Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Bài Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng, Ngân Triều dịch thơ

 Dịch thơ

[1] Tuïng Taây Hoà Phuù,

Nguyeãn Huy Löôïng.

Ngân Triều


                                            Cảnh đẹp Hồ Tây xưa, Google


1N (1-4), 4 liên; Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu, Nguồn gốc Hồ Tây.

Hồ Tây cảnh rất lạ lùng,                               (1)

Nhớ thời lập quốc đã từng hiển danh.

Thời chín cõi, gò đất lành,

Có loài bạch hổ tung hoành làm hang.

Đầm rộng lớn, tay Long Vương;                            (5)

Chuông chùa ông Khổng,[1] ngân vang rất mầu,

Trâu vàng nhớ mẹ, Bên Tàu,
Chạy qua tìm mẹ ghềnh hào ngày nay.

Sợ nước Nam lắm nhân tài,

Cao Biền[2] yểm huyệt triệt bài long tâm.                 (10)

Dâm Đàm[3] tên gọi đầm râm,

Cỏ hoa, sương khói quanh năm đón chờ,

Lãng Bạc,[4] sóng bạc như mơ,

Bến bờ tinh khiết, nước hồ trong veo.

***

2N-(5-8), 4 liên; Ngân Triều cảm đề: 12 câu, Hình thể của Hồ Tây.

[…trong veo]

- Sắc xanh nhuộm sóng lam chiều,               (15)

Như hình Động Bích[5] tỏa nhiều hào quang.

Hình cong uốn lượn đêm trăng,

Sóng xô ánh bạc sông Ngân bóng lồng.

Nước trời, nghìn mẫu mênh mông,

Bốn bờ hoa cỏ biếc hồng điểm trang.                     (20)

Gò Mỏ Phượng[6] hay đài trăng,

Bên dòng nước xoáy hàm rồng chẳng vơi.

Phải chăng là chén rượu mời,

Kìa tòa Thạch Tháp của trời, kho tiên.

Gò đất nọ, tít ngoài biên,                              (25)

Kìa ai mê tín cầu duyên, chôn bùa.

***

3N-(9-13), 5 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 16 câu: Các đền chùa chung quanh Hồ Tây.

[…chôn bùa]

Quanh hồ thắng cảnh đền chùa,

Mục lang[7] lưới hổ cứu vua lâm nàn. 

Tích gươm Trấn Võ[8] rùa mang.

Hình cây như quán, hàng hàng ngàn xưa,               (30)

Sóng ghềnh lấp lánh trưng đưa,

Ngàn kho châu báu trời trưa tỏ tường.

Kim Liên sóng nhuộm mùi hương,

Kế bên Trấn Quốc[9] Tây phương cảnh mầu.

Gió rung cổ thụ nghiêng đầu,                       (35)

Phụng Thiên nơi ấy tìm cầu cõi âm.

Rêu phong nền cũ âm thầm,

Đại Vương Bố Cái[10] ngàn năm chẳng lòa.

Bà Đanh[11] cổng ủ lá hoa,

Mơ màng đỉnh Thứu, vang ca thước[12] nào.             (40)

Ngẩn ngơ tưởng đến Động Đào,[13]

Bồi hồi xóm nhỏ, gà chào ó o.

***

4N-( 14-27), 14 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Các thắng cảnh chung quanh Hồ Tây.

[…ó o]

Nung vôi Thạch khối mấy lò,

Khói bay nghi ngút ỳ ồ Nhật Chiêu.[14]

Lô nhô cuối bãi Đuôi Nheo,                         (45)

Phất phơ thuyền khách buồm treo bướm bầy.

Hồ Cổ Ngựa,[15] lặng như tờ,

Tháp tăng hé cửa tò vò mười phương.

Nhịp chày Yên Thái[16] nện sương,

Nghi Tàm lưới cá thả đường quanh co.                  (50)

Liễu bờ kia, phất phơ tơ,

Thoi oanh ghẹo cả gấm tơ hai phường.
           Đó đây sen biếc cao giương,

Lửa huỳnh ghen tức lò vương năm làng.

Đàn ve ánh ỏi lầu ran,                                  (55)

Bên bàn mõ cuốc còn than quốc hoài.

Châu Long[17] gió nhẹ vèo bay,

Vẳng đưa trống thú dội ngoài trúc hiên.

Vầng trăng hé, Phục Tượng[18] biên,

Sông Tô nghe nện nỗi phiền chày khuya.               (60)

Thẫn thờ mấy nỗi phiêu du,

Khách nhàn lai láng từng khu dặm trường.

Áo tơi lớp xớp mưa buồn,

Đàn trâu gã Nịnh[19] tham nguồn cỏ non.

Khuất Nguyên tuẩn tiết, Thương Lang,[20]      (65)

Thuyền nan trước gió nhớ chàng tiều Chu.[21]

Cuộc vui ngày tháng lãng du,

Thiếu gì “bốn bạn”[22] chăm lo đủ bề.

Khán Sơn[23] cảnh cũ đời Lê,

Thơ ban trăng lạnh ngẩn ngơ bồi hồi.                     (70)

Vọng Thị[24] tiệc rượu còn vui,

Ngày tàn đàn đã bùi ngùi niềm tư.

Khách Tàu san sát chợ Tây,

Đào Tiềm tái thế[25] men say ngủ vùi.

Giặt tơ bến nước khuya trời,                         (75)

Ánh trăng lấp lánh đầy vơi tay người.

Trong sương hái nhị trà tươi,

Túi hương rớt xuống, thơm mười ngón chân.

Thị thành vui thú trí nhân,

Phố phường phong nguyệt trời ban vô cùng.          (80)

Hắt hiu Nhị Thủy[26] gió lừng,

Cho vui khóm trúc cho mừng khóm hoa.

Tam Sơn[27] vằng vặc trăng ngà,

Đàn cò đớp cá, đớp lòa bóng chân.

***

5N-(28-32), 4 liên, Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu: Hồ Tây trải qua các triều đại.

[…bóng chân]

Cảnh xưa thắng lãm tần ngần,                      (85)

Hưng vong mấy lớp thăng trầm mấy phen.

Quan Ngư[28] xem cá đưa duyên,

Niên hiệu Long Khánh còn truyền lập công.

Đường Dụ Tượng,[29] Lý Thái Tông,

Đê đè sóng biếc voi rừng thẳng lên.                       (90)

Đời Trần xe ngựa như nen,

Triều Lê thịnh trị chật lèn tán ô.

Nhớ thiên bát vịnh du hồ,[30]

Chở đạo ẩn ngữ, qui mô dạy đời.

Liên ngâm[31] thưởng nguyệt mấy người,        (95)

Văn chương tiên tục cũng thời tri âm.

Họa thơ tòa đá chữ hằn.

Nước kia dường sót rượu mừng nổi trôi.

***

6N-(33-46) 14 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Hồ Tây trong thời Lê mạt.

[…nổi trôi]

Đất trời gió bụi muôn nơi,

Nước hờn cau mặt, tơi bời bợn nhơ.                       (100)

Sáu năm biến động nào ngờ, 

Cảnh xưa mưa gió bơ phờ, tan hoang.

Sương mù mây phủ, chim ngàn

Mặt hồ còn chút xanh lam, mơ màng.

Để cho nòng nọc từng đàn…                        (105)

Chùa thiêng cửa nắng, đầy màn “bát tiên”.

Dọc ngang mạng nhện giữ miền,

Lửa hương cổ miếu im lìm, quạnh hiu.

Tù mù ngọn lửa, xóm nghèo.

Kênh đâu đưa nước tưới vào trung sa,          (110)

Lầu chim ngủ sớm, gió ca,

Ngàn sen ngao ngán bay về, Tây phương.

Nước hồ đen thối cá ươn,

Cuốc kêu trị loạn thảm thương, đau lòng.

Ễnh ương gào khóc tư công,                         (115)

Sá gì lộc hậu là xong phất cờ.

Cầu vồng đâu, lũ cày mơ,

Bài thơ thất nguyệt thờ ơ mục đồng.

Trời đêm câu cá khó lòng,

Kế hay giúp nước chỉ toàn tiều phu.                       (120)

Xóm kia ve nhặng rì rù,
Ghềnh xa thấp thoáng trai cò gấu nhau.

Thượng lưu mâu thuẩn cao trào,

Những người trí thức gió nào thuận che.

Yên thân gượng chén bạn bè,                       (125)

Thu rồi gác bút, gia phì thế thôi.

Dẫu rằng phong vị đãi bôi,

Đồ thư chi nữa lôi thôi mơ màng.

Dưới cầu nước chảy miên man,

Đường xưa giờ đã thành đàng ngựa đua.                (130)

Đá xây thành trĩ ý vua,

Chỉ là bến vắng người thưa đợi đò.

Cố cung nửa mảnh gương mờ,

Vầng trăng sẻ nửa, gương chờ bóng loan.

Chiến binh cổ tự gởi thân,                            (135)

Sè sè nấm đất cỏ hoang lù rù.

Dân canh man mác thẫn thờ,

Cảnh xưa diễm lệ bây giờ còn đâu.

Thế thời thời thế mặc dầu,

Nước trời trăng sáng nao nao lòng người.               (140)

***

7N-(47-59), 12 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: Hồ Tây trong thời Tây Sơn.

[…lòng người]

Trăng đầy theo luật trăng vơi,

Nước nông nước hoắm là đời nước sâu.

Mậu Thân[32] xưng đế điềm mầu,

Sử ghi quét sạch giặc Tàu xâm lăng.

Canh Tuất[33] tế nhị cầu phong,                      (145)

Lấy dân làm gốc, anh hùng nước Nam.

Mặt hồ đổi sắc xanh lam.

Đền đài rực thắm chen vàng ngàn hoa.

Bảy cây[34] còn mấy cây già,

Đua chen tùng bách, ngọn rà nóc mây.          (150)

Bến kia đông kẻ vui vầy,

Lao xao đùa nước như bầy uyên ương.[35]

Đá hoa ngoạn mục tỏ tường,

Tiếng chim tiếng ngọc, tiếng trùng vàng khua.

Bãi non trâu ngựa cho lùa,[36]                         (155)

Giã từ vũ khí, đến mùa yên dân.

Nước trong kình ngạc[37] mất tăm,

Tắm vui trẻ nhỏ ầm ầm hò reo.

Được mùa rau thóc, thoát nghèo,

Tưng bừng trăm họ về theo bóng cờ.                      (160)

Còn ai nhắc chuyện Di Tề,[38]

Chiêu hiền đãi sĩ nước về phì nhiêu.

Cây kia trở gió đổi chiều,

Mán khoe công đức ánh thiều sáng soi.

Sen về chùa nọ thật rồi,                               (165)

Tù binh tha chết lũ Tàu nam mô.[39]

Dấu linh vẫn sáng cơ đồ,

Nguồn nhân đức đã tưới vô khắp miền.

Mặt thành xưa thế kim thang,[40]

Đất xây bằng phẳng định an, trường tồn.                (170)

Cánh hàn chỉ trụ sửa đồn,

Đá đem sắp xếp bảo tồn nơi nơi.

Ghé vùng trọng điểm một thời,

Cảnh tuy là nhỏ đấp bồi sửa sang.

Đăng sơn là thú người nhân,                        (175)

Thủy du người trí,[41] cảnh còn bao la.

Bóng tàn xanh, mấy thu qua,
Chính danh vũ trụ đã lòa bóng dương.

Xa xôi cách trở dặm trường,

Còn xa bệ tía ở vùng biên khu.                              (180)

Nỗi niềm xin tỏ mặc dù,

Thanh dung[42] cao sĩ nhiệt tình sửa cho.

***

8N-(60-83) 24 liên, Ngân Triều cảm đề: Ca ngợi công đức Nhà Tây Sơn.

[ … sửa cho]

Nay mừng đất mở hoành mô,

Trời phù chính thống,[43] sơn hà vĩnh an.

Vận nước tái lập vững vàng,                        (185)

Vua tôi những đấng minh lương chí hùng.

Long Biên đích thị hoàng thành,
Ngắm sao Bắc Đẩu dân tình thủy chung.

Hồ Tây kế cận Bắc cung,

Cảnh hồ trăm thức, lục hồng đua chen.                   (190)

Cỏ chưa mục, đóm chưa đèn,

Tua Rua[44] phúc đức một phen chiếu vào. 

Ngắm trăng cấn tượng bốn hào,

Trong ngoài quét sạch, công lao nghìn trùng.

Vận hội mới, sáng muôn vùng,                    (195)

Như lò thiên địa cháy bùng tháng giêng.

Tuần hoàn theo lẽ khuôn thiên,

Hết lạnh thì ấm, hết phiền lại vui.

Đầy rồi thì tới lưng vơi,

Đất bằng nắng ấm muôn nơi đẹp đời.                     (200)

Vạn loài sống lại ơn trời,
Đường trăng hòa hợp bảy ngôi thiên hà.[45]

Bốn mùa trời đất hài hòa,

Sinh sinh hóa hóa theo đà đẩu khu.[46]

Hương thơm bay ngát miền xa,                    (205)

Rượu nồng thấm cõi ta bà[47] u minh.

Năm mây ngọc lụa đem trưng,

Cỏ cây cũng biết hát mừng nghiệp vương.

Tiêu thiều mấy khúc bệ rồng,

Thú cầm ca múa ánh hồng hoàng kim.                   (210)

Cờ năm thức, sắc hoa chìm,

Long lanh mặt nước dáo in ba ngù.

Tiếng đàn “Gió mát”[48] gảy ru,

Nước sâu “ngũ bái”[49] thiên thu tưng bừng.

Đến Ngọ, tiếng trúc vang lừng,                     (215)

Núi xa dường cũng cúi mừng “tam hô”.[50]

Nghìn thu lễ nhạc tiêu sơ,

Cảnh nầy, mấy thưở, nào so được nào.

Rồng mây, vũ lộ[51] tưới vào,

Cõi bờ một mối, dạt dào lòng dân.                         (220)

Dưới cờ quét lũ nịnh gian,

Cờ lau đen, “áng tường quang”[52] tuôn tràn.

Đầu ghềnh hai chữ vu viên,[53]

Răn loài hồng nhạn bỏ miền du cư.

Vạc nông “nhủ lũ ê phù,”[54]                          (225)

Bến sông ai hát nhà Chu thái bình.

Tiếng ca gợi nhớ dân sinh,

Nhà không khóa cửa, công bình tương thân.

Dễ dàng “canh tạc”[55] mà ăn,

Múa ca tụng ngợi vương ân trẻ già.                        (230)

Nơi nơi “bặt quỷ im hồ”[56]

Thỏa lòng việc trước truyền cho nuôi trồng.

Nay đà “thái lãng”[57] điềm thông,
Thánh nhân dè giữ cho lòng hân hoan.

Đưa đèn soi nước ghềnh sông,                     (235)
Truy tìm thủy quái, đục trong sông nào.

Tần vần cỏ mọc miếu cao,

 “Thôi hoa”[58] hồi trống trở màu “huân do”.[59]

          Dân phong cày cấy chăm lo,                                                            Phong quang soi vật thanh ô đủ bài.                      (240)

“Chiểu đài”[60] ngắm cá chim bay,

Cầu người có đức có tài kinh luân,

Nghe chim, gà gáy hiểu dân,

Thấy nơi trù phú, nơi bần thê lương.
           Nỗi niềm tỏ rõ mọi đường,                          
(245)

Trị bình thứ yếu cũng đành tề tu.[61]

          Cường hào nhũng nhiễu hải ngu,[62]

Truy tìm diệt lũ chuột chù trốn hang.

Bờ liễu cây đá vững vàng,

Hoài công tổ kiến xoi dòng nước trôi.                    (250)

Hồ đẹp chuyện nhỏ mà thôi,

Thái bình bốn bể để đời đại công.

***

9N-Đoạn kết (84-86), 2 liên, Ngân Triều cảm đề: cảm nghĩ của tác giả:

[…đại công]

Tôi nay,

Hổ mình dại trí thô nông,

Yên bề “hu lịch”[63] tấc lòng kỷ qua.

Năm mươi bóng đã xế tà,                             (255)

Gia cầm[64] lẩn thẩn như là chim loan.[65]

Tây Hồ trau chuốt một chương,
Ngước trông “ngự đạo”[66] thái dương, phụng trình,

Núi xanh muôn kỷ chúc mừng[67],

Cơ đồ xán lạn[68] tưng bừng ngọc Dao.                     (260)

 Chú thích:
[1] Tương truyền, ngày xưa, ông Khổng Minh Không đúc 1 cái chuông lớn, khi dánh lên tiếng vang xa đến tận chân trời góc biển. Khi ấy có 1 con trâu vàng (kim ngưu) nghe tiếng, tưởng mẹ nó kêu, liền chạy sang tìm trâu mẹ. Đến nơi, nó chạy qua lại vòng quanh vùng đất nầy, thành Hồ Tây ngày nay.

[2] Cao Biền, Thái thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân và nhân tài.

[3] Dâm Đàm là đầm rộng lớn mênh mông; đầy sương khói nước, sương mù quanh năm. Dâm đàm là 1/6 tên gọi của Hồ Tây:  Đầm Xác CáoHồ Kim NgưuLãng BạcDâm ĐàmĐoài Hồ, Hồ Tây.

[4] Lãng Bạc: theo "Tây Hồ chí", thì sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng, Tướng quân Mã Viện với tư cách là kẻ thôn tính văn hóa đã gọi hồ Tây là Lãng Bạc với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ.

[5] Động Bích Đào ở Ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, phía hữu núi Thần Phù; còn gọi là “Từ Thức Động”, tương truyền Từ Thức vào đây gặp tiên.

[6] Ở Hồ Trúc Bạch, có một dải đất giống hình mỏ chimPhượng nên được gọi là Gò Mỏ Phượng. Gò nầy đã biến dạng do cư dân san lấp đất cất nhà.

[7] Mục Lang: , Chuyện Mục Thận đời Lý, theo sách Việt Điện U Linh: Một hôm vua Lý Nhân Tông đang ngự thuyền trên Hồ Tây, bỗng có sương mù dày đặc, thoáng có bóng một con hổ lớn, nhe răng muốn vồ nhà vua. Lúc ấy, Mục Thận đang đánh cá trên hồ, liền tung lưới bắt được con hổ. Con hổ đó hóa ra là Thái Sư Lê Văn Thịnh.

[8] Trấn vũ:   , là tên gọi tại Việt Nam của thần Chân Vũ, người Việt còn gọi là Trấn Võ, húy danh Chấp Minh (執明) là một trong những vị thần được thờ phụng phổ biến tại Trung Quốc và các nước Á Đông. Vị thần này tượng trưng cho sao Bắc cực, và là một vị thần lớn của Đạo giáo thống trị phương Bắc, kiêm quản lý các loài thủy tộc nên cũng được coi là thủy thần hay hải thần. Nguồn Wikipedia.

[9] Chùa Trấn Quốc: Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội1993), thì chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời nhà Lý) và điện Hàn Nguyên (thời nhà Trần). Trong các năm 16241628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời nhà Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

[10]Bố Cái: 布丐Bố Cái Đại Vương 布丐大王, là tên mà nhân dân suy tôn cho Phùng Hưng. (Đại Vương như Cha Mẹ). Theo một số nguồn dã sử, Phùng Hưng sinh ngày 25/11 /760 (tức 5/1/761) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13/9/802), thọ 41 tuổi.Nguồn Soha.vn.

[11] Bà Đanh: , Chùa Bà Đanh hay còn gọi “Bảo Sơn Nữ”, tọa lạc trên một vùng đất tại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam.

[12] Thước: chim thước hay chim khách.

[13] Động Đào hay Đào Nguyên còn gọi là Động Bích, nơi tiên ở.

[14]Ghềnh Nhật Chiêu 涼日招, là Nhật Tân ngày nay.

[15] Theo giải thích của các nhà khoa học thì Hồ Tây vốn là một khúc của con sông Hồng. Hồ xưa kia rộng và dài từ Tây qua Bắc sang Đông, nhưng đã bị cư dân và thời gian vùi lấp thành từng đoạn. Vì thế mà thành hồ Cổ Ngựa (khoảng phố Phạm Hồng Thái sang Hàng Than) nay cũng đã bị lấp nốt.

[16]Yên Thái 安泰, là làng chuyên làm giấy rất nổi tiếng, chủ yếu là giấy bạc và giấy moi.

[17] Chùa Châu Long:  珠龍,  chùa toạ lạc trên một gò đất gọi là núi Châu Long ăn ra đến giữa hồ Trúc Bạch, huyện Vĩnh Thuận, nay ở số 44 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa đã có từ lâu đời, có tên chữ là Phúc Lâm tự, tương truyền do vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293) cho dựng để công chúa đi tu.

[18]Phục tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng sơn, 伏象山.

[19] Nịnh Thích 甯戚, người nước Vệ, thời Xuân thu, vì nhà nghèo phải sang nước Tề ở chăn trâu cho người khác. Một hôm, Nịnh Thích gõ sừng trâu để hát, Tề Hoàn công đi qua, nghe tiếng hát lấy làm cảm động, liền dùng làm thượng khanh.

[20] Thương lang: 滄浪, con sông nơi Khuất Nguyên tự trầm.

[21] Chu Mãi Thần vì nghèo phải gánh củi đổi gạo sinh nhai nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi Thần làm đến chức thái thú, vợ quay lại, ông không chấp nhận.

[22] Bốn bạn: là ngư (đánh cá), tiều (đốn củi), canh (cày ruộng), mục (chăn nuôi).

[23]Núi Khán Sơn, , ở phía tây cửa cung vua ngày trước, chu vi hơn 20 trượng, là núi đất hơi cao, trên đỉnh nhọn, đời vua Lê Thánh Tông vẫn lấy núi ấy làm chỗ ngồi ngự để xem điểm binh, cho nên mới gọi là Khán Sơn”.

[24] Làng Võng Thị, 廊望市 xưa kia có một số ít ruộng nằm ven hồ Tây, nên chỉ có một bộ phận rất nhỏ làm ruộng kết hợp thả sen; còn đa phần dân làng sống bằng nghề đánh cá trong hồ. Tên gọi “Võng Thị” xuất phát từ đặc điểm này (võng là lưới cá), nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Cũng có ý kiến cho rằng, từ xa xưa tại đây đã hình thành một chợ bán lưới đánh cá nên gọi như vậy.

[25] Đào Tiềm 陶潛, (? - 427), từ quan về ở Sài Tang, nằm ngủ cạnh cửa sổ, tự xưng là người của vua Hy, vua Hoàng. Hy Hoàng: 羲皇Vua Phục Hy và Hoàng Đế, thời thượng cổ nước Tàu. Đời Tấn.

[26] Nhị Thủy: tức Nhĩ Hà, sông Hồng.

[27] Tam Sơn: là 1 tong 4 quả núi của Thăng Long xưa (Núi Nùng, Tam Sơn, Khán Sơn, Thái Hòa hay núi Voi). Núi Nùng chỉ còn trong thơ văn; Tam Sơn thì nhỏ và thấp năm 1886 hãy còn; Khán Sơn, nơi Vua Lê Thánh Tông vẫn thường ngự xem tập trận, các nhà nghiên cứu xác định Khán Sơn xưa nằm ở vị trí trước Phủ chủ tịch ngày nay; Thái Hòa hay núi Voi, ở phía đông kinh thành, Thăng Long, song đến năm 1885, Pháp bạt đi để xây trại lính".

[28] Quan ngư: 觀漁, Xem đánh cá. Vua Trần Huệ Tông sai làm quán ở Hồ Tây để xem đánh cá.

[29] Phục tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng sơn, 伏象山.

[30] Bát vịnh du hồ: 八詠遊湖, Tám bài vịnh khi đi chơi trên hồ do chúa Trịnh sai các quan làm ra.

[31] Liên ngâm thưởng nguyệt: là bài thơ của bà Liễu Hạnh cùng làm với Phùng Khắc Khoan, ông họ Lý và một ông họ Ngô khi đi chơi trăng ở Hồ Tây.

[32] Năm Mậu Thân: 戊申, là năm 1788, Quang Trung xưng Hoàng Đế, kéo quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị.

[33] Năm Canh Tuất: 庚戌, là năm 1790, là năm sau chiến thắng quân Mãn Thanh xâm lược, Vua Quang Trung cầu phong nhà Thanh.

[34] Chốn bảy cây: xưa, 𦉱, nơi giáp nhau của Hồ Trúc Bạch và Tồ Tây, có 7 cây cổ thụ.

[35] Uyên ương: 鴛鴦, loài ốc, con đực là uyên; con cái là ương, thường ôm nhau không rời.

 Uyên ương ngoã lãnh sương hoa trọng

Phỉ thuỷ khâm hàn thuỳ dữ cộng

鴛鴦瓦冷霜華重,

翡翠衾寒誰與共

Trường hận ca, Bạch Cư Dị. Nghĩa là:

Lớp sương nặng phủ trên mái ngói uyên ương giá ngắt

Tấm chăn cánh trả, lạnh như tiền, chung đắp cùng ai?

[36] Theo điển: Vua Vũ Vương nhà Chu thả trâu ngựa ra đồng, tỏ ý khong muốn động binh nữa.

[37] Kình ngạc: 鯨鰐, cá kình và cá sấu, chỉ binh lính.

Ngất trời sát khí mơ màng,

Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
ĐTTT, Nguyễn Du,
câu 2251-2252.

[38] Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc, 姑竹. Hai ông nầy khinh Vũ Vương vô đạo, không thèm ăn thóc nhà Chu, lên núi Thú Dương ăn rau Vi, nhịn đói mà chết.

[39] Lũ Ngô hay Lũ Tàu, chỉ tàn quân Tôn Sĩ Nghị, chạy trốn về Tàu, được tha cho về nước; niệm Nam mô, ý ca ngợi Tây Sơn từ bi như Phật.

[40] Kim thang; 金湯 kim thành, thang trì: Xây thành bằng chất liệu kim khí, hào lũy nước nóng, ý nói thành rất kiên cố.

[41] Lấy ý câu: trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn, Luận ngữ: 知者樂水,仁者樂山, người trí trích nước, người nhân thích núi.

[42] Thanh dung: dáng vẻ thanh tao.

[43]Chính thống: 正統, triều đại khai sáng một cách quang minh chính đại. Trái ngược với ngụy triều, là không chính đáng như cướp ngôi, đoạt quyền (như nhà Hồ, nhà Mạc).

[44] Tua Rua:  tên chòm sao xuất hiện vào tháng 6 âm lịch.

[45]bảy thiên thể gồm mặt trời, mặt trăng và 5 thên thể khác, còn gọi là thất tinh.

[46] Đẩu khu: , hay đẩu xu, then máy ở sao Bắc Đẩu.

[47] Ta bà là phiên âm từ chữ Saha của Phạn ngữ, Ta bà chẳng khác gì quán trọ, nhân loại sống trong cõi này đều giả tạm, vô thường, không thật. Tại sao không thật? Vì suốt cả cuộc đời bị sinh, lão, bệnh, tử, tiền tài, danh vọng chi phối, bức bách thật là khổ não. Tất cả đời sống vật chất cho dù làm vua, làm quan, giàu sang đến cỡ nào đi nữa nhưng khi ra đi không mang được gì cả, cho nên mới gọi là không thật.

[48] Theo tích: Gió Nam thổi mát, vua Thuấn gảy đàn và hát:” Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề”. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮. Gió Nam mát mẻ, có thể giải được sự nóng bức cho dân ta.

[49] Ngũ bái: 五拜, 5 lạy. Bề tôi phải lãy vua 5 lạy.

[50] Tam hô: 𨑜三呼, ba lần hô. Hán Vũ Đế vào núi nghe sơn thần tung hô 3 lần vạn tuế.

[51] Vũ lộ: 雨露 mưa móc, chỉ ơn vua.

[52] Tường quang: 祥光, ánh sáng báo điềm lành.

[53] Vu viên: 于園, hồng nhạn vu viên, chim nhạn về làm tổ ở vườn nhà. Ý nói dân chúng chạy loạn, trôi giạt, bây giờ cảm đức của vua, về nhà cũ an cư lạc nghiệp.

[54] Tức là [54] Ê phù tại chử: 鷖鳧在渚, cò, vịt trời ở bến nước, Ca ngợi nền thái bình nhà Chu, Kinh Thi.

[55] Tức là Tạc canh: 鑿耕, tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực: 耕田, Đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn. Chỉ cảnh sống no đủ dễ dàng.

[56] Bặt quỷ im hồ: 匐鬼庵猢, vắng bặt ma quỷ, hồ ly tinh đều im lặng.

[57] Thái lãng: 太朖, thái bình và sáng sủa.

[58] Thôi hoa: 摧花, thúc giục hoa nở. Theo sách Nguyên Hòa Dị sử, đời Đường Minh Hoàng, ghi rằng, vua sai Cao lực sĩ đánh 1 hồi trống, khi đó các loài mai ở vườn ngự uyển đều nở hoa.

[59] 薰蕕 là 2 thứ cỏ, huân, cỏ thơm; do, cỏ thối; chỉ kẻ tốt, người xấu.

[60] Chiểu đài: 沼台, ao và nhà lầu, chỉ cảnh sống thái bình của Chu Văn Vương.

[61] Tu tề trị bình: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. 修身, 齐家, 治国, 平天下. Đó là con đường xuất xử của Nho sĩ.

[62] Hải ngu: Góc biển chân trời, vùng sâu, vùng xa.

[63] Hu lịch: 樗櫟, loài gỗ xấu, chỉ kẻ bất tài.

[64] Gia cầm: loại thú có cánh nuôi trong nhà như gà, vịt, ngổng

[65] Chim loan là chim mái. Phượng là chim trống; loan , là chim mái. Tác giả tự khiêm” trong hàng các quan của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.”

[66] Ngự đạo: 御道, đường đi của vua.

[67] Tức là: Muôn kỷ dao đồ: 閍紀遙圖, muôn=vạn=10.000, kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm. Dao đồ 遙圖, là cơ đồ tươi sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.

[68] Xán lạn: , Chói lọi, rực rỡ; huy hoàng.

Ảnh minh họa:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét