Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo: bài số 9.

 Thiên tình sử của HXH với ND, tiếp theo: bài số 9.

Nhaân taëng (Nhân tặng) 因贈
Hồ Xuân Hương
*
Những bài thơ tình gửi đáp Hồ Xuân Hương & Nguyễn Du từ Tiên Điền đến Nghi Tàm (1794-1796).
Nguồn: Theo TS Phạm Trọng Chánh.
Nguyễn Du về đến Tiên Điền, Hồng Lĩnh không nhà, anh em lưu lạc. Thật sự thì anh em Nguyễn Du chẳng bao giờ ở tại Tiên Điền cả. Những năm cuối cùng nhà Lê -Trịnh, Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại, chức vụ ngang với Thủ Tướng ngày nay, lại kiêm trấn thủ Hưng Yên, Thái Nguyên và Sơn Tây. Tại Sơn Tây Nguyễn Khản giao quyền cho Nguyễn Điều làm Đốc Trấn, có Nguyễn Nể phụ tá, Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ nắm giữ binh quyền tại Hưng Yên. Và tại Thái Nguyên, Nguyễn Quýnh giữ chức Trấn Tả Đội, Nguyễn Du làm Chánh thủ Hiệu quân Hùng hậu hiệu, đội quân mạnh nhất Thái Nguyên; Cai Gia tức Nguyễn Đại Lang làm Quân Sư. Cai Gia nhân vật này có tên trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vốn là người phản Thanh phục Minh, là tay 'giặc già' , được Nguyễn Khản thu nạp làm môn hạ, để dạy võ cho các em. Thái Nguyên là nơi nhiều dân Tàu giang hồ sang khai mỏ, trộm cướp, trốn thuế. Cai Gia là người trị nổi đám người này; Nguyễn Du kết nghĩa sống chết với Cai Gia (Sinh Tử giao tình tại. Bài Tiễn biệt Nguyễn Đại Lang) nên gọi là anh Cả. Khi nhà Trịnh sụp đổ, Nguyễn Du, Nguyễn Đại Lang và Nguyễn Sĩ Hữu (tức Nguyễn Quýnh) chạy sang Vân Nam.
Tôi, (TS Phạm Trọng Chánh), bác bỏ việc Nguyễn Du nhận tập ấm cha nuôi họ Hà, giữ một chức quan võ nhỏ như gia phả ghi. Thật sự Nguyễn Du là đại diện binh quyền cho anh Nguyễn Khản tại Thái Nguyên).
Hai anh lớn Nguyễn Khản, Nguyễn Điều đã mất năm 1786, Nguyễn Nể làm quan ở Phú Xuân, Nguyễn Quýnh bị Tây Sơn giết năm 1790 tại Hà Tỉnh... Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ đại diện binh quyền cho Nguyễn Khản từ Hưng Yên về ở Chu Kiều, Bắc Ninh làm nghề thuốc. Nguyễn Nghi viết truyện thơ Quân Trung Đối dài 1116 câu, và có con là Nguyễn Toản đỗ Tiến Sĩ đời Minh Mạng làm quan đến chức Viên Ngoại Lang. Nguyễn Trứ làm nghề thuốc, đậu Tam Trường năm 1779 đời Gia Long có ra làm quan, Tri phủ Nam Sách, có con là Nguyễn Thích tri phủ Nghĩa Hưng, Nam Định; Nguyễn Trù, tri phủ Vĩnh Tường, và Nguyễn Thị Uyên làm thuốc giỏi được mời vào cung chữa bệnh cho các cung nữ đời Gia Long. Trong anh em Nguyễn Du có lẽ chỉ có Nguyễn Nhưng là ở Hà Tỉnh.
Theo Gs Hoàng Xuân Hãn, trong danh sách những người ra cộng tác với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ở Sùng Chính Viện đời Tây Sơn, có Nguyễn Công con Nguyễn Khản, và Nguyễn Thiện con Nguyễn Điều.
Nguyễn Hành con thứ hai Nguyễn Điều, nhà thơ tài hoa, một trong năm nhà thơ lớn nhất nước bấy giờ, lúc đó cũng đang ở Hồng Lĩnh, nên có nhiều kỷ niệm về các cuộc đi săn của Hồng Sơn Liệp Hộ, Nguyễn Du.
Về Tiên Điền, hai anh em Nguyễn Du, ở trong một căn nhà nhỏ trên bến Quế Giang, đầu sông Long Vĩ, cạnh Giang Đình, để tiện việc coi sóc việc chuyên chở những vật liệu xây dựng bằng đường sông như gạch, ngói, gỗ, đá về xây cất. Nguyễn Du có lẽ nằm nhà trông coi việc trả lương thợ và tiếp nhận vật liệu. Công việc xây dựng lại làng Tiên Điền khá quy mô. Có đến năm đền thờ họ Nguyễn Tiên Điền:
Đền thờ [1]Ông Nguyễn Lĩnh Nam tức cụ Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du.
Đền thờ [2] Ông Nguyễn Tiên Lĩnh Hầu tức Nguyễn Huệ (1705-1733) chú Nguyễn Du.
Đền thờ [3] Xuân Quận Công tức Nguyễn Nghiễm(1708-1776) cha Nguyễn Du.
Đền thờ [4] Nguyễn Lam Khê tức Nguyễn Khản (1734-1786).
Đền thờ [5] Điền Nhạc Hầu tức Nguyễn Điều (1745-1786).ngoài ra còn có chùa Trường Ninh và Cầu Tiên.
Mọi chi phí đều do Nguyễn Nể cung ứng. Cuối năm 1794, Nguyễn Du có vào Phú Xuân nhận món tiền thứ hai.
Về Tiên Điền, Nguyễn Du chỉ còn người bạn, hiệu là Thực Đình (ăn ở đình làng) tặng cho chiếc áo vải, người bạn dạy học lây lất không đủ sống. Nguyễn Du có tặng Thực Đình bài thơ:
* *
Tặng thực Đình
Thiên hạc đàm ngư hà xứ tầm,
La Thành nhất biệt thập niên thâm.
Đồng niên đối diện cách thiên nhưỡng,
Vãng sự hồi đầu thành cổ câm (kim).
Bạch phát tiêu ma bần sĩ khí,
Đề bào trân trọng cố nhân tâm.
Mạc sầu tịch địa vô giai khách,
Lam thủy Hồng sơn, túc vịnh ngâm.
*
Thơ chữ Hán, Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ dịch thơ, bài số 58, trang 138, nxb Văn Nghệ, 2/2007.
Bản chữ Hán Ngân Triều soạn
贈 實 亭
天 鶴 潭 魚 何 處 尋
羅 城 一 别 十 年 深
同 年 對 面 隔 兲 壌
往 事 回 頭 成 古 今
白 髪 消 磨 貧 士 氣
綈 袍 珍 重 故 人 心
莫 愁 僻 地 無 佳 客
藍 水 鸿 山 足 詠 吟
*
Ngân Triều dịch nghĩa
Hạc trên trời, cá dưới đầm, biết đâu mà tìm?
Lần chia tay ở La Thành chốc đã hơn mười năm.
Bạn đồng niên diện kiến mà cứ tưởng không bao giờ tái ngộ.
Chuyện cũ nhìn lại như chuyện xa xưa.
Tóc bạc làm tiêu tan ý chí kẻ sĩ nghèo hèn.
Chiếc áo vải thô, xin trân trọng tấm lòng người bạn cũ.
Chớ sầu đất hẻo lánh không có người khách tốt,
Sông Lam, núi Hồng đủ để cho chúng ta vịnh ngâm.
*
Ngân Triều cảm đề bài Tặng Thực Đình.
Hạc trời cá nước biết tìm đâu,
Nhớ buổi chia tay Thành Nghệ lâu.
Chợt gặp tưởng chừng trong giấc mộng,
Chuyện xưa, rêu cổ tích dầu dầu.
Trắng mây tóc bó tang bồng chí,
Áo vải lòng thành trọng nghĩa sâu.
Chớ tủi quê nghèo không bạn tốt,
Lam Hồng thi hứng gió trăng thâu.
* * *
Sách vở họ Nguyễn Tiên Điền, không kém gì Phúc Giang thư viện họ Nguyễn Trường Lưu với hàng vạn quyển sách, được triều đình sắc phong, bị cháy mười phần còn một hai, chất quanh vách nhà. Ngoài cửa một khóm cúc vàng, bếp vắng lặng vì thiếu người đàn bà bếp núc. Về đây sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, Nguyễn Du phải Khóc cười thời loạn theo trần thế, bệnh yếu lặng câm mà giữ thân.
Về Tiên Điền bệnh cũ mười năm trước ở Vân Nam tái phát, Nguyễn Du: Nằm bệnh mười tuần bến Quế Giang. Ngày xưa tuần là tuần trăng, nửa tháng, từ trăng tròn đến trăng khuyết. và từ không trăng đến tròn trăng.
(Một cách hiểu khác là tuần trăng có mười ngày. Bệnh 10 tuần trăng tức 100 ngày hay ba tháng 10 ngày. Trong bài Mạn hứng kỳ nhất, Nguyễn Du có than thở:
Tam xuân tích bệnh bần vô dược,
Tạp tải phù sinh hoạn hữu thân.
*
三春積病貧無葯
卅載浮生患有身
*
Xuân đau ba tháng nghèo không thuốc,
Cõi tạm ba mươi, bệnh xẻ đời
Trích Hồn quê, quyển [3], trang 200 của Ngân Triều).
***
Nguồn:
1. Đi tìm Cổ Nguyệt đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS. Phạm Trọng Chánh, 2012
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do TS. Nguyễn Xuân Diện cung cấp
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
因贈
嚴審候門别買重
𢆪𠲕坤理㦑波𨃸
買洚𡨸墨珠吏浪
殳𤗖詞𩄎意夢懞
捹抯𢤱𠲖𢵱𦰟渃
掎𢭂群碍悔𦠽紅
𠊚仙𠸠拯擂塵世
𢭄𣎏暈𩇛𤍄𬌔𢙱
*
Những ước người tiên, bay xuống giúp,
Trăng thề soi sáng, sáng soi lòng.Ngân Triều
*
Ngân Triều cảm đề bài Nhân tặng:
Từ đường vọng tộc, bao non núi!
Có dịp may nào để ruỗi dong?
Tha thiết mấy hàng rơi nước mắt,
Ngại ngùng mảnh giấy, gởi hoài mong.
Mênh mông thả lá triều đâu đến,
Quà cáp còn e mỏi cánh hồng.
Những ước người tiên, bay xuống giúp,
Trăng thề soi sáng, sáng soi lòng.
***
Tranh minh họa Nhân tặng có hỗ trợ của AI:
Mênh mông thả lá triều đâu đến,
Quà cáp còn e mỏi cánh hồng.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH với ND: bài số 8

 Bài số 8

Hoïa Thanh Lieân Chí Hieân nguyeân vaän
Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận.
Hồ Xuân Hương
Lưu biệt bài thơ chua xót lắm,
Hững hờ duyên bấy bỏ ra đi. Ngân Triều
Văn bản chép là họa Thanh Liên nguyên vận, nhưng Thanh Liên là bút hiệu thi hào Lý Bạch. Bút hiệu Thanh Hiên là của Nguyễn Du, từ khi về Quỳnh Hải cưới vợ năm 1797 mới sử dụng, năm 1796 Nguyễn Du còn dùng bút hiệu Chí Hiên. Có lẽ lúc này Nguyễn Du dùng bút hiệu Thanh Liên Chí Hiên chăng?
Bài thơ Hồ Xuân Hương viết:
Tay em còn chờ chàng dạy khúc Phượng cầu Kỳ hoàng, chờ chàng ngỏ lời cưới em,
Chàng như cánh phượng đường mây, chàng có tài cao, đường công danh thênh thang đã vội chi.
Chua xót đọc bài thơ chàng viết để lại cho em,
Sao chàng hững hờ duyên em bấy lâu nay mà nỡ bỏ đi.
Thử vàng đá, em treo giá ngọc mà đợi chàng,
Dù hoa có quý báu như phong gấm, hoa nở cũng có thời gian, em là gái chưa chồng, tuổi xuân cũng có lúc,
Lòng như đào thắm mận xanh còn nhiều niềm vui,
Chàng ơi, nỡ nào dứt ra đi!
*
Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận
Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,
Cánh phượng đường mây đã vội chi.
Chua xót lòng xem lời để lại,
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
Phong gấm hoa kia nở có thì,
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,
Xuân ơi đành nỡ dứt chia ly!
Thơ Hồ Xuân Hương, Lưu Hương ký.
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
和清蓮志軒厡韻
曲凰拪月群徐𠰺
𦑃鳳塘𩄎㐌踣之
咮㽾𢙱䀡唎底吏
𢷣哬緣閉𨀈𫥧迻
此鐄𥒥奴撩曽價
丰䌝花箕𦬑𣎏時
桃𧺀槾𩇛群趣夦
春唹𢝜怒䋎𢺹衛
Nguyễn Du có dạy đàn cho Hồ Xuân Hương. Trong thơ Phạm Đình Hổ, bài Sở hữu cảm có câu:
Buông đàn cười chẳng gảy.
Ngại làm ai chạnh lòng.
*
Tốn Phong từ xa đi ngựa đến, đã nghe tiếng nàng đàn:
Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14.
*
Tốn Phong đã từng thổi sáo và Hồ Xuân Hương đánh đàn:
Thần vào sáo ngọc tung sao đẩu,
Hứng nhập ly quỳnh chén cổ kim.
Đàn chuyển tiếng thu vang tỉnh viện,
Mộng chuyền xuân bướm ngát thơm chăn, (bài 7)
*
Khi ấy, thuyền Nguyễn Du ra khơi, để lại một mình Xuân Hương Hồ Phi Mai trên Thạch Đình khóc nức nở, trông theo cho đến khi cánh buồm còn một chấm nhỏ, dần dần mất hút dưới chân trời, biển mênh mông, đầy sóng gió, xa mờ…
和清蓮原韻 – Họa Thanh Liên nguyên vận, Hoạ vần thơ Thanh Liên. Bài thơ này hoạ vần bài "Thạch Đình tặng" (được cho là của Nguyễn Du) chép ở trước. Có thể ở đây là một lầm lẫn do chép nhầm từ Chí Hiên,Thanh Hiên ra Thanh Liên? (Theo Ts Phạm Trọng Chánh)
*
Ngân Triều cảm đề:
Kỳ hoàng, kỳ vọng lời giao ước,
Cánh phượng đường mây, đã vội chi?
Lưu biệt bài thơ chua xót lắm,
Hững hờ duyên bấy bỏ ra đi.
Thử vàng treo giá chờ tri kỷ,
Phong gấm, đời hoa nở có thì,
Đào thắm mận xanh duyên đắm đuối,
Xuân ơi, sao nỡ biệt kinh kỳ!

Ảnh minh họa , có hỗ trợ của AI.
Nguồn:
1. Đọc Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương do Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm và chú thích, TS. Phạm Trọng Chánh, 2012
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do TS. Nguyễn Xuân Diện cung cấp.
***
Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI:

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo. Bài số 7

 Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo.

Bài số 7:
Thaïch Ñình taëng bieät
(Thạch Đình tặng biệt)
Hồ Xuân Hương
Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời, 
Nước non sầu nặng muốn đi về.
Cung hoàng dịệu vợi đường khôn lọt,
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ ma hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi.
Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương đã chép trong Lưu Hương ký.
*
Nguyễn Du đã ứng khẩu tặng Hồ Xuân Hương bài thơ chữ Nôm (dịch nghĩa bài thơ trên):
Bấy lâu nay ta đã quen biết nhau, có tình có nghĩa với nhau nhiều kỷ niệm,
Nay nặng lòng với việc nhà, việc nước anh phải về quê hương.
Khúc Phượng cầu Kỳ hoàng như lời ngỏ ý anh chưa tỏ cùng em,
Lòng em đã mơ màng giấc chiêm bao rồi.
Có chắc ta yêu nhau chưa mà cho lửa tình bén cháy,
Những giọt lệ tình tiếc mùa xuân đi qua.
Tình như lá xanh hoa vàng nếu chẳng phụ lòng nhau,
Rồi đây chúng ta sẽ có ngày sum họp.
*
Chú thích:
Cung Hoàng: 宮凰 Chỉ khúc "Phượng cầu Kỳ hoàng".
*
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
石亭贈别
塘義悲𥹰㤕捤撝
渃𡽫愁𨤼㦖迻衛
宮凰妙溈塘坤𢯰
堂月𢠩恾𥋏唉謎
㐌𠺵香𫤩㧣焒𤊰
淚麻花吏獧春迻
𩇛黄丞負𢙱恩愛
𧷺陣𨩍情共𣎏欺
*
Kỳ hoàng, âm sắc gieo bao nỗi,
Đường nguyệt cô miên nhớ đoạn trường.
*
Ngân Triều cảm đề:
Tình nghĩa keo sơn, dạ mến thương,
Quan san lòng nặng, nghĩa quê hương.
Kỳ hoàng, âm sắc gieo bao nỗi,
Đường nguyệt cô miên nhớ đoạn trường.
Có chắc thơm đâu nồng bén cháy?
Hoài Xuân giọt ngọc, tủi thân vương.
Xanh vàng chẳng bạc tình chung thủy,
Tái ngộ ngày vui nắng nhuộm đường.
*
Bài thơ khá chua chát! Chắc là Nguyễn Du muốn thử lòng nàng có thật yêu mình không. Chúng ta thấy Xuân Hương tha thiết, chân thành yêu Nguyễn Du, nhưng chàng có lẽ vì còn mộng công danh, hoài bảo của một sĩ phu con nhà gia thế, quốc gia hưng vong thất phu hữu trách, muốn đi vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, nên lòng còn phân vân, chưa quyết. Chàng hẹn với Hồ Xuân Hương khi xênh xang áo gấm, sẽ quay lại với nàng như gương vỡ lại lành:
Tròn trặn gương tình cũng có khi.
***

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo, bài số 5&6:

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo. Bài số 5:
Töôûng ñaùo nhaân tình
minh nhieân haï leä taåu buùt phuïng trình
(Tưởng đáo nhân tình minh nhiên tấu bút phụng trình).
Hồ Xuân Hương
Rồi một ngày cuối mùa hạ năm Quý Sửu 1793, mối tình Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du đã ba năm vẹn. Mùa hạ sen nở, gần đến cuối hạ mới đi hái sen, hái gương sen rồi quen Hồ Phi Mai. Nguyễn Du báo tin cho Hồ Phi Mai biết chàng trở về Hồng Lĩnh cùng em Nguyễn Ức, xây dựng lại từ đường, đình chùa, cầu Tiên vì làng Tiên Điền đã bị tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ làm cỏ, đốt phá năm 1790 do cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quýnh.
Anh Nguyễn Du, Nguyễn Nể, sau khi đi sứ về, làm quan ba năm tại Bắc Hà. Vua Quang Trung mất năm 1792, nay được Vua Cảnh Thịnh thăng Đông Các Đại học sĩ, gia thăng Thái Sử, Thự tả Nghị lang, được lệnh về Phú Xuân trông coi văn thư Cơ Mật Viện. Chức vụ gần như thường trực, thầy dạy bên cạnh vị vua trẻ mới lên mười. Nguyễn Nể không thể trông coi việc xây cất nên giao việc này cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức; nhất là Nguyễn Ức có tài kiến trúc, vẽ kiểu, tính toán, chỉ huy thợ; về sau cung điện Phú Xuân thời Gia Long Minh Mạng đều do Nguyễn Ức chỉ huy xây cất.
Biết tin này Hồ Xuân Hương đau đớn viết bài Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình. Nghĩ đến chuyện cách xa nhau, sụt sùi rơi lệ, nhân đó, viết nhanh, trao cho Nguyễn Du để bày tỏ nỗi lòng mình.
*
Nhất Uyên dịch nghĩa:
Mối tình đầu thắm thiết, nguyện ba kiếp hẹn nghĩa non vàng,
Buồn man mác lòng mình nên thổ lộ cùng chàng.
Em chẳng vượt đèo mây Tam Điệp cùng chàng về Hồng Lĩnh,
Nhưng lời thề nguyền hương lửa ngỡ cũng lên đường theo chàng.
Lời nào mình thề hẹn với nhau cùng nước non,
Tình chàng chân thật hay gió trăng qua đường, mà chán chường em chăng ?
Dù tấm thân em có bị lao đao thế nào, em chẳng tiếc chi cả.
Xin hãy thương nhau, sao cho trọn tấm lòng.
Nguồn: Bài thơ chữ Nôm, tựa chữ Hán, chép trong Lưu Hương ký:
*
Những lời non nước ngân nga mãi,
Mộng ước trăm năm có chán chường? Ngân Triều
*
Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình
Ba sinh tự hẹn nghĩa non vàng
Man mác lòng riêng lại ngỡ càng.
Lối bước đèo mây đành chẳng đã,
Mảnh nguyền hương lửa ngỡ lên đường.
Nước non lời nọ nào chuông chắn,
Trăng gió lòng kia mãi chán chường.
Đày đoạ thân này thôi chẳng tiếc.
Thương sao cho trọn tấm lòng thương.
Hồ Xuân Hương
*
Bản Hán-Nôm Ngân Triều soạn:
𠀧生自哏義𡽫鐄
漫漠𢙱貞吏𢣸強
𨇒𨀈岧𩄎𢝜拯㐌
𤗖𡅪香焒𢣸𨑗塘
渃𡽫唎奴閙鐘振
綾𩙍𢙱箕買𠺲悜
𢰥墯身尼崔拯惜
愴𡫡㧣侖𤗲𢙱愴
*
Chú giải:
Ba sinh: 𠀧 生, ba kiếp sống tích ba sinh hương hỏa, Sách Quần Ngọc chú chép:
Tỉnh Lang tới chơi, chùa Nam Huệ tự nằm chơi ngủ quên thấy mình đi chơi non Bồng, gặp một ông thầy ngồi niệm kinh trước mặt có cây hương đang cháy. Tỉnh Lang hỏi, ông thầy đáp: khi trước có một người đi chùa thắp cây nhang này, khấn nguyện, nhang hãy còn cháy, mà người ấy đả trải qua ba kiếp rồi: Kiếp đầu làm quan Phủ Sứ đất Kiến Nam, thời Đường Huyền Tôn; kiếp sau làm quan, Tây Thục đời Đường Hiến Tôn và kiếp thứ ba tên Tĩnh Lang. Tĩnh lang nghe tên giật mình tỉnh dậy, nửa tin nửa ngờ.
Man mác: 漫漠; man 漫là tràn; mác hay mạc漠 là rộng nhiều. Man mác漫漠 là có tâm trạng đượm buồn dâng tràn trong lòng:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến
Chuông chắn: 鐘振, vuông vắn, ngay thẳng, trọn vẹn. Ở đây hiểu là trọn ven.
*
Ngân Triều cảm đề:
Ba sinh ước hẹn sánh non vàng,
Man mác lòng riêng dám ngỏ chàng.
Tùy xướng đèo mây duyên chửa định,
Hương thề như đã nặng riêng mang.
Những lời non nước ngân nga mãi,
Mộng ước trăm năm có chán chường?
Lặn lội thân cò thân chẳng tiếc.
Thương sao cho vẹn mới là thương!
*****
Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo, bài số 6: 
Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo:
Bài số 6:
Giang Nam phuï níp kieâm löu bieät höõu nhaân.
(Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân)
Hồ Xuân Hương
Bài Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân, (Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam), Hồ Xuân Hương viết năm 1793 để tiễn Nguyễn Du về Hồng Lĩnh. Cuộc tiễn đưa nơi trường đình phía Nam sông Hồng, khúc sông đó là sông Vị Hoàng, Nam Định ngày nay. Nguyễn Du, Nguyễn Ức mang một số tiền khá lớn, có lẽ là tiền thưởng của Nguyễn Nể sau khi đi sứ về. Mang tiền bạc đi xa, đi thuyền kín đáo, an toàn hơn đi đường bộ. Ngày xưa chưa có va-li, người Việt xưa dùng một tấm khăn vải lớn, bọc hết đồ đạc, hai chéo khăn được cột chặt để giữ hành lý, hai chéo khăn còn lại cột dài để mang trên vai. Khăn gói bây giờ chia tay nhau vạn dặm, vạn dặm đây chỉ là một cách nó xa cách muôn trùng. (Từ Vị Hoàng về đến Hồng Lĩnh, cách nhau chỉ vài trăm dặm).
Nhất Uyên dịch nghĩa:
Nơi trường đình rót chén rượu đặt trên khay mời cạn chén ly bôi.
Cánh buồm sẽ căng lên đôi cánh vì chở sầu làm thuyền nghiêng nặng.
Chàng đi vì trọng trách gia đình, tổ tiên; sầu dâng muốn lấp lòng sông cho nước triều không chảy nữa, cố nén lòng như nước sông sâu, để nước mắt chẳng trào.
Nhìn lại cây cỏ cũ, mùi hương chửa mất.
Xa quê, vời trông núi non Hồng Lĩnh cao ngất, xa mờ.
Xa nhau rồi mong sẽ có ngày chúng ta gặp lại nhau.
Nếu lỗi lời thề non hẹn biển, thì thà chết đi trên ngọn sóng đào.
*
Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam
Khăn gói bây giờ vạn dặm nao,
Trường đình rượu tiễn chén mời trao.
Buồm căng đôi cánh sầu nghiêng nặng,
Sầu nén sông sâu nước chẳng trào.
Cỏ cũ lặng nhìn hương chửa mất.
Xa quê quay ngóng núi quê cao.
Xa nhau còn có ngày gặp lại,
Thề biển thà cho ngọn sóng đào.
Nhất Uyên dịch
Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân
Phụ níp tòng kim vạn lý dao,
Trường đình tửu tiễn thượng thù giao.
Muộn đôi phàm sí thuyền thiên trọng,
Sầu áp giang tâm thuỷ bất trào.
Cựu thảo ngưng mâu hương vị tán,
Tha hương hồi thủ vọng cô cao.
Tuy nhiên thượng hữu tương phùng nhật,
Thệ hải ninh dung nhất lãng đào.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ và phiên âm.
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
3, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tinh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, Tiến Sĩ Phạm Trọng Chánh.
*
Bản Hán-Nôm, Ngân Triều soạn:
江南負笈兼留別故人
負 笈 從 今 萬 里 遙
長 亭 酒 餞 尚 酬 醪
悶 堆 帆 翅 船 偏 重
愁 壓 江 心 水 不 潮
舊 草 凝 眸 香 未 散
他 鄉 回 首 夢 孤 高
雖 然 尚 有 相 逢 日
誓 海 寧 容 一 浪 濤
*
Khăn gói sang sông Nam, nhân gửi bạn
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Khăn gói khởi hành vạn dặm nao,
Trường Đình rượu tiễn chén mời trao.
Buồn dâng buồm vút thuyền nghiêng nặng,
Sầu nén sông sâu nước chẳng dào.
Cỏ cũ nhìn lâu hương chửa tán,
Làng ai quay lại núi quê cao.
Rồi ra còn có phen cùng gặp,
Thề biển thà cho đợt sóng đào.
*
Chú thích:
Giang Nam: 江 南,Dữu Tín người đời Nam Bắc Triều, làm quan xa nhà lâu ngày không về, có làm bài Ai Giang Nam phú tỏ lòng nhớ thương quê hương, từ đó chữ Giang Nam còn có nghĩa là lòng nhớ thương quê hương…
Dẫu rằng có hẹn ngày tương ngộ,
Bội bạc vùi thây lớp sóng dồi. Ngân Triều
Ảnh Con tàu được đặt tên là Sông Saigon, sau được đổi tên lại thành La boudeuse, được đóng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Con tàu này đã có một khoảng thời gian dài tung hoành bên châu Âu trước khi bị chìm ở Địa Trung Hải,/La Boudeuse: Nàng quạo quo5, khó tính/ ảnh Google,
*
Ngân Triều cảm đề:
Khăn gói xa nhau vạn dặm rồi!
Trường đình rượu tiễn rót đưa mời.
Buồm xuôi tê tái buồm chao đảo,
Nước ép sông sầu nước chẳng trôi.
Trong mắt cỏ xưa hương vẫn đọng,
Lòng quê vời ngóng núi xa khơi.
Dẫu rằng ước hẹn ngày tương ngộ,
Bội bạc vùi thây lớp sóng dồi.
***

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo: Bài số 4:

 Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo: Bài số 4:

Duyeân kyø ngoä (Duyên kỳ ngộ)
Hồ Xuân Hương
Bài Duyên kỳ ngộ trong văn bản Landes. Xuân Hương tin rằng gặp Nguyễn Du là duyên kỳ ngộ.
Vì dinh thự ở quê của cha anh bị kiêu binh đốt phá, nên Nguyễn Du mới ra ở nơi gác tía, nơi câu cá của ông anh Nguyễn Khản ở Bích Câu nên có dịp gần gủi với Xuân Hương, Hồ Phi Mai. Nàng tin ở duyên số. Đôi lứa dù có xa nhau ngàn dặm, có duyên thì sự cũng thành, sẽ thành chồng vợ. Đừng nên phân vân, lo lắng chi mà phí cả tuổi xuân xanh…
Không cần thả lá đề thơ như cung nữ Hàn Thúy Tần với chàng Vu Hựu. Lòng ta như chim tới vườn đào, tình sẽ thắm tươi.
(Theo TS Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du. Xin trích lại để liên tục dòng cảm thụ: bài số 14 chương III, trang 198):
Duyeân kyø ngoä (Duyên kỳ ngộ)
Hồ Xuân Hương
[Bài 4]Ảnh minh họa Duyên Kỳ Ngộ, Google.

Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,   
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gũi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi dòng ngự,
Chim tới vườn đào thế mới xinh.
*
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
縁 奇 遇
𠦳 𨤵 固 縁 事 共 宬
吀 仃 𢥈 𢠯 歇 春 青
𡬷 𨧠 拪 畵 詩 空 𢴑
近 噲 弓 楊 𦲿 吻 㵛
𢏡 産 筆 啼 羕 埕 治
𠸙 恾 椎 伋 㐌 抨 抨
綏 空 且 𦲿 㵢 𣳔 御
𪀄 細 𡑰 桃 世 㵋 𦎡
*
Chú giải:
Duyên: 縁, lý do như duyên cớ, duyên do…; đẹp, như khả ái như duyên dáng…; may mắn như cơ duyên…; dọc theo như duyên hải…; vợ chồng hòa hợp nhau như duyên hài…; cái phận mình có duyên đã được định trước như duyên phận, duyên số…
Kỳ ngộ: 奇 遇: sự gặp gỡ lạ lùng.
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 259-260
Tấc gang tay họa thơ không dứt: 𡬷 𨧠拪 畵 詩 空 𢴑, ý nói văn tài thấp kém , hèn mon nhưng vẫn liên tục xướng họa cùng các bạn văn nhân.
Cung dương: 宮 楊: nhà đầy khí dương, ý nói giao tiếp rộng rãi với người khác phái là nam giới.
Gần gũi cung dương lá vẫn lành: 近 噲弓 楊 𦲿 吻 㵛, luôn giao du thân mật với những bạn văn chương , nam giới) mà tâm hồn vẫn trong sáng, chính chuyên.
chĩnh chện埕 治như chễnh chện: từ gợi tả dáng ngồi nghiêm trang, ngay ngắn đường hoàng trong tự tin. Ở đây ý nói sự thành công trong thi tài, theo truyện dưới đây, giai nhân chỉ kỳ vọng vào hai ứng viên đối diện, (nhà thiện xạ hoặc văn nhân) vì họ đã sắp sửa xong việc thi tài của mình. (xem giải thích
*
(1-2): Lý do không nên lo lắng cho duyên phận lỡ làng:
Hãy tin vào duyên số! Nếu đôi lứa có duyên nhau, cho dẫu cách xa nghìn dặm, thì cuối cùng cũng thành, như chim liền cánh, cây liền cành.
Hãy tự nhủ, đừng nên lo lắng cho việc duyên phận chưa đến, khi tuổi Xuân phôi pha trong đợi chờ.
(3-4): Phẩm chất trong giao tiếp:
.Luôn luôn giao lưu với những bạn thơ, cùng nhau xướng họa.
.Chung đụng với những hiền nhân quân tử mà tâm hồn vẫn vẹn toàn, đứng đắn, sáng trong. Điều đó, chính là phẩm chất trong sáng của người phụ nữ hay của nhân vật trữ tình, trong giao tế xã hội bấy giờ.
(5-6): Chuyện bất ngờ, ngoài dự định, vẫn thường xảy ra: (Xem tóm tắt truyện Hữu duyên hiên lý năng tương ngộ dưới đây:
. Chỉ có một trong hai chàng: nhà thiện xạ, tên sẵn; hoặc chàng nho sĩ, bút đề, sẽ là người đoạt giải.
. Nào ngờ, chàng lực sĩ, hoàn thành nhiệm vụ trải qua hàng ngàn dặm đường, đã nổi trống báo hiệu chiến thắng rồi.
(Thấy vậy, tưởng là kết quả tốt đẹp, trọn vẹn; nhưng sự đời luôn có những bất ngờ nghịch lý, trớ trêu. Cho nên nói tắt là: Thấy vậy, mà biết đâu, không phải vậy).
Đó là nội dung hai câu thơ:
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng.
有 縁 千 里 能 相 遇
無 縁 對 面 不 相 逢
Có duyên ngàn dặm thường hay gặp,
Vô duyên đối mặt chẳng sum vầy.
Xuất phát từ giai thoại sau đây:
Hữu duyên hiên lý năng tương ngộ:
Xưa có một giai nhân, sắc nước hương trời, con nhà quyền quý kén chồng.
Một hôm, bỗng có 3 chàng thanh niên tuấn tú đến xin thử tài một lượt. Gia chủ rất bối rối nhưng cuối cùng giao việc theo sở trường của các chàng như sau:
Chàng nho sĩ phải viết xong một pho sách cổ.
Chàng thiện xạ phải bắn rụng hết lá của một cây ngô đồng trước sân.
Chàng lực sĩ phải đi lấy một cái trống nơi nhà một người quen với gia chủ ở kinh đô mang về, diệu vợi, ngàn dặm, đường xa. Hễ ứng viên nào hoàn thành trước nhất thì được sánh duyên cùng người đẹp. Người đẹp cứ ngỡ chỉ có chàng thiện xạ (tên sẵn) hoặc chàng nho sĩ (bút đề) sẽ đạt mục đích vì lá cây rụng gần hết, pho sách cổ cũng sắp hoàn thành. Trong giây phút hồi họp, lâm ly ấy, bất ngờ, dưới sân trang viện, bỗng có một hồi trống rộn rã vang lên, tức là chàng lực sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ và được kết duyên cùng giai nhân. Ý nghĩa hai câu luận nầy là nhắc lại duyên nợ vợ chồng là do duyên số. Nếu đôi lứa có duyên với nhau thì cho dẫu phải cách xa nghìn dặm, cuối cùng cũng sẽ được toại nguyện.
(7) Không thư từ qua lại:
Thả lá且 𦲿 hay lá thắm: “Sự tích Vu Hựu, người đời Đường Hy Tông, một hôm, bắt được một chiếc lá đỏ từ dòng ngự câu trong cung trôi ra, trên lá có đề thơ. Hựu bèn đề một bài thơ đáp lại rồi đem lên thượng lưu thả xuống, người cung nữ là Hàn Thị bắt được.Ít lâu sau, nhà vua băng hà, toàn thể cung nữ bấy giờ được thải ra. Duyên may, Vu Hựu lấy Hàn Thị và nhận ra nhau qua chiếc lá đỏ. Hàn Thị làm một bài thơ có câu: “Phương tri hồng diệp thị lương môi” 方 知 紅 葉 是 良 媒 (Mới biết, chiếc lá thắm làm mai mối hay như thế).
(😎 Đất lành chim đậu là điều tự nhiên, tương tự như con chim kia tới vườn đào, người con trai đa tình, đến với người yểu điệu thục nữ, mới tự nhiên, đúng đắn, hợp lý-hợp tình.
*
Ngân Triều cảm đề:
Duyên số xa xôi chuyện vẫn thành,
Lo ba lo bảy, phí ngày xanh.
Tương phùng tri kỷ thơ lai láng,
Chung thủy hẹn lòng non biển xanh.
Tên sẵn, bút đề, mong chọn một,
Cuối cùng trống giục hóa mong manh!
Biết chăng thả lá do trời định,
Chim đến vườn đào, ngỡ bóng oanh.
***