Hiển thị các bài đăng có nhãn Trích Nhớ Bóng Trăng xưa/ Ngân Triều. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trích Nhớ Bóng Trăng xưa/ Ngân Triều. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

[Bài 25-26-27] Tình sử HXH-ND/ Ngân Triều biên khảo

[Bài 25]
Nhôù   Ngöôøi   cuõ (Nhớ người cũ)
IV . Hồ Xuân Hương gặp Nguyễn Du trên đường đi sứ năm 1813..

          Tháng 2 năm Quí Dậu 1813 Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Học Sĩ tước Du Đức Hầu, được chọn làm Chánh Sứ đi tuế cống triều nhà Thanh.Thiêm sự Bộ Lại Trần Văn Đại, Thiêm sự Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong làm Phó Sứ. Cống phẩm gồm: 200 lạng vàng, 1000 lạng bạc, lụa và cấp mỗi thứ 100 cây, hai bộ sừng tê giác, 100 cân ngà voi, 100 cân quế; Sứ đoàn gồm 27 người, đi đến mỗi địa phương đều có bàn hương án và quan quân hộ tống. Đoàn đi từ Phú Xuân đến Vị Hoàng bằng thuyền và từ đó đi đường bộ. Theo gia phả con đầu là Nguyễn Tứ, 12 tuổi, có theo cha đi sứ.
          Tin này ra đến Thăng Long, Hồ Xuân Hương đã gửi đến Nguyễn Du bài thơ: Cảm cưụ kiêm trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu (Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân). Bài thơ này là một chứng cớ rõ ràng, không thể chối cải, nhưng thoạt đầu chẳng mấy ai tin. Ngay cả Xuân Diệu đọc bao nhiêu lần cứ viết: Xuân Hương phục người có tài hơn mình. Chẳng ai tin việc này, vì là thật nó kéo theo sự sụp đổ của một Hồ Xuân Hương dâm tục cả thế kỷ đã bàn tán và viết về nàng. Toàn bộ sách giáo khoa viết về Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du phải viết lại.
          Chàng đi sứ hoàng hoa, xa quê hương, nơi đất khách ngàn dặm lòng em muôn nghìn nỗi nhớ nhung.
Mượn ai tới đó để gửi thơ cho chàng, nói rõ tấm lòng em.
 Chữ tình đôi ta ba năm trọn vẹn (1790-1793),
nhưng rồi tình như mộng như bài thơ Ký Mộng chàng đã gửi cho em, tan mộng rồi chẳng còn thấy nhau.
 Em trộm mừng cho chàng từ ngày ra làm quan, xe ngựa đưa đón, có nhiều thê thiếp, nhiều mối duyên tình.
 Riêng phận em là gái, phấn son càng tủi cho mình phận long đong.
Biết chàng có bịn rịn vấn vương đến mối tình em, nơi Cổ Nguyệt đường năm canh em vẫn một mình phòng không thao thức.
*
 Nguồn: TS Phạm Trọng Chánh, Mối tình của Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du.

                                              Nhôù   Ngöôøi   cuõ (Nhớ người cũ)
                                                          Hồ Xuân Hương

                                                Viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu
                                                            Tiên Điền-Nghi Xuân (tức Nguyễn Du)

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung, (1)
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.                (2)
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,                 (3)
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không           (4)
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,         (5)
Phấn son càng tủi phận long đong        . (6)
Biết còn mấy chút sương siu mấy,           (7)
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.(8)

*
Văn bản chữ Nôm:
𢘾𠊚𡳰
𨤵揢閍𠦳浽𢘾絨
摱埃細蒂𠳚㧣穷
𡨸情祝㐌𠀧𢆥院
𠺵夢𠱤𦋦姅克空
𦀺馭濫𢜠沿笠𨃺
坋崙乾𢣃分滝𢫝
别群氽㤕霜超氽
樓月南更隻䏾炵
*
Chú giải:
          (1) Nhớ người cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu. Sau đầu đề trên, tác giả có chú: "Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân" - "Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân" - Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh - Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.
*
Dặm khách: 𨤵 揢,thời gian Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc. 
Sương siu mấy: 霜  超 氽  Từ xưa phiên âm là sương đeo mái. Nay phiên âm theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn như trên.
          sương siu:霜 超: vấn vương
          Tấp nập: 笠𨃺: rộn rịp, đông đảo.
          long đong:  滝 𢫝:vất vả khó nhọc vì gặp phải nhiều điều không may.
( Không biết có phải là Sương cư: 孀 居: ở góa hay không.Theo Việt Nam Tự Điển, Hội Khai Trí Tiến Đức, xb năm 1931, trang 501: sương: 孀: góa bụa; sương cư: 孀 居: Ở góa). Bấy giờ Hồ Xuân Hương đang tình cảnh góa bụa)
          Chong: 炵: để cháy sáng trong một thời gian rất lâu. Ở đây là ngồi rất lâu trước đèn, một mình, một bóng.
*
Đại ý:
 (1-2) :Nỗi nhớ nhung mênh mông.
 (3-4) Tình và mộng.
 (5-6): Trộm mừng và tủi phận.
 (7-8) Nỗi niềm của tác giả.
*
Diễn ý:
     Người đi sương gió, dặm khách xa xăm; người ở chạnh lòng, nhớ nhung muôn nỗi.
     Biết có ai đi đến nơi ấy, để gửi bao thương nhớ cho cùng.
     Chuyện tình mình gắn bó đến nay, phút chốc đà ba năm vẫn vẹn.
     Thường gặp nhau trong giấc mộng vàng; chợt tỉnh mộng chỉ là hư ảo!
     Trộm mừng người công danh hãnh tiến; tơ duyên nay đông đúc vui vầy.
     Cảm phận mình, tủi cho số kiếp long đong.
     Vương vấn lòng, còn mảy may nào không nữa?
     Trên lầu nguyệt, năm canh, chỉ mình ta với chiếc bóng soi.
*
Nguyễn Nam họa thơ:
                               Dặm khách người đi, bao nhớ nhung,
Biết ai đem đến gửi cho cùng.
Ba năm chốc đã, tình luôn vẹn,
Chợt tỉnh bàng hoàng, ảo mộng không.
Tấp nập trộm mừng duyên hãnh tiến,
Lẻ loi càng tủi phận long đong. 
Có còn mấy chút vương thương nhớ?
Lầu nguyệt năm canh trơ bóng chong.
*
Ngân Triều họa thơ:
                       
ảnh minh họa Cảnh đám rước đời Nhà Nguyễn

                        
                          Dặm khách sơn khê, bao nhớ nhung,
Nhớ nhung nào biết gửi cho cùng.
Cho cùng thương nhớ, ba năm vẹn,
Năm vẹn bàng hoàng, giấc mộng không.
Giấc mộng trộm mừng duyên thuận nẻo,
Thuận duyên càng tủi phận long đong.
Long đong còn chút vương thương nhớ!
                          Thương nhớ canh tàn trơ bóng chong.



*****
[Bài 26]
Möøng gaëp baïn ôû soâng Hoaøng.
(Mừng gặp bạn ở sông Hoàng)

          Sứ đoàn từ Phú Xuân đến Thạch Đình sông Hoàng Giang, một cuộc tiếp rước long trọng của quan Tổng Trấn Bắc Thành bấy giờ là Nguyễn Huỳnh Đức và quan Tổng Hiệp Trấn (Phó) Lê Chất. Xe ngựa, lính hầu đi chật đường đưa từ Thạch Đình về dinh Tuyên Vũ. Qua mỗi địa phương đều có bàn hương án quan huyện, trấn tiếp rước.. Thời gian Nguyễn Du đi sứ là 12 tháng rưỡi.. Từ Lạng Sơn đến Bắc Kinh, các quan địa phương Trung Quốc chu cấp nơi ăn ở, tiếp rước. Qua cửa Nam Quan đi Quế Lâm đến Võ Xương rồi đến Bắc Kinh. Tôi đã đi lại cuộc hành trình này năm 2009 để dịch toàn bộ các thơ Nguyễn Du trên đường đi sứ, so sánh thời nay và những điều Nguyễn Du mô tả:
          Hồ Xuân Hương đã đến sông Hoàng Giang chờ đợi từ nhiều ngày đầu tháng 4 năm Quý Dậu, gặp lại Nguyễn Du sau hai mươi năm từ biệt cũng bến sông này, nơi Thạch Đình từ biệt năm xưa.. Nhưng than ôi, Hồ Xuân Hương chỉ trông thấy Nguyễn Du từ xa, nào dám lại cầm tay tâm tình, vì chàng đường đường là một vị Chánh Sứ, quan trên trông xuống, người ta dòm vào, muôn cặp mắt phủ, huyện, lính lệ. Hồ Xuân Hương về nhà viết bài Hoàng giang ngộ hữu hỉ phú; Mừng gặp bạn trên sông Hoàng Giang: 
Từ độ em biết yêu lần đầu, như người con gái tuổi xuân vừa biết mùa xuân đầu tiên, Mỗi khắc thời gian như vàng em lấy làm quí trọng. 
Đã hò hẹn nhau, lòng em nhớ cả kiếp sống mình. 
Tình đôi ta rất nặng em không quên dù hóa kiếp cả trăm thân. 
Dòng Tô Lịch chưa cạn, đôi ta vẫn còn duyên nợ.
Sông Vị Hoàng còn đầy những giọt nước mắt ái ân em tiễn đưa chàng ngày nào, 
Hôm nay chàng là quan Chánh Sứ, bao cặp mắt từ quan đến dân trông vào, 
em dù nồng ấm hay phai nhạt nào có dám thổ lộ. 
Nhưng lòng son em vẫn thương chàng, mười phân vẹn mười.
*
Mừng gặp bạn ở sông Hoàng.
Nhà xuân từ được bén hơi xuân,

      Nửa khắc vàng xem trọng mấy cân.

  Trót hẹn nhớ cho đành một kiếp,
 Nặng nề quên cả đến trăm thân.
    Cạn dòng Tô Thủy còn duyên nợ,
       Đầy giọt Hoàng giang những ái ân.
   Nồng nhạt mặc dù đâu nhẽ dám,
      Tấc son này vẫn thắm mười phân.
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký.

*


Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn:
𢜠趿伴𣄒滝黄
𣄒春自得𤊰唏春
姅尅鐄䀡重氽釿
㤕𠻷𢘾渚忊殳砝
泥悁𦥃𤾓身
𣴓𣳔𥗹水群緣𧴱
𣹓湥黃江仍愛恩
燶𤁕嚜𠱋洱噉
𧹪尼吻𧺀辻分
*
Ngân Triều diễn thơ:
Mừng gặp bạn ở sông Hoàng.
       Tuổi xuân từ biết đã vương mang,

            Mỗi khắc yêu thương trân quý vàng. 

Hò hẹn lòng khắc ghi cả kiếp,
           Đinh ninh(a) dù chuyển hóa trăm thân. 
         Dòng Tô chưa cạn, còn duyên nợ…
      Nước mắt lâm ly tiễn bến Hoàng.
     Nồng nhạt dẫu rằng đâu dám tỏ,
       Lòng son nay vẫn vẹn mười phân.
*
Ghi chú:
(a) Đinh ninh: khẳng định chắc chắn.
    lâm ly: buồn thảm, bao thương cảm.
*****
[Bài 27]
Hoaøi cöïu (Hoài cựu)

          Các bài thơ này cất kỷ trong Lưu Hương Ký, Nguyễn Du nào đọc được…
          Năm đó nàng 41 tuổi, đã trải qua những mối tình:sau mối tình với Nguyễn Du, [1] Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm,
[2] Mai Sơn Phủ.
[3] Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà,
[4] Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh,
[5] Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán,
[6] người cuối cùng Tri phủ Tam Đái Vĩnh Tường, Trần Phúc Hiển (?)sẽ được thăng lên chức Tham Hiệp Trấn Yên Quảng…
Các mối tình này được người bạn Phạm Đình Hổ chứng kiến, và Tốn Phong Nham Giác Phu, Phan Huy(?) viết tựa cho Lưu Hưong ký. Bài Hoài cựu là bài thơ tự than trách phận mình:
Chữ tình ngang ngữa biết bao nhiêu, tình em đã trái ngang cùng chàng.
Một chút duyên xưa lắm điều dang dở.
Phận mình như bèo lạc hoa trôi, không trẻ lại như ngày xưa.
Mối tình trăng hoa thêm tủi cái già đã đến.
Vì ta tài tình mà mang nợ nên phải trả…
 Nhìn phong cảnh nào vui đâu lòng đã gửi nhiều thơ vịnh.
 Đưa đón gặp nhau mới biết tỏ tường bàn tay đấng tạo hóa.
 Đời mình như cánh hoa trôi trên dòng nước, mới thắm thía khi tin nước thủy triều đưa đẩy ngược dòng, lênh đênh.
*.
Hoài cựu
Nhớ bạn xưa
Chữ tình ngang ngửa biết bao nhiêu,
Một chút duyên xưa dở lắm điều.
Bèo lạc không kinh còn trẻ lại.
Trăng hoa thêm tủi cái gìà đeo.
Tài tình nợ ấy vay nên trả,
Phong cảnh vui đâu đã gửi nhiều.
Đưa đẩy biết tường tay đại tạo,
Cánh hoa trên nước thắm tin triều.
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Lưu Hương ký.
*
Ảnh minh họa, Google
Bản chữ Nôm
Ngân Triều soạn:
懷舊
情昂語别包嬈
殳㤕緣𠸗𡁎夦条
苞落空荆群𥘷吏
綾花沾𢢇丐㧅
才情𧴱意噅捛
風景𣡝㐌掎
拸别詳拪大造
𦑃花𨑗渃𧺀信潮
*
Ngân Triều diễn thơ:
Cuộc tình ngang trái biết bao nhiêu, 
Dang dở duyên xưa thật lắm điều. 
Bèo giạt mênh mang, đành phận bạc! 
Trăng hoa buồn tủi cái già đeo. 
Tài tình mang nợ nay đà trả…
Cảnh có vui đâu ký thác nhiều. 
Mới biết rõ ràng do số kiếp,

Hoa trôi man mác lạc dòng triều.
*
man mác: tản mạn, gợi tâm trạng cô đơn, lâng lâng đượm buồn:
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1049-1050

(Hoa trôi ở đây nên hiểu là những bọt nước biển tạo ra do ngọn nước từ trên cao rơi xuống bãi biển và cuốn theo làn sóng giật từ bờ rút ra)
*
Biết rằng mối tình ngang trái, không còn gì nữa. Hồ Xuân Hương dứt khoát để yêu Tri phủ Tam Đái Vĩnh Tường Trần Phúc Hiển sau được thăng làm Tham Hiệp Trấn Yên Quảng. Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi; Xuân Hương góp thơ thành tập cuối cùng Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập.Tập này bị phân tán thành nhiều mãnh. Tôi (TS Phạm Trọng Chánh) sẽ sắp xếp lại toàn bộ tập thơ vịnh cảnh này…
          Một biến cố làm chấn động Tao đàn thời bấy giờ. Vì một bài thơ Nguyễn Văn Thuyên bị khép tội mưu phản, án chém. Cha nguyên Tổng Trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành, người nổi tiếng với bài Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ, phải tự tử năm 1816. Binh bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường, một tay cự phách trong làng văn thơ, người từng đánh chết Ngô Thời Nhiệm, đánh Phan Huy Ích trước Văn Miếu, bị bắt tội ẩn lậu ao đầm tội phải thắt cổ. Tiến Sĩ Vũ Trinh, anh rễ Nguyễn Du thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên bị đày vào Quảng Nam 12 năm. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, bạn thi ca của Hồ Xuân Hương, thi tướng tao đàn Cổ Nguyễ đường và cũng là bạn của Thuyên chết bất ngờ năm 1818, có lẽ tự tử.Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, chồng Hồ Xuân Hương, con người bạn Nguyễn Văn Thành đã chết trận, được ông xem như con nuôi che chỡ, bị bắt tội tham nhũng 700 quan tiền hối lộ, vì bắt buộc dân không được bỏ nghề đồng ruộng. Các vụ án xảy ra trên cùng một địa bàn cùng thời điểm có quan hệ chồng chéo với nhau, khiến cho mọi người sợ hải, cất dấu thơ văn. Đó là lý do thơ Hồ Xuân Hương bị cất dấu, gần như biến mất, nhưng danh tiếng nàng, một nhà thơ trữ tình, lãng mạn đã làm các bậc mày râu làm thơ gán ghép để thỏa lòng dâm dục.
          Tam Nguyên Vị Xuyên, Trần Bích San bốn mươi hai năm sau, trong Xuân Đường đàm thoại, làm hai bài phú viếng Hồ Xuân Hương thay cho Nguyễn Du và Phạm Quý Thích, đã tiết lộ tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du có thể viết nên thiên tình sử.
          Sau khi chồng bị tử hình, nàng có mặt trong buổi hành hình khóc cười điên dại.:
          Giọt sương dưới chiếu chau mày khóc,
          Giọt máu trên tay mỉm miệng cười…
          Hồ Xuân Hương đi tu núi Yên Tử, rồi trở về Cổ Nguyệt đường vài năm sau cũng mất, bên cạnh nàng có gia đình Tử Minh: không ruột nhưng mà thương quá ruột, có hai người con trai, và học trò nàng có cô Nguyễn Thị Hinh sau trở thành Bà huyện Thanh Quan.
          Mộ Hồ Xuân Hương nằm bên hồ sen trước chùa Kim Liên, Năm 1842 Tùng Thiện Vương theo anh là Vua Thiệu Trị ra Bắc, đến cúng dường chùa Kim Liên, dặn cô hầu gái đi hái sen Chớ trèo qua mộ Xuân Hương, Suối vàng còn hận tơ duyên lỡ làng… Mực nước Hồ Tây đầu thế kỷ 20 vì đắp đê nên đã dâng cao một thước, ngôi mộ nàng nằm trong lòng nước.
          Tôi đến đến đây, trước chùa Kim Liên, ngồi trong mưa, nghe tiếng sóng Hồ Tây thét gọi: những người yêu văn chương Việt nam ở đâu, mà để nàng còn nằm trong lòng nước lạnh. Tôi mơ ước một ngày nào đó ngôi Cổ Nguyệt Đường sẽ được dựng lại bên cạnh chùa Kim Liên cho khách du lịch văn hóa viếng thăm.
          Còn Nguyễn Du yêu nàng như tơ trong cuống sen vương tơ không dứt:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2241-2242, bản của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.
           Trước lúc an giấc ngàn thu năm 1820 vì bệnh dịch hạch khủng khiếp với hàng trăm ngàn người chết, và nếu Nguyễn Du có ngâm câu:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp tố như.
不知三百餘年後
天下何人泣素如
          Nguyễn Du không muốn ai khóc mình đâu mà Nguyễn Du ký thác nỗi tiếc thương vô hạn về  một người con gái đã đi qua đời mình, tên là Hồ Phi Mai, hồng nhan bạc phận, mong manh như bèo giạt mây trôi.


Theo Phạm Trọng Chánh, Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục. Viện Đại Học Paris V; Sorbonne. 


Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

[Bài 23-24] Tình sử HXH-ND/ Ngân Triều biên khảo


*****
[Bài 23]
Ñoäc Tieåu Thanh kyù
III Độc Tiểu Thanh ký bài thơ Nguyễn Du gửi Hồ Xuân Hương.


         Nhờ ba năm lưu lạc (1786-1799) thành nhà sư Chí Hiên đi muôn dặm chu du Trung Quốc, Nguyễn Du nói thạo tiếng Trung Quốc, nên khi ra làm quan được mấy tháng từ Tri huyện Phù Dung, Nguyễn Du được thăng lên Tri phủ Trường Tín đặc trách tiếp sứ Thanh sang phong vương vua Gia Long. (Nguyễn Án được bổ làm tri huyện thay Nguyễn Du ở Phù Dung)… Đường công danh thăng tiến, nhưng người vợ họ Đoàn qua bốn lần sanh, chỉ để lại một con Nguyễn Tứ và qua đời.Mùa thu năm 1804, Nguyễn Du xin nghĩ bệnh một tháng. Từ Thường Tín, Nguyễn Du về thăm lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, đến nơi thì vườn cảnh đã hoang vu thiếu bàn tay chăm sóc của Hồ Phi Mai.
          Từ khi lấy anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, chẳng bao lâu anh thầy Lang mất, nàng lại trở về với mẹ, Cổ Nguyệt đường dạy học, rồi yêu Mai Sơn Phủ, mối tình để lại những bài thơ nồng nàn thắm thiết, thề thốt.. trong Lưu Hương ký. Mai Sơn Phủ cũng người ở Vinh (Vịnh Phố) trở về quê để cậy cha mẹ cưới hỏi, chàng về quê thì biệt tăm trong chiến tranh, trong trận đánh cuối cùng vua Gia Long và Tây Sơn. Hồ Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Phú thì gặp một học trò cũ của cha, là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, Xuân Hương nhận làm lẽ, nhưng vợ cả ghen tuông, nàng đang đau ốm, có thai 6 tháng, thân phận như nàng Tiểu Thanh.
          Bên song cửa Cổ Nguyệt đường, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh ký gửi Xuân Hương Hồ Phi Mai:
 Vườn cảnh Cổ Nguyệt đường nơi Tây Hồ đã thành gò bãi hoang vu vì thiếu bàn tay chăm sóc của nàng,
Bên song cửa, một mình đọc lại một trang sách để viếng nàng.
Người con gái tài năng, có thần cho dẫu sầu đời chết đi, chắc là hồn nàng vẫn còn oán hận.
 Văn chương vô mệnh dù đốt cháy vẫn còn dư âm.
Mối hờn xưa nay chỉ có biết hỏi trời, vì đâu những người phong lưu tài sắc lại có cái án oan nghiệt như thế.
Ba trăm năm lẽ nữa, kể từ nàng Tiểu Thanh đến nay, ba trăm năm lẽ sao ai sẽ khóc nàng Xuân Hương Hồ Phi Mai. (Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết; như là như cũ, như vậy, giống như. Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.
 
Ñoäc Tieåu Thanh kyù    
*

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu.
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Bách tri tam bách dư niên hậu, 
Thiên hạ hà nhân khấp tố như ?

*
Đọc Tiểu Thanh ký 
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu,
Bên cửa viếng nàng một áng thư.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương vô mệnh cháy còn dư.
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách lụy sầu.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Còn Nàng ai khóc một niềm đau. 
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ
*
Chú thích:
Hoa uyển,
花苑có bản chép mai uyển theo thơ Tốn Phong trước nhà Xuân Hương có trồng nhiều mai trắng. Tốn Phong còn gọi nhà nàng là Mai đình. Tại Tây Hồ Hàng Châu trước nhà Tiểu Thanh cũng có rừng mai rộng bát ngát, thi sĩ Lâm Bô đời Tống vào rừng mai thưởng hoa đi lạc không biết đường về.
Bài Độc Tiểu Thanh Ký trong các văn bản đều đặt cuối Thanh Hiên Thi tập thời điểm sáng tác năm 1804., không ai hiểu làm sao, cụ Đào Duy Anh có đem qua Bắc Hành Tạp lục, nhưng Nguyễn Du khi đi sứ không ghé đến Hàng Châu.. Nếu Nguyễn Du viết năm 1799 trong thời gian lưu lạc Trung Quốc thì bài này phải nằm kế 5 bài thơ Vịnh Miếu Nhạc Phi, Tần Cối, Vương Thị. Cách cắt nghĩa của tôi duy nhất đáp ứng được thời điểm sáng tác.
          Ý nghĩa hai chữ Tố Như, tên tự hay bút hiệu thường lấy từ một điển tích, hay có ý nghĩa, tố như không có nghĩa nào khác và cũng không điển tích. Tôi( TS Phạm Trọng Chánh), cắt nghĩa và tìm ra mối liên hệ bài này với bài Giã từ Tổng Cóc (khóc Tổng Cóc) và bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn của Hồ Xuân Hương viết năm 1805.
*
Tham khảo:




Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn

讀小青記 
西湖花苑盡成墟
獨吊窗前一紙書 
脂粉有神憐死後 
文章無命累焚餘 
古今恨事天難問 
風韻奇冤我自居 
不知三百餘年後 
天下何人泣素如
*
Độc Tiểu Thanh ký

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
*
Dịch nghĩa
Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang,
Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trước cửa sổ mà thôi.
Son phấn có linh hồn chắc phải xót chuyện xảy ra sau khi chết,
Văn chương không có mệnh mà cũng bị liên luỵ, đốt đi còn sót lại một vài bài.
Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời.
Ta tự coi như người cùng một hội, một thuyền với nàng là kẻ vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng.
Chẳng biết ba trăm năm sau,
Thiên hạ có ai khóc Tố Như ta?
Về câu chuyện nàng Tiểu Thanh, xin xem thêm tác giả Phùng Tiểu Thanh 馮小青 (đời Minh, Trung Quốc).
*
Bản dịch của Lê Thước
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:40
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
*
Bản dịch của Quách Tấn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Hồ Tây hoa kiểng giải gò hoang,
Cửa hé trang thư chạnh điếu nàng.
Hận luống vương thêm hồn phấn đại,
Tro chưa tàn hết nghiệp văn chương.
Thanh thương khó hỏi oan chồng chất,
Phong nhã đành chung nợ văn chương.
Rồi Tố Như nầy ba k nữa,
Trần gian ai kẻ sụt sùi thương.
*
Bản dịch của Thân Bá Trường Sơn
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:41
Tây hồ hoa cảnh thảy thành hoang,
Trước cửa tờ thư khóc điếu nàng.
Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn mang.
Sầu hận xưa nay trời khó hỏi,
Nỗi oan phong nhã khách còn vương.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như ?
*
Bản dịch của Vũ Tam Thập
Gửi bởi Vanachi ngày 11/06/2005 17:42
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như (*) chăng ?
*
Chú thích:
Hoa uyển, có bản chép mai uyển theo thơ Tốn Phong trước nhà Xuân Hương có trồng nhiều mai trắng. Tốn Phong còn gọi nhà nàng là Mai đình. Tại Tây Hồ Hàng Châu trước nhà Tiểu Thanh cũng có rừng mai rộng bát ngát, thi sĩ Lâm Bô đời Tống vào rừng mai thưởng hoa đi lạc không biết đường về.
Tố Như,
素如, tên tự của Nguyễn Du 阮攸; Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766– mất năm 1820, tên tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ 鴻山獵戶, Nam Hải điếu đồ 南海釣屠, là một nhà thơ nổi tiếng, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là " Đại thi hào dân tộc".
(*)Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết, như là như cũ, như vậy, giống như. Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.
Bài Độc Tiểu Thanh Ký trong các văn bản đều đặt cuối Thanh Hiên Thi tập thời điểm sáng tác năm 1804, không ai hiểu làm sao, cụ Đào Duy Anh có đem qua Bắc Hành Tạp lục, nhưng Nguyễn Du khi đi sứ không ghé đến Hàng Châu. Nếu Nguyễn Du viết năm 1799 trong thời gian lưu lạc Trung Quốc thì bài này phải nằm kế 5 bài thơ Vịnh Miếu Nhạc Phi, Tần Cối, Vương Thị. Cách cắt nghĩa của tôi duy nhất đáp ứng được thời điểm sáng tác. Ý nghĩa hai chữ tố như, tên tự hay bút hiệu thường lấy từ một điển tích, hay có ý nghĩa, tố như không có nghĩa nào khác và cũng không điển tích. Tôi cắt nghĩa và tìm ra mối liên hệ bài này với bài Giả từ Tổng Cóc (khóc Tổng Cóc) và bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn của Hồ Xuân Hương viết năm 1805.

***
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập,
Nhất Uyên dịch thơ
Đọc Tiểu Thanh ký
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu,
Bên cửa viếng nàng một áng thư.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương vô mệnh cháy còn dư.
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách lụy sầu.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Còn Nàng ai khóc một niềm đau.
***

Ngân Triều diễn thơ
Đọc Tiểu Thanh ký
Tây Hồ dâu bể hóa gò hoang,
Thổn thức bên song đọc mảnh giấy tàn.
Dẫu biết phũ phàng, nào oán hận,
Văn chương đem đốt tiếng còn oan.
Xưa nay oan uổng (1), trời khôn hỏi,
Cái nghiệp oan gia (2), khách tự mang.
Chẳng biết sau hơn ba thế kỷ,
Còn ai thương cảm Tố Như nương?
(1), oan uổng, 冤 枉 bị ép gán tội danh hay điều gì mà không thế nào biện bạch.
(2) oan gia,
冤家bị oan, nhà bị oan.
đồng tương ứng như đồng hội đồng thuyền, cùng một số phận và tâm tình với nhau.
Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.
*
         Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận vì phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Không thể kéo dài cuộc sống: Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm vì Tổng Cóc làm tình như chuộc vọc:
Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuộc vọc,
…Một tháng đôi lần có cũng không.
…Chàng Cóc ơi, Chàng Cóc ơi, thiếp bén duyên với chàng thế là đủ rồi. Thiếp xin dứt tình với chàng từ đây như nòng nọc đứt đuôi. Dù chàng có cho thiếp nghìn vàng, thiếp cũng như con cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại với chàng. Cóc hay vào nhà trốn vào xó bếp hay gầm giường, đuổi đi, hay bắt bỏ ra xa cũng quay đầu trở lại, chỉ có bôi vôi vào đầu là đi biệt luôn không dám trở lại nữa.
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
Khóc ông Tổng Cóc

Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi
(Bản khắc 1921)
*
KHÓC TỔNG CÓC
Hồ Xuân Hương
Chàng Cóc ơi! Chàng cóc ơi!               (1)
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.     (2)
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,             (3)
Nghìn vàng không chuộc dấu bôi vôi. (4)
* Chú giải: Tổng Cóc tên thật là Nguyễn Bình Kình, ở làng Gáp nay là Tứ Xã, Lâm Thao-Phú Thọ. “Bài thơ tài tình lắm trong câu chữ (cóc, bén (nhái), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), bôi vôi…) nhưng để lại biết bao điều võ đoán. Cả trăm năm trước, bài thơ đã bị nhiều người hiểu lệch. Trước hết bài thơ gợi cho người đọc, nghĩ đến vợ khóc chồng vừa quá cố. Sự thực đâu phải vậy! GS Lê Trí Viễn có phân tích và cho rằng bài thơ vừa bộc lộ nỗi đau xót vừa thể hiện sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không nói là hờn oán. Có vẻ như bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Bài thơ không ra lời tang mà như lời tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình”. (Nguyễn Cẩm Xuyên-Hồ Xuân Hương, huyền thoại và sự thật-Tạp chí KTNN số 663 ngày 10/01/2009).
*
Bản chữ Nôm:
Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi 
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi 
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé 
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi
*
Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đình Hổ và bè bạn, Xuân Hương đã mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đã sinh con: Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ, Chốn dời Mai mới nở thêm cành.(bài 15) Tiếc thay đứa con gái mất sớm, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm tốn phong ca tụng tít trời xanh. Quán sách nàng là nơi các học trò ông nghè Phạm Quý Thích lui tới, để ngắm bà chị.Trong đám học trò thường đến hiệu sách của nàng có cậu bé lên tám bị mắng là: Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa, có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu về sau sẽ cùng Cao Bá Quát nổi tiếng: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán.
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
伴 途 訥 (2)
窖 窖 迻  屡 艮 魚
吏  朱 姉   詩
 嫩 癢 毒 針 花 
羝 衮 忿 夌 觸 梄 疎

Bản chữ Nôm: (Ghi theo Hồ Xuân Hương thi tập, bản chép tay, bài XXXIV; tham khảo Đại Tự Điển chữ Nôm, Vũ Văn Kính và phần mềm Winvnkey).
*
Bọn đồ dốt
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rửa
Dê cỏn buồng sừng húc giậu thưa.

*****

[Bài số 24]
Chôi Taây Hoà nhôù baïn


          Xuân Hương trở lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, Nguyễn Du về quê một tháng, sau đó được lệnh vào Phú Xuân thăng Đông Các học sĩ hàm ngũ phẩm, tước Du Đức Hầu, chức vụ dâng sách cho vua đọc mỗi ngày, và soạn thảo chiếu biểu cho vua. Gia Long.
          Hồ Xuân Hương viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du. Nguyễn Du viết:
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu. (Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư).
Xuân Hương trả lời:
 Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa.
Em đã trở về, em không chết như nàng Tiểu Thanh đâu ?
Vườn cảnh có tay em chăm sóc đã trở lại như xưa.
Người đồng châu, cùng quê Nghệ Tĩnh với em biết bao giờ trở lại.
Nhật Tân đê lở, như duyên em dù lỡ làng cũng còn lối vào.
Chùa Trấn Quốc rêu phong vẫn còn lưu lại bài thơ em viết ngày nào đề thơ cùng chàng.
 Nơi vực Trâu vàng trăng lặn bóng.
 Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ những kỷ niệm đôi ta;
Hồ kia thăm thẳm sâu bao nhiêu cũng không bằng lòng em nhớ chàng.
*


Chôi Taây Hoà nhôù baïn

Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa,
Người đồng châu trước biết bao giờ.
Nhật Tân đê lỡ nhưng còn lối,
Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ,
Nọ vực Trâu vàng trăng lặn bóng,
Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ.
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy,
So dạ hoài nhân dễ chửa vừa.
*
Chú thích:
Vực Trâu vàng: tích Sư Minh Không quốc sư Triều Lý xin đồng nhà Tống về đúc chuông, tiếng chuông ngân xa, con trâu vàng trong cung nhà Tống ngỡ tiếng mẹ kêu, chạy sang Hồ Tây và biến mất trong khu vực này. Phủ Tây Hồ có đền thờ Trâu Vàng và đền bà Chúa Liễu Hạnh.
Non Phượng đất: hay mõ phượng, gò đất nhô ra ở Hồ Tây, nay thuộc khu vực Trường Bưởi, Chu Văn An.
Nguyễn Du cưới và vợ họ Võ sanh một con, để cai quản gia trang Tiên Điền, và có ba vợ thứ ba theo hầu bên cạnh nên sanh luôn một chục đứa con.
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn

𨔈 西 湖 𢖵 伴
風 景 西 湖 拯 恪 𠸗
𠊛
同 州 𠠩 别 包 𣇞
日 新 堤 𨓐 礽 群 𡓃
鎮 國 𧄈 風 吻 泿 詩
奴 淢 𤛠 鐄 綾 𣵰 䏾    
箕 𡽫 鳳 地 𤌋 澊 𤎎
湖 箕 探瀋 溇 羕 閉
摳 腋 懷 人𥚯 渚 𣃣
*
Ngân Triều diễn thơ
(Xuân Hương trả lời)
Chơi Tây Hồ nhớ bạn
Nào đâu khác lạ, cảnh Tây Hồ,
Người cũ cùng quê, vẫn nhớ chờ.
Đê lở Nhật Tân, chưa hết lối.
Rêu phong Trấn Quốc vẫn còn thơ.
Trâu vàng kìa vực trăng lồng bóng.
Non Phượng nào đâu bóng khói mờ
Thăm thẳm Hồ sâu, hồ thẳm thẳm,
Nào bằng nỗi nhớ, mộng người mơ?

*******
Tượng đài Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

Top of Form
Nguồn, TL Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình của HXH và NDTs Phạm Trọng Chánh
Bottom of Form
*****
Giaõ töø Toång  Coùc
          Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận vì phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Không thể kéo dài cuộc sống: Cầm bằng làm mướn, mướn không công. Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm vì Tổng Cóc làm tình như chuộc vọc: Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuộc vọc, Một tháng đôi lần có cũng không. Chàng Cóc ơi, Chàng Cóc ơi, thiếp bén duyên với chàng thế là đủ rồi. Thiếp xin dứt tình với chàng từ đây như nòng nọc đứt đuôi. Dù chàng có cho thiếp nghìn vàng, thiếp cũng như con cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại với chàng. . Cóc hay vào nhà trốn vào xó bếp hay gầm giường, đuổi đi, hay bắt bỏ ra xa cũng quay đầu trở lại, chỉ có bôi vôi vào đầu là đi biệt luôn không dám trở lại nữa.
Giã từ Tổng Cóc
Chàng Cóc ơi ! Chàng cóc ơi ! 

Thiếp bén duyên chàng chỉ thế thôi, 
Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhé ! 
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

*
          Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đình Hổ và bè bạn, Xuân Hương đã mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đã sinh con: Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ, Chốn dời Mai mới nở thêm cành.(bài 15) Tiếc thay đứa con gái mất sớm, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm tốn phong ca tụng tít trời xanh. Quán sách nàng là nơi các học trò ông nghè Phạm Quý Thích lui tới, để ngắm bà chị.
          Trong đám học trò thường đến hiệu sách của nàng có cậu bé lên tám bị mắng là: Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa, có lẽ là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu về sau sẽ cùng Cao Bá Quát nổi tiếng: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán.
*

Nguồn: Đi tìm Cổ nguyệt Đường và mối tình HXH và ND, TS Phạm Trọng Chánh


*****