Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Xin mời quý bạn cùng tôi d0ọc lại bài thơ chữ Hán Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn.

Thay lôøi keát

Đến đây, xin mời quý vị cùng NT tham khảo bài thơ Cây đàn gấm của Lý Thương Ân. Bài thơ nầy như cất cao những cung bậc xao xuyến, tiếc nhớ về một thời thơ mộng, vụng dại của tuổi hoa niên đã qua. Niệm khúc lâm ly ấy, khi hồi tưởng, luôn khơi gợi cho lòng ta những nỗi niềm vương vấn, quặn thắt, chạnh lòng. 


Tượng của Lý Thương Ần, 李商隱 [813-858] Google

Cẩm sắt

 Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền, (1)
 Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên. (2)
 Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,   (3)
 Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.    (4)
 Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,  (5)

 Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.      (6)
           Thử tình khả đãi thành truy ức, (7)

 Chỉ thị đương thì dĩ võng nhiên (8)
                                                      Lý Thương Ẩn [813-858]

 

                         Bức tranh có bài thơ Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn, Google

                   .Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:

              錦 瑟
錦 瑟 无 端 五 十

一 弦一 柱 思

庄 生 曉 夢 迷 蝴 蝶
望 帝 春 心 托  杜 鵑

海 月 明 珠 有 泪
田日 暖 玉  生 烟
此  情可待 成  追

只  是当時 已  惘 然
                         李商隱 [813-858]

           Tiểu sử Lý Thương Ẩn, 

Lý Thương Ẩn, 李商隱 [813-858], tự là Nghĩa Sơn, hiệu là Ngọc Khê Sơn. Người Huyện Hà Nội nay (1957) là phủ Hoài Khánh, Tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ông sinh năm thứ 8, đời Đường Hiến Tông, hiệu Nguyên Hòa, năm 813 và mất năm thứ 8, đời Đường Huyền Tông, hiệu Đại Trung, năm 858, hưởng dương 45 tuổi, (theo truyền thống Á Đông cộng thêm 1 tuổi), tức là 46 tuổi.

Lúc thiếu thời, nhờ giỏi văn thơ nên được Lệnh Hồ Sở yêu, cho phép giao du với các con của mình.

Năm 837, 25 tuổi, nhờ thế lực của Lệnh Hồ Đào, con của Lệnh Hồ Sở, Thương Ẩn được chấm dỗ Tiến sĩ. Khi ấy, Vương Mậu Nguyên, trấn thủ Hà Dương, đối thủ chính trị của Lệnh Hồ Sở cũng nến tài của Thương Ẩn, cho ông giữ chức thư ký và gã con gái cho. Vì chuyện nầy, lệnh Hồ Đào cho ông là người vong ân. 

Sau khi Mậu Nguyên qua đời, Thương Ẩn có đến kinh sư nhưng triều đình không ai tiến cử làm việc gì cả.

Sau đó, nhờ Trịnh Á, Thương Ẩn được bổ làm Phán quan. Khi Trịnh Á bị biếm ra đất Lĩnh Biểu, Thương Ẩn cũng đi theo. Sau ba năm, về triều, được bổ làm truyện Tào tại Kinh Triệu.
Khi Lệnh Hồ Đào lên làm Tể Tướng, ông có dâng thơ trần tình nhiều lần nhưng Hồ Đào không xem xét chi.

Cuối cùng, Liễu Trọng Hĩnh, trấn thủ miền Đông Thục dùng ông làm Tiết Độ Phán quan kiêm Hiệu Công Bộ viên ngoại lang.

Về sau, họ Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức.

Ông trở về đất Oanh Dương, bệnh nặng, qua đời.

                                            *

Lý Thương Ẩn nổi tiếng ngang với Ôn Đình Quân và Đỗ Mục. Người đương thời mến mộ, còn gọi ông vớicái tên Ôn Lý và Lý Đỗ.

Tương truyền Thương Ẩn đã yêu nữ đạo sĩ Tống Hoa Dương và các cung nữ Lư Phi Loan, Khinh Phụng. Những bài thơ Vô đề do ông sáng tác đều do cảm hứng từ những mối tình bí ẩn nầy.

Về tác phẩm:

-Phàn Nam Giáp tập (20 quyển)

-Ất tập (20 quyển)
-Ngọc Khê Sinh thi ( 3 quyển)
- Phú (1 quyển) và (1) quyển văn.

                                                *

Vương An Thạch khen thơ ông có cái vẻ tài tình của thơ Đỗ Phủ.
Đời Tống, Dương Ức và Lư Tử Nghi mô phỏng thơ ông, soạn ra tập thơ Tây Côn thù Xướng nên thơ ông còn có tên là Tây Côn Thể.

Chú giải:

Cẩm sắt, : Có người dịch là đàn gấm, nhưng trên thực tế là cây đàn sắt có chạm trổ. Ðàn sắt là loại đàn lớn làm bằng gỗ cây ngô đồng. Ðàn sắt và đàn cầm là hai loại đàn cổ. Chữ cầm sắt, trong câu loan phụng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp: 鳯和 / thường dùng để chỉ vợ chồng hoà hợp, hạnh phúc như đàn sắt đàn cầm hoà nhau. Theo Daijigen (Ðại từ nguyên), cẩm sắt là mỹ danh của cây đàn sắt.

Vô đoan : do đâu, từ đâu, không có lý do.

Ngũ thập huyền : Theo truyền thuyết, khi Tố Nữ gảy đàn sắt tế trời theo lệnh vua Phục Hy, cây đàn này có 50 dây. Nhưng vì tiếng đàn quá ai oán, não nùng, Phục Hy cấm không cho sử dụng đàn này nữa. Sau đó, vì dân chúng vẫn ngầm ái mộ, không chịu tuân lệnh, Phục Hy mới cho phép sử dụng nhưng bớt đi phân nửa số dây. Từ đó đàn sắt chỉ có 25 dây, theo Phong thiền thư, Sử ký của Tư Mã Thiên; hoặc Giao tự chí, Hán thư của Ban Cố đời Hậu Hán.

Trụ : trụ; trục; hay con nhạn  đỡ dây đàn (huyền).

Hoa niên : Thanh xuân; tuổi trẻ; thời kỳ tươi đẹp nhất của đời người.

Tư, tứ : nghĩ, nhớ; ở đây dùng theo nghĩa gợi nhớ. Mỗi dây đàn, mỗi trục, chạnh nhớ lại tuổi hoa niên. Ðọc hai câu mở đầu, ta không khỏi liên tưởng đến hai câu hát ru con Việt Nam:

          Hai tay cầm bốn tao nôi,

Tao thẳng tao dùi, tao nhớ tao thương

Ca dao (Nguyễn Xuân Kính, Đăng Nhật Phan,
Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hoá thông tin, 2001)

 tuy dân dã mộc mạc nhưng có sức gợi cảm vô cùng.

Trang sinh : tức Trang Chu, nhà tư tưởng thời Chiến Quốc. Sách Trang Tử ghi lại những ngôn thuyết của Trang Tử cùng những người cùng phái, chủ trương là mọi việc trên đời như lớn nhỏ, khôn dại, sống chết, v.v. chẳng có gì khác nhau cho lắm; xem vô vi, tự nhiên là đạo đức cao nhất. Thuyết giải về sự khó phân biệt giữa tỉnh và mộng, sống và chết, thiên ‘Tề vật luận’ trong Trang Tử viết : 

Ngày xưa, Trang Chu chiêm bao thấy mình hóa bướm bay nhởn nhơ khắp nơi, tự lấy làm thích chí, quên mình là Chu. Bất giác tỉnh giấc, thấy hình thù mình vẫn là Chu. Không biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Chu! (Hoài nghi là bản chất của triết học)

Vọng Đế : đế hiệu của vua Ðỗ Vũ nước Thục cuối đời Chu (nên còn gọi là Thục Đế). Tương truyền Vọng Đế ra lệnh bộ hạ là Biết Linh đi cứu lũ ở xa nhằm thừa dịp tư tình với vợ của Biết Linh. Sau đó Vọng Đế tự hổ thẹn về hành vi bất chính của mình, từ ngôi, sống mai danh ẩn tích, nhớ thời vàng son nước cũ, thua buồn mà chết. Hồn biến thành con chim cuốc, hay chim đỗ quyên cứ kêu tiếc nước sầu thảm, bi ai; tiếng kêu ấy như cào xé quặn lòng:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia,

Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan.

Cảm tác:

Cuốc cuốc quặn lòng ai nhớ nước,

Gia gia đau xót kẻ thương nhà.

                                      Ngân Triều

*

Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,

Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ.

Năm canh máu chảy đêm hè vắng,

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.

Có phải tiếc Xuân mà đứng gọi,

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ.

Thâu canh ròng rã kêu ai đó,

Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ!

Cuốc kêu cảm hứng, Nguyễn Khuyến

Nhận xét:

Tám câu thơ ngậm ngùi đặc tả tiếng kêu con chim cuốc nhớ thương nước mất. Phải chăng đó chính là tiếng lòng “ngẩn ngơ” của tác giả  trào lệ cho thế sự bấy giờ?

Xuân tâm : , lòng xuân, còn có nghĩa như “xuân tình” : 春情tình yêu trai gái, tình yêu lứa đôi. Nguyễn Du cũng đã dùng chữ “xuân tình”, , tình mùa Xuân, tình của tuổi xuân thì, khi phỏng dịch đoạn thơ này trong Truyện Kiều:

          Khúc đâu êm ái xuân tình,

Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên.

ĐTTT, Nguyễn Du câu 3201-3202

Thương hải : Biển xanh, còn có nghĩa là biển rộng, biển cả. Thương hải cũng có khi dùng để chỉ tên một đại dương hư cấu ở cõi tiên.

Nguyệt minh châu hữu lệ : Theo Văn tuyển (Lý Thiện chú thích), “khi trăng đầy, trai có ngọc (châu), khi trăng khuyết trai không có ngọc (nguyệt mãn tức châu toàn, nguyệt khuy tức châu khuyết; 月滿卽珠全, 月虧卽珠缺). Theo cuốn Biệt quốc động minh ký thời Lục Triều, ngày xưa có người lặn xuống đáy biển tìm ngọc, lạc vào cung điện của nhân ngư, tìm được bảo ngọc do nước mắt của nhân ngư đọng lại. Câu này còn có thể hiểu theo điển tích thương hải di châu, 滄海 移 珠 (hạt ngọc bỏ rơi trong biển cả), ngụ ý là người có tài mà không có chỗ thi thố.

Ngoài ra, thương hải còn có thể hiểu theo thành ngữ thương hải, tang điền, 蒼海桑田, biển xanh, ruộng dâu hay bể dâu, chỉ những biến cố ngoài sức tưởng tượng của con người, thương hải biến vi tang điền 蒼海變爲桑田, Biển xanh hóa thành nương dâu, bể dâu hay dâu bể

          Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

                                                ĐTTT, Nguyễn Du câu 3-4

                                    *

          Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

                                                ĐTTT, Nguyễn Du câu 715-716

Lam điền : 籃田tên một ngọn núi ở Thiểm Tây (Lam điền sơn), còn gọi là Ngọc sơn, nổi tiếng có nhiều ngọc đẹp và quý. Theo Sơn hải kinh, Ngọc sơn là nơi bà tiên Tây Vương Mẫu ở , chi tiết này khiến người đọc liên tưởng đến một cõi tiên hư cấu, giống như “Thương hải” trong câu (5), Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ.

 Ngọc sinh yên : 玉生烟 Theo Lục dị truyện, con gái Ngô Phù Sai là Tử Ngọc yêu người lính hầu là Hàn Trọng nhưng không được Ngô vương chấp thuận, mang mối bi tình xuống tuyền đài. Một sáng, khi Ngô vương đang dùng lược chải tóc, nhìn ra vườn thấy có viên ngọc lớn màu tím chiếu sáng, phu nhân nghe nói chạy ra vườn xem. Khi vừa ôm chầm hòn ngọc thì ngọc tan thành khói biến mất. Lại có thuyết cho rằng tứ thơ trong câu này lấy ý câu sau đây của nhà thơ Ðái Thúc Luân (732-789) thời Trung Ðường : 

Thi gia chi cảnh như Lam Ðiền 

nhật noãn lương ngọc sinh yên,

khả vọng nhi bất khả trí ư mi tiệp chi tiền dã.

詩 家 之 景 如 籃田

日暖良玉生烟

可 望 而 不可 知於眉睫之前也

(Cảnh đẹp đối với nhà thơ, tựa như viên ngọc quý bốc tan thành khói khi Lam Ðiền hửng nắng, chỉ có thể đứng nhìn từ xa chứ không được lại gần).

Khả đãi, 可待: khả đãi trợ từ có nghĩa là: phải, nên, đáng, có thể, chắc có thể, có lẽ, hình như…; hoặc là trợ từ nghi vấn: làm sao có thể…

Võng nhiên : 惘然 không biết gì cả, ngơ ngác như mất hồn, phôi pha. 

Câu 7 có thể dịch là Tình này có thể trở thành một nỗi nhớ;

hoặc
tình nầy còn đọng trong tâm khảm, còn mãi chút gì, để nhớ để thương.
 

Câu 8 thời gian trôi qua, vết thương lòng lành lại, thì tình yêu bất thành đó cũng đã nhạt nhòa, phôi pha.

*                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 *

Thực ra, tiếng lòng vương vấn mãi:

          Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2241-2242

*

Trên chặng đường thương tâm, nước mắt đoạn trường, mỗi lần nhớ quê hương, nhớ người thân, lần nào Thúy kiều cũng nhớ đến Kim Trọng, mối tình đầu thắm thiết, mãi còn phảng phất bên lòng:

Tham khảo ba lần nhớ nhà của Thúy Kiều:

(1) Thúy Kiều nhớ nhà lần thứ nhất:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, (1039)
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
            Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
            Xót người tựa cửa hôm mai, (1043)
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
            Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm. (1046)

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1039-1046

*

Nghĩa của 4 câu thơ 1039-1042:

Tưởng nhớ người cùng uống chén đồng, dưới trăng thề ước,

Mỏi mòn con mắt, mong chờ tin tức,

Ở chân trời góc biển giờ biết ra sao?

Tình yêu ấy cho dẫu phôi pha nhưng làm sao có thể nhạt nhòa.

*

Bơ vơ:không biết giờ ra sao.

Tấm son:  Tấm lòng son, lòng thành tức tình yêu.

Gột rửa: Gột là dùng nước làm sạch vết bẩn như bùn đất; rửa là dùng nước làm sạch những mảng bám dơ trên diện rộng hơn như rửa chân, rửa mặt, rửa rau, rửa xe

*

(2)Thúy Kiều nhớ nhà lần thứ hai:

Nhớ ơn chín chữ cao sâu, (1253)
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà. 
            Dặm nghìn nước thẳm non xa, 
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này! 
            Sân hòe đôi chút thơ ngây, 
Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình? 
            Nhớ lời nguyện ước ba sinh, 
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?  (1260)
            Khi về hỏi liễu Chương-đài, 
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay! 
            Tình sâu mong trả nghĩa dày, 
Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa? 
            Mối tình đòi đoạn vò tơ, 
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài. 

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1253-1266

                                       Cảm tác 8 câu thơ 1259-1264: Ngân Triều

Nhớ nợ ba sinh, lời nguyện ước,

Xa xôi biết có thấu chân tình?

Bồi hồi trở lại Chương Đài liễu,

Chữ hiếu liều thân liễu bán mình!

*

Lời thề trót hứa, khắc tình sâu,
Tình chị duyên em, có bắc cầu?
Đa đoan tim buốt tơ vò rối,

Chập chờn quê cũ giấc canh thâu.

            *

Ba sinh: 𠀧 chữ hán là tam sinh 三生 ,tức là ba kiếp, quá khứ, hiện tại và vị lai, trong ba kiếp ấy đã có duyên nợ vợ chồng với nhau.

Thấu: hiểu rõ cặn kẽ, ngọn ngành về sự việc gì.

Chương Đài liễu : 章臺柳Sách Di văn lục chép rằng Hàn Hoằng lấy một người kỹ nữ tên là Liễu thị. Khi đi làm quan xa, để nàng ở lại Chương Đài, Trường An. Ba năm sau thơ Hàn Hoằng gởi về thăm có câu:

Chương Đài liễu, Chương Đài liễu,

Tích nhận thanh thanh kim tại phủ?

Túng sử trường điều y cựu thuỳ, 

Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.

 

使

Nghĩa là:

Liễu Chương Đài, Liễu Chương Đài,

Xanh xanh ngày ấy, nay còn không?

Có phải cành dài nguyên vẹn cũ,

Hay tay kẻ khác bẻ cành xong?

 Ý nói Liễu thị ngày trước kiều diễm, chẳng hay bây giờ thế nào. “Có phải cành dài nguyên vẹn cũ, Hay tay kẻ khác bẻ cành xong  là tỏ ý hoài nghi. 

Liễu thị trả lời bài Dương liễu chi:

楊 柳 枝

楊 柳 枝 , 楊 柳 枝

可 恨 年 年 贈  離 

葉隨風忽報 秋

縱使君來豈堪 折

*
Dương liễu chi

Dương liễu chi, Dương liễu chi,

Khả hận niên niên tặng ly biệt. 

Nhất diệp tùy phong hốt báo thu,

Túng sử quân lai khởi kham chiết.

                                    *

                                    -- Bản dịch của Trúc Khê --

       Xanh non cành liễu đương tươi, 
Mỗi năm luống để tặng người biệt ly. 
       Thu sang quyện lá vàng đi, 
Chàng về biết có còn gì mơn man!

* 

Cuối đời Thiên Bảo, Liễu thị bị tướng Phiên cướp mất. Sau Hốt Tuấn cướp lại được, trả lại cho Hàn Hoằng, châu về hiệp phố.

*                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               *

                                    (3)Đây là nỗi nhớ nhà, lần thứ ba của Thúy Kiều:

Đoái trông muôn dặm tử phần, (2235)
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.
          Xót thay huyên cỗi xuân già,
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?
          Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã da mồi tóc sương. (2240)
          Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
          Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
          Tấc lòng cố quốc tha hương,

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
          Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2235-2248

*

Nhận xét bốn câu thơ

(Thúy Kiều nhớ Kim Trọng, 2241-2244):

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng thương,
            Ngó ý lìa thân, tơ vẫn vương.

Đã nối duyên em, mong trả nghĩa?

Con bồng con bế, lại con mang?

*

Tiếng thơ nghẹn ngào, cất cao như một tiếng sét yêu thương chung thủy, khắc ghi tình yêu ngàn năm thương nhớ, giai điệu bất hủ của mối tình tha thiết đầu đời, vì hoàn cảnh riêng phải sinh ly nhưng tình yêu đó, vẫn mãi còn vương vấn bên lòng?

   *
Dịch nghĩa bài thơ Cẩm sắt:

Cẩm sắt là một loại nhạc cụ bằng dây, đàn không có đầu, có 50 dây, mỗi dây buộc vào một trụ.

Mỗi dây mỗi trụ liền nhau từ thấp đến cao như gợi nhớ về cái thuở hoa niên ngày xưa. Có lúc, giai điệu tiếng đàn cất lên êm ả như Trang sinh mơ giấc buổi sáng, thấy hóa thành con bướm bay lượn thanh thản, nhởn nhơ.

Có khi não nuột như tiếng kêu bi thiết của chim đỗ quyên thác lòng Vua Thục tiếc thương nước mất. 

Còn tưởng, như âm vang thánh thót của những hạt châu nhỏ lệ, chạm nhau, khi trăng sáng đầy trời, trên biển xanh xao động mênh mông.

Lại còn vọng tưởng như trời hửng nắng ấm, chiếu tan những viên ngọc bốc khói ở núi Lam Điền.

Những nỗi niềm ấy, còn chăng là những ký ức xa mờ,

Mà lúc đương thời ta đã thờ ơ, hờ hững, vô tâm (hoặc ta tuyệt vọng, trong nỗi bất phùng thời, trong thổn thức cam lòng.

« Les plus désespérés sont les chants les plus beaux, 
Et j'en sais d'immortels qui sont de purs sanglots ».

                                                                Alfred de Musset, La nuit de Mai.

*

Ngân Triều dịch thơ:

Tuyệt vọng nhứt là tiếng ca đẹp nhứt,
Bất hủ thay những thổn thức cam long

*!

purs sanglots dịch thoát là những thổn thức cam lòng, tức là cam đành số phận,không oán trách.

Lôøi bình Ngaân Trieàu

Lời thơ trong bài “Cẩm sắt” đượm nét buồn man mác, trải rộng mênh mông trong không gian hữu hạn, thời gian vô cùng, chuyên chở một tình sầu muôn thuở. Có phải chăng đây là tiếng khóc cho người vợ hiền thục chẳng may quá cố? Hay là những lời thương tiếc đầy ân hận về một người tình tên là Cẩm đã đi qua cuộc đời tác giả thuở hoa niên?  Ngoài ra, còn có biết bao giả thuyết khác về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ nầy…

(1) Hai câu đề: Giới thiệu cây đàn gấm, Cẩm sắt.

*

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,

Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.

Cây đàn gấm là một nhạc cụ có dây để gảy, hình dáng và cấu trúc hơi lạ. Đàn không có đầu như các loại nhạc cụ bằng dây khác mà có nhiều trụ, nhiều dây. Năm mươi dây được căng trên năm mươi trụ theo thứ tự từ thấp đến cao.

Ờ nhỉ! Năm mươi dây thấp cao, sao lại giống số năm tháng dài chồng chất trên vai gầy đời ta quá vậy?  Phải chăng  những  dây đàn  như những chương khúc sâu lắng của hồn ta, đang ở lứa tuổi năm mươi,  tuổi ngũ thập nhi tri thiên mệnh, 五十而知天命, nghĩa là năm mươi tuổi mới hiểu mệnh trời.

Còn nhớ, Đức Khổng Tử đã kể lại các giai  đoạn của cuộc đời ngài như sau:

 Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học:                      吾十有五而志于學

 tam thập nhi lập,                                                   三十而立

 tứ thập nhi bất hoặc,                                             四十而不惑

 ngũ thập nhi tri thiên mệnh,                                五十而知天命

 lục thập nhi nhĩ thuận,                                         六十而耳順

thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ.              七十而樷心所 欱不遊

Nghĩa là:

Ta mười lăm tuổi mới chuyên chú vào việc học,

ba mươi tuổi mới tự lập,

bốn mươi tuổi mới hiểu hết mọi sự trong thiên hạ,

năm mươi tuổi mới biết mệnh trời,

sáu mươi tuổi mới có kiến thức và kinh nghiệm hoàn hảo để có thể phán đoán ngay được mọi sự của con người và sự việc mà không có gì trúc trắc khi nghe;

bảy mươi tuổi mới có thể nói hay làm những điều đúng theo ý muốn của lòng mình, đúng theo khuôn khổ của đạo lý.

吾十有五而志于學

三十而立

四十而不惑

五十而知天命

六十而耳順

七十而樷心所欱不遊

 

吾十有五而志于學

三十而立

四十而不惑

五十而知天命

六十而耳順

七十而樷心所欱不遊

 

Ứng xử ở mỗi độ tuổi là một việc, nhưng nếu con người không được thừa hưởng một nền giáo dục tốt, không tự trau dồi kiến văn (những điều trông thấy và những điều nghe thấy, không có bản lĩnh thì sống đến cuối đời với cái tuổi bảy mươi đi nữa, cũng không biết tự lập, không hiểu sự đời, chẳng biết mệnh trời, chẳng biết phán đoán những điều nghe thấy và chẳng biết ứng xử thế nào cho phù hợp với phong tục, đạo lý xã hội.

Điều quan trọng nhất là ở tuổi ba mươi mà nếu không biết  tự lập, vững vàng thì cuộc đời sẽ lắm gian truân; lo cho bản thân không nổi thì làm sao giúp ích cho đời!

(2) Bốn câu thực luận: Đặc tả tiếng đàn




日暖  玉生

*                                                                                                                               *

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,       (3)
Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.        (4)

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,  (5)
Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.      (6)

*

Ôi! Tiếng đàn khi tấu lên nghe nôn nao, xao xuyến, não nùng, ngẩn ngơ biết bao!

Nào là tiếng đàn êm ái, nhớ chuyện Trang sinh trong giấc sáng mơ, thấy mình hóa bướm, nhởn nhơ hoa ngàn, khinh đời ô trọc, thế sự lầm than… tỉnh ra mới thấy ngỡ ngàng, phân vân. Rồi tự hỏi, con bướm ấy chính là ta, vong thân ảo mộng, hay ta đây là bướm, hiện thực vong thân, chập chờn trong thế giới hoang tưởng, phù du. (Hoang mang, nghi hoặc, thờ thẫn,đa đoan).

Nào là tấu khúc du dương, trầm bổng đau đớn, thiết tha, như tiếng kêu não nuột của con chim đỗ quyên, oan hồnVua Thục, trải qua mấy ngàn năm rồi mà vẫn còn khóc thương nước mất.(Thục Vọng Đế, Nước Thục cổ, là một quốc gia cổ ở vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc. Xuất phát quyền lực của nước Thục là đồng bằng Thành Đô (成都), với lãnh thổ chủ yếu nằm ở vùng Trung và Tây bồn địa Tứ Xuyên, cũng như vùng thượng thung lũngsông Hán Thủy (漢水). Dân tộc chủ yếu ở Thục là người Khương. Nước Thục bị Tần đánh bại vào năm 316 TCN. Khi đó kinh đô của Thục đặt tại Thành Đô).

Lại nghe những tiếng thánh thót, bồn chồn  như tiếng của dòng nước nhỏ long lanh, từ  trên cao rơi xuống; xôn xao như âm vang của những lệ châu rơi chạm nhau, khi trăng sáng đầy trời, trên biển xanh mênh mông; trăng cười nhìn biển cất cao tiếng hát qua giàn nhạc đại hòa tấu dạt dào âm ba ngàn năm.

Còn nghe những tiếng đục ấm áp, nhớ mong, như thả hồn bay bổng về khung trời mơ màng đầy nắng vàng  rực rỡ; nắng làm tan thành khói những viên ngọc lóng lánh ở núi Lam Điền.

(3), Hai câu kết: những nuối tiếc, nhớ thương:

此情可待成追憶

只是當時已惘然

Thử tình khả đãi thành truy ức, (7)

Chỉ thị đương thì dĩ võng nhiên (8)

Những nỗi niềm ấy, tình cảm ấy, thử tình , 此情 đối với người xưa, khả đãi可待, còn chăng là những ký ức xa mờ, thành truy ức成追憶, mà lúc đương thời ta đã vô tình, hờ hững, vô tâm, dĩ võng nhiên已惘然  .

Có lẽ tác giả muốn nói về bản chất mộng ảo, mong manh của cuộc đời và tình yêu trần thế, không chỉ là riêng tư của tác giả mà còn là của con người nói chung:

          Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 3-4.

          Đó là những thăng trầm vinh nhục, thất bại thành công, những tình huống vui ít buồn nhiều; những chạnh lòng về những hoàn cảnh ngang trái, éo le; muốn không được mà không muốn cũng không được, trong biển trần khổ não, lầm than:

          Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê…

(CONK, Ôn Như Hầu, Nguyễn Gia Thiều)

Như vậy, phải chăng cẩm sắt, hình ảnh và tiếng đàn có năm mươi dây như khơi dậy nỗi nhớ về tuổi hoa niên, tình yêu đầu đời trong sáng, không bao giờ quên của tinh yêu đầu tiên:

Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,

Nghìn năm hồ dễ đã ai quên.

Lời than thở của nàng mỹ thuật, Thế Lữ

Mà có thể nào quên, cho dẫu cuối đời đã là đầu râu tóc bạc! Mối tình đầu cho dẫu được yêu hay chỉ rung động một một chiều, đắm đuối, ngẩn ngơ đều để lại những vết nhớ sâu đậm trong thâm tâm …thì như vàng đá, suốt đời đâu đã dễ phôi pha.

Hơn nữa, triết lý hoài nghi trong ý thơ cũng được tác giả khắc họa có hệ thống. Hoài nghi giữa mộng và thực đời nầy. Chuyện Trang Chu tỉnh mộng phân vân, con bướm mộng là ta hay ta đã mộng là bướm, nếu không muốn nói bản chất đời nầy chỉ là mộng ảo; cũng như hồn vua Thục hay chim đỗ quyên, không biết là thực hay mơ, trong bối cảnh huyền ảo, ngoạn mục; trong cảnh trăng sáng trên biển xanh, lệ châu vương vấn và cảnh nắng ấm, ngọc tan thành khói bay cao ở núi Lam Điền.

Cuối cùng, khi tình yêu đến, lẽ ra cơ duyên ấy, bản thân phải trân quý nắm bắt, trang điểm cái đẹp tuyệt vời cho đời mình, thì hỡi ôi, tình duyên dang dở, lỡ làng, ngăn cách, chia xa; tình cảm ấy chỉ còn trong chạnh lòng nuối tiếc, trong chua xót,ngậm ngùi.         

Suy cho cùng, phải chăng đời người mong manh như giấc mộng và tâm sự thầm kín của  tác giả như tiếng tơ lòng còn mãi đọng ở năm mươi dây đàn réo rắt, trĩu nặng , se lòng.

Thật là bất hạnh!

Không than sinh bất phùng thời[1],

Vuốt xuôi mái tóc, cả cười ra đi.
Bến trần từ đó sinh ly.
Đôi con đò dọc quản chi sông dài.

Con nhà nho cũ, (Tặng Bùi Hạnh Cẩn), Nguyễn Bính 1943

Nhận xét:

Không than thở, oán trách vì không may mắn,không gặp thời,(1), [tức là đã thất bại],
Khi ấy, hãy vuốt xuôi mái tóc, buông trôi, chấp nhận thương đau, không bận lòng và khảng khái ra đi nơi khác để tiến hành một cơ hội khác.Từ đó, cuộc đời đã ngăn cách, chia xa,

Như con đò dọc kia bao giờ quản ngại sông dài.

*                                                                                                                                                                               *

Hay thể hiện một thái độ biết sống dấn thân, khảng khái[2], can trường, tận nhân lực, tri thiên mệnh, 盡 人 力 , 知 天 命 (2)  như một con chó sói, đã ngộ lẽ đời:

Gémir, pleurer, prier, est également lâche,

Fais énergiquement ta longue et lourde tâche

Dans la voie où le Sort a voulu t'appeler,

Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler.

La mort du loup, Alfred De Vigny (1797-1863)

Ngân Triều tạm dịch: Đoạn thơ của Alfred De Vigny (1797-1863):

                                             Cái chết của con chó sói:

          Van xin, trào lệ, kêu gào,

Đớn hèn, là nước đổ vào lá khoai.
                     Đường trần nặng gánh lá lay
[3],

Thử xem Định mệnh an bài ra sao.

          Xác thân hằn những vết đau,

Cắn răng, lặng lẽ, cúi chào thiên thu.

Tóm lại, Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn là giai điệu của tiếng đàn nhớ mong tiếc nuối, là tiếng tơ lòng u ẩn, buồn thương về mối tình lỡ làng lúc tuổi thanh xuân đã xa mờ, tận cuối trời quên, và cũng là một niệm khúc về những nỗi niềm đã qua, những nỗi niềm vui ít, buồn nhiều, trên đường đời phiêu lãng, không gặp thời của tác giả.

*****

           Tham khảo “vườn thơ” về bài Cẩm Sắt:

 (1) Bản dịch bài 1 của Vĩnh Sinh:

Cẩm sắt vì đâu năm chục dây ?
Mỗi dây mỗi trục nhớ thương đầy.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục Đế tình xuân tiếng cuốc chầy.
Thương hải trăng thanh châu nhỏ lệ,
Lam Điền nắng ấm ngọc tan bay.
Tình này ví thử sau còn nhớ,
Lúc đã tàn phai với tháng ngày !

                     *

(2) Bản dịch bài 2 của Vĩnh Sinh:

Cẩm sắt vì đâu ngũ thập huyền ?
Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế xuân tình gửi tiếng quyên.
Bể cả trăng thanh châu đẫm lệ,
Ðồng xanh nắng ửng ngọc tan liền.
Tình này ví thử sau còn nhớ,
Khi đã qua rồi thuở lứa duyên !

 *
(3) Bản dịch của Huỳnh Minh Đức
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:35
Cẩm sắt vì sao ngũ thập huyền
 
Mỗi dây mỗi trụ, nhớ hoa niên
 
Trang Chu tỉnh mộng, mơ hồ điệp
 
Vọng Đế lòng xuân, gởi đỗ quyên
 
Trăng sáng biển xanh, châu đổ lệ
 
Khói vương nắng ấm, ngọc Lam Điền
 
Tình này sớm tạo niềm nhung nhớ
 
Là buổi đầu tiên, chút nỗi niềm
*
(4) Bản dịch của Nguyễn Hùng Lân
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:36
Đàn năm mươi sợi tơ đồng
Mỗi dây khảy lại nhớ nhung thuở nào
 
Trang sinh mộng bướm sớm nao
 
Lòng xuân Thục Đế gởi vào đỗ quyên
 
Trăng soi biển lệ châu miền
 
Nắng lên hạt ngọc Lam Điền khói xây
 
Tình này đáng lẽ đẹp đây
 
Tiếc thay ngày nọ đã đầy đau thương
*
(5) Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:37
Đàn gấm gồm năm chục sợi liền,
 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ hoa niên.
 
Trang Sinh mộng sớm ngờ thân bướm,
 
Vọng Đế lòng xuân gửi tiếng quyên.
 
Trăng sáng lệ giàn châu đại hải,
 
Nắng xông ngọc bốc khói Lam Điền.
 
Tình xưa hãy để thành lưu niệm,
 
Một thưở yêu đương luống hão huyền!
Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1997
*
(6) Bản dịch của Huyền Lâm

Gửi bởi HuyenLam Tran ngày 14/02/2013 00:37
Huyền ảo năm mươi sợi dây tơ
 
Từng dây nốt phím gợi ngày thơ
 
Trang Chu xưa ngủ mơ thành bướm
 
Quyên vọng lòng xuân nhớ cõi bờ
 
Biển buồn trăng sáng khơi dòng lệ
 
Lam Điền nắng ngọc khói như mơ
 
Tình xưa nay đã thành ký ức
 
Nhưng mãi nhớ thương đến tận giờ
*
(7) Bản dịch của Huyền Lâm
Gửi bởi HuyenLam Tran ngày 14/02/2013 00:50
Năm mươi huyền ảo đàn cầm
 
Từng dây từng nốt gợi thầm ngày thơ
 
Bướm xưa Trang Tử còn mơ
 
Quyên sầu Thục Đế cõi bờ không quên
 
Lệ sầu nhìn biển trăng lên
 
Lam Điền khói quyện phủ trên nắng ngày
 
Tình xưa nào dễ phôi phai
 
Vẫn thương nhớ bóng hình ai đến giờ
*
(8) Bản dịch của Cổ Phong
Gửi bởi Cổ Phong ngày 25/04/2013 21:17
Cẩm sắt không dưng năm chục dây
 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ những ngày
 
Trang Sinh mộng đẹp mơ hồ điệp
 
Vọng Đế lòng xuân gửi đỗ quyên
 
Trăng soi thương hải châu đổ lệ
 
Nắng sưởi Lam Điền ngọc nhả mây
 
Tình này đành đợi thành ký ức
 
Chỉ tội ban xưa lỡ ngẩn ngơ
*
(9) Bản dịch của Trần Trọng San
Gửi bởi Vanachi ngày 03/01/2014 22:22
Cây đàn năm chục đường dây
 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ ngày còn xanh
 
Mơ màng giấc bướm Trang Sinh
 
Lòng xuân Vọng Đế đỗ quyên gửi vào
 
Biển xanh trăng chiếu lệ châu
 
Ngọc phơi nắng ấm khói cao Lam Điền
 
Tình này đợi nhớ nên niềm
 
Thế nhưng đã ngậm ngùi duyên bấy giờ
                                               Trần Trọng San dịch

         (10)

Nguyễn Du đã mượn ý tưởng các câu này để tả tiếng đàn của Thúy Kiều lúc gặp lại Kim Trọng thể hiện qua 4 câu Thực-luận trên: 

        Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
        Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục Đế hay hình đỗ quyên?
        Trong sao trăng rỏ duềnh quyên!
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông.
(ĐTTT Nguyễn Du câu 3199-3204)
*
(11) Bản dịch của Trần Trọng Kim
Gửi bởi Vanachi ngày 03/01/2014

        Đàn cẩm sắt, mấy chục dây, 
Một dây một trục nhớ ngày thanh niên.
 
        Trang Sinh hồ điệp mộng quên,
 
Lòng xuân Thục Đế đỗ quyên gửi mình
 .
        Trăng soi châu đỏ duềnh xanh,
 
Lam Điền trời ấm ngọc lành khói bay.
 
        Tình kia còn nhớ có ngày
,
Hiện nay chỉ thấy gắt gay nỗi lòng.

              Nguồn: Trần Trọng Kim, Đường thi, NXB. VHTT, 1995.
            *

(12) Bản dịch của Phạm Thanh Cải
Gửi bởi Phạm Thanh Cải ngày 26/05/2014

Cây đàn năm chục dây tơ, 
Mỗi dây một trụ hoa thưa phím đàn.
 
          Trang Sinh hồn bướm mơ tiên,
 
Nhớ về Thục Đế đỗ quyên gọi hè.
 
          Biển xanh trăng sáng bốn bề,
 
Lam Điền ngọc sáng vọng về ngọc trai.
 
          Tình nay còn nhớ dằng dai,
 
Nỗi lòng thoáng chốc nhạt phai hay là…

                                       *

(13) Bản dịch của Nguyễn Minh
Gửi bởi Lâm Xuân Hương ngày 07/06/2016 21:49

Đàn gấm vì sao năm chục dây? 
Mỗi dây mỗi trụ nhớ thơ ngây
 
Trang sinh mộng sớm mơ thành bướm
 
Vọng đế hồn xuân nhập cuốc đây
 
Trăng sáng biển xanh soi ngọc khóc
 
Lam Điền nắng ấm khói châu bay
 
Tình kia có thể thành nhung nhớ
 
Chỉ tiếc chán chường ngay lúc này.

 *

(14) Ngân Triều cảm đề (1):

Đàn gấm lạ lùng năm chục liên? 
Mỗi dây mỗi trụ tình hoa niên!
Như Trang Chu sáng mơ  thành bướm, 
Như Thục vương hồn nhớ nước quyên. 
Như biển sáng trăng, châu đọng lệ, 
Như hương nắng khói, ngọc Lam Điền.
Khối tình vương vấn ngàn năm nhớ, 
Hồn đến bây giờ vẫn vẹn nguyên.

*

                                                                       Khối tình vương vấn ngàn năm nhớ, 
                                                                       Hồn đến bây giờ vẫn vẹn nguyên, Ngân Triều.

(15) Ngân Triều cảm đề (2):

Cẩm sắt tâm dao động[4],
Mỗi trụ mỗi đường tơ,
Năm mươi dây ngẩn ngơ.
Chạnh lòng thời hoa mộng…
                 *
Tiếng đàn trong êm ả,
 
Giấc mơ sáng Trang sinh.
Hóa bướm bay xinh xinh,
 
Mộng tan, phân vân lạ?[5]
                  *
Tiếng đàn  đục đê mê,[6]
Lòng giăng sầu lê thê.
Bơ vơ hồn Thục Đế,
Mong nước cũ quay về.
                 *
Nào âm vang thánh thót,
 
Xôn xao tiếng thủy tinh.
Trăng sáng biển mông mênh,
 
Bồi hồi châu giọt ngọc.
                   *
Âm vực nào tha thiết,
 
Trời hửng nắng ấm đầy!
Ngọc Lam[7] đùn[8] khói biếc,
Tuyệt vời khắp trời mây!
                  *
Ơi! Nhớ thuở thương thầm!
Ngàn năm ươm ký ức.
Vẫn nghe lòng rạo rực,

Đôi mắt biếc, cài trâm.

*

 (16) Ngân Triều cảm đề (3):
Cẩm Sắt đa đoan[9], cảm xúc huyền[10],
 
Chạnh lòng tiếc nhớ tuổi hoa niên[11].
Trang sinh mơ sáng[12] tiêu dao bướm,
Thục đế hồn tan khắc khoải quyên.
 
Dâu bể, trăng thanh[13], châu nhỏ lệ,
Nắng vàng khói ngọc quyện Lam Điền.
Nỗi niềm vương vấn xa mờ tủi,
Sao lúc bấy giờ chẳng bén duyên?

*

Hoàn thành tác phẩm Nhớ Bóng Trăng Xưa, 644 trang, ngày 12 tháng 12 năm 2017, Tác giả Ngân Triều.

Vaøi neùt veà taùc giaû 

(Vài nét về tác giả)


(I) Bản thân:

Ngân Triều tên thật là Nguyễn Văn Triều, sinh ngày 18.08.1942.

Quê quán:Làng Tân Phú Thượng, Đức Hòa, Chợ Lớn, nay là Thị Trấn Hậu Nghĩa, Đức Hòa, Long An.

-Thuở nhỏ đến 1956: Học sinh trường Tiểu Học Bào Trai (Bào viết O).

-1956-1958: Học sinh Trường Trung Học Tư Thục Lê Văn Trung, Tây Ninh.

-1958-1960: Học sinh Trường Trung Học Công Lập Tây Ninh.

-1960-1961: Ở nhà điều trị bệnh vì TNGT.

-1961-1963: Học sinh lớp II B2 (61-62) và lớp IB (62-63).

-1963-1965: Lớp I8 (63-64) và Lớp II7 (64-65)
Vào ngành giáo dục ngày 09/09/1965.

-1965-2002; Dạy học tại Trường THCĐ Đức Lập, Trường THTH Đức Lập, Hậu Nghĩa; Trường THPT Hậu Nghĩa, Long An.

-2003-nay: Nghỉ hưu

Tham gia công tác Hội Cựu Giáo Chức, công tác từ thiện.

(II) Hoạt động văn nghệ:

- BBT Tập san lưu niệm tu nghiệp  năm 1967 của Trung Tâm Tu nghiệp giáo chức Tiểu Học với tùy bút Dọc đường.

-BBT Nội San, Ty Tiểu Học Hậu Nghĩa: số 1 (1969), số 2 (1970), số 3 (1971), số (4) 1972.

-BBT Giai phẩm Xuân Trường THPH Hậu Nghĩa: số 1 (1994), số 2 (1995), số 3 (1996), số 4 (1997).

-BBT Giai Phẩm Xuân, , CHS Bào Trai (Bào viết o):
Số 1: (2009), Số 2 (2010).

(III) Những tác phẩm đã phát hành:

(1) Giai điệu Hồ Xuân Hương, Bà Chúa thơ Nôm (2012), Chú giải thơ Hồ Xuân Hương; CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

Khổ giấy A5, 102 trang

*
(2) Còn Vương Tơ Lòng,
(2013), Bình thơ CGC, CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

 Khổ giấy A5, 122 trang.

*
(3) Hồn Quê,
(2014)Tuyển tập Thơ &Bình thơ Hán-Nôm, CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

Khổ giấy A5, 214 trang.

*
(4) Bông Cỏ may
, (2015) Tập truyện vừa, CLB Sinh Hoạt Hội CGC Huyện Đức Hòa.

Khổ giấy A5, 163 trang

*
(5) Nhớ Bóng Trăng Xưa, biên khảo về toàn bộ thơ Hồ Xuân Hương, có chèn chữ Hán-Nôm.và những tư liệu mới về nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Khổ giấy A4, 666 trang



[1] thời vận:nó chung về vận mệnh may rủi,tốt xấu, may mắn hay không may…của đời người.

[2] Khảng khái: , thái độ cứng cỏi, không chịu khuất phục của người có khí tiêt

tận nhân lực, tri thiên mệnh, , : Nỗ lưc hết sức người. mới biết mệnh trời. Khuyên con người nên sống chủ động dấn thân tích cực, đừng thấy thất bại mà ngả lòng, đầu hàng số mệnh,

[3] Lá lay: cắc cớ, trớ trêu, không như mong muốn.

[4] tâm dao động: , lay động trái tim, tâm hồn người nghe.

[5] phân vân , 紛紜hoài nghi, bối rối không biết sự việc ra sao.  Ngã - phi ngã, , có phải chính là ta hay không phải ta vậy nhỉ?

[6] đê mê 低迷;  đê là thấp, mê là không tỉnh;đê mê  低迷là mê mẫn, đắm đuối, chìm ngập trong nỗi thích thú, say mê.

[7] Ngọc Lam  , tức thứ ngọc ở Lam Điền, 籃田.

[8] đùn  xô đẩy khắp mọi hướng, mọi chiều, ở đây là bay nhẹ nhàng , lan tỏa khắp nơi.

                Đây rừng xanh, rừng xanh,

Bụi đùn quanh ngõ vắng,

Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,

Và…lửa loạn xây thành.

Tha La Xóm Đạo, Vũ Anh Khanh.

[9] đa đoan 多端 , nhiêu mối, nhiều dây, còn có ý rắc rối.

[10] cảm xúc huyền 絃,tiếng đàn khi nghe, khơi gợi những nỗi niềm bồi hồi thương nhớ chạnh lòng.

[11] Hoa niên: , tuổi trẻ, tuổi thanh xuân, tươi đẹp nhất đời người.

[12] mơ sáng = hiểu mộng: giấc ngủ buổi sáng, nằm mơ.

[13] trăng thanh = nguyệt quang: , ánh trăng tỏa sáng khắp trời.