Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Những bài thơ xướng-họa của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như, bài 15 và 16.

 Những bài thơ xướng-họa của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như, bài 15 và 16.

Bài 15

Ngày Xuân uống rượu (@)

                    Phạm Thái

 

Có rượu, có thơ Xuân ý vị,

Ngày nào trời cũng ánh Thiều quang.

Tranh minh họa Google

Hơi Xuân hây hẩy động rèm dương[1],

Thổi gợn lăn tăn nước rượu vàng.

Rạng rỡ tiên hoa[2] khoe tử sắc[3],

Nồng nàn thánh tửu tỏa mê hương[4].

Đầu xanh trước gió lao đao[5] chuyển,

Tóc bạc sau mày lỏa tỏa[6] vương.

Có rượu, có thơ, Xuân có mãi,

Trăm năm ba vạn sáu thiều quang[7].
                                            Phạm Thái, (範泰, 1777-1813)

---------------

Chú thích

(@) Trích đăng lại bài 14, chương II, trang, thơ họa của Trương Quỳnh Như.
                   Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

     𣈜𠶖

唏春希海動帘陽,

𠺙湎漣溜黄.

𠓁仙花恗茈色,

濃難聖酒鎖.

𩇛𩙍撈忉轉,

𩯀𢖕𣭒蠡鎖𥿁.

固溜, 固詩, 春固買,

𤾓𢆥𠀧𦒹韶光.

                     範泰, (1777-1813)

Diễn ý bài thơ

Hương mùa Xuân theo gió nhẹ, lay động bức rèm che nắng,

Làm gợn sóng lăn tăn trên nước rượu màu vàng trong chun rượu. (E là rượu Cúc)

Tươi sáng, hoa tiên đẹp tuyệt vời, như tiên, khoe sắc tía,

Đậm đà, rượu thánh tỏa mùi ngất ngây.

Đầu xanh trước gió, cử động cách nhọc mệt,

Tóc rối đã bạc sau mày phất phơ.

Ta có rượu, có thơ thì mãi có mùa Xuân,

Vậy là đời người ngày nào cũng là ngày của mùa Xuân.

Ngân Triều cảm đề

Hương Xuân khe khẽ lay rèm nắng,

Gợn sóng lăn tăn cốc rượu vàng.

Ngoạn mục hoa tiên khoe sắc tím,

Đậm đà rượu thánh ngất ngây hương.

Đầu xanh trước gió nghe choang choáng,

Tóc bạc rối dài phơ phất vương.

Có rượu, có thơ Xuân ý vị,

Ngày nào trời cũng ánh Thiều quang.

***
[15bis]

Bài họa “Ngày Xuân uống rượu” của Phạm Thái

Trương Quỳnh Như

 (Hoạ nguyên Vận)

Rực rỡ trời xuân ánh thái dương,

Xuyên qua chén rươu nhuốm màu vàng.

Hoa xuân kín đáo thầm phong nhụy,

Men rươu nồng nàn ngát tỏa hương.

Má phấn say xuân hây ửng đỏ,

Thơ tình thiếu rượu rối vân vương,

Tìm vần trong rượu vần không thấy,

Chỉ thấy xuân đầy vẻ diễm quang.[8]

Nguồn:

-Trích Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưng, chương 46: Kén Rể.

-Trích Phạm Thái và Sơ Kính tân trang, trang 177, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng, Saigon, 1973.

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

𣈜𠶖

   張瓊茹

𤊧𡗶春映太陽,

串過𡓥酒洳牟黄.

花春謹到啿封蕊,

𥾃酒濃難吃鎖香.

𫑹春希怏𧹥,

詩情少酒𦆹𥿁.

尋韻𥪝酒韻空𧡊,

𧡊𡲈.

            Ngân Triều cảm đề

Trời xuân rực rỡ ánh thái dương,

Lóng lánh giao thoa chén rượu vàng.

Hoa xuân khép kín ngầm phong nhụy,

Men rượu thơm nồng tỏa ngát hương.

*
Má phấn men xuân hừng ửng đỏ,

Thơ tình thiếu rượu bí vần thương.

Tìm vần trong rượu vần chưa đến,

Chỉ thấy xuân đầy ánh diễm quang.

.                       ***
[15’ bis] VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (@)

Thơ Thuận nghịch độc.

(Đọc xuôi,à thơ chữ Nôm,

Đọc ngượcß là bài thơ chữ Hán)

Đọc xuôi:

Thanh Xuân tỏa liễu lãnh tiêu phòng,

Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.

Thanh dạng đổ liên phi phất lục,

Đạm hy tàn cúc thái sơ hoàng.

Tình si dị tố liêm biên nguyệt,

Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.

Tranh khúc cưỡng khiêu sầu mỗi bận,

Oanh ca nhật vĩnh các tiêu hương.

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

青春瑣柳冷椒房,

錦柚停針𥃷點粧.

杜蓮非彿綠,

淡希殘菊彩初黄.

情痴易訴帘,

夢促曾僚帳嵿霜.

筝曲強挑愁每遍,

鶯歌日永閣椒香.

範泰, (1777-1813)

Đọc ngược

Bản dịch của Phạm Thái:

Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh

Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh

Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng

Nguyệt bên rèm, tỏ dễ si tình

Vàng tha thướt, cúc tan hơi đạm

Lục phất phơ, sen đọ rạng thanh

Trang điểm ngại chăm, dừng trục gấm

Phòng tiêu lạnh lẽo khoá Xuân xanh.

Phiên âm Hán Nôm,

Ngân Triều soạn:

香椒閣永日歌鶯

遍每愁挑強曲筝.

霜嵿帳僚曾促夢,

帘訴易痴情.

黄初彩, 菊殘希淡,

綠彿非, 蓮杜.

粧點𥃷針停柚錦,

房椒冷柳瑣春青.

                      範泰, (1777-1813)

(@) Giai thoại kể rằng một hôm Phạm Thái ngồi uống rượu với Kiến Xuyên hầu. Kiến Xuyên hầu trông vào bức tranh tố nữ, bảo ông thử uống cạn mười chén, vịnh thơ một bài. Phạm Thái vâng mệnh, cất bút thảo luôn bài này. Hầu xem xong thích lắm, khen là “thanh quan thắng tuyệt” 青觀勝捽, (trong sáng tuyệt vời), từ đấy hầu có ý muốn gả con gái là Trương Quỳnh Như cho Phạm Thái, vì cũng biết là hai người đã yêu nhau. Tuy nhiên, bà mẹ Quỳnh Như không bằng lòng. Sau Quỳnh Như bị ép gả cho một người khác, nàng liền tự tử. Từ đấy Phạm Thái buồn bã, chán nản, đi lang thang đây đó, uống rượu làm thơ, tự xưng là Chiêu Lỳ.

Đây là một bài thơ theo lối thuận nghịch độc, đọc xuôi bằng chữ Hán, đọc ngược bằng chữ Nôm. Bản dịch chính là bản đọc ngược của bài thơ bằng chữ Nôm.








Ảnh Sông Nhị hay sông Hồng, Google.

Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,

Nước Nam sừng sững sách trời còn.

                                       Ngân Triều.

[16] Họa bài VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (*) của Phạm Thái:

Véo von[9] bên liễu tiếng hoàng oanh,

Khuyên khách đừng quên chí chiến tranh.

Giữa lúc nước nhà đang hoạn nạn,[10]

Phải khi tráng sĩ vướng tơ tình?

Sông trôi đất Bắc in dòng đỏ,

Núi đứng trời Nam nhuộm vẻ thanh.

Khúc khải hoàn ca rồi mạnh mẽ,

Phòng tiêu[11] đầm ấm rạng ngày xanh.

Trương Quỳnh Như

Phiên âm Hán Nôm,

Ngân Triều soạn:

𠶓黄鶯,

勸客停𠅳志戰爭.

𠁹𣅶茄當患,

沛欺壯士𥿁絲情?

坦北印𣳔,

𡶀𥪸𡗶南染𡲈.

曲凱還歌耒猛瑪,

房椒淫喑𠓁𣈜𩇛.

            張瓊茹

Diễn ý bài thơ:
Bên rặng liễu, có tiếng hót cao và thanh, véo von con chim hoàng oanh nào,

Khuyên người khách đừng quên nhiệm vụ chiến tranh.

Trong lúc đất nước đang tung trời khói lửa, điêu linh,

Mà chi, tráng sĩ đã lụy vào vòng tình ái?

Kìa, đất Bắc, dòng sông trôi in màu đỏ,

Nọ, núi trời Nam nhuộm màu xanh thanh tú.

Chừng nào chiến thắng trở về, khúc khải hoàn ca, tưng bừng,
Chúng ta sẽ chung một phòng tiêu ấm áp, rạng rỡ ngày xanh.

          Ngân Triều cảm đề

Rặng liễu hoàng oanh hót véo von,

Chiến tranh nhắc nhở chí hằng toan.

Những đau vận nước, thương dân khổ,

Chớ đắm biển tình, đuối phấn son.

Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,

Nước Nam sừng sững sách trời còn.

Khải hoàn vang dội mừng Xuân mới,

Là lúc tưng bừng phượng với loan.

                                                  ***



Chú thích: 

[1] Rèm dương: Rèm có bóng mặt trời chiếu vào nhà.

[2] Tiên hoa: hoa đẹp như hoa cõi tiên.

[3] Tử sắc: sắc tía.

[4] Mê hương: mùi hương ngất ngây, mê say.

[5] Lao đao: nhọc mệt, choáng váng.

[6] Lỏa tỏa: lôi thôi, lòng thòng.

[7] Thiều quang: ánh sáng của sao Thiều, là sao chiếu sáng trọn mùa Xuân ba tháng.
Ngày Xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chin chục, đã ngoài sáu mươi.
ĐTTT, Nguyễn Du

[8] Diễm quang: ánh sáng tươi đẹp, rực rỡ.

[9] Véo von: tiếng chim hót cao và thanh.

[10] Hoạn nạn: lo lắng, tai nạn.

[11] Phòng tiêu: phòng sơn bột hạt tiêu cho ấm, thường thấy ở các nhà giàu sang, quyền quý.