Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026

Quý bạn thân mến, Việc đăng bài rời rạc trước đây để quý bạn đọc tham khảo cũng hơi bất tiện. Kể từ hôm nay tôi xin trích đăng lại lần lượt các bài chọn lọc trong quyển sách của tôi với tiêu đề là THƠ VĂN PHẠM THÁI. Tác giả nầy là một ngôi sao sáng trong nền Văn học thời Tây Sơn. Trước đây truyện thơ SƠ KÍNH TÂN TRANG của Ông đã được đua vào chương trình chứng chỉ Văn chương quốc âm, Đại Học Văn Khoa và thơ văn của ông đã được giảng dạy trong chương trình Trung học phổ thông và tôi biên khảo về tác giả nầy vì  ông vẫn chưa được các soạn giả quan tâm nghiên cứu. NT.

*** 

Chương I

Thay lời mở đầu

Ñeâm buoàn

Đêm buồn

Tạp bút, Ngân Triều.

Không biết đêm nay vì sao tôi buồn,

Buồn vì trời mưa hay bão trong tim?

Đã mấy thu qua tôi vẫn đi tìm.

Để rồi buồn ơi! Nghe tiếng mưa đêm...[1] 

 

Ảnh có chứa tấm chắn, vật thể ngoài trời

Mô tả được tạo tự động

          -Giai điệu và ca từ của bài hát đã đến với tôi trong một đêm mưa; quả là buồn rượi! Mưa buồn, bài bát buồn, làm cho đêm mưa nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn. Tự nhiên cái nỗi buồn không biết ở đâu lại đến, đeo bám trong tâm hồn tôi, khiến cho lòng tôi chơi vơi buồn nhớ vu vơ. Một nỗi buồn vô cớ! Nỗi buồn ấy phảng phất theo từng cơn gió nhẹ lạnh lùng. Buồn ơi chào mi, lại rủ rê thêm Nhớ ơi xin chào, người bạn tri kỷ của nó đến đậu vào tâm trí tôi những mảng sầu nhớ đa đoan. Vì sao vậy nhỉ? Tôi tự hỏi. Phải chăng đây là những biểu hiện của tuổi “mùa thu lá bay”, cái tuổi nghỉ hưu để mặc cảm thấy mình như thành người vô dụng của xã hội và là người đang ở cái thời điểm xa trời gần đất. Mà thực thế. Ở cái tuổi nhân sinh thất thập cổ lai hi,[2] sức khỏe mỏi mòn, suy yếu; vợ chồng sống nhờ gia đình con cháu, dòng họ; nhóm bạn bè cố tri, xóm giềng tốt bụng sớm tối, những mối quan hệ xã hội cố hữu thân quen… trông đi ngoảnh lại thì “Bạn bè lớp trước nay còn mấy, Chuyện cũ mười phần chín chẳng như”[3]. Rõ ràng, cái thân lực bất tòng tâm, thành trụ hoại không, cuối cùng sẽ trở về không, cái không hư vô, zero; hay cái thân sinh trụ dị diệt, đến chữ diệt cũng sẽ là chấm dứt, là hết và cái thân sinh lão bệnh tử thì đến nấc tử cũng sẽ không còn; chờ ngày hóa thân cùng cát bụi, thoát khỏi kiếp phù sinh, biển trần khổ vơi vơi trời nước,[4] trở về quê cũ, nơi mà hạt bụi của mình đã lên bệ phóng, xuất phát phiêu du.[5]

Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ,

Mảnh hình hài không có, có không.
    Lọ là thiên tứ, vạn chung [6].

          -Buồn, chữ Hán viết là sầu: ; gồm có chữ Thu , mùa thu lá rụng + chữ tâm tấm lòng ; tức là khi mùa Thu về, lá cây rụng hết, khiến lòng ta sầu não. (Thu về ngắm cảnh mặc dầu, Lòng buồn da diết âu sầu lắm thay!

-Buồn, còn có nghĩa là muộn ; gồm chữ môn , hình cái cửa + chữ tâm ; tức là tâm hồn hay tấm lòng của người trong cánh cửa , gởi cho người phương xa, hay kẻ ở lại thương nhớ người ra đi. (Lòng lão thân buồn khi tựa cửa, Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm;[7] hay: Nỗi lòng biết tỏ cùng ai, Thiếp trong cánh cửa , chàng ngoài chân mây [8]).

          -Nhớ chữ Hán còn viết là niệm nỗi nhớ, nghĩ đến, mong mỏi; gồm có chữ kim là nay + chữ tâm lòng mình; tức là đối với những sự việc đã qua, nay cố dùng tâm của mình mà nhớ lại. (Thuyền ơi! [nay] có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền).

          -Nhớ còn viết là tưởng gồm tướng là xem lại hình ảnh của người trong tâm trí mình. (Bởi lòng tạc đá ghi vàng, Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây).[9]

-Nhớ còn viết là hoài (gồm chữ y trong từ y phục + chữ thế văn cổ là nước mắt; biểu thị lòng ta ẩn giấu nỗi niềm gì, khi nghĩ đến là muốn khóc, tức là hoài niệm 懷念. Ta ngã hoài nhân: 嗟我懷人. Ôi! Ta nhớ người yêu [biết bao]. Kinh Thi; Nội hoài gian hoạt, quốc chi sở hoạn, 内懷奸猾, 囯之所患. Hoài (trong lòng) chất chứa điều gian dối, đấy là điều đáng lo của tổ quốc. Hán Thư. Đã không kẻ đoái người hoài, Sẵn đây ta thắp một vài nén hương. Kiều, Nguyễn Du: 1766-1820, câu 91-92).[10]

-Lòng buồn dạt dào, tôi chợt nhớ đến cái thuở lớp ba trường làng. Nhớ người Thầy già kính yêu đã giảng cho chúng tôi một bài học thuộc lòng trong sách Quốc Văn giáo khoa thư, một bài ca dao cổ khuyết danh, Đêm qua ra đứng bờ ao. Lời giảng của Thầy nghe trầm buồn, xa vắng tưởng như Thầy muốn khóc. Lớn lên mới hiểu, hóa ra bài học đó cũng là tâm sự của Thầy về tình yêu và thời thế.

-Có thể, Alzheimer, bệnh quên quên nhớ nhớ, là bạn người già. Vậy xin mời quý bạn cùng tôi, trong đậm nhạt nhớ quên, đọc lại bài ca dao mượt mà này xem:

                                    Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.
      Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện chờ mối ai?
      Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi! Sao hỡi! Nhớ ai sao mờ?
      Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.

                                   Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,

                             Tào Khê [11] nước chảy hãy còn trơ trơ.

Nguồn:
1. Mã Giang Lân, Tục ngữ và ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999 (tái bản lần thứ 5.
2. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hoá thông tin, 2001.

Đại ý: Tâm trạng trông chờ, tưởng nhớ người xa và tấm lòng trung trinh sắt đá của nhân vật trữ tình trong hoàn cảnh éo le ngang trái của cuộc đời.

Bố cục:

 Hai câu đầu: Thời gian và nỗi niềm mong nhớ:

     Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.

Trước hết, bài ca dao làm theo thể phú, nói thẳng vào vấn đề là lời kể lại của tác giả hay tự sự. Khung thời gian thuộc về ban đêm, đêm qua. Khoảng không gian là cái bờ ao nhà, nơi vương vấn một câu chuyện lòng.

          (Ngày xưa, ở nông thôn, có một thời, nhà nào cũng có vườn rau, ao cá. Vì khi cất ngôi nhà mới, người ta đào ao, đào mương, lấy đất đấp nền nhà; nền nhà cao hơn mặt ruộng, ao sâu thả cá; không lấy đất đâu xa, nhất cử lưỡng tiện. Trên bờ mương phía ngoài, người ta trồng tre, trúc, tầm vông vừa để làm hàng rào bảo vệ gia đình vừa để làm vật dụng đan lát, ăn măng, vừa để làm chuồng trại, làm giậu vườn rau; cái ao sâu để dự trữ nước mưa, thả bè rau muống, rau nhúc để nuôi cá hoặc cá ở đồng ruộng về mùa mưa theo mương vào ao nhà. Ao nhà là nơi sinh hoạt của gia đình, có cầu ao, có bờ ao).

Cho nên còn có câu ca dao:

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.

-Trở lại câu chuyện, tác giả hay nhân vật trữ tình đã nêu lên điều gì? Đêm qua, người ấy đã ra đứng rất lâu bên bờ ao nhà, để cúi đầu nhìn xuống mặt ao, trông cá, để không thấy cá, cá lặn; rồi ngẩng đầu nhìn lên trời cao, trông sao; để chẳng thấy ngôi sao nào của mình, sao mờ. Mục đích của việc trông xuống, trông lên đều không như ý muốn, nếu không nói là vu vơ, vô ích. Tìm cá, không thấy cá mà tìm sao trên trời cao cũng chẳng ra sao. Vô vọng. Trông nghĩa là để con mắt đến sự việc gì, và mong đợi điều gì. Trông cá ngoài nghĩa tường minh là nhìn con cá trong ao ban đêm, không thấy nó đã đành, vì nó đã lặn mất; mà kể cả ban ngày, chúng ta cũng không thấy nó, chỉ thấy cái đớp móng của nó trên mặt ao thôi.

-Ngoài ra, trông cá, cá lặn nghĩa là trông mong, đợi chờ tin tức của ai đó ở xa, mà tin tức ở xa đưa lại thì hoàn toàn không có tin tức chi hết, cá lặn. Trông sao trên trời thì sao mờ, lẫn lộn, không biết được sao quen là sao nào và hiện giờ nó đang “định vị” nơi đâu. Hoặc không biết người xa giờ ở góc biển nào, sao mờ. Tin tức của người xa bặt tăm! Không biết tin tức, không biết người phương trời giờ ở nơi đâu, thì nỗi buồn như chờn vờn ngày càng tăng tiến thêm trong tâm tưởng.

-Trong văn hoá truyền thống, hàm nghĩa văn hoá của cá được thể hiện dưới nhiều phương diện. Thời cổ có "ngư tố", tương truyền đó là hình thức dùng lụa viết thư, sau đó nhét vào bụng cá để gửi đi, nên gọi là "ngư truyền xích tố". Loại thư tín dùng cá để truyền đi này còn gọi là "ngư thư", hoặc "ngư tiên".

     Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,

Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn.[12]

-Như vậy, hai câu thơ đầu cho biết mối sầu thoang thoảng chợt đến vì nỗi niềm lạc lõng, tâm trạng cô đơn, bơ vơ.

Bốn câu tiếp theo: Cảnh buồn trong nỗi chạnh lòng:

       Buồn trông con nhện giăng tơ,

  Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
       Buồn trông chênh chếch sao Mai,
  Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

Phải chăng bốn câu thơ khắc họa một nỗi buồn cụ thể trong lòng nhân vật trữ tình với ít nhiều thất vọng, vời vợi nhớ thương.

-Buồn trông, nhìn sự vật qua nhãn quan nội tâm phiền não, ủ ê. Kìa là một con nhện nào trong tầm mắt, đang dệt, giăng những mối cho tổ ấm của nó. Những mối tơ mong manh, khéo léo và bền chắc chủ quan. Con nhện phơi phới nhẹ buông sợi tơ hoàn hảo, mối tơ nào cũng nõn nà, cũng dính, cũng hợp lý, cũng hay!

-Nhìn mối tơ nhện, chạnh tưởng phận mình: Con nhện kia còn có mối tơ vương; còn mối tơ duyên của bản thân ta, vẫn còn linh đinh, vô định, giờ nầy vẫn chưa biết tấm thân sẽ phiêu linh về đâu. Phải chăng, tấm thân nầy, không phải như một tấm lụa đào giữa chợ, mà thê thảm như một con nhện lạc loài, mòn mỏi đợi chờ mối ai

-Âu là ta phải chờ, phải đợi. Nhưng biết phải chờ đợi bao lâu, trong khoảng không gian hữu hạn, đường đi gian nan vì cách núi e sông; thời gian vô định, trong khi tuổi Xuân, ngày càng héo úa, nhạt phai. Thật là một khoảnh khắc đêm sầu ảm đạm, biết tâm sự cùng ai?

-Thôi thì, hãy trông lên cuối trời xa vậy. Đó là một ngôi sao Mai nghiêng nghiêng, chênh chếch điểm sáng phía chân trời rạng đông! Ánh sao Mai đang mờ dần, mờ dần vì ánh sáng rực rỡ của mặt trời bình minh thăng hoa. Sao mờ là sao mất dần ánh sáng tự thân do đối diện với nguồn sáng mạnh hơn của mặt trời. Sao Mai mờ như vậy là sao Mai buồn! Nỗi buồn luôn hòa quyện cùng nỗi nhớ. Vậy, Sao Mai ơi! Sao có nhớ ai không… mà buồn chênh chếch? Phải chăng Sao Mai phương xa đó, đang buồn nhớ đến ta?

-Giai điệu nhện ơi nhện hỡi, sao ơi sao hỡi, cất lên âm thầm trong cõi lòng tuyệt vọng, trong nội tâm đa đoan, trong một đêm không trăng, đường trần mịt mờ muôn lối, tối tăm. Người ơi! Hãy nhìn đăm đăm về phía trời xa, cất cao tiếng lòng vời vợi, chết trong lòng một ít; âm thầm rưng rưng cất cao tiếng sầu thảm xé lòng, vì nghịch cảnh đành phải ly tan: “Xin đừng quên tôi!”; “Hãy nhớ lấy tình tôi”:[13]

Rồi có khi nào ngắm bóng mây,
Chiều thu đưa lạnh gió heo may.
Dừng chân trên bến sông xa vắng,

Chạnh tưởng tình tôi trong phút giây.

                                         Thế Lữ (1907-1989)

Hay:
Rồi có khi nào trong phút giây

Trăng lên khỏi núi gió đùa mây

Thì anh nên nhớ người năm nọ

Xưa đã cùng anh sống những ngày.
                                       
Mộng Cầm.[14] (1917-2007)

            (Sao Hôm và sao Mai là những khái niệm quen thuộc trong văn hóa dân gian Việt Nam. Sao Mai xuất hiện lúc bình minh và sao Hôm xuất hiện lúc chập tối. Tuy nhiên không phải ai cũng biết rằng sao Mai và sao Hôm thường gọi là hai sao như thế nhưng thực ra nó chỉ là một ngôi sao, đúng ra là hành tinh thứ hai của hệ mặt trời chúng ta, tên là Sao Kim (Vénus)[15]

Sao Kim ở gần Mặt trời hơn Trái đất, buổi sáng, nó nằm ở phía Tây của Mặt trời, khi đó, chúng ta quan sát từ Trái đất sẽ thấy nó hiện lên ở phía Đông vào rạng sáng, sớm hơn Mặt trời, và dân gian gọi nó là sao Mai.

Khoảng 14 giờ thì nó ở trên đỉnh đầu chúng ta, khi đó, chúng ta có thể thấy rõ nó bằng mắt thường trong lúc trời quang mây, ánh sáng thuận lợi. (Người viết bài nầy cùng một nhóm bạn cũng đã nhìn thấy nó bằng mắt thường vào năm 1957, lúc 15 tuổi, khi học lớp đệ lục ở Tây Ninh, nhưng phải tinh mắt và cố lắm mới thấy sao Kim như một thiên thể to bằng hạt chuỗi trắng, nhìn trật ót).

Ngược lại, buổi chiều, lúc sao Kim nằm ở phía Đông của Mặt trời, nếu chúng ta quan sát về phía Tây vào thời điểm sau khi Mặt trời hoàng hôn lặn xuống chân trời, chúng ta sẽ thấy hành tinh này sáng dần trên chân trời lúc chập tối và dân gian gọi nó là sao Hôm).

                                   Ảnh sao Mai, lúc rạng đông, Google.

            Đọc tiếp 4 câu kết:

Khẳng định lòng chung thuỷ sắt son.

                Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
            Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
               Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
            Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ.

Song, tâm tình buồn khi mong đợi tin tức người xa, trong đêm qua không trăng, không phải chỉ một lần. Đó là tâm tình khôn nguôi niềm nhớ vì nó cứ diễn ra liên tục, bất tận, đêm đêm. Tưởng nghĩa là nhớ. Dải Ngân hà [16] chỉ sự ly tan, ngăn cách. Còn nhớ đến chia ly chính là còn tha thiết ước mong tao ngộ, tương phùng.

(Sao Tinh Đẩu là chòm sao Đại Hùng, Big Dipper, gồm 7 ngôi sao sáng như cái gàu lớn, định vị phương Bắc để xác định ngôi sao Bắc Đẩu, Polaris. Ở Việt Nam, dân gian gọi nó là Sao Bánh Lái lớn, định vị hướng Bắc để ngư dân phải đi biển vào ban đêm không lạc lối lúc trở về nhà).

                                                         Ảnh chòm sao Đại Hùng Tinh, Big Dipper, Cái Muỗng lớn; Tiểu Hùng Tinh, Little Dipper, Cái muỗng nhỏ và Sao Bắc Cực, Polaris. Sao Bắc Cực không sáng lắm. Nó nằm ở cuối chòm sao Little Dipper. Sao Merak và sao Dubhe là sao dẫn hướng để định vị sao Bắc Cực, bằng cách nối dài hai sao nầy theo hướng từ đáy muỗng trở ra + 5 lần khoảng cách đó, có sai số tương đối theo góc nhìn đôi chút là đến sao Bắc Đẩu hay sao PolarisNguồn: EarthSky.org:

          -Từ ngày ly biệt, thắm thoát, chuôi sao Tinh Đẩu đã quay ba vòng giáp mối. Đã ba năm tròn ròng rã. Xa mặt thời cách lòng là thói đời yêu thương qua đường, yêu cuồng sống vội, trong xã hội vật chất, kim tiền. Người phương xa ơi! Người có đổi trắng thay đen như thế hay chăng?

              
Chu kỳ sao Đại Hùng, Big Dipper quay quanh sao Bắc Cực bốn mùa trong một năm. Google.

Thức mây đòi lúc nhạt nồng,

                                Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài.[17]

-Người ta thường nói, nước chảy thời đá mòn, đó là quy luật của tự nhiên. Còn quy luật gắn bó tơ duyên trong tình yêu đôi lứa là tấm lòng chung thủy son sắt, kiên định trung trinh. Tấm lòng chung thủy đó là tấm lòng không thay đổi, trước sau như một, dạ chẳng mòn.

          Cuối cùng, nhân vật trữ tình đã minh họa cho tấm lòng chung thủy ấy là hình ảnh một khe suối, chắc là tên một khe suối nổi tiếng ở quê nhà, Khe Tào, Tiên Sơn, Bắc Ninh. Tào Khê kia, dẫu đã muôn ngàn năm nước chảy, mà nó hãy còn trơ trơ, vẫn nguyên vẹn, sừng sững như tình yêu đôi ta. Tấm lòng của thiếp, tấm lòng của chàng mãi mãi rực rỡ như phẩm chất của loài hoa hướng dương, cứ luôn luôn nhìn bóng mặt trời:

          Hướng dương lòng thiếp dường hoa
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.

     Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái

     Hoa để vàng bởi tại bóng dương.[18]

Lời kết:

Tóm lại, bỏ qua cái hay, cái bóng bẩy về ngôn từ của hình thức nghệ thuật đặc sắc, bài ca dao đã thông đạt một nỗi niềm thương nhớ, ngẩn ngơ của đôi lứa ở đầu và cuối sông Tương. Tan hợp là quy luật thường tình của thế nhân. Có mấy ai, chia ly mà lòng không bồi hồi thương nhớ? Mong một lần tái ngộ vô định thì biết đâu quá xa vời. Con Tạo quá vô tình! Tưởng một đằng, nó quằng một nẻo. Thôi thì cam đành. Cho lòng buồn u uất trong quạnh vắng, trơ trọi, ngân ngất nhớ thương.

Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,
   Người xa người tội lắm người ơi!
        Chẳng thà không biết thì thôi,
Biết rồi mỗi đứa một nơi cũng buồn.

Ca dao

          - Thế mà, đêm mưa buồn vẫn còn dai dẳng, chưa tạnh. Nhạc Đèn khuya thì đã tắt lâu rồi. Dòng nước mưa rơi đều đều từ máng xối xuống chậu nước trước hiên nhà tôi tạo thành một âm thanh dịu êm như ru hồn vào mộng. Đôi lúc âm thanh đó tí tách như chờ đợi, bẽn lẽn, ngập ngừng; đôi lúc lại như trầm lắng, tỏ lòng; như lời của một người đầu sông Tương âm thầm nhờ tiếng gió nhắn nhe. Phải chăng người ấy cũng buồn, cũng đồng cảm với tôi, chia sẻ với tôi trong một khoảnh khắc buồn nhớ vu vơ mà sâu lắng của một đêm buồn không tên?

Nghẹn ngào xa nhau

Lệ nhòa đôi mắt

Cho lòng se thắt

Phương trời ánh sao!

*

Mong ngày gặp nhau

Cho ngời đôi mắt

Tình xưa bát ngát,

Ngàn sao! Ngàn sao!

                                         Ngân Triều



[1] Ca từ bài hát Đèn khuya, sáng tác 1958 của nhạc sĩ Lam Phương. Ông tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh năm 1937 tại Rạch Giá. Nhạc của ông chuộng điệu mambo nhưng đa dạng với rất nhiều đề tài.

-Nói lên cảm xúc về năm 1954 ông có "Chuyến đò vĩ tuyến", "Nhạc rừng khuya", "Đoàn người lữ thứ" và "Nắng đẹp miền Nam".

-Nói về tình quân nhân ông có "Tình anh lính chiến", "Chiều hành quân"…

-Nói đến tình mẫu tử ông có "Đèn khuya", "Tạ ơn mẹ"...

-Nói đến những kiếp sống lầm than ông có "Kiếp nghèo", "Chiều tàn"…

-Riêng về tình ca, có thể nói ông là một suối nguồn phong phú. Ông là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc miền Nam Việt Nam với khoảng 200 tác phẩm…

Tin mới nhận được: Nhạc sĩ Lam Phương đã từ trần tại Fountain Valley, California, Hoa Kỳ, ngày 22.12.2020. Nguồn: wikipedia.org

[2] Nhân sinh thất thập cổ lai hy: Trích trong bài Khúc Giang 2, 曲江其二, (Đỗ Phủ: 712 – 770): 

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, 

Nhân sinh thất thập cổ lai hy.  

Nợ tiền uống rượu vốn chuyện thường, nơi nào cũng có; 

Xưa nay đời người sống tới bảy chục là hiếm hoi

Nợ tiền quán rượu đâu không thế? 

Sống bảy mươi năm đã mấy người? 

                              (Tản Đà: 1889-1939) dịch.

[3] Mậu Thân tự thọ, Nguyễn Khuyến: 1835-1909, Mậu Thân tức năm 1908, Quốc văn tùng ký bản số (AB.383) Nam âm thảo (VHv.2381). Có bản chép là Cảm hứng, Đại lãocả câu trích dẫn trên là nỗi niềm cay đắng trong cô đơn, đời mười phần không vừa ý mình đến tám, chín phần và cảm thấy mình xa lạ, lạc loài trong chốn cũ.

[4 ]Biển trần khổ vơi vơi trời nước. Ánh Thái Dương rọi trước phương Đông… 

Kinh cúng nước, Đạo Cao Đài.

[5] sinh ký tử quy, 生寄死 nghĩa là sống gửi, ở đậu, cõi tạm; tử, chết, trở về nơi mình đã ra đi.

[6] Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập - tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004: Trích trong bài hát nói Uống rượu tiêu sầu của Cao Bá Quát: 1808-1855. 

Xưa nay, mảnh hình hài của thân xác ta là vô nghĩa. Tại sao ta phải bỏ hết đời mình tích cóp, vung quén để lo làm giàu? Khi chết có đem theo đâu?

[7]Chinh Phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn: 1710 hoặc1720-1745; Đoàn Thị Điểm: 1705-1749, traduit en Francais par Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng, nxb Bộ Giáo Dục và Thanh Niên, năm 1969, câu 157-158

Votre mère est triste: sur le seuil elle attend. 

Votre enfant bouche bée réclame sa béquée. Page 42

[8] Sđd như trên, câu 111-112

A qui peut-on confier le secret de son coeur? 

Moi, derrière ma porte et vous, à l’horizon! Page 34.

[9] Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du: 1766-1820, câu 2855-2856: 

Son coeur s’était attaché aux serments gravés sur la pierre et l’or dans le passé. 

En lui pensant, il croyait qu’il la voyait revenir dans une rêverie

Poème de Nguyễn Du: 1766-1820, traduction Fracaise en vers libres par Lưu Hoài, nxb Văn Học-Hà Nội 2003, trang 344.

[10] Puisque personne n’est souvenu d’elle, n’a jetté sur elle unregard, 

      Par cette occasion, je vais bruler et offrir quelque batonnêts d’encens. 

Poème de Nguyễn Du: 1766-1820, traduction Francaise en vers libres par Lưu Hoài, nxb Văn Học-Hà Nội 2003, trang 55.

[11] Tào Khê: Khe Tào, nay còn dấu vết ở Tiên Sơn, Bắc Ninh.

[12] Truyện Kiều bản 1780, Nguyễn Du: 1766-1820, Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, khảo dị, nxb Văn Học & TTNC Quốc Học, 2003, câu 2943-2944; 

tăm cá: bọt cá ở dưới nước nổi lên, tăm cá hoặc tăm hơi, nghĩa hàm ẩm là tin tức, thư từ. 

Bóng chim: Trên trời thẳm thì dò đâu ra bóng chim mà tìm chim. Nghĩa rộng: Tô Vũ đi sứ Hung Nô, bị đày ở Tây Bá Lợi Á 19 năm. Ông xé áo viết nhiều thư, cột vào chim nhạn gởi về quê nhà. Biết ông còn sống, Hán Vũ Đế, (140 tcn-87 tcn) can thiệp rước ông về quê nhà.

Cố nhân biệt hậu khuê nam bắc,

Lý thư nhạn bạch, vô tiêu tức,


:

Chia tay với cố nhân, kẻ về Nam, người đi Bắc

Từ đây bức thư nhạn cá không còn biết tin tức gì. 

(Lý thư, , Thư trong bụng cá lý ngư; Nhạn bạch: , dải lụa buộc chân nhạn để gởi thư).

Trích Linh Châu Ngân Giang dịch, 靈州銀江驛;  Nghỉ ở trạm Ngân Giang thuộc Linh Châu,

Thơ đời Trần, Nguyễn Trung Ngạn, 阮忠, (1289–1370).

[13] Truyền thuyết văn học Pháp nói rằng trong thời Trung cổ, một hiệp sĩ cùng người tình đi dọc theo bờ sông nước chảy xiết. Chàng hiệp sĩ cố nhổ một cụm hoa, tặng cho người yêu nhưng do bộ áo giáp quá nặng nề chàng đã rơi xuống nước. Khi bị chìm xuống, chàng đã ném bó hoa cho tình nhân của mình và kêu lên "xin đừng bao giờ quên anh" "Ne m'oubliez jamais". Vì thế loài hoa này gắn liền với chuyện tình lãng mạn và định mệnh bi thảm. Nó thường được các cô gái mang theo như là biểu hiện của lòng chung thủy và tình yêu vĩnh cửu- Sự tích Hoa Lưu Ly, Myosotis, Forget me not… Vào thế kỷ XV ở Đức, người ta cho rằng những người mang theo hoa này sẽ không bao giờ bị người tình quên lãng.

[14] Bà Mộng Cầm, (1917-2007), tên thật là Huỳnh Thị Nghệ sinh ngày17/7/1917. Quê Mộng Cầm ở Phan Thiết, gần lầu Ông Hoàng nhưng thân sinh bà ra làm việc tận Nghệ An, nên mới có tên Huỳnh Thị Nghệ. Sau đó bà được gửi về trọ ở nhà ông cậu ở Phan Thiết học trường Pline Exercices. Mộng Cầm là cháu gọi nhà thơ Bích Khê bằng cậu nên bà cũng có "máu thơ văn". Hàn Mặc Tử (1912-1940) là mối tình đầu của bà năm Bà 17 tuổi. Tình yêu của đôi bạn thắm thiết và trong sáng. Sau khi Hàn Mặc Tử mất, bà Mộng Cầm lập gia đình và sinh được 7 người con. Ngày 23/7/2007, bà Mộng Cầm qua đời tại số nhà số 300, Trần Hưng Đạo, Phan Thiết. Theo lời trăng trối của bà Mộng Cầm, cô con gái đã mai táng bà trên lưng đồi lầu Ông Hoàng. Theo Người đưa tin, Google. 

[15] Hệ mặt trời của chúng ta có 9 hành tinh, thứ tự từ gần mặt trời ra xa: 

[1] Sao Thủy, Mercure; [2] Sao Kim, Venus; [3] Trái đất, Earth; [4] Sao Hỏa, Mars; [5] Sao Mộc, Jupiter; [6] Sao Thổ, Saturn; [7] Sao Thiên Vương, Uranus; [8] Sao Hải Vương, Neptune; [9] Diêm Vương Tinh, Pluto. 

Đầu năm 2016, các nhà khoa học bác bỏ Diêm Vương Tinh vì trong rìa dải Kuiper Belt (vành đai mặt trời) mà nó hiện hữu còn có các hành tinh khác tương tự và lớn hơn nó, theo thứ tự: Ceres; sao Diêm Vương, Pluto; Haumea; Make Make; Eris…các sao nầy dạng băng, chờ nghiên cứu, được gọi là hành tinh lùn của hệ mặt trời. Kiến thức mới hiện nay, Hệ mặt trời có 9 hành tinh quay quanh mặt trời hình ellip

vòng trong có 4 hành tinh dạng rắn như sao Thủy, sao kim, Trái Đất, Sao Hỏa

vòng ngoài có 5 hành tinh dạng khíSao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và hành tinh thứ 9 mới phát hiện vào đầu năm 2016. (chưa công bố tên).

[16]Dải Ngân hà: Theo điển tích Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bê việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nãi việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận dữ, đày cả hai phải cách xa ở hai bên bờ sông Ngân. Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình gia ơn, cho hai người mỗi năm được gặp nhau vào ngày mùng bảy tháng Bảy âm lịch, được chim ô thước làm cầu. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ ôm nhau, khóc sướt mướt, thời gian sum vầy quá ngắn, không thỏa nỗi nhớ thương. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành mưa Ngâu. Ở đây, ý thơ nói về thời gian đôi lứa chia ly cách biệt nay đã ba năm tròn.

[17] Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn: 1710 hoặc 1720-1745  và Đoàn Thị Điểm: 1705-1749 , Maxreading, câu 313-316.

            [18] Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn: 1710 hoặc 1720-1745 và Đoàn Thị Điểm: 1705-              1749, câu 303-306. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét