Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND; bài 24 Chơi Tây Hồ nhớ bạn, HXH. (tiếp theo)

 Bài số 24:

Chôi Taây Hoà nhôù baïn
Hồ Xuân Hương
Xuân Hương trở lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, Nguyễn Du về quê một tháng, sau đó được lệnh vào Phú Xuân thăng Đông Các học sĩ hàm ngũ phẩm, tước Du Đức Hầu, chức vụ dâng sách cho vua đọc mỗi ngày, và soạn thảo chiếu biểu cho vua Gia Long.
Hồ Xuân Hương viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du. Nguyễn Du viết:
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu. (Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư).
Xuân Hương trả lời:
Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa.
Em đã trở về, em không chết như nàng Tiểu Thanh đâu ?
Vườn cảnh có tay em chăm sóc đã trở lại như xưa.
Người đồng châu, cùng quê Nghệ Tĩnh với em biết bao giờ trở lại.
Nhật Tân đê lở, như duyên em dù lỡ làng cũng còn lối vào.
Chùa Trấn Quốc rêu phong vẫn còn lưu lại bài thơ em viết ngày nào đề thơ cùng chàng.
Nơi vực Trâu vàng trăng lặn bóng.
Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ những kỷ niệm đôi ta;
Hồ kia thăm thẳm sâu bao nhiêu
Cũng không bằng lòng em nhớ chàng.
*
Chôi Taây Hoà nhôù baïn
Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa,
Người đồng châu trước biết bao giờ.
Nhật Tân đê lỡ nhưng còn lối,
Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ,
Nọ vực Trâu vàng trăng lặn bóng,
Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ.
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy,
So dạ hoài nhân dễ chửa vừa. Hồ Xuân Hương
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
𨔈 西 湖 𢖵 伴
風 景 西 湖 拯 恪 𠸗
𠊛 同 州 𠠩 别 包 𣇞
日 新 堤 𨓐 礽 群 𡓃
鎮 國 𧄈 風 吻 泿 詩
奴 淢 𤛠 鐄 綾 𣵰 䏾
箕 𡽫 鳳 地 𤌋 澊 𤎎
湖 箕 探 瀋 溇 羕 閉
摳 腋 懷 人 𥚯 渚 𣃣
*
Thăm thẳm hồ sâu, hồ thẳm thẳm,
Nào bằng nỗi mộng, nhớ người mơ?Ảnh minh họa, Google
*
Ngân Triều cảm đề:
Chơi Tây Hồ nhớ bạn
Còn đây, nào khác, cảnh Tây Hồ,
Người cũ đồng châu, vẫn nhớ chờ.
Đê lở Nhật Tân, chưa hết lối,
Rêu phong Trấn Quốc vẫn còn thơ.
Trâu vàng kìa vực trăng lồng bóng.
Non Phượng nào đâu dải khói mờ?
Thăm thẳm hồ sâu, hồ thẳm thẳm,
Nào bằng nỗi mộng, nhớ người mơ?
Tranh minh họa của Gemini
*



Tượng đài Nguyễn Du, Google.
Tượng đài Cụ Nguyễn Du ở Khu lưu niệm, thuộc làng Tiên Điền, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 50km, cách Tp. Vinh (Nghệ An) khoảng 8km.
Nguồn: TL Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình của HXH và ND/ Ts Phạm Trọng Chánh.
***

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH, ND, (tiếp theo): Bài số 23: Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du

 Thiên tình sử của HXH, ND, (tiếp theo):

Bài số 23:
Ñoäc Tieåu Thanh kyù
Độc Tiểu Thanh ký
Nguyễn Du
Nhờ ba năm lưu lạc (1786-1799) thành nhà sư Chí Hiên đi muôn dặm chu du Trung Quốc, Nguyễn Du nói thạo tiếng Trung Quốc, nên khi ra làm quan được mấy tháng từ Tri huyện Phù Dung, Nguyễn Du được thăng lên Tri phủ Trường Tín đặc trách tiếp sứ Thanh sang phong vương vua Gia Long. (Nguyễn Án được bổ làm tri huyện thay Nguyễn Du ở Phù Dung)… Đường công danh thăng tiến, nhưng người vợ họ Đoàn qua bốn lần sanh, chỉ để lại một con Nguyễn Tứ và qua đời.Mùa thu năm 1804, Nguyễn Du xin nghĩ bệnh một tháng. Từ Thường Tín, Nguyễn Du về thăm lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, đến nơi thì vườn cảnh đã hoang vu thiếu bàn tay chăm sóc của Hồ Phi Mai.
Từ khi lấy anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, chẳng bao lâu anh thầy Lang mất, nàng lại trở về với mẹ, Cổ Nguyệt đường dạy học, rồi yêu Mai Sơn Phủ, mối tình để lại những bài thơ nồng nàn thắm thiết, thề thốt.. trong Lưu Hương ký. Mai Sơn Phủ cũng người ở Vinh (Vịnh Phố) trở về quê để cậy cha mẹ cưới hỏi, chàng về quê thì biệt tăm trong chiến tranh, trong trận đánh cuối cùng vua Gia Long và Tây Sơn. Hồ Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Phú thì gặp một học trò cũ của cha, là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, Xuân Hương nhận làm lẽ, nhưng vợ cả ghen tuông, nàng đang đau ốm, có thai 6 tháng, thân phận như nàng Tiểu Thanh.
Bên song cửa Cổ Nguyệt đường, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh ký gửi Xuân Hương, Hồ Phi Mai:
Vườn cảnh Cổ Nguyệt đường nơi Tây Hồ đã thành gò bãi hoang vu vì thiếu bàn tay chăm sóc của nàng,
Bên song cửa, xao xuyến và chua xót đọc lại một trang sách sót lại của nàng.
Người con gái tài năng xuất chúng, (có thần), cho dẫu sầu đời chết đi, chắc là hồn nàng vẫn còn oán hận.
Văn chương vô mệnh dù đốt cháy vẫn còn tàn dư.
Mối hờn xưa nay chỉ có biết hỏi trời, vì đâu những người phong lưu tài sắc lại có cái án oan nghiệt như thế.
Chẳng biết hơn ba trăm lẻ nữa,
Người đời ai còn khóc tố như ?
Ba trăm năm lẽ nữa, kể từ nàng Tiểu Thanh đến thời điểm sáng tác bài thơ nầy, ba trăm năm lẽ sao ai sẽ khóc nàng Xuân Hương Hồ Phi Mai. (Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết; như là như cũ, như vậy, giống như.
Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.
Ảnh minh họa: Bên bờ Hồ Tây ngày xưa, Google
*
1- Bản dịch của Lê Thước
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:40
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
*
2- Bản dịch của Quách Tấn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Hồ Tây hoa kiểng giải gò hoang,
Cửa hé trang thư chạnh điếu nàng.
Hận luống vương thêm hồn phấn đại,
Tro chưa tàn hết nghiệp văn chương.
Thanh thương khó hỏi oan chồng chất,
Phong nhã đành chung nợ văn chương.
Rồi Tố Như nầy ba k nữa,
Trần gian ai kẻ sụt sùi thương.
*
3- Bản dịch của Thân Bá Trường Sơn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Tây hồ hoa cảnh thảy thành hoang,
Trước cửa tờ thư khóc điếu nàng.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn mang.
Sầu hận xưa nay trời khó hỏi,
Nỗi oan phong nhã khách còn vương.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như ?
*
4- Bản dịch của Nhất Uyên
Đọc Tiểu Thanh ký
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu,
Bên cửa viếng nàng một áng thư.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương vô mệnh cháy còn dư.
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách lụy sầu.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Còn Nàng ai khóc một niềm đau.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.
*
5- Bản dịch của Vũ Tam Thập
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:42
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
*
Chú thích:
Hoa uyển, 花苑có bản chép mai uyển theo thơ Tốn Phong trước nhà Xuân Hương có trồng nhiều mai trắng. Tốn Phong còn gọi nhà nàng là Mai đình. Tại Tây Hồ Hàng Châu trước nhà Tiểu Thanh cũng có rừng mai rộng bát ngát, thi sĩ Lâm Bô đời Tống vào rừng mai thưởng hoa đi lạc không biết đường về.
Tố Như, 素如, tên tự của Nguyễn Du 阮攸; Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766– mất năm 1820, tên tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ 鴻山獵戶, Nam Hải điếu đồ 南海釣屠, là một nhà thơ nổi tiếng, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là " Đại thi hào dân tộc".
***
Tượng đài Hồ Xuân Hương
Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,,
Còn ai thương cảm Tố Như nương?
Ảnh minh họa, Google
*
6- Ngân Triều cảm đề, bài Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du.
.Tây Hồ dâu bể hóa gò hoang,
.Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
.Duyên kiếp phũ phàng, nào oán hận,
.Văn chương lửa hận, vẫn còn oan.
Tranh minh họa, Gemini hỗ trợ
.Xưa nay uẩn khúc , trời khôn hỏi,
.Cái nghiệp oan gia , khách tự mang.
.Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,
.Còn ai thương cảm Tố Như nương? (NT)
*
Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận vì phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Không thể kéo dài cuộc sống:
Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Vì Tổng Cóc yêu thương như chuột vọc:
Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
…Một tháng đôi lần có cũng không.
…Chàng Cóc ơi, Chàng Cóc ơi, thiếp bén duyên với chàng thế là đủ rồi. Thiếp xin dứt tình với chàng từ đây như nòng nọc đứt đuôi. Dù chàng có cho thiếp nghìn vàng, thiếp cũng như con cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại với chàng. Cóc hay vào nhà trốn vào xó bếp hay gầm giường, đuổi đi, hay bắt bỏ ra xa cũng quay đầu trở lại, chỉ có bôi vôi vào đầu là đi biệt luôn không dám trở lại nữa.
*
KHÓC TỔNG CÓC
Hồ Xuân Hương
Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi! (1)
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi. (2)
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, (3)
Nghìn vàng không chuộc dấu bôi vôi. (4)
*
Chú giải:
Tổng Cóc tên thật là Nguyễn Bình Kình, ở làng Gáp nay là Tứ Xã, Lâm Thao-Phú Thọ. “Bài thơ tài tình lắm trong câu chữ (cóc, bén (nhái), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), bôi vôi…) nhưng để lại biết bao điều võ đoán. Cả trăm năm trước, bài thơ đã bị nhiều người hiểu lệch. Trước hết bài thơ gợi cho người đọc, nghĩ đến vợ khóc chồng vừa quá cố. Sự thực đâu phải vậy! GS Lê Trí Viễn có phân tích và cho rằng bài thơ vừa bộc lộ nỗi đau xót vừa thể hiện sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không nói là hờn oán. Có vẻ như bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Bài thơ không ra lời tang mà như lời tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình”. (Nguyễn Cẩm Xuyên-Hồ Xuân Hương, huyền thoại và sự thật-Tạp chí KTNN số 663 ngày 10/01/2009).
Ảnh chụp Bản chữ Nôm:
Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi
(Bản khắc 1921)
Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đình Hổ và bè bạn, Xuân Hương đã mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đã sinh con:
Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ,
Chốn dời Mai mới nở thêm cành.
(bài 15)
Tiếc thay đứa con gái sinh ra là mất, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm Tốn Phong ca tụng tít trời xanh.
Quán sách nàng là nơi các học trò ông nghè Phạm Quý Thích lui tới, để ngắm bà chị.Trong đám học trò thường đến hiệu sách của nàng có cậu bé lên tám bị mắng là:
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa,
Có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu về sau sẽ cùng Cao Bá Quát nổi tiếng qua lời khen của Vua Tự Đức:
Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,
Thi đáo Tùng Tuy nhất thịnh Đường
文 如 超 适 無 前 漢
詩 到 從 綏 一 盛 唐
Tạm dịch:
Văn như Siêu và Quát, mà so với văn đời Tiền Hán thì văn thời Tiền Hán cũng không có giá trị gì;
Đến thơ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thì là số một so với thơ của thời Thịnh Đường”.
Sở dĩ, cho là của Tự Đức là hai câu trên nói theo khẩu khí đế Vương, gọi xách mé tên tục Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, 阮文 超. (1799-1872) là “Siêu”; cử nhân Cao Bá Quát, 高 伯 适 ,(?-1854) là “Quát” thì chỉ có Đức Kim Thượng (Vua đương thời) mới dám gọi “thần Siêu, thánh Quát” như thế; còn bình thường tôn trọng đều gọi “Nguyễn Phương Đình” và “Cao Chu Thần”.
Tùng ở đây là Tùng Thiện công, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, 阮 福 綿 審,(1819-1870) và Tuy là Tuy Lý công, Nguyễn Phúc Miên Trinh, 阮 福 綿 寊,(1820-1897). Sau hai vị này được truy tặng là Tùng Thiện Vương, 從 善 王 và Tuy Lý Vương, 綏 理 王, (1936) đều là con Vua Minh Mạng, và vai vế vào hàng chú của Vua Tự Đức.
***
Tranh minh họa có Gemini hỗ trợ:
Chẳng biết sau hơn ba kỷ nữa,
Còn ai thương cảm Tố Như nương? (NT)

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

Bài số 22, Chí Hiên tặng (2), Nguyễn Du, Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo.

 Bài số 22:

Chí Hieân taëng (2)
Chí Hiên tặng (2)
Nguyễn Du
Bài Chí Hiên tặng II. Nguyễn Du không trách móc nữa mà bày tỏ lòng mình:
Rủi may nào sá gì, nghĩ rằng cùng tắc thông, thông tắc biến, biến tắc hóa theo Kinh Dịch…
Ra Bắc phen này (1796) mong làm nổi việc,
Nghĩ lại việc vào Nam (1794) cũng hoài công, Hà Tỉnh chẳng ai theo, chẳng thể lập cứ địa chống Tây Sơn, cũng chẳng thể vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh…
Bạn thơ cũ nay đâu, ngồi uống trà một mình, uống bao nhiêu bình nước rồi ấm trà đã nhạt.
Quán trọ đêm qua năm canh không ngủ được vì manh áo quá mong manh, trời đã vào lập đông…
Trông ra sông hồ mù mịt sương khói từ biển thổi vào.
Người xưa Cổ Nguyệt đường lòng như tấm gương trong nào thấy đâu?
*
Chí Hiên tặng II, Nguyễn Du:
Rủi may nào sá nghĩ cùng thông,
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng.
Ra Bắc phen này mong nổi việc,
Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công.
Bạn thơ năm hết mâm trà lạt,
Quán khách canh chầy mảnh áo mong.
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể,
Nguyệt đường bao nã thấy gương trong
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
㩡𢆧芾咤𢣂窮通
諸𠴭知音祖𢚶𢙱
𦋦北畨尼懞挼役
𠓨南𡄎𠓀共壞工
伴詩𢆥盡𣙺茶𤁕
舘客更迡𤗖𥜌𤘁
憾洱矓𦋦模𤌋𣷭
月堂包那𧡊𨩍𤄯
*
Ngân Triều cảm đề Bài Chí Hiên tặng (2), 
                                               Nguyễn Du.
Rủi may nào sá tắc cùng thông,
Chưa phải tri âm để tỏ lòng.
Ra Bắc phen này lòng đã quyết,
Vào Nam, giúp Chúa, sự hư không.
Nhạt trà bằng hữu còn đâu nữa,
Đêm rét đơn y, ngủ chẳng xong.
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong?
*
Nguyễn Du tìm đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan cho Tây Sơn, nhà cao cửa rộng, chẳng kém gì các biệt thự các vị quan to thời trước:
Trên bờ sông Nhị nhà chen gần,
Đã chiếm cả thành hết cảnh Xuân,
Cầu gác Đông Tây cao ngất dựng.
Ở Quỳnh Hải, Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út cho Nguyễn Du và giao gia trang, năm 1797. Từ đây Mùa Xuân Quỳnh Hải, Quỳnh Hải nguyên tiêu, sau khi nếm trải phong trần, góc biển chân trời ba mươi tuổi, con thuyền lênh đênh của Nguyễn Du mới an phận cập bến hạnh phúc:
*
Quỳnh Hải Nguyên Tiêu
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên Xuân hứng, thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên?
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.
*
瓊海元宵
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年
*
Rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải
Nguyên tiêu lồng lộng khắp trời,
Trăng như người cũ, tuyệt vời không phai!
Trời Xuân ập xuống nhà ai?
Mấy ai tận hưởng trăng này xa xôi?
Tan nhà, huynh đệ chia phôi,
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Tấm thân tam thập lao đao cuối trời.
Ngân Triều dịch thơ. Tranh của Gemini.
Bạc đầu căm giận tuổi đời ruỗi mau.
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Tấm thân tam thập lao đao cuối trời.
Ngân Triều dịch thơ.
Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời Mười năm gió bụi có vợ con, dạy học, dạy văn và võ, hoàn tất Truyện Kiều.
Năm năm Quỳnh Hải (1797- 1802) Nguyễn Du đã giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn, Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ, học trò và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa ,bò, heo dâng sớ đón rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam thì gặp Vua Gia Long, vua phong ngay cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc, người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phù Dung nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.
***
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong? (NT)

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo, bài số 21, Chí Hiên tặng (1), Nguyễn Du.

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo,
Bài số 21:
Chí Hieân taëng (1)
Chí Hiên tặng (1)
Nguyễn Du
Sau khi gửi bài thơ này cho Hồ Xuân Hương năm 1795. Hồ Xuân Hương hiểu mối tình mình chỉ là giấc mộng. Nguyễn Du thôi làm Hồng Sơn Liệp Hộ mà làm Nam Hải Điếu Đồ, đi câu cá biển Nam Hải. Tâm sự Nguyễn Du lúc này trong bài Tạp thi I viết:
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử Đông hàn đoạt thiếu niên.
Tạp thi kỳ nhất, Nguyễn Du
*
Bạc đầu tráng sĩ ngửng trời than,
Dựng nghiệp mưu sinh thảy lỡ làng,
Thu Cúc, Xuân Lan thành mộng ảo.
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh…
Nhất Uyên dịch thơ
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
壯 士 白 頭 悲 向 天
雄 心 生 計 兩 茫 然
春 蘭 秋 菊 成 虛 事
夏 暑 東 寒 奪 少 年
雜 詩 其一 , 阮 攸
*
Nguyễn Du cho rằng chuyện tình của mình với cô Cúc làng Trường Lưu hay với Xuân Hương làng Nghi Tàm đều đã thành mộng ảo.Về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du tâm sự với người bạn cũ Thực Đình (bút hiệu có nghĩa là người ăn ở đình làng) Họp bạn khó tìm người mắt biếc.
Sau vụ khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, người sống sót chẳng ai dám tỏ một thái độ gì. Do đó Nguyễn Du không thể ở lại, dạy học, cũng không thể tìm ra thủ hạ, do đó, tôi bác bỏ đoạn gia phả Nguyễn Tiên Điền chép:
Nguyễn Du từ Hà Tỉnh dẫn thủ hạ mang quân lương ra tiếp rước Vua Gia Long. Và được đưa ra Bắc phong tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.
Bước đường tìm cách vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, có lẽ Nguyễn Du đã rơi vào bẫy của quan biên phòng của Hiệp Trấn Hà Tĩnh Nguyễn Văn Thận, nên thay vì vào Khánh Hoà, Nguyễn Du bị chở thẳng vào tù. Nguyễn Văn Thận nể tình bạn thân với Nguyễn Nể, và tài thơ văn Nguyễn Du nên chỉ cho ở tù sơ sơ mười tuần (ba tháng).
Trong Bài Cảm Hứng trong tù Nguyễn Du cho rằng nỗi lòng mình không ai biết:
Tâm sự chút lòng, ai biết tỏ,
Như sông Quế sâu dưới non Hồng.
Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, vua Gia Long tiến đánh, Thận thua trận chạy ra Thanh Hóa và bị giết ở đó.
Tin tức Nguyễn Du bị tù đã ra tới Thăng Long. Hồ Phi Mai lên đường về nhà chồng anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.
Nguyễn Du sau khi ra tù , ban đêm Nguyễn Du đã đi bộ trốn ra Thăng Long bài Dạ hành:
…
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu
Bạch đầu vô lại chuyết tang than
Dạ hành, Nguyễn Du
*…
Trăng xế biển Nam ngàn dặm chiếu,
Đường xa gió lộng một người trông.
Đêm đen mờ mịt bao giờ sáng
Đầu bạc mà còn vụng dấu thân.
Nhất Uyên dịch
*
Chữ Hán, Ngân Triều soạn
…
南溟殘月浮千 里
古陌寒風共一 人
黒夜何其迷失暁
白頭無賴拙藏 身
夜行, 阮 攸
*
Trên đường đi Nguyễn Du phải đi ăn xin: Bài Khất Thực, Nguyễn Du viết:
Khất thực
Tầng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên,
Triển chuyển nê đồ tam thập niên.
Văn tự hà tằng vi ngã dụng,
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên (lân)
*
Chống gươm ngạo nghễ thét trời xanh,
Ba chục năm trong bùn hôi tanh,
Chữ nghĩa ích gì cho cuộc sống,
Nào ngờ đói rách người thương tâm.
Nhất Uyên dịch thơ
*
Chữ Hán Ngân Triều soạn
乞 食
嶒 崚 長 劍 倚 青 天
輾 轉 泥 塗 三 十 年
文 字 何 曾 為 我 用
饑 寒 不 覺 受 人 憐
*
Đến Thăng Long Nguyễn Du đến một quán khách quen biết bên bờ Hồ Tây, chủ quán cho hay Xuân Hương Hồ Phi Mai đã đi lấy chồng, anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Chủ quán mời một bình trà, Nguyễn Du uống bao nhiêu lần, không tiền nên chỉ xin nước sôi uống trà lạt, ngồi viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên. Bài thơ oán trách Hồ Xuân Hương thậm tệ. Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn nhưng nàng vẫn trân trọng lưu trong tập thơ Lưu Hương ký.
*
Chí Hiên tặng I, Nguyễn Du.
Chữ giao nguyền với mấy năm tròn,
Xe nón tình kia mãi mãi còn.
Chẳng biết dạ người đen tựa mực,
Sao hay lòng khách thắm như son.
Còn tai chửa lãng lời vàng ngọc,
Có mắt mà xem mặt nước non.
Chớ trách chúa Xuân lòng mỏi mệt;
Mận đào được thế tiếng công môn.
Thơ chữ Nôm Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đã ghi trong Lưu Hương ký.
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
𡨸交𡅪唄買𢆥𧷺
車𥶄情箕買買群
拯别胣𠊚顛似墨
𫳵咍𢚸客𧺀如崙
群𦖻𣗓𢠯𠳒鐄玉
𣎏眜麻䀡𩈘渃𡽫
詛責主春𢙱痗瘼
槾桃得屉㗂公門
*
Nhất Uyên diễn ý
Đã giao du với nhau mấy năm tròn,
Thề thốt tình thâm giao xe, nón mãi mãi còn…
(Xe nón車𥶄 do chữ Xa lạp車 笠, theo sách Phong thổ ký, phong tục nước Việt thuần phác. Trong buổi sơ giao, hai bên làm lễ kết nghĩa thường có lời thề: Anh cỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau sẽ xuống xe vái chào tôi, anh cầm ô tôi cỡi ngựa, khi gặp nhau tôi sẽ xuống ngựa chào anh... Thơ Khổng Bình Trọng: Việc đời biến đổi khôn lường, chớ vì cởi xe mà khinh kẻ đội nón. Vì thế tình thân là xạ lạp chi giao, mối giao tình xe nón...)
Không biết tại lòng nàng tham giàu sang mà thay dạ đổi lòng, lòng đen tựa mực đi lấy chồng thầy thuốc,
Còn tôi mới ra tù, tình tôi vẫn thắm như son, một lòng yêu nàng.
Tai tôi chưa quên lời vàng ngọc của nàng,
Nàng có mắt hãy xem tôi làm nên sự nghiệp với nước non.
Chớ trách chúa Xuân, vì sợ chờ đợi tôi mà mỏi mệt, sợ lỡ thì.
Tình nàng sớm mận tối đào như thế có xứng đáng dòng dõi con nhà quyền quí chăng?
[Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn?]
*
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Ngân Triều cảm đề, bài Chí Hiên tặng (1):
Giao tình ròng rã mấy năm tròn,
Xe nón lòng đây vẫn mãi còn.
Sớm tối lòng ai đen tựa mực,
Bể dâu tình khách đỏ như son.
Đá vàng sao vội quên lời hẹn,
Chống mắt mà xem rỡ nước non.
Chớ trách chúa Xuân, chờ đợi lỡ,
Lẳng lơ ai dám rước, lầu son?
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình HXH và ND của TS Phạm Trọng Chánh.
***
Tranh minh họa có hỗ trợ của Gemini:
Đá vàng sao vội quên lời hẹn,
Chống mắt mà xem rỡ nước non.
Chớ trách chúa Xuân, chờ đợi lỡ,
Lẳng lơ ai dám rước, lầu son? (NT).

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

Thiên tình sử của HXH & ND tiếp theo, bài số 20: Ký mộng, Nguyễn Du.

Bài số 20:
Kyù moäng
Nguyễn Du
Trước sự nguy cấp của tình hình Nguyễn Du, không biết hành động gì hơn, đã trả lời bài thơ này bằng bài Ký mộng:
Thời gian qua nhanh như nước chảy ngày đêm,
Anh như người du tử ở biệt mãi chốn quê hương.
Bao năm rồi không gặp mặt lại,
Nói làm sao hết những nhớ thương,
*
Chỉ còn biết gặp nhau trong mộng,
Đêm qua anh mơ thấy rõ ràng,
Em đến tìm anh nơi bến sông Giang Đình.
Dung nhan vẫn như ngày xưa,
*
Áo tứ thân không buồn chăm sóc.
Thoạt tiên em kể nỗi đau ốm,
Rồi than thở những ngày xa nhau,
Sụt sùi không nói hết, như cách một bức màn.
*
Bình sinh em không thuộc lối,
Mộng hồn không biết thực hay không.
Núi Tam Điệp nhiều hổ trĩ,
Sông Lam lắm cá sấu.
*
Đường đi hiểm trở khó khăn,
Không biết có nhờ cậy ai ?
Mộng đến ngọn đèn cô đơn giọi sáng,
Mộng tan gió thổi lạnh lùng.
*
Người đẹp của lòng anh không thấy nữa,
Lòng anh rối như tơ vương.
Nhà trống ánh trăng xế soi vào,
Chiếu trên tấm áo cô đơn của anh.
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
Kyù moäng
Thệ thủy nhật dạ lưu,
Du tử hành vị qui.
Kinh niên bất tương kiến,
Hà dĩ uý tương ti (tư).
*
Mộng trung phân minh kiến,
Tầm ngã giang chi mi.
Nhan sắc thị trù tích,
Y sức đa sâm si.
*
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn,
Kế ngôn cửu biệt ly.
Đái khấp bất chung ngữ,
Phảng phất như cách duy.
*
Bình sinh bất thức lộ,
Mộng hồn hoàn thị phi.
Điệp sơn đa hổ trĩ,
Lam Thủy đa giao ly.
*
Đạo lộ hiểm thả ác,
Nhược chất tương hà y ?
Mộng lai cô đăng thanh,
Mộng khứ hàn phong xuy,
*
Mỹ nhân bất tương kiến,
Nhu tình loạn như ti.
Không ốc lậu tà nguyệt;
Chiếu ngã đan thường y.
Nguyễn Du
Bản chữ Hán, Thi Viện:
記夢
逝水日夜流
遊子行未歸
經年不相見
何以慰相思
*
夢中分明見
尋我江之湄
顏色是疇昔
衣飭多參差
*
始言苦病患
繼言久別離
帶泣不終語
彷彿如隔帷
*
平生不識路
夢魂還是非
疊山多虎廌
藍水多蛟螭
*
道路險且惡
弱質將何依
夢來孤燈清
夢去寒風吹
*
美人不相見
柔情亂如絲
空屋漏斜月
照我單裳衣
Người vợ trước của Nguyễn Du là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn, đã mất ở Quỳnh Hải, Thái Bình. Lúc này Nguyễn Du ở Hà Tĩnh chiêm bao thấy vợ. Ông nghĩ lúc sống bà chưa biết đường làm sao tìm được ông trong giấc chiêm bao.
Tham khảo: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn Nghệ, 2007
*
Ghi lại giấc mộng
Dòng nước ngày đêm chảy,
Người biệt chốn cố hương.
Bao năm không gặp mặt,
Làm sao hết nhớ thương ?
*
Trong mộng rành rành thấy,
Tìm ta nơi bến sông,
Dung nhau vẫn như trước,
Y trang buồn biếng chăm.
*
Trước kể nỗi đau ốm,
Rồi than những ngày xa,
Nghẹn ngào không nói hết,
Dường cách bức màn sa.
*
Bình sinh không thuộc lối,
Mộng hồn biết thật chăng ?
Núi Điệp đầy hổ báo,
Sông Lam lắm thuồng luồng.
*
Đường đi thật hiểm trở,
Phận gái nhờ ai không ?
Mộng đến đèn côi sáng.
Mộng tan gió lạnh lùng.
*
Giai nhân nào thấy nữa,
Lòng ta rối tơ vương.
Nhà trống vầng trăng xế,
Soi manh áo cô đơn.
(Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ)
*
Nhà trống bóng trăng xế,
Lồng bóng manh áo đơn. (NT)
Tranh có hỗ trợ của Gemini.
*
Ngân Triều cảm đề, bài Ký mộng:
Thời gian như nước chảy,
Biền biệt mãi quê hương.
Bao năm rồi không gặp,
Làm sao vơi nhớ thương,
*
May ra là mộng tưởng,
Đêm qua thấy rõ ràng,
Gặp nàng nơi Giang Đình.
Vẫn dung nhan ngày cũ,
*
Áo tứ thân xốc xếch,
Nàng kể nỗi ốm đau ,
Than thương nhớ xa nhau,
Khuất màn không nói hết.
*
Bình sinh không biết lối,
Nàng đến, biết thực không?
Tam Điệp nhiều hổ báo,
Lắm cá sấu đường sông
*
Đường hiểm trở khó khăn,
Liễu yếu cậy ai thân?
Cầu có đèn soi sáng,
Gió lạnh lùa mộng tan!
*
Còn tình nào hơn thế?,
Ngơ ngẩn buồn nào hơn.
Nhà trống bóng trăng xế,
Lồng bóng manh áo đơn.
*
Bài thơ này, ông Đào Duy Anh cho rằng Nguyễn Du nhớ vua Lê Chiêu Thống; ông Trương Chính, Lê Thước lúc đầu cho rằng nhớ người bạn cũ, sau đó cho rằng nhớ vợ (em gái Đoàn Nguyễn Tuấn). Các bản khác đều cho như thế. Riêng tôi (TS Phạm Trọng Chánh), chứng minh bài này Nguyễn Du nhớ Xuân Hương, Hồ Phi Mai.
Hồ Xuân Hương đã nhận được bài thơ này, nên trong bài: Cảm Cựu Kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu, gửi Nguyễn Du năm 1813. Hồ Xuân Hương đã nhắc lại bằng câu: Giấc mộng rồi ra nửa khắc không. Xuân Hương đã hiểu Nguyễn Du khi viết: Mộng đến đèn côi sáng, mộng tan gió lạnh lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương. Nguyễn Du đã xem cuộc tình ba năm với Xuân Hương, Hồ Phi Mai, như một giấc mộng.
Bài Tạp Thi (I) , Nguyễn Du cũng xem cuộc tình với cô Xuân Hương làng Nghi Tàm, hay cô Cúc làng Trường Lưu đều là mộng ảo. Xuân lan, thu cúc, thành mộng ảo (Xuân lan thu cúc thành hư sự.)
Dù còn yêu, nhưng biết rằng tình yêu không lối thoát, Nguyễn Du không thể nào cậy mai mối hay người thân đến cưới hỏi, ít ra Nguyễn Du cũng còn mấy bà chị dâu, hay chị ruột ở Thăng Long? Ba đồng một miếng trầu cay, Sao anh không hỏi những ngày còn không ?
Tin Nguyễn Du bị bắt giam tại Hà Tĩnh ra đến Thăng Long. Bà Đồ Diễn thôi thúc con gái lấy chồng. Phạm Đình Hổ trong bài Hoài cổ ( Nhớ xưa), mượn ý thơ Thôi Hộ, đã trêu nàng:
Hoài cổ
Năm xưa hoa đào nở,
Em tôi học cài trâm.
Năm nay hoa đào nở,
Mẹ gả xóm Tây gần,
*
Năm nay hoa đào nở,
Gió Xuân sao lạnh lùng.
Em nhìn hoa mà khóc,
Sầu vương nét mi cong.
*
Năm nay đào lại nở,
Cỏ xuân mượt trời mơ.
Bên hoa em cười nụ,
Ngâm thành tự đề thơ.
***
Nguyên văn chữ Hán
Khứ tuế đào hoa phát,
Lân nữ học sơ kê.
Kim tuế đào hoa phát.
Dĩ giá lân gia Tây; (tê)
*
Kim tuế đào hoa phát,
Xuân phong hà thê thê,
Lân nữ đối hoa khấp,
Sầu thâm mi chuyển đê...
*
Kim tuế đào hoa phát,
Xuân thảo hà thê thê.
Lân nữ đối hoa tiếu,
Ngâm thành thủ tự đề
(Phạm Đình Hổ. Tuyển tập thơ văn ; nxbKHXH 1998.)
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
懷古
去歲桃花發,
鄰女學初笄.
今歲桃花發,
已嫁鄰家西.
*
今歲桃花發,
春風何淒淒.
鄰女對花泣,
愁深眉轉低
*
今歲桃花發,
春草何淒淒.
鄰女對花咲,
吟成首自題
***
Ngân Triều cảm đề
Nhớ xưa hoa đào nở,
Em còn tập cài trâm.
Năm nay đào lại nở,
Xuất giá bên nhà gần.
*
Nhớ xưa hoa đào nở,
Gió Xuân đưa lạnh về.
Nhìn hoa em giọt tủi,
Sầu cúi đầu tái tê.
*
Năm nay đào lại nở,
Cỏ Xuân sao bơ phờ.
Nhìn hoa cười hớn hở,
Viết thành một bài thơ.
***
Nguyễn Du phúc đáp bằng bài thơ Ký Mộng, mơ thấy Xuân Hương, bỏ mẹ, bỏ lớp dạy trẻ , vượt đèo Tam Điệp đầy hổ báo, vượt Sông Lam lắm cá sấu, đường đi thật hiểm trở, vào Hồng Lĩnh thăm mình. Tỉnh dậy viết bài Ký mộng gửi Xuân Hương, nên năm 1813 khi tình duyên tan vỡ, đò đã qua mấy chuyến, trong bài Cảm Cựu Kiêm Trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu, mừng chàng làm Chánh Sứ: Xuân Hương nhắc lại:
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không .
Đáp lại các câu thơ:
Mộng đến ngọn đèn sáng,
Mộng đi gió lạnh lùng,
Giai nhân nào thấy nữa,
Lòng ta rối tơ vương.
Ngày trước ông Đào Duy Anh, trong cuốn Khào luận Truyện Kiều căn cứ vào câu Du tử hành vị quy, cho rằng Nguyễn Du nhớ vua Lê Chiêu Thống. Các ông Lê Thước, Trương Chính trong thơ Chữ Hán Nguyễn Du cho rằng nhớ một người bạn cũ, sau đó lại cho rằng nhớ người vợ trước em Đoàn Nguyễn Tuấn. Riêng tôi, (TS Phạm Trọng Chánh), Nguyễn Du không gọi là hiền thê, vợ hay bạn hay vua mà gọi là mỹ nhân, Mỹ nhân đó chính là Xuân Hương, Hồ Phi Mai, lúc đó Nguyễn Du còn cô đơn chưa vợ. Ba mươi tuổi Nguyễn Du mới về Quỳnh Hải cưới vợ, lúc ở Hồng Lĩnh chỉ ở một mình bếp lạnh hoang vắng.
Nguồn: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh