Caûnh thu
Hồ Xuân Hương
Tranh minh họa, có hỗ trợ của AI
Thánh thót tàu tiêu mấy giọt mưa,
Bút trần khôn vẽ cảnh tiêu sơ,
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ
Văn
bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
景 秋
聖淬蓸蕉氽湥𩄎
筆塵空捤景蕭疎
𩇛萻古樹𧷺吹散
𤽸舍長江𢆕洛祠
裒 捔江山醝執酒
繓𠦻風月𥘀 爲詩
朱 咍景共唹𠊚洏
𧡊景唉 麻 拯𢥢𢠐
*
Cấu trúc một số từ Hán-Nôm & chú giải:
Cảnh Thu景 秋, từ HV.
Thánh聖 từ HV; thót淬 từ HV = thốt; tàu tiêu蓸 蕉, từ HV; mấy氽 viết đặc biệt; giọt湥 HT thủy + đột; mưa 𩄎 HT, vũ + mi.
Bút trần筆 塵 từ HV; khôn 空 từ HV = không=khôn; vẽ 捤 HT thủ + vĩ ; cảnh tiêu sơ 景 蕭 疎 , từ HV.
Xanh 𩇛 HT, thanh + sanh; om 萻 HT thảo + âm; cổ thụ 古 樹 từ HV; tròn
𧷺 HT viên + lôn; xoe 吹GT từ HV = xuy; tán 散 từ HV = tán.
Trắng 𤽸 HY, bạch + tráng; xóa 舍 từ HV = xá; tràng
giang 長 江 từ HV; phẳng 𢆕 HT bình + phản; lặng 洛 HT thủy + lận; tờ
祠 từ HV = từ.
Bầu裒 từ HV; dốc 捔 HT thủ + giác; giang sơn 江 山 từ HV; say 醝 HT dậu + sai; chấp 執 từ HV; rượu 酒 từ HV = tửu là rượu.
Túi 繓 HT mịch + tối ; lưng
𠦻 HT bán+lăng; phong nguyệt 風月 từ HV; nặng 𥘀 HT thạch + năng; vì
爲 từ HV = vi; thơ 詩 từ HV = thi.
Cho朱 từ HV = chu; hay 咍 HT khẩu + thai; cảnh 景 từ HV; cũng 共 GT từ HV cộng = cũng; ưa 唹 HT khẩu + ư; người 𠊚 HT nhân + ½ chữ ngại; nhỉ 洏 HT thủy + nhi.
Thấy𧡊 HT thể + kiến; cảnh 景 từ HV; ai 唉 khẩu + ½ chữ ai
; mà 麻 từ HV ma; chẳng 拯 từ HV chửng; ngẩn
𢥢 HT tâm + cẩn; ngơ 𢠐 HT tâm + ngư.
*
Bài nầy, có sách cho
là của Bà huyện Thanh Quan.
Ở văn bản Landes 1893, bài thơ này không
có đầu đề. Câu thứ hai là 'Đố ai vẽ được cảnh tiêu sơ' và có lời dẫn:
"Ngày xưa Xuân Hương đi chơi gặp mưa, vào chơi thăm làng Văn Giáp, thấy
có một chùa xưa, Xuân Hương vào chùa lạy Phật, rồi đi xem ngoài chùa. Thấy bên
chùa có cây đa. Ngửng lên xem thì cao ngút không biết tới đâu, cho nên làm bài
thơ này (cây đa này đến nay vẫn còn).
Ở bản Đông Châu 1917, có lời dẫn:
"Một ngày kia đang mùa quý Thu, giời lún phún dăm ba hạt mưa, hơi ngăm
ngăm rét, quan phủ nhân vô sự, mới sai bày cuộc rượu, cho gọi cô hai ra cùng ngồi
uống rượu để vịnh thơ. Xuân
Hương vâng lời ra ngồi hầu rượu để vịnh thơ. Đương khi chén quỳnh hầu vơi, chiều
Thu hiu hắt, quan phủ liền bảo Xuân Hương vịnh bài tức cảnh. Thơ rằng..."*
Thánh thót: 聖 淬: Âm thanh vui tai của tiếng nước nhỏ từng giọt, từng giọt của giọt nước mưa
nhịp trên tàu chuối.
Tàu tiêu: 蓸蕉: tàu chuối
cảnh tiêu sơ: 景蕭 疎: cảnh vắng vẻ. đơn sơ,thưa thớt người.
Bầu dốc: 裒 捔:
trút cạn bầu rượu hay rót vét hết rượu trong bầu.
Say chấp rượu: 醝執酒: say túy lúy, say không giữ kẽ, không ngại ngùng.
Chấp, 執, giữ kẽ, câu nệ, ngại
ngùng.
Ngẩn ngơ: 𢥢𢠐: Ở trạng thái như
không còn chú ý gì đến xung quanh vì tâm trí đang để ở đâu đâu.
*
(1-2):
Cảnh Thu tiêu sơ, ngoạn mục, tuyệt vời:
Vui tai, tiếng giọt mưa rơi trên tàu chuối như
đếm điệu mưa Thu,
Trên đời nầy, đố ai vẽ được cái phong cảnh vắng vẻ,
phơn phớt, nỗi buồn như thế.
(3-4):
Màu sắc và đường nét bức tranh thiên nhiên:
Một màu xanh tươi tốt,
đầy sức sống: cây cổ thụ với tán lá xanh sậm, xanh om; cái tán ngộ
nghĩnh thật tròn, tròn xoe.
Xa xa, bóng con sông
dài, tràng giang, 長 江lặng lẽ; dòng sông
lồng bóng nền trời, mặt sông trắng xóa,
𤽸舍,không gợn sóng, phẳng lặng, 坂 洛.
(5-6): Lòng rộn ràng, say đắm, ngất ngây trước cảnh Thu quê:
Câu (5), Cho dẫu người đã chếnh choáng hơi men, đã cạn hết một bầu rượu, bầu dốc, 裦 捔, nhưng trước cảnh đẹp
hữu tình, cũng muốn uống cùng với núi, với sông, giang sơn, 江 山,trước mắt; càng muốn
uống thêm cho say túy lúy, chẳng câu nệ, ngại ngùng chi cả; say chấp rượu, 醝 執 酒. Cái say ở đây là
không chỉ chếnh choáng qua men rượu mà còn say mê cái đẹp độc đáo, ngất ngây, hữu
tình của cảnh T
Thu quê, (không những say men rượu la đà, mà còn say mê cả cảnh sắc thiên
nhiên)…
Câu 6: Túi lưng phong nguyệt: 繓𠦻風月: Túi đựng chưa đầy, lưng; phong nguyệt gió
trăng, là cái túi đựng thơ hoặc ý thơ mới ghi chép được chưa đầy túi. Như vậy,
đứng trước phong cảnh hữu tình nầy, cho dẫu không say, cũng phải say. Lòng ta dậy
lên biết bao niềm cảm hứng. Cái túi thơ của ta, giờ như đã nặng thêm những ý
thơ hay, nặng vì thơ 𨤼 爲 詩. Cho dẫu thi phẩm
chưa đầy túi, lòng cũng tràn đầy cảm xúc, chan chứa, bát ngát hồn thơ.
(7-8) Tự
vấn lòng, cảnh ưa người hay người ưa cảnh?
Câu hỏi tu từ, cảnh và người quyến rủ, đắm say. Đó là một cách nói
bóng bẩy, trữ tình, lấp lửng, nửa vời của lòng thú vị mê say.
Đứng trước cảnh Thu
này, tâm hồn của du khách nào mà không cảm thấy đắm say, xao xuyến , ngẩn ngơ!
*
Ngân Triều cảm đề, bài Cảnh Thu:
Tàu chuối rũ buồn mưa
Thu[1] lấp loáng
Điệu thu sầu ai vẽ khoảng
buồn tênh!
Rặng cổ thụ tán tròn xoe
thấp thoáng,[2]
Lồng bóng trời sông trắng
lặng lênh đênh.[3]
*
Say đắm cảnh, dốc cạn
bầu, chếnh choáng,[4]
Túi gió trăng nghe trĩu
nặng hồn thơ.[5]
Hơi Thu quạnh, lòng
thẫn thờ, chẳng chán…[6]
Bến trăm năm, sao im
vắng thuyền mơ?[7]
***
Phụ lục:
Đông-Tây, đồng
thanh, đồng điệu:
Chanson d'Automne
Paul Verlaine
(1844-1896)
Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur
Monotone.
*
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heure,
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
*
Et je m'en vais
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Deçà, delà,
Pareil à la
Feuille morte.
*
Tạm
dịch:
Lênh đênh cô lữ, Lá chết bay vèo! Google
*
Thu ca
Thổn thức, không thôi,
Vĩ cầm , réo rắt.
Cứa mãi lòng tôi,[8]
Điệu buồn chán ngắt.
*
Lòng nghẹn, lạnh lùng,[9]
Nghe điểm tiếng chuông.
Lòng vương chạnh tưởng
Nước mắt rơi tuôn.
*
Rồi thân lãng tử,
Gió lốc, cuốn theo.
Lênh đênh cô lữ,
Lá chết bay vèo![10]
Ngân
Triều dịch
Xin mời tham khảo một bài thơ tiền chiến
nổi tiếng về mùa Thu:
*
Lưu Trọng Lư
Em
không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
*
Em không nghe rừng Thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
Con nai vàng ngơ ngác, Đạp trên lá vàng khô…Google
Nguồn:
1. Lưu Trọng Lư, Tiếng thu,
1939, Librairie Centrale ấn hành, 1939
2. Tuyển tập Lưu Trọng Lư,
NXB Văn học, 1987
3. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi
nhân Việt Nam (1932-1941), NXB Văn học, 2007
***
Phụ lục:
Lời bình bài
thơ Tiếng Thu, Lưu Trọng Lư
(Theo Trần Đăng Khoa, Nhà thơ, nhà phê bình văn học, 1997)
Lưu Trọng Lư là
nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà
phê bình thiên tài Hoài Thanh đã có những nhận xét thật chuẩn xác: "Tôi biết
có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt rũa
câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy".
Nhận định này dường như đã thành nỗi ám ảnh. Và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ
loạng choạng, cứ bập bõm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán
và vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn. Còn về con người Lưu Trọng
Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: "Cả đời Lư cũng
là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác
ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết".
Quả
đúng vậy. Và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của Việt Nam, nghĩa là ngoài thơ ra,
nó không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng
Thu. Đây là bài hay nhất
trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài
thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại:
Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
*
Em không nghe rừng Thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...
Lưu Trọng Lư
Giai thoại kể rằng, Lưu Trọng Lư ngẫu
thành bài thơ này, là lúc đến thăm nhà một người bạn. Nhân thấy cái bình gốm cổ
có hình con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư vịnh ngay bài thơ Tiếng Thu. Thực
chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ,
là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong hồn thơ Lưu
Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác, ngỡ
như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca
phàm tục của người đời...
Trong cuốn Chân dung và Đối thoại (Bình luận văn chương).NXB Thanh Niên.1999(tái bản lần thứ
tư).Trang 55
(Nguồn
bài đăng: Thi Viện,
http://www.thivien.net;
tác giả Đồ Nghệ đăng lại ngày 16/04/2009).
[1] Lấp loáng: Như lấp
lánh=sáng lóng lánh.
[2] Thấp thoáng: ẩn
hiện xa xa trong mản mưa.
[3] lênh
đênh: trôi
nổi bấp bênh.
[4] chếnh choáng:
thấm rượu, nghe bắt đầu say rượu, nghe ngà ngà say.
[5] nguồn thơ:
nguồn thi hứng, mạch thi hứng.
[6] Thẫn thờ:bâng khuâng= ngơ ngẩn, trong long đờ đẫn vì có nhiêu62
mối lo chứ giải quyết;chẳng chán: tức là ưa thích nhau rất mặn mà.
[7] Thuyền mơ:thuyền-bến,
ẩn dụ đôi lứa yêu nhau. Ở đây là tâm trạng mòn mỏi chờ mong đối tượng trở về
bến xưa.
[8] blessent mon
coeur, Thương tổn tim
tôi, dịch thoát “cứa”.
[9] suffocant; nghẹn thở; blême:
xanh xao; dịch thoát: lạnh lùng.
[10] Pareil à la
feuille morte: Tựa như chiếc lá
úa, lá chết.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét