Chủ
Nhật, 10 Tháng 8, 2014
Bài
[96]
Cỏ may còn tím, cảm đề Hồi ký Bông Cỏ May.
Thơ
Mặc Hiền Phạm Văn Rã; Lời bình Ngân Triều.
…
Tôi
đứng ngoái nhìn, xa tít
xa,
Cuối trời mây trắng,
bến bờ qua. Ảnh Google
Cảm tác khi đọc Bông
Cỏ May,
Hồi ký Võ Kim Ngân;
Tổng hợp Ngân Triều.
Coû
May coøn tím
Lục Viên ơi! Lục Viên
ơi!
Đường về quê Ngoại của
tôi ơi!
Cỏ May còn tím đường đi
học,
Tím cả gò hoang, tím cả
trời.
*
Tôi đứng ngoái nhìn, xa
tít xa,
Cuối
trời mây trắng, bến bờ qua.
Mây ơi! Xin nhắn lời ta
gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi
nhớ nhà.
*
Rồi bỗng mơ về thấy mẹ
tôi:
Cỏ may giăng tím, chạy
quanh đồi,
Run run Mẹ lặt từng hoa
cỏ,
Lòng đắng, chia lìa,
giọt lệ rơi!
*
Sao đã lạc loài giữa
biển khơi,
Còn năm hoa cỏ, vướng
chân tôi?
“Phiêu linh dù đã xa
muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng
một hướng trời” [1]
Mặc
Hiền, Phạm Văn Rã {
*
Lời bình, Ngân Triều
Mặc Hiền Phạm Văn Rã,
Võ Kim Ngân và Ngân Triều là ba người bạn đã quen biết nhau hồi còn học chung
Trường Tiểu Học Bào Trai, Hậu Nghĩa, năm học 1954-1956. Sau đó, con đường cầu
học, sự nghiệp và hoàn cảnh riêng tư, đã dẫn đưa mỗi người, mỗi hướng đa đoan,
mây trôi bèo dạt. Trải qua một thời dâu bể, ba
tia sáng đơn sắc phân kỳ
ngày xưa đó, bỗng nhiên hội tụ trong một lăng kính nhớ thương: “Hồi ký Bông Cỏ
May” của Võ Kim Ngân (VKN); cảm tác “Cỏ May còn tím” thơ
của Mặc Hiền (MH) và tổng hợp, lời bình của Ngân Triều (NT).
Những ký ức của một thời Tiểu học, đầy ắp trong hành trang kỷ niệm của tuổi học
trò trong sáng vô tư, như những con sóng nhỏ trên mặt Sông Vàm Cỏ Đông hiền
hòa, long lanh, lấp lánh, phản chiếu ánh trời chiều, rực rỡ, ngỡ
ngàng, để lặng lờ xuôi dòng trôi về Biển Đông mênh mông. Dòng sông đó,
bây giờ, chắc đang ở tận cuối Trời Quên, theo một câu nói của một
triết gia Hy Lạp: “On ne se baigne jamais deux fois,
dans le même fleuve”. [2] Một
thời đi học trường làng… chắc là cũng vậy. Nhưng khi hoài niệm về dĩ vãng, ai
mà chẳng nghe lòng ấm áp, xôn xao.
I-Khổ thơ đầu: (Câu 1-4):
Lục Viên ơi! Lục Viên
ơi! (câu 1)
Đường về quê Ngoại của
tôi ơi!
Cỏ May còn tím đường đi
học,
Tím cả gò hoang, tím cả
trời. (câu 8)
“Cảm tác” là nhân được đọc
hồi ký của Võ Kim Ngân, tác giả đã xúc cảm mà sáng tác bài thơ “Cỏ may
còn tím” nầy. Qua khổ thơ mở đầu bên trên, Mặc Hiền (MH) như đã hòa nhập
ngay vào vai của nhân vật trữ tình VKN bằng một nỗi nhớ tha thiết, mênh mông:
Trước hết, người đọc
như trải lòng trong những tiếng réo gọi, kêu vang. Sau đó là những nỗi nhớ
thương như giăng khắp cả bầu trời, thể hiện một tâm trạng u ẩn dồn nén lâu rồi,
bây giờ mới có cơ hội bộc phát, tuôn chảy dạt dào. Những tiếng lòng ấy không phải
chỉ cất cao một cách đơn điệu mà nó còn như lặp đi lặp lại, réo rắt, tăng tiến,
ngân nga, biểu cảm, sâu lắng, qua nghệ thuật khéo dùng những điệp từ:
3 từ hô ngữ ơi, 3 từ tím và hai lần nhấn gọi
tên Lục Viên quê ngoại [3] ; bồi hồi trong cõi
nhớ là hình ảnh như in của con đường về quê ngoại của VKN.
Hai câu tiếp theo lại
dồn dập thêm, nhấn mạnh hơn bằng 3 điệp từ tím. Màu tím là
màu kết hợp cùng khối lượng của màu xanh và đỏ. Màu tím thường
tượng trưng cho sự nhung nhớ, tiếc thương: tâm trạng của tác giả thể hiện ở đây
là nỗi lòng ngùi nhớ một con đường đi học, đầy những bông cỏ may tím ngát;
thương biết bao phần mộ tổ tiên, quê nhà, tím cả gò hoang; trong
nỗi niềm xa xứ, khi hồi tưởng, trong tâm khảm chỉ còn những nỗi buồn
thương giăng chất ngất, ngập lòng.
Quả đúng với câu nói
của Hàn Dũ 韓愈 (768-824), một tác gia thời Trung Đường, đã nhận
xét: “Mọi vật vật hễ không được cái thế quân bình thì kêu lên”. [4] Hay
suy rộng ra, “người có điều quặng thắt tâm can, khắc phải bày tỏ lòng mình”
…cho vơi đi những niềm thương nỗi nhớ đang vò nát con tim, cho phôi pha một
thành sầu u uất:
Sầu
đong càng lắc càng đầy,
Ba
thu dồn lại, một ngày dài ghê!
Đoạn
Trường tân thanh, Nguyễn Du, (1765-1820), câu 249-250)
II- Khổ thơ thứ hai, (Câu 5-8):
Trung
thực, tỏ lòng.
Tôi đứng ngoái nhìn, xa
tít xa,
Cuối trời mây trắng,
bến bờ qua.
Mây ơi! Xin nhắn lời ta
gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi
nhớ nhà.
Hai câu (5-6) lấy ý từ
một tấm ảnh cũ, đã đăng trên Giai Phẩm Xuân Hậu Nghĩa số 2: Hình một con tàu
chạy ra khơi, VKN đang nhìn ngoái lại (MH giải thích). “Ngoái
nhìn” đồng nghĩa với “ngoảnh lại” là trông lại phía sau
lưng mình, nhìn lại con đường dài đã đi qua mà cảm xúc.
Dừng
chân ngoảnh lại trời non nước,
Một
mảnh tình riêng ta với ta.
Qua
Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan [5](1805-1848)
Xa tít xa là khoảng cách xa xôi
diệu vợi, muôn trùng sông núi. Quê nhà nhìn từ xứ người, chẳng còn trong tầm
mắt, mà chỉ còn thấy một khoảng không, ngàn dặm, xa lắc, mịt mù …[6]
Mây trắng [7]
hay mây
bạc còn bao gồm một nghĩa hàm ần, là tấm lòng nhung nhớ cha mẹ, quê
hương vời vợi, xa xôi.
Hai
câu 7-8, có thể là bộc trực lòng mình một cách trữ tình:
Mây ơi! Xin nhắn lời ta
gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi
nhớ nhà.
Ai
đã từng lữ thứ, tha hương mới thấm thía nỗi nhớ nhà, vô kể:
Nhật
mộ hương quan hà xứ thị,
Yên
ba giang thượng sử nhân sầu
日 暮 鄉 闗 何 處 是
烟 波 江 上 使 人 愁
黃 鶴 樓, 催 顥
Hoàng
Hạc Lâu, Thôi Hiệu (? – 754)
Quê
hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên
sông khói sóng cho buồn lòng ai!
Tản Đà (1889-1939) dịch
Hoặc:
Lớp
lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim
nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa.
Lòng
quê dợn dợn vời con nước,
Không
khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Tràng giang,
Huy Cận (1919 -2005)
III-Khổ
thơ thứ ba: câu
(9-12)
Nhớ hình ảnh mẹ hiền,
trong giây phút chia phôi.
Rồi bỗng mơ về thấy mẹ
tôi:
Cỏ may giăng tím, chạy
quanh đồi,
Run run Mẹ lặt từng hoa
cỏ,
Lòng đắng chia lìa,
giọt lệ rơi!
Trong giây phút ơ thờ
đó, tôi bỗng mơ về thấy mẹ tôi. Hình ảnh người Mẹ hiền suốt
đời tần tão, lúc nào Mẹ cũng chăm lo, vun vén hạnh phúc cho từng đứa con. Hạnh
phúc hay sự nghiệp của con chính là niềm vui của Mẹ.
Giăng tím là nỗi nhớ khôn
nguôi trong tâm khảm. Cỏ may…chạy quanh đồi chính là phần mộ
của họ hàng quá vãng. Đây chính là hình ảnh thiêng liêng gắn liền với truyền
thống gia phong của tổ tiên mà lớp hậu duệ cháu con, dù sống ở nơi đâu, cũng
phải ghi nhớ và bắt buộc phải trân trọng tuân thủ nếp nhà để khỏi phải làm ô danh
gia tộc.
Nhất là một chi tiết mà
mỗi lần nhớ lại, tôi không thể không mềm lòng:
“Trước khi từ giã Mẹ và người thân, đón
xe về Saigon để rồi đánh liều, dấn bước phiêu linh trong một hành trình vô
định; có thể chuyến đi đó là một chuyến đi, tôi đã giao nộp sinh mệnh cả gia
đình tôi cho tử thần, cho dẫu lúc đó tôi đang ở tuổi yêu đời phơi phới, tuổi
38; lúc đó, Mẹ tôi và tôi đối diện nhau, cùng lặt những bông cỏ may ở phần mộ
tổ tiên, đã lặng lẽ kết thành những hoa văn ngẫu nhiên, ngộ nghĩnh trên hai ống
quần dài đen cũ kỹ của tôi. Tôi rưng rưng nhìn bàn tay Mẹ run run. Mỗi bông cỏ
may, Mẹ lặt đến hàng mấy lần mới được một, rồi “Mắt lệ đắm trong miền cách biệt”,
Thế Lữ, (1907 – 1989); trong
thổn thức quặn lòng. Hai mẹ con, nhìn nhau, thật lâu, lau nhanh những giọt lệ
rơi rơi. Khi ấy, lòng tôi bỗng xót xa, cay đắng cho giây phút “sinh ly tử biệt”
của bản thân biết là ngần nào! (VKN)”.
Chỉ 4 dòng thơ tự
nhiên, hàm súc, gợi tả, MH đã nhập vai nhân vật trữ tình trong một tâm trạng,
một hoàn cảnh như thế, quả thật rất tuyệt vời. Cho hay, cảnh biệt ly nào, cũng
đắng lòng, cũng bồi hồi rơi lệ. Ôi! Cảnh biệt ly, sao mà buồn vậy! (Quốc
Văn giáo khoa thư). Và cũng như:
Nhưng
trong khoảnh khắc ơ thờ ấy,
Thấy
cả muôn đời hận biệt ly.
Giây phút chạnh lòng, Thế
Lữ, (1907 – 1989)
IV- Khổ thơ cuối (câu 13-16): Tự hỏi và nỗi lòng.
Sao đã lạc loài giữa
biển khơi,
Còn năm hoa cỏ, vướng
chân tôi?
“Phiêu linh dù đã xa
muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng
một hướng trời” [8]
Hai
câu 13-14, tác giả MH muốn nói thay lời cho nhân vật trữ tình,
trong hồi ký Bông Cỏ May của VKN.
“Quả là một sự ngạc
nhiên, thú vị đến ngẩn ngơ! Tôi đã lìa xa quê hương, xứ sở, đã đành phận mình.
Điều đó, hiểu theo một góc độ nào đó, một cách chủ quan về hoàn cảnh là “tôi đã
từ bỏ quê hương, sống lạc loài như một người vong quốc, vong bản, lưu đày” …nhưng
“hồn quê thắt chặt bước chân tôi” như những “Bông Cỏ May” vẫn “quyến luyến, dìu
dặt bước chân tôi” như duyên số, như một khẳng định hùng hồn trong lòng của
triệu triệu người Việt Nam đồng hội đồng thuyền: “Việt Nam! Việt Nam! Nghe từ
vào đời, Việt Nam hai câu nói trên vành nôi...Việt Nam! Việt Nam! Tên gọi là
Người, Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời! [9]
Đến
đây là lời bình hai câu cuối, thơ VKN mà MH đã sử dụng như 2 câu kết trong bài
thơ cảm đề của mình:
“Phiêu linh dù đã xa
muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng
một hướng trời” (*)
Phiêu linh là trôi nổi lênh đênh
như những chiếc lá bị sóng dập gió dồi, nổi trôi vô định trên dòng nước
cuốn. Man mác là tâm trạng đượm buồn triền miên. Bâng
khuâng là cảm xúc luyến tiếc và nhớ thương đan xen lẫn nhau. Một
hướng trời là thiên nhất phương, chỉ quê hương Việt
Nam yêu dấu, trăm mến ngàn thương [10]
Đó là nỗi lòng và là
những tình cảm tha thiết đầy tự hào về cội nguồn, về quê hương xứ sở, vẫn canh
cánh bên lòng.
Tóm lại, Bông
Cỏ May của VKN là một hồi ký chân thành về ký ức tuổi thơ
và câu chuyện chủ quan, riêng tư. Cỏ May còn tím của Mặc
Hiền Phạm Văn Rã, là bài thơ cảm tác mượt mà, đồng cảm, thác lời tác
giả BCM để góp phần cất cao tiếng lòng thanh khí để khái quát hóa và góp phần
nâng cao nội dung tác phẩm.
Riêng Ngân Triều chỉ là
một người góp nhặt, tổng hợp, trưng bày trong tuyển tập
nầy… như một gã lãng tử, lang thang trên một bãi biển hoang vắng, nhặt
những vỏ sò nhiều màu sắc long lanh, có nhiều hình thù lạ mắt… của sóng biển
đánh giạt vào bờ… cắp nắp đem về tặng những người bạn mà NT quý mến.
Những người bạn quý mến
ơi! Xin cảm ơn đã đọc tuyển tập nầy nhé! Và khi đọc xong, có thể xem như quý
bạn đã nhận được một quà tặng đơn sơ của chúng tôi, những chiếc vỏ sò ngoạn
mục, bắt được một cách ngẫu nhiên; những nét đẹp chủ quan, giai
điệu của tiếng lòng ngân nga…
Hậu Nghĩa ngày 08/08/2014,
Thân ái,
Ngân Triều {
***
Chú thích:
[1] Nguyên văn thơ của Võ Kim Ngân:
Bông Cỏ May! Bông Cỏ May ơi!
Hồn quê thắt chặt bước chân tôi.
Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng một hướng trời.
Heraclite: On ne se baigne jamais deux fois, dans le même fleuve. “Không ai tắm
hai lần trên một dòng sông bao giờ”. Heraclite (thế kỷ thứ 6 trước Công
nguyên- khoảng thế kỷ
thứ 5 trước Công nguyên), người Hy Lạp, ông là một nhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện
chứng.
[3] Ấp Lục Viên, đầu
tiên chỉ có 6 khu vườn nhà đến lập nghiệp, nên được gọi là Lục Viên; nay là ấp
Đức Hạnh 2, xã Đức Lập Hạ, giáp ranh với Thị Trấn Hậu Nghĩa, Huyện Đức Hòa,
Long An)
[4] “Vật bất đắc kỳ
bình, tắc minh” 物 不 得 其 平 則 鳴. Nghĩa là: “Mọi vật hễ không được cái thế
quân bình thì kêu lên” (Hàn Dũ (韓 愈 (768-824) – Bài tựa “Tiễn Mạnh Đông Dã”)
[5] Bà Huyện
Thanh Quan, (1805-1848): 婆縣青關; hay Thanh Quan huyện phu nhân; 青關縣夫人, (1805 - 1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh (阮氏馨).
[6] “Tôi” chỉ còn thấy những tầng mây trắng lơ lửng bay bay tận cuối chân trời.
[7] Theo điển cố “Bạch vân tư thân”, 白 雲 思 親 mây trắng nhớ cha mẹ:
Địch Nhân Kiệt狄仁傑, (630 - 700) đời Đường, làm Tham Quân ở Tinh
Châu. Vì việc quan cấp tập, nhiều năm trời không được về thăm song thân. Một
hôm, nhân lên núi Thái Hàng, nhìn thấy một đám mây trắng phía Hà Dương, mới chỉ
đám mây trắng ấy, đanh tròng mắt lệ, nghẹn ngào, nói cùng tả hữu:
“Kìa!
Dưới đám mây trắng xa xa, chắc là nhà của song thân ta”.
Hay:
Bốn
phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc, biết đâu là nhà.
ĐTTT, Nguyễn
Du, (1765-1820), câu 1787-1788
Hoặc:
Cách năm
mây bạc xa xa,
Lâm Tri, chàng phải liệu mà thần
hôn.
ĐTTT, Nguyễn Du, (1765-1820), câu 1599-1600.
[8] Trích thơ Võ Kim Ngân.
[9] Ca từ bài hát Việt Nam! Việt Nam của Phạm Duy, (1921 – 2013).
[10] Xin xem thêm chú giải của NT ở phần cuối Hồi Ký BCM của VKN.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét