Thơ hay chọn lọc, trích Lưu Hương Ký của HXH, bà 3 và 4 (tiếp theo)
Bài số 3:
Döõ Sôn Nam thöôïng,
Hieäp Traán quan Traàn Haàu xöôùng hoïa (baøi 1)
(Dữ Sơn Nam thượng, Hiệp Trấn Quan Trần Hầu xướng họa, bài 1)
Xuân Hương xướng:
Biệt ly bịn rịn
tình lưu luyến,/ ảnh minh họa, Google
Bình thủy tương phùng, nguyệt hạ tôn,
Cương trường phiến
phiến thuộc nan ngôn.
Khiêu cầm hữu ý
minh hoàng xướng,
Nhiễu thụ vô đoan
ngữ thước huyên.
Thùy tục già thanh
quy Hán Khuyết,
Tự tu liên bộ xuất
Hồ môn.
Bán diên biệt hậu
tình đa thiểu,
Mạch mạch không ly
sảnh nữ hồn.
Câu 7, hậu 後,
trong Lưu Hương Ký chép là hận 恨
Văn bản chữ Hán, Ngân Triều soạn, bài 3:
苹 水 相 逢 月 下 樽
剛 膓 片 片 属 難 言
挑 琴 有 意 明 皇 唱
繞 𣗳 無 端 語 鵲 喧
誰 續 𡂪 聲 歸 熯 闕
自 羞 蓮 歩 岀 胡 門
半 沿 别 後 情 多 少
陌 陌 空 離 清 女 魂
Chú giải:
Bình thủy 苹水= bèo và nước.
tương
phùng 相 逢 = cùng gặp nhau.
nguyệt hạ 月 下 = dưới
trăng.
tôn 樽 = chén rượu.
Cương trường 剛 膓 = ruột
cứng , tấm long quả quyết, tấm long son.
phiến 片 = khúc, đoạn, mảnh.
nan ngôn 難 言 = khó
nói nên lời.
Khiêu cầm 挑 琴 = đàn
lên.
hữu ý 有 意 = có ý, chủ ý.
minh hoàng xướng 明 皇 唱 =tơ khúc Minh Hoàng, nhạc thiều Minh Hoàng.
Nhiễu thụ 繞 𣗳=quanh gốc cây.
vô đoan 無 端 = không biết vì sao.
ngữ thước huyên 語 鵲 喧=chim khách réo vang.
Thùy tục 誰 續 = ai
tiếp nối.
già thanh 𡂪 聲 = tiếng xen vào.
quy Hán khuyết 歸熯闕 =về
cửa cung nhà Hán
Tự tu 自 羞 =tự xấu hổ, lòng buồn.
liên bộ 蓮 歩 =bước chân như hoa sen; gót sen, bước chân mỹ
nhân.
xuất Hồ môn 岀 胡 門 = đi
qua cửa “rợ” Hồ.
bán diên 半 沿 = noi theo nửa cái cũ.
Biệt hậu 别 後 =sau khi cách biệt.
Tình đa thiểu 情 多 少 = tình nhiều ít, biết bao.
Mạch 陌 = con
đường nhỏ.
Không ly 空 離 = xa rời vô nghĩa, lìa tan.
sảnh nữ hồn 清 女 魂 = hồn của người con gái đáng thương, lạnh lùng.
Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 3:
Thân bèo nước gặp nhau nâng chén rượu dưới
trăng.
Tấc lòng son sắt thật là khó nói.
Gọi đàn, vì có ý mà gảy khúc Cầu Hoàng.
Quanh cây không cơn cớ gì mà chim thước
réo vang. (chim khách).
Ai chuộc tiếng kèn Hồ trở về cung Hán.(Ai
tấu lên bài Quy Hánđó!)
Tự thẹn về việc gót sen đi qua khỏi cửa rợ Hồ.
Sau phút ly biệt, còn lưu luyến biết bao
tình.
Lớp lớp khôn rời hồn người con gái đáng
thương.
Thơ của Ô.Trần Thanh Mại:
Gặp gỡ dưới trăng chuốc chén mời,
Lòng son đòi đoạn chẳng nên lời.
Khúc đàn ai gảy đà đưa ý,
Ngoài ngõ khách kêu chẳng thấy người.
Ai chuộc tiếng kèn về Hán đó ?
Tủi lê gót ngọc đất Hồ rồi!
Biệt ly dở tiệc tình lưu luyến,
Hồn Sảnh sầu đau mạch mạch khơi.
Bèo nước cùng
nhau, chén dưới trăng,
Ruột gan, lòng muốn
tỏ, sao đang?
Ngân Triều, Ảnh
Google.
Ngân Triều cảm đề
Bèo nước mời nâng chén dưới trăng,
Ruột gan, lòng muốn tỏ, sao đang?
Tiếng tơ, réo rắt Minh Hoàng khúc,
Chim khách cớ gì bay réo vang?
Ai tấu lên bài Quy Hán đó?
Thẹn nhìn
mỹ nữ cống Hồ man!
Biệt ly bịn rịn sầu muôn nỗi,[1]
Hồn nữ lâm ly[2] lệ ướt khăn.[3]
***
Tham khảo một số bài họa của Hồ Xuân Hương:
Xướng hoạ cùng ông Trần Hầu - quan Hiệp trấn
Sơn Nam thượng. Trấn Sơn Nam thượng gồm đất của hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên sau
này. Trị sở đặt ở Châu Cầu (Phủ Lí).
Bài này cũng được chép trong sách Tục Hoàng Việt thi tuyển, nhưng lại được
coi là bài thơ Hồ Xuân Hương hoạ thơ ông Hiệp trấn. Còn Lưu hương kí thì cho rằng
đây là bài xướng của Xuân Hương. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn căn cứ theo Tục Hoàng
Việt thi tuyển.
Văn chương diện kiến
tiếng hằng mong,
Ghé bến thuyền mơ lúc rạng đông.
Ngân Triều.Ảnh minh họa, Google.
韓 名 久 仰 喜 相 逢
近 接 光 儀 日 正 東
厚意未 交 知 水 淡
情懷初 飲 覺 醇 濃
吾 州 聲 氣 還 相 尚
我輩才 情 正 所 鍾
握手談 心 君 莫 怪
陸江一 去 水 千 重
Döõ Sôn Nam Thöôïng, Hieäp trấn quan Trần Haàu
(Dữ Sơn Nam thượng, Hiệp Trấn Quan Trần Hầu)
Xướng
hoạ kỳ 5
Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng,
Cận tiếp quang nghi nhật chính đông.
Hậu ý thuỷ giao tri thuỷ đạm,
Tình hoài sơ ẩm giác thuần nùng.
Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng,
Ngã bối tài tình chính sở chung.
Ác thủ đàm tâm quân mạc quái,
Lục giang nhất
khứ thuỷ thiên trùng.
Hồ Xuân Hương
Bài xướng của Hiệp trấn quan Trần Hầu
Gửi bởi Vanachi ngày 22/08/2008
10:55
Hoa viện hoa nhân thử độ phùng,
Lĩnh mai hàn ảnh nhập sơ đông.
Vị tằng đổ diện tâm tiên mộ,
Khởi dẫn liên thi ý thuỷ nồng.
Xuân tịch vị ly song nhãn lệ,
Phật đài thuỳ hoán sổ thanh chung.
Ân cần lưu thủ thiên biên nguyệt,
Nhất biệt tây nham hựu vạn trùng.
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Người đẹp nhà hoa lại gặp cùng,
Mai non bóng lạnh buổi đầu Đông.
Chưa từng gặp mặt lòng đà mến,
Há phải trao thơ ý mới nồng.
Chưa khỏi tiệc xuân đôi mắt lệ,
Ai khua đài Phật tiếng chuông rung.
Ân cần lưu lại trăng trời biển,
Một biệt non tây lại vạn trùng.
Chú giải:
Tiêu đề: Xướng họa cùng
Ông Trần Hầu, Quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng.
Trấn Sơn Nam thượng gồm đất của Hà Nội và
Hưng Yên ngày nay. Lỵ sở đặt ở Châu Cầu (Phủ Lý).
Bình thủy tương phùng, 苹 水 相 逢, bèo và nước gặp
nhau, chỉ sự gặp gỡ ngẫu nhiên. Theo thơ Vương Bột, (Vương Bột, tự
Tử An là một nhà văn nổi tiếng thời kỳ đầu nhà Đường, 6 tuổi đã biết viết văn
chương, 14 tuổi đã sáng tác thơ ca, 15
tuổi thi đỗ cử nhân):
"Quan san nan việt,
Thùy bi thất lộ chi nhân?
Bình thủy tương phùng,
Tận thị tha hương chi khách".
關山難越
誰悲失路之人
萍水相䙜
盡是他鄕之客
Nghĩa là:
Quan san ngàn dặm mòn chân bước,
Biết có ai thương nhỡ độ đường?
Gặp nhau khi bèo giạt bờ nước,[4]
Mới hay đều là khách tha hương.
*
Gặp nhau bèo nước liêu xiêu,
Biển
đời trôi giạt trăm chiều, tha hương.
Ngân Triều
Bình thủy tương phùng, bèo nước gặp
nhau, trong văn chương còn để chỉ thân phận người phụ nữ như cánh bèo trôi trên
dòng nước:
Vì ai
rụng cải rơi kim!
Để con bèo nổi mây chìm vì ai?
ĐTTT, Nguyễn Du,
câu 769-770
Ngọn bèo chân sóng lạc loài,
Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2871-2872
Nhất Uyên dịch nghĩa:
. Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương nay mừng
được gặp mặt
. Lại được tiếp cận dung nghi
vào lúc hừng đông
. Vốn sẵn nhã ý, nên dù trước chưa từng gặp
nhau nhưng đã biết tính tình thanh đạm.
. Vừa nhấp chén đã thấy cái tình nồng nàn,
đôn hậu dâng lên.
. Thanh khí của cả vùng vẫn còn được ưa
chuộng .
. Tài, tình của chúng ta được chung đúc
chính nơi đây.
. Cầm tay thổ lộ nỗi lòng, xin chàng chớ
ngại,
. Vì sau khi chàng qua sông Lục Đầu, lại
muôn trùng xa cách.
(1)
Bản
dịch của Điệp Luyến Hoa
Gửi bởi Vanachi ngày 10/08/2007
20:17
Nghe danh ngưỡng mộ, gặp vui mừng,
Được tiếp dung nghi lúc chính đông.
Ý hậu chưa qua hay nước đạm,
Tình hoài vừa nhắp đã hương nồng.
Tài tình chung đúc cho hai kẻ,
Thanh khí mến yêu khắp một vùng.
Tỏ dạ cầm tay xin chớ lạ,
Lục
Đầu một bước đã nghìn trùng.
(2)
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Gửi bởi Vanachi ngày
22/08/2008
Lâu nghe danh tiếng gặp nhau mừng,
Gần ngó dung quang nắng giữa đông.
Ý đậm vừa quen hay
nước đạm,
Tình mong vừa chuốc biết men nồng.
Châu ta thanh khí thêm ưa chuộng,
Cùng hội tài tình nhẽ vốn chung.
Tay nắm lòng trao người chớ lạ,
Một đi sông Lục nước ngàn trùng.
*
Lục
Đầu xuôi, mãi nhớ muôn trùng, Ngân Triều/
Ảnh
Cồn Kiếm trên Lục Đầu Giang, Google.
(3)
Ngân Triều cảm đề:
Văn chương diện kiến tiếng hằng mong,
Ghé bến thuyền mơ lúc rạng đông.
Chưa biết, biết chung lòng đạm bạc,
Nhắp môi, môi đắm đuối tình nồng.
Giao tình lễ giáo hằng trân trọng,
Xướng họa thanh cao ý chữ đồng.
Chớ ngại nỗi niềm khi đã tỏ,
Lục Đầu xuôi, mãi nhớ mênh mông.
***
Bài số 4:
Ñoä Hoa Phong
Hồ Xuân
Hương
Buồm thơ thong thả
lượn Hoa Phong, Ảnh Google
Phiến phàm vô cấp
độ Hoa Phong,
Tiểu bích đan nhai
xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy
sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo
thủy môn thông.
Ngư long tạp xử
thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật
chiếu hồng.
Ngọc động vân
phòng tam bách lục,
Bất tri thùy thị
Thủy tinh cung.
Bản chữ Hán, Ngân
Triều soạn.
片帆無急渡華封
峭壁丹崖出水中
水勢每隨山面轉
山形斜靠水門通
魚龍雜處秋煙薄
鷗鷺齊飛日照紅
玉洞雲房三百六
不知誰是水晶宮
Nhất Uyên phiên âm
Độ Hoa Phong
Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thủy thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp
xử thu yên bạc,
Âu lộ
tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.
Chú giải:
Trong sách Phượng Sơn Từ chí lược cũng như Đại Nam dư địa chí ước biên, chép 5
bài thơ, không có tiêu đề riêng cho từng bài, chỉ đề Chu thử Hoa Phong tức Cảnh
bát thủ.
Tháng 2 năm 1962,
Ông Trần Văn Giáp đã giới thiệu 5 bài trên báo Văn Nghệ.
Năm 1983, Gs Hoàng Xuân Hãn đã đặt tên cho
từng bài thơ có phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ…và được ông công bố trong Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long, tập san KHXH
Paris, 1984, như sau:
Độ Hoa phong
Trạo thanh ca
Nhãn phóng thanh
Thủy Vân Hương
Hải ốc trù
(Do sắp xếp
tiêu đề thơ theo ABC, nên có thể các bài
trên không liên tiếp nhau.
Xin thành thật cáo lỗi cùng quý vị độc giả, Ngân Triều).
Vũng Hoa Phong, tức Vịnh Hạ Long,
lấy tên từ địa danh huyện xưa, sau đổi thành Nghiêu Phong, vì huyện nầy có nhiều
đảo nhỏ.
Cá rồng, chỉ tên l loài thủy
tộc. Riêng ở đây, theo huyền thoại, xưa có rồng giáng xuống cho nên được gọi là
Hạ Long.
Trong thời cận đại,các thủy thủ, kể cả hải
quân Pháp, đã từng thấy hình dạng của rồng uốn khúc, nổi trên mặt biển, dài khoảng
30 mét, được gọi là “rắn biển”.
Ảnh minh họa rắn biển khổng lồ, Google.
Ảnh rắn biển khổng lồ tấn công tàu biển,
bản đồ của Chef Van Duzer, 1539, Google.
Âu, 鷗
là giống chim biển, đầu giống chim bồ câu, chân giống chân vịt, còn được gọi là
chim hải âu.
Ảnh chim mòng biển (trên) cướp mồi
của chim hải âu
(dưới), Google.
Câu
7: Người
xưa tin rằng, con người có thể tu luyện ở những nơi thanh tịnh, trong các hang
động, thường có mây phủ, theo Tiên pháp để trở thành bất tử. HXH ghi là có 306
động Tiên, có thể Bà muốn chỉ số lượng rất nhiều của tiên giới nhưng trong các
văn thơ khác, thường chỉ nói có 36 động tiên.
Thủy Tinh cung, 水晶宮, chỉ cung điện,
nơi tiên ở, ngoài biển.
Nhất Uyên dịch nghĩa:
Qua Vũng Hoa Phong, (Vịnh Hạ Long).
Lá buồm không vội
vượt qua Vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn
núi đỏ, giữa nước chói dựng lên.
Thế nước tùy chỗ
theo mặt núi mà biến chuyển.
Bình núi nghiêng
mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn,
tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng bay
trong ráng đỏ trời chiều.
Cõi Tiên có ba
trăm sáu động ngọc và phòng mây
Đây không biết chốn
nào là cung Thủy Tinh
Dịch thơ:
(1)Bản dịch của Gs Hoàng Xuân Hãn
Gửi bởi Vanachi ngày 28/04/2006 07:30
Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?
(2) Bản dịch của Trương Việt Linh
Gửi bởi vietlinh11 ngày 26/07/2016 11:12
Mảnh buồm thong thả vượt Hoa Phong
Vách đứng bờ son dựng giữa dòng
Thế nước đổi thay tuỳ núi chuyển
Hình non nghiêng lại để dòng thông
Trời chiều bóng nhạt soi le nhạn
Khói toả hơi thu khuất cá rồng
Động ngọc phòng mây ba sáu chỗ
Biết đâu là chốn Thuỷ Tinh cung
(3) Ngân Triều cảm đề:
Buồm thơ thong thả
lượn Hoa Phong,
Đá đứng, sườn son, nổi giữa dòng.
Sóng tỏa dạt dào
ôm ấp núi,
Bóng lồng nghìn
núi đợi chờ trông.
Cá rồng lẩn khuất
dòng thu nhạt,
Âu diệc cùng bay với
ráng hồng.
Nghe nói Cõi Tiên
băm sáu động,
Thủy Tinh có phải
chốn nầy không?
Chú thích:
[1] Biệt
ly,別 離, bịn rin, quyến luyến, như không nỡ rời xa; đứt ruột, tình cảm ấy,
không bút mực nào tả xiết.
[2] lâm
ly: 淋漓, buồn thảm, thổn thức không ngăn được
suối lệ tuôn trào, ràn rụa như mưa.
[3] Sảnh
nữ hồn: 倩女魂,
tâm hồn người con gái phải cống Hồ đáng
thương. Trong văn cảnh nầy xin thay bằng “lệ ướt khăn” như
trên.
[4] bờ
nước: chỗ phân giới giữa bờ và nước. Câu (1) ý nói, thân phận như cánh bèo trôi
giạt giữa dòng nước cuốn trôi, lênh đênh. Khi tạm thời ổn định, gặp nhau, mới
biết là cùng chung cảnh ngộ, phải sống lạc loài nơi đất khách, xa quê hương dấu
yêu.







