Dịch thơ
[2] Chieán tuïng Taây Hoà Phuù,
Phaïm Thaùi
Ngân
Triều dịch thơ
***
Tấc lòng “chiến tụng” muôn niên hoàng đồ. Ngân Triều dịch thơ.
(Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI)
1P (1-4), 4 liên; Ngân Triều diễn
thơ PT, 12 câu: Nguồn gốc Hồ Tây:
Ngán thay kẻ
tụng Tây Hồ! (1)
Lở hầm toang hoác lững lờ nước xô.
Lẽ đâu gò đá
nhấp nhô,
Người đồn Long tử làm ra nhờ bùa.
Hách hơi cáo
trắng nô đùa, (5)
Quanh năm đầm lớn bốn mùa náo nương.
Người thì
nói bởi Cao Vương,
Yểm đào long mạch triệt đường địa
linh.[1]
Có người nói bởi trâu vàng,
Nghe chuông tưởng mẹ xoáy thành nơi
đây. (10)
Điện vàng
cung ngọc tứ vây,
Ngọc hồ bãi biếc vui thay một dòng.
***
2P- (5-8), 4 liên; Ngân Triều diễn thơ PT, 12 câu: Hình thể của Hồ Tây.
[…một dòng]
Dâm Đàm,
chạnh nhớ Trưng Vương,
Sương dày bất chợt sa trường tiến
quân.
Lãng Bạc
giặc Bắc tiêu tan, (15)
Dấu xưa cò vạc vờn trăng bóng nhòa.
Trăng thu trời nước hài hòa,
Chưa Xuân hoa cỏ theo mùa được sao?
Cát xô Mỏ Phượng lao xao,
Như hình thiếu nữ lên lầu ngắm
trăng. (20)
Nhấp nhô
nước xuống Hàm Rồng,
Giống như tri kỷ châm nồng chén Tô.
Tan bình
Thạch Tháp, thờ ơ,
Linh phù nát dấu trên gò đất thiêng.
***
3P-(9-13), 5 liên; Ngân Triều diễn thơ PT,
16 câu: Các đền chùa chung quanh Hồ Tây.
[…đất thiêng]
Mục Lang lưới đã nát giềng, (25)
Dung gian bắt hổ lòng phiền đa đoan.
Lưỡi gươm Trấn Võ đà mòn,
Không giam giặc cướp lại còn nhốt qui?
Thiên niên lộng ngữ mà chi,
Kìa xem quán nát cảnh thì hoang sơ. (30)
Báu nào có báu ghềnh nhô?
Tăng ni khổ hạnh, làm trò Phật môn.
Dở dang lý thú đồng quan,
Dải đào khăn thắm mơ màng Nghi Vu.[2]
Tượng hình Ông Đá dãi dầu, (35)
Bà Đanh vắng ngắt chuông chùa lặng
thanh.
Cầu ma khấn bụt nhà tranh,
Kìa đền Quan Thánh lăng nhăng, xô bồ.
Buôn hùm bán quỷ, đủ trò,
Nhớ người khai quốc bây giờ ngu ngơ. (40)
***
4P-(14-27), 14 liên; Ngân Triều diễn thơ
PT, 44 câu: Các thắng cảnh chung quanh Hồ Tây.
[…ngu ngơ]
Lưng trời ngùn ngụt khói lò,
Cắt da sóng lạnh ồ ồ sườn non.
Đuôi Nheo
tanh tưởi tinh chiên,
Chơi trăng nước biếc chán chường thờ
ơ.
Cổ Ngựa hôi thối bốn bề, (45)
Hoa thơm tủi phận não nề mùi hương.
Dân cư nghèo
khổ cảm thương,
Lều tranh tơi tả thê lương cơ hàn.
Thiên thời đâu dễ xoay vần thiên cơ. (50)
Thoi oanh dệt liễu nên tơ,
Cửa Nam thêu túi khó dò xỏ kim.
Đóm kia chớp tắt soi sen,
Quân Tây hút điếu, hay đem hun lò.
Quyên sầu khắc khoải trời Hè, (55)
Ve buồn Nam quốc tiếng nghe rì rù.
Châu Long
hương cúng khét mù,
Trúc vang mõ cá sương thu ngút ngàn.
Sen tiêu Bạch Mã điêu tàn,
Giấy hoa rao bán dọc làng sông Tô. (60)
Lòng vui ngắm cảnh cũng vui,
Phong quang lạc lõng xứ người xa
quê.
Cô đình gió lọt hoa kề,
Đường sương thúy bích lơ thơ cảnh buồn.
Mây che sóng
chở con thuyền, (65)
Ánh trăng lóng lánh như vàng châu
rơi.
Tháng ngày
trải bước rong chơi,
Cỏ hoa vui thú mà đời no say?
Sương dày đã
nhuộm ngàn cây,
Ca buồn ngư phủ thuyền đầy ánh
trăng. (70)
Cây xanh tuyết bạc bãi bằng,
Mục đồng thổi sáo sáng vầng hồng
tươi
Hán Tần kẻ lướt nụ cười,
Lánh đời cổ đại có người ngủ ham.
Doanh thâu
bàn bạc Bắc Nam, (75)
Tiếng đàn lưu thủy tri âm ngẫu
thành.
Vần thơ
phong nguyệt tân thanh,
Đất trời bầu dốc say tình đê mê.
Tròn trời vuông đất, thu về,
Ngang sông dọc núi, bốn bề nhóc kho. (80)
Tam Sơn hóng mát dành cho,
Nằm phơi bụng trí để chờ kiến ong.
Chở trăng
sông Nhị xuôi dòng,
Ngẫm trai cò đấu thỏa lòng lão câu.
***
5P-(28-32), 5 liên; Ngân Triều diễn thơ,14
câu: Hồ Tây trải qua các triều đại.
[…lão câu]
Ít nhiều
thắng khải sao đâu, (85)
Vì sao tâng bốc khen nhầu nhàn ngu?
Cao minh rằng phép quan ngư,
Nực cười Cổ Sắt lu bu gảy đàn.
Dụ tượng mưu
ấy khó làm,
Đâu như Hư Tĩnh chiêu hồn rồng ma. (90)
Khách du dấu
ngựa lờ mờ,
Du quan mù mịt bóng dù chơi vơi.
Chán chường
ăn mặc, hợm thời,
Xem phong vị khó như đời hoàng kim.
Quân gian
tướng dởm tham lam, (95)
Tôi hiền vua sáng dở dang một trò.
Lằng nhằng
thư thảo cua bò,
Thơ rông chó chạy xướng thù mặc ai.
***
6P-(33-46), 14 liên; Ngân Triều
diễn thơ, 48 câu: Hồ Tây trong thời Lê mạt:
[…mặc ai]
Tiêu thiều
lõm bõm nhạc ngây,
Chim xanh gọi bóng trời Tây nực
cười. (100)
Nho phong
dấu cũ mấy người,
Thu vàng lá rụng bồi hồi lòng đau.
Chiều mờ túc
vũ, núi cao,
Cô hồng thăm thẳm nghẹn ngào trong
sương.
Trường thi
ve trổi hè sang,
(105)
Bốn vách bạch nhạn mênh mang thơ
sầu.
Dế kêu thu
đến nhạc lầu,
Vài gian chen lưới thanh thù tơ
buông.
Nỉ non đàn
dế rúc sương,
Tù mù lửa đóm bốn phương dạt dào.
(110)
Cát hòa mặt nước trắng phau,
Thầy Tân cưỡi hạc Bàn Đào tiên nga.
Đáy hồ lồng
bóng sáng lòa,
Tưởng rằng ông Lý say mò vớt trăng.
Cuốc kêu vận
nước tối tăm, (115)
Ễnh ương than thở cơ hoang bần hàn.
Cuốc càng
than thở oán hờn,
Cầu vồng chờ nhịp trống dồn gọi
trăng.
Lạ gì phong
cách tướng Nam,
Nhân tài đất Bắc căm hờn lòng đau.
(120)
Ếch càng rên
siết dãi dầu,
Trên thành còi đã lặng gào gió ru.
Tây triều
sớm tối ái ưu,
Lại thêm dè dặt sĩ phu Bắc Hà.
Thấu trời ta thán chim cò, (125)
Đàn ong lũ kiến, cuộc cờ đổi thay.
Chén trà cá
lội hạc bay,
Ý thơ cao hứng trăng say bóng mình.
Nhớ quê
hương vị đã đành,
Khi về giông tố gãy cành cây ngô. (130)
Tiểu nhân
sẵn tính hàm hồ,
Những người cao sĩ thực thà trực
ngôn.
Vừa rồi hoa
kết Khán Sơn,
Bẻ bai kỹ nữ, chê còn vụng công.
Hương mới
Chợ Võng rượu nồng,
(135)
Lý ông tất tưởi say mong sang đò.
Khói chiều
mấy xóm xa xa,
Gió đưa thấp thoáng nhà ma cây đầy.
Vời trông cổ
quán quang mây,
Non cao chớn chở, rừng cây vô hồn.
(140)
Chim bay vì
vụt đầu non,
Thập thò móng nước cá còn đợi mưa.
Bồi hồi
thương những ngày xưa,
Thế thời bỗng chốc, thời đưa bẽ
bàng.
Mối thù chưa
trả giang san,
(145)
Thẹn cùng gió núi trăng ngàn, hổ
ngươi!
***
7P-(47-59),
12 liên; Ngân Triều diễn thơ:
Hồ
Tây trong thời Tây Sơn:
[…hổ ngươi.]
Văn chương thiêu
đốt mất rồi,
Tiêu tan danh vọng sông bồi đất nhô.
Dạ Xoa quấy
Phật xuống chi,
Cho người bách nghệ lưu ly khổ nàn.
(150)
Thần nắng
thiêu ruộng khô cằn,
Nông gia mùa thất cơ hàn dân đen.
Cuốn theo
gió bụi bao phen,
Thăng trầm mấy lớp đua chen mấy lần.
Tang thương đầy
xác hoa tàn, (155)
Vui chăng thiên đạo quanh quàng quẹo
xiên?
Chiến chinh
Nam Bắc liên miên,
Thời cơ không có vô duyên trí phàm.
Nhục vinh
nước chảy lỡ làng,
Lợi danh mây nổi, tro tàn mà thôi.
(160)
Quân thân
dường mỏi vai rồi,
Thế thời tráng sĩ đứng ngồi không
an.
Còn đang kéo
vạc cứu nàn,
Đứa gian đâu đã giành phần hò vang.
Bỏ đi Phạm
Lãi[5]
chẳng màng, (165)
Theo thầy một dạ đá vàng Tử Do.[6]
Thời gian
vùn vụt thoi tơ,
Tử sinh giây phút thiên cơ khó
lường.
Đêm ngày biến
đổi vô cùng,
Nổi trôi bèo bọt có không sự đời.
(170)
Trăng đầy
rồi lại trăng vơi,
Bình kia đầy lắm đến thời vỡ tan.
Nhớ khi đêm
vắng ngắm trăng,
Hương sen thoang thoảng, trà ngon
thơm lừng.
Đoan Dương[7]
chạnh tưởng tiệc mừng, (175)
Lửa bừng đun ấm rượu nồng ngất ngây.
Thanh cung
Hạ đến nắng đầy,
Trăm hồng ngàn tía, Đông vầy kém
đâu.
Thu tàn Lãng
uyển[8]
dãi dầu,
Thêu hồng kết lục, Xuân nào chẳng
mong. (180)
Ngự du[9]
tấp nập thuyền rồng,
Áo tiên hoa cắm, nức lòng tướng
quân.
Yến bày ca
vũ ngân trăng,
Than ôi! Phút chốc thành hoang thị
tàn.
Nỗi niềm thê
thảm biết chăng,
(185)
Nguồn cơn cớ sự tỏ lòng cho ai?
***
8P-(60-83), 24 liên; Ngân Triều diễn thơ: 72 câu: Ca ngợi công đức Nhà Tây Sơn.
[…cho ai?]
Đến nay:
Tan tành
phong cảnh đến nay;
Qui mô nát bét chờ ngày tiêu vong.
Thảo muội đã
biến cải xong,
Không còn mở hội đô phong du trần.
(190)
Cố cung màu
sắc phai dần,
Đeo sầu cây đá điêu tàn ngẩn ngơ,
Nước hồ e
thẹn sắc phô,
Cỏ hoa ủ dột bơ phờ tả tơi.
Chiến trường
gió bụi nơi nơi,
(195)
Thiên văn tiên đoán Tua Rua hết
thời.
Thời loạn
lạc, khó tin người,
Canh Thân[10]
tựa đá còn cười tung hô.
Lục Hợp cũng
đã bói ra,
Đến năm Nhâm Tuất[11]
thành tro hết đời.
(200)
Tiêu tan vận
hội đương thời,
Công kia như chửa bù lời ra sao.
Ra tay núi
lở sông reo,
Lời thề chí ấy thuận theo nhân hòa.
Trời xoay
đất chuyển tung hoành, (205)
Chống trời một trụ, thanh bình bốn
phương.
Nghĩa trung
chỉ đứng một đường,
Tấm lòng son sắt huy hoàng cửu u.
Núi sông tẫy
sạch bợn nhơ,
Muôn phương hữu tượng được nhờ uy
linh. (210)
Gốc gai nhẵn hết thị thành,
Vô ngu trăm họ ơn lành bao la.
Phải chăng con tạo có tơ?
Quăng vô số mối bơ phờ thế nhân.
Thợ trời
không nhuộm tơ chăng? (215)
Cho nên tơ phải rối ren nên ngù!
Kèn Xương
khách Bắc Nam về,
Vu qui, vu ký hồ hi... cả cười.
Văn Quảng,
khanh tướng viếng người,
Vô cô vô cố, một hơi khóc đời. (220)
Kèn thổi
thế, dễ ai chơi,
Văn kia mấy kẻ đặt lời bi ai.
Nghĩ thời
cơ, cám cảnh thay!
Được như âu lộ tháng ngày thảnh
thơi.
Phiêu du
ngao ngán chán đời, (225)
Rỉ tai thông đạt lũ người mục sô,
Vì ai thiện
ác vô bờ,
Thịnh suy ác quỷ phất cờ thúc quân.
Mất mùa đầy
kẻ tử hung,
Ly hương lữ thứ cam lòng biết sao.
(230)
Binh đao, khói
lửa, lao đao,
Ấm no mong ước xiết bao, thanh bình.
Máy trời rối
loạn vô minh,
Cổ kim như cảnh xoay quanh đèn cù.
Chính trường
chẳng thiết mặc dù,
(235)
Kim Quy thần nõ để trừ thỏ tinh.
Văn chương
chớ khá khoa trương,
Cung tinh dành bắn những phường hồ
ly.
Cho hay loạn
lạc qua thì,
Nước hồ không dấu thanh du[12]
đâu nào. (240)
Săn lộc thì phải bám sau,
Buồn cười tâng bốc cao rao nịnh tà.
Cỏ do hôi
thối như là…
Không đem vứt bỏ, mà vờ bốc thơm.
Đá trong
chất nịnh khó mài.
(245)
Trong lành nước chẳng khi nào tham
ô.
Nước nguy
tướng những thờ ơ,
Bất tài sao biết phất cờ xung phong.
Quân ngu chỉ
biết a tòng,
Lẽ nào chịu khổ hết lòng xông pha. (250)
Lên tiên
đường dễ đâu mà,
Phật kia vô lượng dám gì xuống tu.
Võ rừng mặt
khổ man di,
Chen vào bước tới cũng thì cờ reo.
Đạo Nho hiền
thánh chẳng theo,
(255)
Khoa thi chẳng giống tiền triều, lôi
thôi.
Vương chưa
khí tượng nhỏ nhoi,
Đến nay toan lại anh uy to lừng.
***
9P-Đoạn kết (84-86), 3 liên; Ngân
Triều diễn thơ, 8 câu: Cảm nghĩ của tác giả:
[…to lừng]
Đây nay chơi trải đã từng,
Ở thì cũng chẳng dửng dưng thua người. (260)
Sợ lây chung đỉnh tiếng đời,
Nên còn ẩn nhẫn chờ thời gió to.
Giận người sao nỡ “tụng hồ”,
Nức khen Ngụy tặc ngó lơ chính giềng.
Cho nên phải họa một thiên,
Tấc lòng “chiến tụng” muôn niên hoàng đồ. (266)
Chú thích:
[1]
Địa linh nhân kiệt: 地靈人傑, đất thiêng sinh người hiền tài, kiệt
xuất”
[3] Yên đan, Yên công tử: 㯊公子, yên ngựa của con nhà quyền quý,
[4] Mộc vũ thần:
木武神, cái mộc của bầy tôi bên võ.
[5] Phạm Lãi giúp vua Việt là Câu Tiển, thắng vua Ngô là Phù Sai, xong việc, không màng công danh, bỏ đi ngao du nơi ngũ hồ.
[6] Tử Do
tức là Tử Lộ. Khổng Tử nói rằng Trọng Do có thể trôi nổi trên biển (phù hải) mà
theo ta.
[7] Đoan Dương: ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, còn gọi là Đoan Ngọ,
ngày kỷ niệm Khuất Nguyên tử tiết ở sông Mịch La.
[8] Lãng uyển:
vườn tiên, chỉ vườn ngự của vua.
[9] Ngự du:
cuộc đi chơi của nhà vua.
[10] Canh Thân: Tức năm 1800, Nhà Tây Sơn sắp sửa
tiêu vong.
[11] Nhâm Tuất:
năm 1802, năm Tây Sơn bị diệt vong.
[12] Thanh du:
du ngoạn thanh lịch.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét