Bài số 23:
Ñoäc Tieåu Thanh kyù
Độc Tiểu Thanh ký
Nguyễn Du
Nhờ ba năm lưu lạc (1786-1799) thành nhà sư Chí Hiên đi muôn dặm chu du Trung Quốc, Nguyễn Du nói thạo tiếng Trung Quốc, nên khi ra làm quan được mấy tháng từ Tri huyện Phù Dung, Nguyễn Du được thăng lên Tri phủ Trường Tín đặc trách tiếp sứ Thanh sang phong vương vua Gia Long. (Nguyễn Án được bổ làm tri huyện thay Nguyễn Du ở Phù Dung)… Đường công danh thăng tiến, nhưng người vợ họ Đoàn qua bốn lần sanh, chỉ để lại một con Nguyễn Tứ và qua đời.Mùa thu năm 1804, Nguyễn Du xin nghĩ bệnh một tháng. Từ Thường Tín, Nguyễn Du về thăm lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, đến nơi thì vườn cảnh đã hoang vu thiếu bàn tay chăm sóc của Hồ Phi Mai.
Từ khi lấy anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, chẳng bao lâu anh thầy Lang mất, nàng lại trở về với mẹ, Cổ Nguyệt đường dạy học, rồi yêu Mai Sơn Phủ, mối tình để lại những bài thơ nồng nàn thắm thiết, thề thốt.. trong Lưu Hương ký. Mai Sơn Phủ cũng người ở Vinh (Vịnh Phố) trở về quê để cậy cha mẹ cưới hỏi, chàng về quê thì biệt tăm trong chiến tranh, trong trận đánh cuối cùng vua Gia Long và Tây Sơn. Hồ Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Phú thì gặp một học trò cũ của cha, là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, Xuân Hương nhận làm lẽ, nhưng vợ cả ghen tuông, nàng đang đau ốm, có thai 6 tháng, thân phận như nàng Tiểu Thanh.
Bên song cửa Cổ Nguyệt đường, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh ký gửi Xuân Hương, Hồ Phi Mai:
Vườn cảnh Cổ Nguyệt đường nơi Tây Hồ đã thành gò bãi hoang vu vì thiếu bàn tay chăm sóc của nàng,
Bên song cửa, xao xuyến và chua xót đọc lại một trang sách sót lại của nàng.
Người con gái tài năng xuất chúng, (có thần), cho dẫu sầu đời chết đi, chắc là hồn nàng vẫn còn oán hận.
Văn chương vô mệnh dù đốt cháy vẫn còn tàn dư.
Mối hờn xưa nay chỉ có biết hỏi trời, vì đâu những người phong lưu tài sắc lại có cái án oan nghiệt như thế.
Chẳng biết hơn ba trăm lẻ nữa,
Người đời ai còn khóc tố như ?
Ba trăm năm lẽ nữa, kể từ nàng Tiểu Thanh đến thời điểm sáng tác bài thơ nầy, ba trăm năm lẽ sao ai sẽ khóc nàng Xuân Hương Hồ Phi Mai. (Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết; như là như cũ, như vậy, giống như.
Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.
Ảnh minh họa: Bên bờ Hồ Tây ngày xưa, Google
*
1- Bản dịch của Lê Thước
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:40
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
*
2- Bản dịch của Quách Tấn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Hồ Tây hoa kiểng giải gò hoang,
Cửa hé trang thư chạnh điếu nàng.
Hận luống vương thêm hồn phấn đại,
Tro chưa tàn hết nghiệp văn chương.
Thanh thương khó hỏi oan chồng chất,
Phong nhã đành chung nợ văn chương.
Rồi Tố Như nầy ba k nữa,
Trần gian ai kẻ sụt sùi thương.
*
3- Bản dịch của Thân Bá Trường Sơn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Tây hồ hoa cảnh thảy thành hoang,
Trước cửa tờ thư khóc điếu nàng.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn mang.
Sầu hận xưa nay trời khó hỏi,
Nỗi oan phong nhã khách còn vương.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như ?
*
4- Bản dịch của Nhất Uyên
Đọc Tiểu Thanh ký
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu,
Bên cửa viếng nàng một áng thư.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương vô mệnh cháy còn dư.
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách lụy sầu.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Còn Nàng ai khóc một niềm đau.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.
*
5- Bản dịch của Vũ Tam Thập
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:42
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
*
Chú thích:
Hoa uyển, 花苑có bản chép mai uyển theo thơ Tốn Phong trước nhà Xuân Hương có trồng nhiều mai trắng. Tốn Phong còn gọi nhà nàng là Mai đình. Tại Tây Hồ Hàng Châu trước nhà Tiểu Thanh cũng có rừng mai rộng bát ngát, thi sĩ Lâm Bô đời Tống vào rừng mai thưởng hoa đi lạc không biết đường về.
Tố Như, 素如, tên tự của Nguyễn Du 阮攸; Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766– mất năm 1820, tên tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ 鴻山獵戶, Nam Hải điếu đồ 南海釣屠, là một nhà thơ nổi tiếng, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là " Đại thi hào dân tộc".
***
Tượng đài Hồ Xuân Hương
Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,,
Còn ai thương cảm Tố Như nương?
Ảnh minh họa, Google
*
6- Ngân Triều cảm đề, bài Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du.
.Tây Hồ dâu bể hóa gò hoang,
.Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
.Duyên kiếp phũ phàng, nào oán hận,
.Văn chương lửa hận, vẫn còn oan.
Tranh minh họa, Gemini hỗ trợ
.Xưa nay uẩn khúc , trời khôn hỏi,
.Cái nghiệp oan gia , khách tự mang.
.Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,
.Còn ai thương cảm Tố Như nương? (NT)
*
Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận vì phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Không thể kéo dài cuộc sống:
Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Vì Tổng Cóc yêu thương như chuột vọc:
Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
…Một tháng đôi lần có cũng không.
…Chàng Cóc ơi, Chàng Cóc ơi, thiếp bén duyên với chàng thế là đủ rồi. Thiếp xin dứt tình với chàng từ đây như nòng nọc đứt đuôi. Dù chàng có cho thiếp nghìn vàng, thiếp cũng như con cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại với chàng. Cóc hay vào nhà trốn vào xó bếp hay gầm giường, đuổi đi, hay bắt bỏ ra xa cũng quay đầu trở lại, chỉ có bôi vôi vào đầu là đi biệt luôn không dám trở lại nữa.
*
KHÓC TỔNG CÓC
Hồ Xuân Hương
Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi! (1)
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi. (2)
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, (3)
Nghìn vàng không chuộc dấu bôi vôi. (4)
*
Chú giải:
Tổng Cóc tên thật là Nguyễn Bình Kình, ở làng Gáp nay là Tứ Xã, Lâm Thao-Phú Thọ. “Bài thơ tài tình lắm trong câu chữ (cóc, bén (nhái), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), bôi vôi…) nhưng để lại biết bao điều võ đoán. Cả trăm năm trước, bài thơ đã bị nhiều người hiểu lệch. Trước hết bài thơ gợi cho người đọc, nghĩ đến vợ khóc chồng vừa quá cố. Sự thực đâu phải vậy! GS Lê Trí Viễn có phân tích và cho rằng bài thơ vừa bộc lộ nỗi đau xót vừa thể hiện sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không nói là hờn oán. Có vẻ như bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Bài thơ không ra lời tang mà như lời tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình”. (Nguyễn Cẩm Xuyên-Hồ Xuân Hương, huyền thoại và sự thật-Tạp chí KTNN số 663 ngày 10/01/2009).
Ảnh chụp Bản chữ Nôm:
Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi
(Bản khắc 1921)
Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đình Hổ và bè bạn, Xuân Hương đã mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đã sinh con:
Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ,
Chốn dời Mai mới nở thêm cành.
(bài 15)
Tiếc thay đứa con gái sinh ra là mất, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm Tốn Phong ca tụng tít trời xanh.
Quán sách nàng là nơi các học trò ông nghè Phạm Quý Thích lui tới, để ngắm bà chị.Trong đám học trò thường đến hiệu sách của nàng có cậu bé lên tám bị mắng là:
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa,
Có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu về sau sẽ cùng Cao Bá Quát nổi tiếng qua lời khen của Vua Tự Đức:
Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,
Thi đáo Tùng Tuy nhất thịnh Đường
文 如 超 适 無 前 漢
詩 到 從 綏 一 盛 唐
Tạm dịch:
Văn như Siêu và Quát, mà so với văn đời Tiền Hán thì văn thời Tiền Hán cũng không có giá trị gì;
Đến thơ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thì là số một so với thơ của thời Thịnh Đường”.
Sở dĩ, cho là của Tự Đức là hai câu trên nói theo khẩu khí đế Vương, gọi xách mé tên tục Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, 阮文 超. (1799-1872) là “Siêu”; cử nhân Cao Bá Quát, 高 伯 适 ,(?-1854) là “Quát” thì chỉ có Đức Kim Thượng (Vua đương thời) mới dám gọi “thần Siêu, thánh Quát” như thế; còn bình thường tôn trọng đều gọi “Nguyễn Phương Đình” và “Cao Chu Thần”.
Tùng ở đây là Tùng Thiện công, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, 阮 福 綿 審,(1819-1870) và Tuy là Tuy Lý công, Nguyễn Phúc Miên Trinh, 阮 福 綿 寊,(1820-1897). Sau hai vị này được truy tặng là Tùng Thiện Vương, 從 善 王 và Tuy Lý Vương, 綏 理 王, (1936) đều là con Vua Minh Mạng, và vai vế vào hàng chú của Vua Tự Đức.
***
Tranh minh họa có Gemini hỗ trợ:
Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,
Còn ai thương cảm Tố Như nương? (NT)