Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Bài 13, chương 5, Thơ Văn Phạm Thái; Đề núi Dục Thúy, Trương Quỳnh Như; Ngân Triều chú giải.

 

Bài 13

Đề núi Dục Thúy[1]

Trương Quỳnh Như

Trơ trơ bích thạch[2] bóng vân san,[3]

Hỏi núi chờ ai đã mấy sương?

Uốn éo bên sườn dòng nước biếc,

Phát tuôn cửa động ngọn chùa hoang.

Mây trôi phảng phất hồn Lê Trịnh,

Đá khắc lờ mờ dấu Phạm Trương.[4]

Cũng muốn bể dâu bàn chuyện cũ,

Nào ai xứng với khách đài trang.[5]

Nguồn: Phạm Thái và Sơ Kính Tân Trang, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng,1973, trang 177.

                        Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

   𡶀浴翠

豬豬壁石𣈖雲山,

𠳨𡶀䟻埃㐌某霜?

捥嘹边傖𣳔渃碧,

𣻆𨷶𦰟㕑塃.

𩅹㵢彷怫魂黎鄭,

𥒥𩆴𢠩𨁪范張.

共㦖波柚𡂑𡀯𦼨,

芾埃稱某客臺妝.

             張瓊茹

Ảnh có chứa ngoài trời, con chim, cú, cây

Mô tả được tạo tự động
Ảnh các bài thơ được khắc trên núi Dục Thúy ở Ninh Bình.

                                                           nguồn timeoutvietnam.com

Diễn ý bài thơ:

Đề núi Dục Thúy

Tầng đá thẳng đứng, núi lẩn vào mây,

Hỏi núi đứng chờ ai, ở mãi nơi này.

Bên sườn núi có dòng suối biếc nước chảy uốn éo,

Phát sinh trước cửa động, nóc chùa hoang.

Mây trôi trên trời kia như còn in đậm nhạt hồn nước thời Lê - Trịnh,

Bia đá ở đây còn khắc lờ mờ chữ viết của hai ông Phạm Trương.

Trong cuộc bể dâu, cũng muốn bàn bạc chuyện xưa cũ,

Biết có ai tâm đầu ý hợp với ta chăng?

       Ngân Triều cảm đề

Cheo leo tường đá mây ôm núi,

Núi hỡi chờ ai vạn vạn năm?

Uốn éo sườn non dòng suối biếc,

Leo teo cửa động nóc chùa hoang.

Mây trôi vương vấn hồn Lê Trịnh,

Rêu phủ lờ mờ đá Phạm Trương.

Dâu bể bồi hồi ôn chuyện cũ,

Biết ai hợp ý khách đài trang.



[1] Dục Thúy tức núi Non Nước, gần thị xã Ninh Bình

[2] Bích thạch: Đá dựng thẳng đứng, thẳng như bức vách.

[3] Vân san: núi cao lẩn trong mây.

[4] Phạm Trương: Phạm Tử Hư, một đạo sĩ đắc đạo đời Trần, thường ngao du trên núi Dục Thúy. (Xem Truyền kỳ mạn lục Sách gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán, theo thể loại tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình của tác giả hoặc của một người có cùng quan điểm của tác giả. Tác phẩm được Hà Thiện Hán, người cùng thời, viết lời Tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính, Nguyễn Thế Nghi, dịch ra chữ Nôm; và đã được Tiến sĩ Vũ Khâm Lân (1702-?), đánh giá là một "thiên cổ kỳ bút").

 Trương Hán Siêu (?-1354), 張漢超, tương truyền thọ hơn 80 tuổi, có ít nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai và thứ ba”. Về cuối đời, ông lại là người sùng đạo Phật và những sáng tác của ông cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng này. Bạch Đằng giang phú (hay Phú sông Bạch Đằng) là tác phẩm xuất sắc, được xem là một áng thiên cổ hùng văn. Ông cũng soạn Linh tế tháp ký (bài ký tháp Linh Tế) ở núi Dục Thúy, đến nay vẫn còn. Ngoài ra ông cũng soạn Quang nghiêm tự bi văn (bài văn bia chùa Quang Nghiêm). Hai bài đó có tư tưởng đề cao Nho học và phê phán Phật giáo.

[5] Đài trang: hay đài gương do chữ kính đài 鏡臺 hay trang đài, chỗ người phụ nữ soi gương, trang điểm, cách gọi tôn quý nữ giới. Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng? Kiều, Nguyễn Du: 1766-1820.

bài 17&18, chương 2, Mừng sinh hật Thanh Xuyên Hầu và Vô đề, Thơ Phạm Thái; chú giải Ngân Triều.

                                            

                                                                         Nam đài, vâng nghĩa dâng thơ thọ,

       Phận mọn, ơn sâu, nghĩ vốn dài.

                        Tranh minh họa có hỗ trợ của AI.

[17] Mừng sinh nhật Thanh Xuyên hầu[1]

Bẩm tính thông minh, sẵn tính trời,

Bể lân cấu khí[2], ấy là hai.

Hiếu trung một tiết đều ra sức,

Triều quận[3] đôi phen đã thấy tài.

Thái ất[4] vầng hồng thêm rạng bóng,

Trường canh[5] vẻ thắm lại cao vời.

Nam đài[6], vâng nghĩa dâng thơ thọ,

Phận mọn, ơn sâu, nghĩ vốn dài.

                                                   Phạm Thái

     Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn:

   𢜠生日清川侯

稟性聪明, 産性𡗶.

波憐搆氣, 意羅𠄩.

孝忠沒節調𦋦,

朝郡對蕃𧡊.

太乙暈紅添𠓁,

長更𡲈嘇吏高潙.

南臺𢀥𤼸詩壽,

, 恩漊, 𢣂𨱾.

Diễn ý bài thơ

          Trời cho ông trí thông minh như bản năng từ thuở nhỏ,
          Hai nữa là khí thiêng do địa linh nhân kiệt tạo thành.

Cái khí tiết hiếu trung là chính là phẩm chất mà ông đã thể hiện công sức,

Đồng liêu trong triều ngoài quận mấy lần đã thấy được tài năng của ông.

Ông là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, với vua, mặt trời, sáng lên hẳn hoi,

Ông cũng là hậu thân của sao Thái Bạch hay Trường canh, nên phong cách và tài năng văn chương toàn bích, tuyệt vời.

Ở Nam đài, theo việc nghĩa, dâng thơ mừng thọ,

Phận hèn mọn nầy, cảm nghĩ ân sâu của ông vô cùng.

Ngân Triều họa thơ bài 17:

Bản chất thông minh, sẵn tính trời,

Địa linh nhân kiệt đó là hai.

Hiếu trung một mực lòng chân chính,

Ứng xử bao phen nức tiếng tài.[7]

Tôn quý Ngọc Hoàng luôn tỏa sáng,

Trường canh phóng bút vẫn cao vời,

Đài Nam mừng thọ, lòng nhân hậu,

Hèn mọn ghi ân, nghĩa trọng dài.

22.09.2019

                        *****
[18] Vô đề

(Thuận nghịch độc)

Đan thanh kẻ ấy độc lòng không!

Lứa bạn ai so sánh với cùng?

Hương nhạt, nhị hồng, cành nhạt biếc,

Án in thơ mực, dấu in phong.

Trang khinh tiếc nhẽ, hư chi phấn,

Phận bạc ghê thay, luống thúy hồng.

Thương nặng bởi tình không ghét bỏ,

Quang phong ấy nhẽ mấy Xuân Đông.

                                   Phạm Thái

*

Phiên âm Hán Nôm

Ngân Triều soạn:

         無題

丹清仉意毒𢙱,

侶伴埃搊逞貝共?

香溂 蘂紅 梗溂碧,

案印詩墨 𧿫印封.

奘輕惜𨤧 虚之

分泊稽咍 𨻫翠紅.

𥘀𤳄情空恄悑,

光風意𨤧貝春東.

                         ***

Diễn ý bài thơ Vô đề đọc xuôi:
. Phong cách, dáng vẻ (Đan thanh là màu đỏ và xanh, chỉ nghề vẽ hay hình ảnh) của nàng rất phúc hậu! (độc lòng là tánh hung dữ, đây là câu cảm thán, ko hung dữ tức là dễ thương, phúc hậu).

. Cùng trang lứa bạn bè, nàng là người vượt trội.

. (Cũng như) một cành cây xanh biếc, với những hoa nhị hồng, tỏa hương thoang thoảng.

. (Nhìn thấy) bàn viết với giấy viết thơ, với nghiên mực, với con dấu là biết phong cách tài năng.

. (Ngoại hình đẹp như vậy) sao cứ trang điểm phơn phớt, tiếc cho son phấn lâu quá sẽ hư.

. Số phận nàng (chắc là) không được tươi sáng, tiếc cho (luống) số phận mỏng manh, không ra gì cho một mỹ nhân ngoại hình như sắc biếc (thúy) kết hợp sắc hồng.

. Thương nàng sâu nặng bởi vì nàng cũng đã đáp lại mối tình si của ta.

. Cái vẻ xinh đẹp đáng yêu ấy của nàng (ngự trị trong tim ta) đã mấy năm rồi. (Xuân Đông là từ mùa Xuân đến Đông, tức là một năm; mấy Xuân Đông là mấy năm).

- Qua nội dung bài thơ, chúng ta thấy tác giả chạnh tưởng về mối tình của mình với Trương Quỳnh Như có lẽ là những giây phút sau khi Trương Quỳnh Như từ trần vì có từ "phận bạc", và lịch sử cuộc tình đã kéo dài mấy năm rổi, "mấy Xuân Đông".

*

                           
                                                                       Tranh minh họa có hỗ trợ của AI
                                      Ngân Triều cảm đề bài Vô đề đọc xuôi:

Ngoại hình duyên dáng thật trâm anh!

Đố ai sánh được nét thanh thanh.

Cành biếc nhị hồng, thơm thoảng thoảng,

Án dấu  mực thơ tỏ mỹ danh.

*
Điểm 
trang phơn phớt mờ son phấn,

Tiếc thương phận bạc lỡ duyên lành.

Mới biết cuộc tình bi thiết lắm,

Lệ khô lá máu  bặt ly cành?

                                                              Ngân Triều

***

Đọc ngược

Đông Xuân mấy nhẽ ấy phong quang,

Bỏ ghét không tình bởi nặng thương.

Hồng thúy luống thay ghê bạc phận,

Phấn chi hư nhẽ tiếc khinh trang[8].

Phong in dấu mực thơ in án,

Biếc nhạt cành hồng, nhị nhạt hương.

Cùng với sánh so ai bạn lứa?

Không lòng độc ấy kẻ thanh đan!

*
Phiên âm Hán Nôm,

Ngân Triều soạn:

東春貝𨤧意風光,

空情𤳄𥘀.

紅翠𨻫咍稽泊分,

之虚𨤧惜輕奘.

封印𧿫墨詩印案,

碧溂梗紅蘂溂香.

共貝逞搊埃伴侶?

𢙱毒意清丹!

           ***

Chú thích:
[1] Thanh Xuyên Hầu Trương Đăng Thụ, trấn thủ Lạng Sơn thời Tây Sơn, bạn cùng chí hướng phục Lê với tác giả.

[2] Cấu khí: khí thiêng hun đúc nên nhân tài.

[3] Triều quận: Trong triều, ngoài quận.

[4] Thái Ất thần kinh hay Thái Ất là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn). Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực. Trong tam thức, Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người.

Theo một số sách bói kinh điển, Thái Ất là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh đói rét bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn

[5] Trường canh: sao Thái Bạch. Tương truyền mẹ Lý Bạch mơ thấy sao Trường Canh rơi vòa bụng, có thai Lý Bạch. Ý nói có năng khiếu văn chương.

[6] Nam đài: chỉ nơi Thanh Xuyên hầu đang ở, Nam Định.

[7] Tiếng tài: Tài năng và thao lược

[8] Khinh trang: Trang điểm đơn sơ, tự nhiên.