Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH &ND, tiếp theo. Bài số 15, Cố kinh Thu nhật, HXH.

 Thiên tình sử của HXH &ND, tiếp theo.

Bài số 15:
Coá kinh Thu nhaät (Cố kinh Thu nhật)
Hồ Xuân Hương
Rồi mùa thu sau. Xuân Hương lại gửi đến Nguyễn Du bài thơ chữ Hán. Cố kinh thu nhật, trong Hương Đình Cổ nguyệt thi tập:
Thắm thoát đã bao mùa thu qua, bóng trăng xế bóng, tuổi càng cao ngày một quá thì,
Nơi chốn cũ phồn hoa nhớ xưa cùng mời rượu chàng
Dòng sông Tô nước chảy cuồn cuộn về hướng Tây, bất tận,
Trời quang đảng trông rõ bóng núi Tam Đảo phía Bắc xa xa.
Dưới đèn sáng tỏ, nơi Cổ Nguyệt Đường, thương chăn xanh, vật cũ di sản nho học dòng dõi cha ông.
Sương móc trắng rơi đọng lại quanh nhà, sương móc trắng không chỉ rơi nơi nhà anh (bài Thu Dạ II), mà nơi em cũng như vậy nữa.
Ước gì đôi ta gặp lại nhau cho dạt dào nỗi nhớ?
Năm hết, Tết sắp đến, anh vẫn mãi biền biệt thế a ?
*
Ngày Thu kinh đô cũ
(Người dịch: Bùi Hạnh Cẩn)
Thắm thoát đường Thu ánh nguyệt tà,
Chốn xưa lại chuốc chén phồn hoa.
Dòng Tô nước cuốn về Tây hết,
Tam Đảo trời quang ngó Bắc xa.
Đèn rạng chăn xanh thương vật cũ,
Sương buông móc trắng đọng mô nhà.
Lần này gặp mặt càng mong nhớ,
Khách mãi năm tàn nỗi thế a!
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam
3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.
*
Nhất Uyên phiên âm,
Cố kinh thu nhật
Nhiễm nhiễm chinh đồ thu nguyệt tà.
Nhất bôi hoàn đối cựu phồn hoa.
Nhất Tô thủy lạo Tây vô tận,
Tam Đảo tình quang Bắc vọng xa.
Đăng nguyệt thanh chiên bi cố vật,
Sương tiền bạch lộ lạc thùy gia.
Thử lai tương đối trùng tương đắc
Khách cựu niên thâm nhược nại hà ?
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
故 京 秋 日
冉 冉 征 塵 秋 月 斜
一 盃 還 對 舊 繁 華
一 蘇 水 潦 西无 盡
三 島 情 光 北 望 賒
燈 月 青 氈 悲 故 物
霜 前 白 露 落 誰 家
此 來 相 對 重 相 憶
客 舊 年 深 若 奈 何
Biền biệt năm tàn mãi thế a? Ảnh minh họa, Google
*
Ngày Thu cố kinh
Thắm thoát đường Thu ánh nguyệt tà
Chốn xưa rượu chuốc chén phồn hoa.
Dòng Tô nước cuốn về Tây mãi,
Tam Đảo trời quang vọng Bắc xa.
Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ,
Sương buông móc trắng đọng bên nhà.
Ước gì gặp lại vơi mong nhớ,
Khách cũ, năm tàn mãi thế a?
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.
*
Ảnh minh họa bài 15, HXH, có hỗ trợ của AI:
Ngân Triều cảm đề, bài thơ Cố kinh Thu nhật:
Thắm thoát thu qua, bóng nguyệt tà,
Chốn xưa đối ẩm rượu phồn hoa.
Dòng Tô nước chảy về Tây mãi,
Tam Đảo trời quang núi Bắc xa.
Di sản chăn xanh, thương nghiệp cũ,
Sương pha móc trắng quyện quanh nhà,
Ước gì tái ngộ dào mong nhớ?
Biền biệt năm tàn mãi thế a?
***

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo. Bài 14: Thu Dạ, ND.

 Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo.

Bài số 14:
Thu Dạ (2)
Nguyễn Du
Nguyễn Du trả lời bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu Dạ 2…
Tiết Bạch Lộ tháng tám âm lịch, hơi thu đã già, qua tháng chín là tiết Sương giáng,
Không phải chỉ lòng em đầy mây mù đâu, lòng anh cũng lạnh lẽo, sương giăng mờ mịt cây cỏ quanh bến giang thành đìu hiu.
Bên đèn khuya quạnh quẽ ngóng đợi.
Vắt tóc như Chu Công bận lo việc nước, vừa gội đầu vừa tiếp sĩ phu, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.
Lo cái chí nguyện tàn phai theo ngày tháng, non sông nghìn dặm càng nghĩ càng nhớ càng lo lắng trong ngày dài.
Phong cảnh bốn mùa thay đổi, riêng mình ngậm ngùi buồn Trời chớm lạnh.
Mới hay không áo là khổ.
Nghe tiếng chày người khuê phụ đập vải trong chiều, lòng nhớ đến em nơi khuê phòng trông ngóng.
Đêm Thu II.
Móc trắng sương thu giăng mịt mùng,
Đìu hiu cây cỏ bến giang thành.
Đèn khuya quạnh quẽ đêm dài ngóng,
Vắt tc lo hoài chí nhạt tan.
Vạn dặm giang sơn dài nỗi nhớ,
Bốn mùa mây nước ngậm ngùi trông.
Chớm lạnh mới hay không áo khổ,
Tiếng chày khuê phụ, bóng chiều phong.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du Thanh Hiên Thi tập..
Chú Thích:
Bạch lộ: 白露 sươn,g móc trắng, tiết bạch lộ là tháng 8 âm lịch.
Ác phát: 握髮 Chu Công bận lo việc nước có khách lại, ông vắt tóc lên ra tiếp, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋夜其二
白露為霜秋氣深
江城草木共蕭森
剪燈獨照初長夜
握髮經懷末日心
千里江山頻悵望
四時煙景獨沉吟
早寒已覺無衣苦
何處空閨催暮砧
*
Nhất Uyên phiên âm,Thu dạ kỳ 2
Bạch lộ vi sương thu khí thâm,
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm.
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ,
Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm.
Thiên lý giang sơn tần trướng vọng,
Tứ thì yên cảnh độc trầm ngâm.
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm?
*
Dịch nghĩa
Móc trắng thành sương, hơi Thu đã già.
Cây cỏ quanh thành bên sông, trông đến tiêu điều!
Khêu ngọn đèn cho chiến rọi vào cảnh đêm dài mới bắt đầu.
Búi tóc mà lo cho chí nguyện những ngày tàn tạ.
Non sông ngàn dặm cứ nhìn là thấy buồn.
Phong cảnh bốn mùa, riêng mình ngậm ngùi.
Mới rét, đã khổ vì không áo,
Mà nơi đâu tiếng đập vải của người khuê phụ rộn rã trong chiều hôm?
*
Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI:
Rét về thêm khổ vì không áo, 
Đập vải người đâu rộn rã chiều? (NT)
*
Ngân Triều cảm đề:
Đêm Thu
Móc trắng sương giăng, Thu sắp hết,
Quanh sông cây cỏ, những tiêu điều!
Khêu đèn soi sáng đêm dài tới,
Chuyện phiếm hoài công ngày quạnh hiu.
Ngàn dặm non sông buồn lặng ngắm,
Bốn mùa khoe sắc, cảnh cô liêu.
Rét về thêm khổ vì không áo,
Đập vải người đâu rộn rã chiều?
***
Ảnh minh họa Thu Dạ 2, có hỗ trợ của AI:
Rét về thêm khổ vì không áo,
Đập vải người đâu rộn rã chiều? (NT).

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND, tiếp theo: Bài số 13:

 

Thiên tình sử của HXH & ND, tiếp theo:
Bài số 13:
Thu Vuõ (Thu Vũ)
Hồ Xuân Hương
Xuân Hương đã phúc đáp bài Thu Dạ I của Nguyễn Du bằng bài Thu Vũ. (Mưa Thu). Nàng đã khóc khi nghe tin Nguyễn Du bệnh gần cả năm, tóc đã nhuốm bạc.
Trời ảm đạm mây mù giăng mờ mịt, lòng em như mây (tiếp ý mây bài Thu dạ hữu hoài và Thu Dạ I),
Nhưng mây đầy trời ảm đạm và mù mịt, tí tách mưa thu rơi trên sân vắng.
Đầu cành cây khô giọt lệ tuôn dài ngắn,
Mưa lộp độp trên lá chuối vàng, tiếng nhặt khoan.
Ngâm đọc xong bài Thu Dạ (I) , ngẩn ngơ, chạnh buồn thương người cách xa ngàn dặm,
Sầu vấn vương, mối tình đòi đoạn vò tơ, (ND), lòng như hoang vắng, thắc thỏm suốt năm canh.
Nơi khuê phòng, giờ chỉ khổ cho phận hồng nhan,
Một mảnh sầu không tên như thế nầy, muốn vẽ nhưng không thể nào vẽ đươc nên tranh.
*
Mưa Thu
Trời thảm mây giăng tối mịt mùng,
Mưa Thu tí tách nhỏ ngoài sân.
Cây khô dài ngắn rơi hàng lệ.
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh.
Ngâm dứt đê mê sầu vạn dặm,
Buồn dâng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc,
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ.
*
Thu vũ, Nhất Uyên phiên âm:
Thiên cách vân âm thảm bất minh,
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình.
Đoản trường khô thụ chi đầu lệ,
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng,
Sầu khiên liêu lạc ngũ canh tình.
Thâm khuê tối khổ như hoa diện,
Nhất phiến sầu dung hoạ bất thành.
*
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.
*
Thu Vũ, bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋 雨
天 隔 雲 陰 慘 不 明
蕭 蕭 秋 雨 落 閒 庭
短 長 枯 樹 枝 頭 淚
舒 急 黃 蕉 葉 上 聲
吟 斷 低 迷 千 里 夢
愁 牽 寥 落 五 更 情
深 閨 最 苦 如 花 面
一 片 愁 容 畫 不 成
*
(1) Mưa Thu
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Trời cách mây mù thảm chả xanh,
Mưa thu sân vắng giọt buồn tanh.
Đầu cành cây héo châu dài vắn,
Trên lá tiêu vàng tiếng chậm thanh.
Hát dứt đê mê mơ vạn dặm,
Sầu giăng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê sâu rất khổ mày hoa ấy,
Vẻ mặt buồn thương vẽ chẳng thành.
*
(2) Nguyễn Cang dịch thơ:
Mưa Thu
Trời mây sầu thảm ngập mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh
Cây chết, vắn dài cành nhỏ lệ
Mưa rơi tàu chuối tiếng trầm thanh
Thơ ngâm dứt đoạn, sầu ly biệt
Khắc khoải u hoài thức trắng canh
Vò võ khuê phòng hoa héo úa
Sầu riêng một mảnh khéo đành hanh!
Nguyễn Cang (15/10/2017)
Nguồn: Trích FB Nguyễn Cang
*
(3) Lưu Đức Thọ dịch thơ:
Mưa Thu
Trời thu ảm đạm không mây xanh
Rả rích mưa buồn cảnh vắng tanh
Rũ héo cành khô rơi lệ ứa
Tiếng mưa tàu chuối đếm trầm thanh
Nhận thơ đọc hết yêu người lắm
Thắc thỏm sầu vương tận những canh
Thương quá ở hai đầu nỗi nhớ!
Sầu riêng tự họa mãi không thành
Lưu Đức Thọ
Praha, 14.10.2017
*
(4) Kim Trân cảm đề:
Gió đùa mây thắm tận trời xanh
Lác đác mưa Thu ngõ vắng tanh
Nhặt cánh thư buồn dâng suối lệ
Chạnh lòng cành rũ, nhạt mày thanh
Nhớ ai ai nhớ sầu trăm nỗi
Tái dạ tim bời vọng tứ canh
Mái tóc hoa sương đành gửi chút
Tình riêng hoài tưởng họa không thành!
Kim Trân
*














Ảnh minh họa Mưa Thu, NT cảm đề , có hỗ trợ của AI.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.
Ngân Triều
*
(5) Ngân Triều cảm đề:
Mưa Thu:
Mây mù ảm đạm, mây mông mênh,
Tí tách mưa Thu, sân vắng tanh.
Cây chết đầu cành cây đọng lệ,
Mưa khua tiếng chuối, tiếng trầm thanh.
Đọc thư thờ thẫn người xa cách,
Quạnh vắng sầu giăng suốt ngũ canh.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.
Ngân Triều
***