi
thối như là…
Không đem vứt bỏ, mà vờ bốc thơm.
Đá trong
chất nịnh khó mài.
(245)
Trong lành nước chẳng khi nào tham
ô.
Nước nguy
tướng những thờ ơ,
Bất tài sao biết phất cờ xung phong.
Quân ngu chỉ
biết a tòng,
Lẽ nào chịu khổ hết lòng xông pha. (250)
Lên tiên
đường dễ đâu mà,
Phật kia vô lượng dám gì xuống tu.
Võ rừng mặt
khổ man di,
Chen vào bước tới cũng thì cờ reo.
Đạo Nho hiền
thánh chẳng theo,
(255)
Khoa thi chẳng giống tiền triều, lôi
thôi.
Vương chưa
khí tượng nhỏ nhoi,
Đến nay toan lại anh uy to lừng.
***
9P-Đoạn kết (84-86), 3 liên; Ngân
Triều dịch thơ, 8 câu: Cảm nghĩ của tác giả:
[…to lừng]
Đây nay chơi trải đã từng,
Ở thì cũng chẳng dửng dưng thua người. (260)
Sợ lây chung đỉnh tiếng đời,
Nên còn ẩn nhẫn chờ thời gió to.
Giận người sao nỡ “tụng hồ”,
Nức khen Ngụy tặc ngó lơ chính giềng.
Cho nên phải họa một thiên,
Tấc lòng “chiến tụng” muôn niên hoàng đồ. (266)
***
(Hết)
[1]
Địa linh nhân kiệt: 地靈人傑, đất thiêng sinh người hiền tài, kiệt
xuất”
[3] Yên đan, Yên công tử: 㯊公子, yên ngựa của con nhà quyền quý,
[4] Mộc vũ thần:
木武神, cái mộc của bầy tôi bên võ.
[5] Phạm Lãi giúp vua Việt là Câu Tiển, thắng vua Ngô là Phù Sai, xong việc, không màng công danh, bỏ đi ngao du nơi ngũ hồ.
[6] Tử Do
tức là Tử Lộ. Khổng Tử nói rằng Trọng Do có thể trôi nổi trên biển (phù hải) mà
theo ta.
[7] Đoan Dương: ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, còn gọi là Đoan Ngọ,
ngày kỷ niệm Khuất Nguyên tử tiết ở sông Mịch La.
[8] Lãng uyển:
vườn tiên, chỉ vườn ngự của vua.
[9] Ngự du:
cuộc đi chơi của nhà vua.
[10] Canh Thân: Tức năm 1800, Nhà Tây Sơn sắp sửa
tiêu vong.
[11] Nhâm Tuất:
năm 1802, năm Tây Sơn bị diệt vong.
[12] Thanh du:
du ngoạn thanh lịch.
