Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Bạch Đằng Giang tặng biệt, Thơ chọn lọc, trích trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương, Ngân Triều chú giải.

Xin mời quý bạn tham khảo một số bài thơ hay của Hồ Xuân Hương,

Bài số 1:
 Baïch Ñaèng Giang taëng bieät

                                                                                  Hồ Xuân Hương

                                                              

   Với nhau tình nghĩa sao là trọn,

          Chớ thói lưng vơi cỡ nước Đằng. Ảnh Google

*

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng 

Là duyên là nợ phải hay chăng?

Vịn hoa khéo kẻo lay cành gấm,

Vục nước xem mà động bóng giăng.

Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt 

Lời kia này đã núi giăng giăng.

Với nhau[1] tình nghĩa sao là trọn,

Chớ thói lưng vơi cỡ nước Đằng .

         Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:

  白籐江贈

泣耿塘𩄎𨀈

𪜀𪜀𧴱沛咍

援花窖矯𢯦梗錦

扑渃䀡麻動𣈖𦝄

𢙱奴渚𠺘𩄎𤁕𤁕

𠳒箕尼𡶀綾綾

憢情義𫳵𪜀

𢟔𠦻潙舉渃

                     Cấu trúc một số từ Hán-Nôm & chú giải

Tiêu đề:Tặng bạn khi tiễn biệt ở sông Bạch Đằng.

Đằng 籐 từ HV; khấp  từ HV; khểnh  từ HV GT âm cảnh; khấp khểnh 泣耿= gồ ghề, lởm chởm khó đi; đường  từ HV; mây 𩄎 HT vũ+mi; đường mây là vân trình 雲程, đường lên mây, đường công danh, ở đây còn có thể hiểu là con đường hạnh phúc, tràn đầy niềm vui. 

***

Đường mây cười tớ ham dong ruỗi,
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng

            Giã vợ đi làm quan, Phan Thanh Giản

Vịn  từ HV; = Đặt bàn tay dính vào như vịn vai. Cũng có nghĩa như vin = đưa tay sờ, níu kéo nhẹ nhàng sự vật gì:

Công anh đắp nấm trồng chanh,

Chẳng được ăn quả vin cành cho cam.

Xin đừng ra dạ Bắc Nam,

Nhất nhật bất kiến như tam thu hề,[2]

Huống tam thu như bất kiến hề,

Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.

Ca dao

cành gấm, từ HV GT âm ngạnh=cành cây; gấm từ HV ĐN âm cẩm là gấm=thứ hàng dệt, có hoa, nhiều sắc, rất đẹp, khá đắt tiền:

Học thời như gấm thêu hoa,

Có văn có chất mới ra con người

Ca dao

Vục  từ HV GT âm phác; vục nước  扑渃= đưa tay xuống dưới nước để tìm kiếm, nắm bắt vật gì.

Lưng vơi cỡ nước Đằng, = Nước Đằng là một nước nhỏ thời Xuân Thu Chiến Quốc, bị ép giữa 2 nước lớn là Tề và Sở nên luôn phải giữ gìn. Tác giả dùng điển này để chỉ nỗi khổ của một người có hai vợ:

Ngoảnh mặt sang Tề e Sở giận,

Quay đầu về Sở sợ Tề ghen,

*

Đại ý:

(1-2), Con đường vui và con đường tình.

(3-4-5-6),Trong tình yêu, cần phải đứng đắn và chung thủy.

 (7-8), Lời cuối tỏ lòng.

*

Diễn ý bài 1, Nhất Uyên:

- Trên con đường vui, gồ ghề, lúc bước, lúc dừng.

- (Cùng đi một đường, cùng đăng trình), mà biết có thành duyên nợ chi không?

- Như  khi yêu một đóa hoa, không tham lam yêu tất cả hoa đẹp khác trên cành, (Cành gấm, hiểu là cành hoa có nhiều hoa đẹp).

- Và cũng như không nên có những cử chỉ sỗ sàng, thô bạo không đẹp.(ngắm bóng trăng trong nước, rất ngoạn mục; thò tay vục nước để bắt lấy bóng trăng, là rất thô bạo. Chớ nên thả mồi, bắt bóng; đứng núi nầy, trông núi nọ; tham đó, bỏ đăng; tính cách của kẻ ăn xổi ở thì, không chung tình).

- Thời gian càng dài lâu, tấm lòng chàng cũng không nên nhạt nhạt như những thức mây nổi trên trời kia.

- Riêng với những lời thề ước vàng đá, thiếp nguyện mãi tạc dạ không phai như hình ảnh những dãy núi sừng sững, vĩnh cửu, giăng giăng.

- Tình nghĩa với nhau, miễn sao trọn ven là thỏa lòng,

- Đừng nên như thói đời, nửa vời, cái thói của kẻ ở nước Đằng ngày xưa.

*
Dịch thơ bài 1, Ngân Triều:

          Đường vui, cất bước, lại dừng.

Đồng hành chưa biết vội mừng hay không.

          Yêu hoa, xác tín một bông,

Trước vờ trang nhã; chầy mong sỗ sàng!

Bẽ bàng[3]  mây nhạt thời gian,
Đá vàng lòng núi giăng giăng, vĩnh hằng,

          Vẹn tình nhân nghĩa, lẽ hằng,

Ai đành như thói nước Đằng trớ trêu[4]?

 

***



[1] Có lẽ là chữ nhau: . Văn bản gốc chép sao: 𫳵

Thư Viện Online

[2] Một ngày không gặp ai,

   là ngày mong chờ dài,

   như ba năm khắc khoải,

   lòng thương nhớ vơi đầy.

[3] bẽ bàng: thẹn với cảnh, với tình.

              Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

   ĐTTT, Nguyễn Du, câu 1037-1038

          Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng,

ĐTTT, Nguyễn Du, câu 517-518

[4] trớ trêu: lừa gạt, trêu cợt, không chủ động, không chân thành. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét