Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Bài 7: Ngư Ông Khúc Hành, thơ chữ Hán, HXH, trích trong Lưu Hương Ký; Ngân Triều chú giải

 Bài số 7:

Ngö oâng khuùc haønh

Hồ Xuân Hương

      

Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô! Ngân Triều

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

漁翁曲行 
野翁淡泊亦繁花 
錯認桃是薜蘿 

寄語挳舟從釣子 
過江應不聽琵琶 
*

過江莫聽琵琶 
高聲不似胡笳悽涼 
桃源水闊山長 
漁翁一棹仙堂半開 
萬重春鎖天台 
琴聲樂角聲哀不同 
寒山草色蔥蔥
蘇溪幾到清風自閑

*

Ngư ông khúc hành 

Dã ông đạm bạc diệc phồn hoa, 
Thác nhận Đào Nguyên thị bệ la.[1]
Ký ngữ khinh chu tòng điếu tử, 
Quá giang ưng bất thính tỳ bà. 
                 *
Quá giang mạc thính tỳ bà, 
Cao thanh bất tự hồ già thê lương. 
Đào nguyên thuỷ khoát sơn trường, 
Ngư ông nhất trạo tiên đường bán khai. 
Vạn trùng xuân toả thiên thai, 
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng. 
Hàn sơn thảo sắc thông thông, 
Tô khê kỷ đáo thanh phong tự nhàn.
                    *

Nguồn: 
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp

Chú giải:
dã ông
野翁, ông già ở chốn quê.
đạm bạc  
淡泊, nhạt nhẽo, vô vị.
diệc  
 cũng, cũng thế.
Phồn hoa  
繁花, náo nhiệt, xinh đẹp.
Thác nhận  
錯認, tự nhận, đành lòng.
Đào Nguyên 
桃源, nguồn đào,chỗ tiên ở.
Trong bài Đào Hoa nguyên ký, Đào Tiềm nói có người đánh cá chèo thuyền lạc lối đến Đào Nguyên là chỗ động tiên. Do đó, đào nguyên thường dùng để chỉ động tiên:

        Rước mừng đón hỏi dò la,

Đào nguyên lạc lối đâu mà tới đây?

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 191-192, bản Bùi Kỹ và Trần Trọng Kim

Ký ngữ  寄語, gởi lời.

khinh chu 挳舟, chiếc thuyền nhẹ.

tòng điếu tử 從釣子, theo người đi câu.

Quá giang  過江, qua sông.

Ưng  應, nên, bằng lòng.

bất thính tỳ bà不聽琵琶, Không nghe tiếng đàn tỳ bà.

Mạc 莫, tuyệt nhiên, chẳng ai không

Quá giang ưng bất thính tỳ bà và Quá giang mạc thính tỳ bà: bất thính = mạc thính, ( không nghe= chẳng nghe), hai câu nầy sử dụng từ khác nhau nhưng cùng một nghĩa: Qua sông chớ đam mê, lụy, tiếng tỳ bà.

Cao thanh 高聲, Tiếng ngân cao.

bất tự 不似, không giống giống như thế. (à peu près semblable) 

hồ già thê lương  胡笳悽涼, cái kèn lá lạnh lẽo bi ai.

Thủy khoát: sơn trường  水闊山長, biển rộng núi, 

toả Thiên Thai  鎖天台,Thiên Thai đã khóa.

Thiên Thai 天台,Một hòn núi ở tỉnh Chiết Giang bên Tàu. Đời nhà Hán, có Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai hái thuốc và gặp tiên. Do đó, Thiên Thai dùng để chỉ cảnh tiên,

         Xắn tay mở khóa động đào,

Rẽ mây trong tỏ lối vào Thiên Thai.

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 391-392, bản Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

giốc thanh ai 角聲哀, tiếng thổi sừng trâu nghe bi ai.

Bất đồng  不同, không hòa quyện thuận thanh cùng nhau, chói tai. 

thảo sắc thông thông  草色蔥蔥, sắc cỏ xanh ngắt.

Tô khê 蘇溪 khe suối chảy về sông Tô Châu bên Tàu.

kỷ đáo 幾到 mỗi lần đến.

*

Ngân Triều dịch nghĩa:


Ông già ở quê nhạt nhẽo, cũng cảm thấy như ở nơi thành thị,

Cứ ngỡ chốn thần tiên, Đào Nguyên, là những bệ rêu xanh.


Nhắn gởi người đi câu trên chiếc thuyền nhẹ,


Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông.

     *

     Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông. 

      Tiếng ngân cao của đàn không giống tiếng kèn lá bi ai của người Mán. 

      Động tiên trên  biển rộng, núi dài mênh mang.

      Ngư ông chèo một mình tìm cửa tiên hé mở.

      Vạn vạn năm, đường  vào Thiên Thai đã khóa chặt,

      Tiếng đàn rụng, tiếng tù và bi thảm, không hòa tấu cùng nhau.

      Kìa trên núi lạnh, sắc cỏ xanh ngắt,

      Mỗi lần đến sông Tô, hóng gió mát, tức là đã nhàn hạ rồi.

*

(1) Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Gửi bởi Vanachi ngày 23/08/2008

Già quê đạm bạc cũng phồn hoa 
Lầm tưởng đào non là dây hờ
 
Nhắn nhủ người câu đò nhẹ lướt
 
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà
 

*

Qua sông đừng lắng tỳ bà 
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương
 
Nguồn đào trời nước mênh mang
 
Nhà tiên hé mở, chèo buông đò chài
 
Muôn trùng xuân khoá Thiên Thai
 
Tiếng ốc buồn, tiếng đàn vui chả cùng
 
Cỏ bời lợp, núi lạnh lùng
 
Sông Tô hầu tới thung dung gió nhàn

*

(2) Ngân Triều dịch thơ:

Khúc hát Ngư ông

Già quê cảnh nhạt, vẫn nguy nga,

Ngỡ chốn thần tiên rêu bệ hoa.

Nhắn gởi  ông câu, thuyền nhẹ lướt,
Sang sông, chớ  lụy tiếng tỳ bà.
 

*

Sang sông, chớ lụy tiếng tỳ bà , 
Cung bổng lạc âm kèn xứ Hồ!
 
Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô!
Thiên Thai ngàn thuở then cài mãi,
Còi rúc, đàn kêu, trắc tiếng tơ.
Chỉ  thấy cỏ xanh, ôm núi lạnh,
Sông Tô, gió mát, thú yên hà.[2]



[1] Đào yên thị hệ la: 桃嫣 , họ với người chài lưới.[Theo bản của TS Phạm Trọng Chánh nhưng tôi dùng bản của Thi viện như trên: Đào Nguyên thị bệ la: 薜蘿, chốn Đào Nguyên là những bệ rêu xanh.]

[2] yên hà: 煙 霞 . khói và ráng (mây). Thú vui tự do, thanh thản, không bị ràng buộc như mây và khói, thú vui của người ẩn sĩ.

       Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen

                   Ca dao

           Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,
      Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn?
          Nước trong rửa ruột sạch trơn,
     Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.

          Sớm doi tối vịnh vui vầy,
     Ngày dài hứng gió đêm chầy chơi trăng.
          Tháng ngày thong thả làm ăn,
     Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm.
          Nghêu ngao nay chích mai đầm,

    Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
                           Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu


                            ***



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét