Bài 2:
Ñeà Traán
Quoác töï
Trong bài Chơi
Tây Hồ nhớ bạn, Hồ Xuân Hương trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du có câu: Trấn Quốc rêu phong
vẫn ngấn thơ. Lời thơ đề chùa Trấn Quốc rêu phong cổ kính còn vang vọng.
Bài Đề Trấn Quốc Tự, Hồ Xuân Hương chép
trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập.
Tập thơ này gồm những bài ngâm vịnh rất đứng đắn, có lẽ Đại Thần Trương Đăng
Quế, Tùng Thiện Vương đã đọc tập qua, cho nên các ông đã sánh Hồ Xuân Hương
ngang với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh, là những nữ sĩ nổi tiếng bấy giờ. Vậy là, ở thế kỷ 19, các nhà thơ đương thời
ngưỡng mộ Hồ Xuân Hương (HXH), một nhà thơ đứng đắn, lãng mạn, không có chuyện
phê phán HXH là một nhà thơ dâm tục.
Dịch nghĩa:
Ai là người đến đó khách
đài trang, dòng dõi quyền quí.
Cơn gió nam bấy giờ nhẹ
lướt êm êm,
Trăng nước sóng lồng cánh sen vừa mới nở, nõn
nà tinh khiết.
Khói hương chùa bay lên như chiếc tán
lọng(tàn) quý báu; lại bay lên nữa, như cánh cò cánh hạc bay lên vầng mây.
Đóa hoa sen mới nở như mỉm miệng cười, hàm
tiếu, cười nụ, nhẹ nhàng rửa tan niềm tục,
Ngắm cỏ xanh mùa Xuân làm cho tỉnh niềm mơ.
Đến cảnh muốn ngoảnh lại, muốn hỏi
chàng, (Nguyễn Du lòng đang muốn về quê
Hồng Lĩnh),
Vung tay áo vẫy gọi đàn hồng nhạn bay về phía
Đông Nam.
*
Đề Trấn Quốc tự (Trấn Bắc tự)
Trang lâm thùy thị cảnh
trung nhân,
Tế tế thanh phong phiến phiến huân.
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát,
Hương yên bảo thoại lộ liên vân.
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại,
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân.
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn,
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.
Thơ
chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên
dịch thơ
*
Bản chữ Hán Ngân Triều
soạn:
鎮 北 寺
莊 臨 誰 是 景 中 人
細 細 清 風 扇 扇 薰
水 月 波 籠 蓮 插 茁
香 煙 寶 憩 露 連 雲
洗 空 塵 慮 花 含 態
喚 醒 迷 途 草 亦 春
到 景 令 人 回 首 問
東 南 拂 袖 鴈 成 群
*
Nhất
Uyên Phạm Trọng Chánh dịch thơ:
Ai người đến đó, khách đài
trang,
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam.
Trăng nước sóng lồng sen nõn cánh,
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn.
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu,
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm Xuân.
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi,
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn.
*
Ngân Triều cảm đề:
Ðề chùa Trấn Bắc
(Trấn
Quốc tự)
Ngoạn
cảnh đài trang khách quý đây,
Gió Nam man mát ngát hồn đầy .
Sóng vờn trăng nước, sen cười mỉm,
Hương khói tán cò, bay thấu mây.
Tẩy sạch phiền trần hoa thẹn mặt,
Cỏ Xuân mơn mởn, khách lòng khuây.
Dừng chân
ngoảnh lại như thầm hỏi,
Tay vẫy Đông Nam nhạn một bầy.[1]
câu (a) trên có thể hiểu hai ý:
-Khi về quê ở Hồng Lĩnh,
Nguyễn Du sẽ gặp lại thân bằng quyến thuộc của mình rất đông, một đàn.
-Tay áo của Nguyễn Du có
đính những sợi dây cột, khi vẫy tay áo, những sợi đó bay bay như hình ảnh một đàn nhạn bay lả lướt
trong gió.
*
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm &
giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn
hoá - Thông tin, 1999
2. Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm,
NXB Văn học, 2009
3. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
4. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân
Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.
***
Bài
3:
Hoûi traêng
(2)
Ảnh minh họa, Google.
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.
Hỏi con bạch thố đà bao tuổi,
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm tối cớ chi soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son.
Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có tình riêng với nước non?
(Quốc văn tùng ký)
Khảo dị:
- Bản Xuân Hương thi
sao
Tựa đề: Vịnh vấn nguyệt
Mấy vạn
trăm năm vẫn hãy còn
Cớ sao khi
khuyết lại khi tròn?
Nuôi
chàng Ngọc Thố đà bao tuổi
Giấu ả Hằng Nga đã mấy con
Đêm thẳm cớ chi soi gác tía
Ngày xanh sao lại thẹn vòng tròn
Năm canh thơ thẩn chờ ai đó
Hay có tình
riêng mấy nước non?
- Bản Xuân Hương thi vịnh
Mấy vạn
năm nay
vẫn hãy còn
Cớ sao khi
khuyết lại khi tròn?
Hỏi con Ngọc Thố đà bao tuổi
Chớ gái Hằng Nga được mấy con
Đêm vắng cớ chi soi gác tía
Ngày chầy sao thẹn mấy vầng son
Năm canh thơ thẩn chờ ai đó
Hay có tình
riêng mấy nước non?
- Bản Nghi Xuân Uy Viễn
Nguyễn gia thế phả chép bài này của Nguyễn Công Trứ, với lời như sau:
Mấy vạn
ngàn năm vẫn hãy còn,
Cớ sao khi
khuyết lại khi tròn?
Kia muông
ngọc thỏ bao nhiêu tuổi,
Nọ ả Hằng Nga đã mấy con?
Chập tối cớ chi dòm gác tía,
Ban ngày
sao thẹn với vừng son.
Ba mươi
mồng một đi đâu vắng,
Hay có tình
riêng với nước non?
Nguồn:
- Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân
Hương, Nxb Văn học, 2008
-"Thêm ba bài thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ",
Nguyễn Thị Lâm, Tạp chí Hán Nôm, số
4 (107), 2011
*
Văn bản chữ Nôm,Ngân
Triều soạn
[其二]
𣦆氽秋𠉞吻矣群
故牢欺闕吏欺𧷺
𠳨𡥵白厝它包𢆫
𠳨姊姮娥㐌氽𡥵
𡖵最故之𥋸格紫
𣈜𩇛群𢢆唄𣜸𣜱
𠄼更泸𣼽䟻埃𥯉
能𣎏情𥢆𢭲渃𡽫
Chú giải:
Bài
Hỏi Trăng trong thơ truyền tụng Hồ Xuân Hương, văn bản Landes do Lê Quý chép
năm 1882 từ một bản chép tay của con cháu Tử Minh, học trò Xuân Hương ghi lại
tâm sự một người con gái mới biết yêu. Yêu Nguyễn Du rồi Xuân Hương tự hỏi với
lòng mình. Hỏi vầng trăng muôn thuở, mấy thu qua vẫn tròn, câu hỏi vu vơ cớ sao
trăng tròn lại khuyết, hỏi thỏ trên cung trăng bao nhiêu tuổi, hỏi chị Hằng Nga
vợ Hậu Nghệ đã mấy con rồi.
Đêm
tối cớ chi soi duyên nàng đến với Nguyễn Du con nhà quyền quí ở gác tía lầu son.
Khiến
cho ngày xanh gặp nhau thẹn với mặt trời đang lên.
Năm
canh lơ lửng trằn trọc nhớ ai, hay đã có tình riêng với nước non, với chàng?
Gác tía: 格 紫, theo thành ngữ gác
tía lầu son, cái gác sơn màu tía, cái lầu có màu son, tức là nhà ở cao, rộng;
tả cảnh sống giàu sang phú quý thời phong kiến xưa.
lơ lửng泸 𣼽 hay lửng lơ: ở trạng thái di động nhẹ, ở khoảng giữa lưng chừng, không
dính vào đâu cả.
Đại ý:
Tâm sự của một người con gái mới biết yêu.
(1-2-3-4): Hồ Xuân Hương đã yêu Nguyễn Du
rồi, tự vấn lòng mình:
Hỏi
vầng trăng muôn thuở bằng những câu hỏi
vu vơ:
-Tình yêu không phôi pha, vì trải mấy thu nay
vẫn còn đó...
-Vẫn còn đó, vẫn réo rắt đậm nhạt trong tim.
-Không biết con bạch thố, thỏ bạch trên cung trăng nay đã được bao
nhiêu tuổi?
-Biết chăng, chị Hằng Nga bây giờ đã được mấy
con rồi.
(5-6-7-8): Tâm trạng
và nỗi nhớ :
-Đêm tối cớ chi soi duyên ta đến với “người
ấy”, con nhà quyền quý, gác tía lầu
son.
-Để những ngày xanh gặp nhau, thẹn thùng với
mặt trời rạng rỡ đang lên.
-Năm canh ngẩn ngơ, lơ lửng, đợi chờ, nhớ ai.
-Hay ta đã có tình riêng với nước non, với
chàng.
Ngân
Triều cảm đề:
Trải mấy thu qua vẫn
những là...
Vẫn còn nguyên sắc dễ
phôi pha!
Ơi con thỏ bạch giờ
nhiêu tuổi?
Hỡi chị Hằng Nga mấy
lửa ha![2]
Tơ thắm vương hương
soi gác tía?
Hẹn hò những thẹn
nắng trời hoa.
Ngẩn ngơ, lơ lửng
treo thương nhớ,
Hay có tình riêng với
nước nhà.
Ngân Triều
Nguồn:
- Kiều
Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008
-Theo Tài
liệu: của TS Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân
Hương với Nguyễn Du, trang 5).
[1] Có thể tay áo của Nguyễn Du
co những gút và sợi dây, thoạt trông như 1
đàn nhạn.Cũng như trong bài Quan Hậu sợ vợ, có hai câu:
Hành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,
Thứu Lĩnh đen trùm một thức mây.
“Đôi hàng nhạn” tức là hai khúc vòng
chuỗi trên cổ người thiếu nữ.
[2] Theo cổ tục, khi người phụ nữ sanh con, thì phải nằm hơ lửa than một
tháng cho cơ thể hồi phục, sau nầy khi cao tuổi sẽ không có bệnh hậu. Cho nên hỏi
người thiếu phụ mấy lửa, tức là hỏi
người ấy đã có mấy lần sinh con rồi.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét