Khi chồng là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ, từ trần, vợ là nàng Long Cơ dựng một mái chòi bên mộ chồng để cư tang, thờ phượng, cúng tế. Phạm Thái là bạn của ông vô cùng cảm kích mới làm 2 bài thơ nầy:
[13] Đề nghĩa lư nàng Long Cơ [1] Phạm Thái.
Hoa tươi mộ mới tình sâu nặng
Trăng chiếu chòi sơ tiết ánh trong.
Ngân Triều. Tranh có hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo AI.
*
[1]
Cuồn cuộn xe mây kiếp ruổi rong,
Dễ mà theo hỏi chốn hành tông [2].
Khêu sầu chín khúc chùng dây sắt [3],
Diễn thảm năm canh chạnh giọt đồng [4].
Niệm đảo[5] mơ màng hồi thú cổ [6],
Sinh tiêu[7]
nghe lắng tiếng thiền chung [8].
Huyền thương[9] ví
chẳng thù hồng phấn[10],
Chi kiếp trần hoàn trả chửa xong.
[2]
Gió thu hiu hắt khóm phương tùng [11],
Thổi rụng hàng châu, nghẹn má hồng.
Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng[12],
Trúc vàng [13]
thà điểm giọt Ngu cung.
Hoa kề cổ trủng [14]
đeo tình nặng,
Trăng rạng cô lư sáng tiết trong.
Dệt gấm Thanh Nê [15]
câu nhất tiếu,
Thêu nền Thúy Ái [16]
chữ tam tùng.
Phiên âm Hán Nôm,
Ngân Triều soạn
[1]
題義庐娘龍幾
滚淃車𨗠刧𨆷𨀐,
易麻蹺噲坉行踪.
挑愁𠃩曲𦇮𦀊瑟,
演惨𠄼更𢤜湥銅.
唸倒𢠩恾咴戍皷,
之刧塵寰把渚衝.
[2]
𩙋秋咻迄㯲芳松,
𠺙梇行珠, 喭媽紅.
苦碧丕招魂楚帳,
竹黄時點湥虞宮.
花倛古塚, 㧅情𥘀,
𦝄𠓁孤廬, 𠓇節𤄯.
𦂾錦清坭句一笑,
絩𡋂翆愛𡨸三從.
[1]
Xe mây cuồn cuộn, đưa hồn chàng đi mất,
Dễ gì biết được
chàng đi về đâu.
Muốn tỏ lòng sầu đứt
ruột, dây đàn đã chùng,
Thể hiện nỗi đau đớn
xót xa thâu đêm, giọt đồng cùng nhỏ lệ.
Khấn vái vong linh
chàng tưởng chừng như nghe vang vọng hồi trống nơi biên ải,
Tiếng sênh và tiêu
vang lên nghe như tiếng chuông chùa lắng đọng.
Phải chăng Trời đã
thù ghét người má phấn,
Đã vậy làm chi,
cho kiếp trần hoàn nầychưa trả xong được.
[2]
Gió thu se sẻ thổi
vào khóm phương tùng,
Làm rơi những giọt
châu đọng trên lá, làm cho lòng nghẹn ngào không nói được.
Thân phận hèn mọn
như cỏ biếc, ta không thể chết theo vua Sở như nàng Ngu Cơ,
Thà như hai bà Nga
Hoàng và Nữ Anh, khóc vua Thuấn mà lệ còn đọng mãi trên rặng trúc vàng.
Làm hoa bên mộ chồng,
tình hoa sâu nặng lắm thay,
Trăng soi vào lều
cỏ, sáng ngời phẩm chất thủy chung của vợ hiền.
Dệt bức gấm ở Thanh
Nê, quê chồng nàng là một thiếu phụ đẹp,
Thêu nền ở Thúy
Ái, chết theo chồng chết trận, nàng Phan Thị Thuấn ngời sáng chữ tam tùng.
Ngân Triều cảm đề
[1]
Dong ruổi xe mây vùn vụt khuất,
Về đâu há biết nẻo về đâu?
Đoạn trường gióng nhạc tơ chùng phím,
Đồng nhỏ thâu đêm suối lệ sầu.
Cúng vái thì thùng mơ trống thú,
Sanh tiêu trầm lắng mộng chuông mầu.
Ông Xanh sao ghét thân bồ liễu?
Dang dở nợ trần trả được đâu!
[2]
Gió thu phơn phớt ngọn phương tùng,
Lệ nhỏ hàng cây, lệ má hồng.
Bèo bọt chẳng theo dòng thác đổ,
Lệ hoa thà thổn thức hương cung.
Hoa tươi mộ mới
tình sâu nặng,
Trăng chiếu chòi sơ
tiết ánh trong.
Dệt gấm Thanh Nê trang quốc sắc,
Cùng gương Thúy Ái vẹn tam tùng.
Ngân Triều
22.09.2019
[1]
Lư 庐 là lều, chòi;
nghĩa 義 là có nghĩa; nghĩa lư 義庐 là lều của nàng Long Cơ, lều dựng cạnh mộ chồng để cư
tang.
(Nàng Long Cơ là vợ của Thanh Xuyên
hầu Trương Đăng Thụ, bạn đồng chí hướng Phục Lê, chống Tây Sơn với Phạm Thái. Bấy
giờ ông đang làm trấn thủ Lạng Sơn mời Phạm Thái đến Lạng Sơn bàn bạc việc khởi
binh, việc bại lộ; ông bị triệu về Phú Xuân, trên đường đi bị đánh thuốc độc chết.
Phạm Thái đưa thi hài về an táng ở quê là làng Kiến Xương Nam Định. Tại đây, Phạm
Thái gặp gỡ, đem lòng yêu thương Trương Quỳnh Như (em gái Trương Đăng Thụ)
và viết nên câu chuyện tình đầy nước mắt trong văn học Việt Nam).
[2]Hành
tông, hành tung: 行踪
Lý do của hành động,
việc làm.
[3] Dây sắt: 𦀊瑟, đàn sắt thường sánh với đàn cầm
chỉ tình nghĩa phu thê.
[4]Giọt
đồng: 湥銅,
giọt đồng hồ nước, chỉ thời gian trôi qua.
[5] Niệm đảo: 唸倒,
đọc lời khấn trong lễ cầu siêu cho chồng.
[6] Hồi thú cổ:
咴戍皷, thú là biên ải, cổ là trống; ẩn dụ nàng Long Cơ theo chồng
là Trương Đăng Thụ lúc ông làm trấn thủ ở Lạng Sơn.
[7]Sinh
tiêu: 笙簫sênh
và tiêu: hai loại nhạc khí.
[8]Thiền chung: 禅鐘,
chuông chùa.
[9]Huyền
thương: 玄蒼, huyền là huyền nhiệm; thương
là xanh; ý nói Trời xanh huyền nhiệm,
[10] Hồng phấn:
紅粉, phấn hồng chỉ người đàn bà.
[11] Phương tùng:
芳松 Một
giống cây tùng thơm.
[12] Sở trướng:
楚帳 Trong
trướng của Sở Bá Vương, Hạng Vũ. Khi ông bị vây ở Cai Hạ, vợ là Ngu Cơ tự vận để
ông khỏi vướng bận.
[13] Trúc vàng: 竹黄, giống trúc có vân ngoằn ngoèo;
người đời cho rằng đó là nước mắt của hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh, khóc chồng là
vua Thuấn, lệ rơi xuống mà thành ra như vậy.
[14] Cổ trủng:
古塚 Gò mả xưa.
[15] Thanh Nê
清坭, là quê hương của Thanh Xuyên Hầu,
chồng bà Long Cơ là người thủ tiết trong Nghĩa lư, thuộc trấn Sơn Nam tức tỉnh
Nam Định bây giờ. Câu nhất tiếu: nói
tắt của câu nhất tiếu thiên kim, nụ
cười đáng ngàn vàng, nghĩa hàm ẩn là ca tụng người phụ nữ đẹp.
[16] Thúy Ái:
翆愛 Thúy Ái là tên con sông thuộc huyện
Thanh Trì tỉnh Hà Đông, nơi bà Phan Thị Thuấn vợ thứ ba, mới 20
tuồi, tuẩn tiết theo chồng là Thu Lĩnh hầu Ngô Cảnh Hoàn đời Hậu Lê. (nay là
phường Thúy Ái, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội), Thu Lĩnh hầu Ngô Cảnh Hoàn, thống
lĩnh thủy binh chống Tây Sơn và chết trận. (Theo Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử
giai thoại, Truyện Bà Phan Thị Thuấn).
***
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét