Bài 13
Đề núi Dục Thúy[1]
Trương
Quỳnh Như
Trơ trơ bích thạch[2] bóng vân san,[3]
Hỏi núi chờ ai đã mấy sương?
Uốn éo bên sườn dòng nước biếc,
Phát tuôn cửa động ngọn chùa hoang.
Mây trôi phảng phất hồn Lê Trịnh,
Đá khắc lờ mờ dấu Phạm Trương.[4]
Cũng muốn bể dâu bàn chuyện cũ,
Nào ai xứng với khách đài trang.[5]
Nguồn: Phạm Thái
và Sơ Kính Tân Trang, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng,1973, trang 177.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân
Triều soạn
題𡶀浴翠
豬豬壁石𣈖雲山,
𠳨𡶀䟻埃㐌某霜?
捥嘹边傖𣳔渃碧,
發𣻆𨷶峒𦰟㕑塃.
𩅹㵢彷怫魂黎鄭,
𥒥刻𩆴𢠩𨁪范張.
共㦖波柚𡂑𡀯𦼨,
芾埃稱某客臺妝.
Ảnh các bài thơ được
khắc trên núi Dục Thúy ở Ninh Bình.
nguồn timeoutvietnam.com
Diễn ý
bài thơ:
Đề núi Dục Thúy
Tầng đá thẳng đứng, núi lẩn vào mây,
Hỏi núi đứng chờ ai, ở mãi nơi này.
Bên sườn núi có dòng suối biếc nước chảy uốn éo,
Phát sinh trước cửa động, nóc chùa hoang.
Mây trôi trên trời kia như còn in đậm nhạt hồn nước
thời Lê - Trịnh,
Bia đá ở đây còn khắc lờ mờ chữ viết của hai ông Phạm
Trương.
Trong cuộc bể dâu, cũng muốn bàn bạc chuyện xưa cũ,
Biết có ai tâm đầu ý hợp với ta chăng?
Cheo leo tường
đá mây ôm núi,
Núi hỡi chờ ai vạn
vạn năm?
Uốn éo sườn non
dòng suối biếc,
Leo teo cửa động
nóc chùa hoang.
Mây trôi vương vấn
hồn Lê Trịnh,
Rêu phủ lờ mờ đá
Phạm Trương.
Dâu bể bồi hồi ôn
chuyện cũ,
Biết ai hợp ý
khách đài trang.
[1] Dục Thúy tức núi Non Nước, gần thị xã Ninh Bình
[2] Bích
thạch: Đá dựng thẳng đứng, thẳng như bức vách.
[3] Vân san: núi cao lẩn trong mây.
[4] Phạm Trương: Phạm Tử Hư, một đạo sĩ đắc đạo đời Trần, thường
ngao du trên núi Dục Thúy. (Xem Truyền kỳ mạn lục Sách gồm 20 truyện, viết bằng
chữ Hán, theo thể loại tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện (trừ
truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình của tác giả hoặc của một người
có cùng quan điểm của tác giả. Tác phẩm được Hà Thiện Hán, người cùng thời, viết
lời Tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính, Nguyễn Thế Nghi, dịch ra chữ Nôm; và đã
được Tiến sĩ Vũ Khâm Lân (1702-?), đánh giá là một "thiên cổ kỳ
bút").
Trương Hán Siêu (?-1354), 張漢超, tương truyền
thọ hơn 80 tuổi, có
ít nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai và thứ
ba”. Về cuối đời, ông lại là người sùng đạo Phật và
những sáng tác của ông cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng này. Bạch Đằng giang phú (hay
Phú sông Bạch Đằng) là tác phẩm xuất sắc, được xem là một áng thiên cổ hùng văn. Ông cũng soạn Linh tế tháp ký (bài
ký tháp Linh Tế) ở núi Dục Thúy, đến nay vẫn còn. Ngoài ra ông cũng soạn Quang
nghiêm tự bi văn (bài văn bia chùa Quang Nghiêm). Hai bài đó có tư tưởng đề
cao Nho học và phê phán Phật giáo.
[5] Đài trang: hay đài gương do chữ kính đài 鏡臺 hay trang đài, chỗ người phụ
nữ soi gương, trang điểm, cách gọi tôn quý nữ giới. Đài gương soi đến dấu
bèo cho chăng? Kiều, Nguyễn Du: 1766-1820.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét