Đăng sơn Dục Thúy thăm chùa cổ, Nước biếc non xanh, như cảnh tiên. Mây trắng một làn trông diễm ảo, Màn sa trang điểm cõi Nam thiên. Ngân Triều; tranh có hỗ trợ của AI.
*
Bài 14
Thăm Chùa Non Nước
Trương Quỳnh Như
Non xanh nước biếc, cảnh
tiên dưới trần.
Thướt tha mây trắng một làn,
Như buông bốn phía cánh màn
bạch sa.[1]
*
Chim hót véo von chào khách,
Cỏ thơm hớn hở mừng ai.
Gió Thu rung động mấy cành mai,
Khêu gợi hồn thơ lai láng.
Cầm bút lạm đề[2] trên thạch tảng,[3]
Một bài cổ tích cảm hoài.[4]
Nào người tráng sĩ, kẻ văn tài,
Khôn hỏi nước non đâu tá?
Nguồn: Trích trong Phạm Thái và Sơ Kính Tân
Trang, Nguyễn
Văn Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon
1973, trang 178.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
𠶀厨𡽫渃
蹽𨑗浴翠𠶀廛,
𡽫𩇛渃碧, 景仙𨑜塵.
切𢫌𩅹𤽸沒灡,
如捹𦊚𠌨𦑃幔白紗.
*
𫚳唿𠶓𠹚嘲客,
苦𩡋𢠦𢠇𢜠埃.
𩙍秋搈動某梗梅,
挑㨳魂詩來𣼽.
扲筆濫題𨑗石磉,
芾𠊚 壯士仉文才,
坤𠳨渃𡽫兜些.
張瓊茹
*
Ngân Triều cảm đề
Đăng sơn Dục Thúy thăm chùa cổ,
Nước biếc non xanh, như cảnh tiên.
Mây trắng một làn trông diễm ảo,
Màn sa trang điểm cõi Nam thiên.
*
Véo von chim hót chào tao khách,[5]
Hương cỏ lừng thơm ngát đón ai?
Gió Thu lay động mấy cành mai,
Đa đoan[6]
đắm hồn thơ lai láng.
*
Phơi phới[7]
mạn đề trên thạch tảng,
Cổ tích, thơ chở nỗi cảm hoài.
Nào ai tráng sĩ, kẻ văn tài:
- Đây Dục Thúy,[8]
mà Nước Non đâu nhỉ?[9]
Ngân Triều
***
Chú thích:
[1] Bạch sa: lụa trắng rất đẹp.
[2] Lạm đề: 濫題, đề không
đáng. (nói khiêm tốn).
[3] Thạch tảng: tảng đá.
[4] Cổ tích cảm hoài: Những cảm xúc trữ tình trước nơi cổ
tích.
[5] Tao khách: cùng nghĩa như tao nhân. Tao nhân là người hay
thơ.
[6] Đa đoan: nhiều mối, nhiều nỗi.
[7] Phơi phới: hứng khởi nổi lên cách thanh thản
nhẹ nhàng.
[8] Dục Thúy: 浴翠, Dục: toàn bộ, đẫm; thúy:
màu xanh biếc. Dục Thúy là toàn màu xanh biếc.
[9] Cả câu là lời đưa duyên để kết
thúc bài thơ tự do.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét