Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

Bài số [99] Về Thăm Lại Trường Xưa, Thơ Nguyễn Cang; Cảm đề Ngân Triều

 

Thứ sáu, 5 tháng 6 năm 2015

Bài số [99] Về Thăm Lại Trường Xưa

         Thơ Nguyễn Cang; Cảm đề Ngân Triều  

 

Ảnh có chứa ngoài trời, bầu trời, mây, thực vật

Mô tả được tạo tự động

   Cảnh cũ đã hiện ra ngay trước mắt,

         Còn em đang lưu lạc phương trời nào?
                                                                 
Nguyễn Cang, tranh Google

Cảm tác nhân đọc bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" của Thôi Hiệu và mượn ý từ bài hát "Màu hoa bí”.[1] Để nhớ trường xưa nơi tôi ngồi học lúc tuổi thơ... giờ tìm đâu thấy! Nguyễn Cang.

♥ Xin tham khảo bài thơ Đường tuyệt bút mà Lý Bạch cũng phải ngưỡng mộ. (NT). [2]

                                             

               Lầu Hoàng Hạc ở phía Tây Nam thành Vũ Xương. Google

Hoàng Hạc lâu 黃鶴樓

                   







使

 

Phiên âm

              Hoaøng Haïc Laâu 

 Hoàng Hạc lâu, Thôi Hiệu: 崔顥, (704-754).

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

  

Dịch nghĩa

                Laàu Hoaøng Haïc (Lầu Hoàng Hạc)

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một khi bay đi đã không bao giờ trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà giờ nơi đâu?
Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!

(1) Bản dịch của Ngô Tất Tố, 必做, (1893 –1954)

Người xưa cưỡi hạc đã lên mây,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Ngàn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bên Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngắt Châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây!

(2) Bản dịch của Tản Đà  傘沱  (1889 – 1939)

         Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
        Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

       
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
        Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

                                            Trích trên Thi viện.

☆☆☆

 Veà Thaêm Laïi Tröôøng Xöa

(Về Thăm Lại Trường Xưa)

Chiều cuối Hạ tôi về thăm trường cũ

Nơi một thời tuổi nhỏ học ở đây

Sáu mươi năm ôm kỷ niệm thật đầy

Theo vận nước bồng bềnh trôi muôn ngã

Đâu thể nào quên những ngày êm ả

Mái trường yêu hình ảnh của ngày thơ

Bao năm qua còn đó tuổi dại khờ

Cho mãi đến giờ vẫn hằn nỗi nhớ!

 Ngoài kia “Hoa Lim” [3]  vàng đang rực nở

 Theo gió đong đưa ngập cả sân trường

 Trước mái hiên còn đọng dáng em thưong

 Trang sách cũ ghi vần thơ dệt mộng

          Tôi trở lại đây một chiều gió lộng

 Như thấy người xưa, ánh mắt thơ ngây

 Tóc xỏa vai gầy vạt nắng bay bay

 Áo trắng phất phơ, lá lay [4] xào xạc [5]

Chiều dần xuống hương “Hoa Lim” thơm ngát

Nhớ lúc tan trường anh bước theo em

Đuổi bướm tung tăng nắng đổ bên thềm

Bướm bay mất em rưng rưng nước mắt

         Anh đền em Hoa Bí vàng mới ngắt

Thay con bướm vàng, thương nhớ mênh mang

Nay trường xưa Hoa Bí vẫn nở vàng

Nhưng thiếu em, anh ngỡ ngàng héo hắt

Cảnh cũ đã hiện ra ngay trước mắt

Còn em đang lưu lạc phương trời nào?

Em thiên thần có lạc chốn trăng sao?

Nghe vang mãi giọng ngọt ngào em hát

          Hoa Bí tươi màu, trời xanh bát ngát

Tôi lặng nhìn hoa, thương mối tình đầu

Trường cũ giờ, có phải Hoàng Hạc Lâu?

Bướm vàng bay mất còn đâu tìm thấy?!

                                                                                                                      Nguyễn Cang{         

Dieãn vaên xuoâi, (Diễn văn xuôi), Ngân Triều
Thế là như lá rụng về cội, trong một buổi chiều cuối Hạ, tôi đã quay về thăm trường cũ,

Nơi mà một thời thơ ấu, tôi đã học hành nơi đây.

Biết bao kỷ niệm thật đầy trong kí ức trải qua 60 năm phiêu linh,

Khi tôi trôi theo vận nước bồng bềnh cuốn phăng muôn ngã.

         ♪ Cho dẫu thế nào, tôi không bao giờ quên những tháng ngày êm ả,

Những hình ảnh của một thời thơ ấu nơi mái trường yêu dấu ngày xưa.

Những kỷ niệm của một thời dại khờ như còn đọng mãi,

Cho đến tận bây giờ vẫn hằn sâu trong tôi những nỗi nhớ miên man.

♪ Trên sân trường, những vạt Hoa Lim vàng đang rực rỡ nở đầy,

Hoa Lim đong đưa, rung ninh theo làn gió thoảng.

Mường tượng như hình dáng người em gái đáng yêu đứng trước mái hiên ngày nào,

Lòng bồi hồi, tôi chợt nhớ đến những trang sách cũ mà tôi gởi cho em, có ghi những vần thơ dệt mộng.

          ♪ Hôm nay, tôi trở về mái trường xưa trong một buổi chiều gió lộng.

Như còn mường tượng ánh mắt thơ ngây của người xưa

Với tóc xỏa ngang, đôi vai gầy, tóc mây bay bay trong nắng ấm,

Với tà áo trắng hay hay, phất phơ, tung bay rộn ràng trong gió nhẹ.

Làm sao quên được, có một buổi chiều tà, trong sân trường, Hoa Lim thơm ngát,

Đó là lúc tan trường, tôi bước theo em.

Chỉ còn đôi ta tung tăng bắt bướm trong  nắng chiều đổ xuống bên thềm,

Khi đuổi theo con bướm bay mất, em giận mình, rưng rưng nước mắt.

          ♪ Tôi liền đền em một Hoa Bí vàng mà tôi mới ngắt,

Thay cho con bướm vàng để thương nhớ mênh mang.

Hôm nay, trường xưa vẫn còn Hoa Bí nở vàng,

Nhưng không biết bóng người xưa đã ở phương trời nào, để lòng tôi bỗng se lòng ngơ ngẩn buồn tênh. [6]

♪ Cảnh hôm nay vẫn là cảnh cũ của ngày xưa,

Thế mà em đang lưu lạc ở tận phương trời nào?

Phải chăng, em là thiên thần đang lạc chốn trăng sao,

Để cho tôi vẫn mãi nghe tiếng ca ngọt ngào trong tâm tưởng.

          Kìa! Hoa Bí khảm vàng trên đất; trời xanh bao la, mênh mông,

Tôi lặng nhìn hoa mà thương nhớ mối tình đầu.

Mái trường xưa nào phải là Lầu Hoàng Hạc,

Để lòng tôi vẫn mãi tiếc thương con bướm vàng đã bay mất tận cuối trời mơ.

                  Ngaân Trieàu Caûm Ñeà

                                Ngân Triều cảm đề

     Trường xưa cuối Hạ nắng hanh,

Một thời thơ ấu học hành nơi đây.

       Sáu mươi năm, kỷ niệm đầy,

Nổi trôi vận nước lạc loài muôn phương.

              Làm sao quên những dư hương,

Đáng yêu hình ảnh mái trường ngày thơ.

       Bao năm tuổi mộng dại khờ,

Khắc sâu nỗi nhớ đến giờ buốt tim!

 ♥     Sân trường rực rỡ “Hoa Lim”,

 Đong đưa theo gió vàng trên sân trường.

        Bồi hồi tưởng dáng em thương,

 Nhớ trang sách cũ, mộng thường dệt thơ.

               Gió lộng, về mái trường mơ,

Ngẩn ngơ ánh mắt ngây thơ những ngày.

        Vai gầy xỏa tóc mây bay,

Phất phơ áo trắng hay hay rộn ràng.

      Sao quên được, buổi chiều vàng,

Hoa Lim thơm ngát không gian êm đềm.

        Bướm bay nắng xuống bên thềm,

Bướm em bay mất, mi mềm rưng rưng.

     Đền em Hoa Bí, người dưng!

Hoa như con bướm tần ngần [7] nhớ thương.

        Bí xưa vẫn nở bên trường,

Người xưa biền biệt về phương trời nào.

     Cảnh xưa cảnh vẫn đeo sầu,

Em đang lưu lạc phương nào lao đao!

        Thiên thần ngự bến trăng sao?

Chừ nghe tiếng hát ngọt ngào trăm năm.

               Hoa vàng đất, trời xa xăm,

Nhìn hoa thương nhớ ngàn năm tình đầu.

        Trường xưa nào phải Hạc Lầu,

Tiếc thương con bướm, còn đâu bây giờ?!

                                                                                 Ngân Triều{



Chú thích: [1] Trích một đoạn lời bài hát Màu hoa bí, Võ Đông Điền:

Nay bí trổ hoa vàng
Về lại trường xưa nay bí trổ hoa vàng
Bâng khuâng chợt nhớ sắc hoa xưa
Hoa vẫn tươi màu
Mái trường xưa có là Hoàng Hạc Lâu
Biết tìm con bướm vàng giờ ở đâu

[2] Hoàng Hạc Lâu là bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu,崔顥, (704-754), một nhà thơ thời nhà Đường. Tương truyền rằng, Lý Bạch khi đến Hoàng Hạc Lâu định làm thơ, đã thấy thơ Thôi Hiệu đề trên vách, đọc xong, vứt bút, ngửa mặt than rằng:

眼前有景道不得,

崔顥題詩在上頭.

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

“Trước mắt thấy cảnh, nhưng không thể diễn tả được.

Vì Thôi Hiệu đã đề thơ ở trên đầu”.

 [3] Hoa Lim: hoa của cây lim, loại gỗ tốt, bền chắc, xưa thường dùng để làm đình-miểu, hoa màu vàng, cánh nhỏ như hoa mai; lá nhỏ như lá me; được trồng dọc theo bờ lộ cạnh trường Nam Tiểu Học Gò Công, gọi là "bờ lộ lim" (Bờ lộ có trồng hàng cây lim), để phân biệt với "bờ lộ dương" (bờ lộ có trồng hàng cây dương) cũng ở Gò Công. [Ghi chú của Nguyễn Cang tác giả bài thơ]

[4] Lá lay: cắc cớ, trớ trêu, là lạ, hay hay

[5] Xào xạc: xột xạc, nhộn nhịp, rộn ràng.

[6] Đồng điệu với 2 câu thơ của Thôi Hộ, 崔護 (? - ?).

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.

                                   Đề tích sở kiến xứ, Thôi Hộ崔護 (? - ?).

(Thôi Hộ, 崔護, tự Ân Công, 殷功, người ở Bác Lăng là một thi nhân đời Trung Đường. Chưa thấy có tài liệu nào nói về năm sinh năm mất của ông. Thôi Hộ đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), làm quan đến Lĩnh Nam tiết độ sứ. Thơ ông Toàn Đường thi còn chép 6 bài, trong đó bài Đề tích sở kiến xứ hay còn gọi Đề Đô thành Nam trang được lưu truyền rộng rãi nhất).

          ?
          .

        Mặt người chẳng biết phương trời,
Hoa đào năm ngoái đang cười gió Xuân.

(Có bản chép là “Xuân phong” , nghĩa là gió Xuân, không biết nguyên tác viết như thế nào; Đông phong, là gió mùa Xuân vì ở Trung Quốc, mùa Xuân thì gió thổi từ hướng Đông tới).

 [7] Tần ngần: vẩn vơ, ngơ ngẩn. Vẩn vơ: quanh quẩn, lưu luyến.

        Lại càng mê mẩn tâm thần,

Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.

Kiều, Nguyễn Du, (1765-1820), câu 101-102. (Kiều viếng mộ Đạm Tiên)