Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, tiếp theo. Bài 2 và 3

Bài  2:
Ñeà Traán  Quoác töï

Hồ Xuân Hương

Ảnh minh họa Bài 2, HXH-ND, Google

Trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn, Hồ Xuân Hương trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du có câu: Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ. Lời thơ đề chùa Trấn Quốc rêu phong cổ kính còn vang vọng. Bài Đề Trấn Quốc Tự,  Hồ Xuân Hương chép trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Tập thơ này gồm những bài ngâm vịnh rất đứng đắn, có lẽ Đại Thần Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương đã đọc tập qua, cho nên các ông đã sánh Hồ Xuân Hương ngang với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh, là những nữ sĩ nổi tiếng bấy giờ.  Vậy là, ở thế kỷ 19, các nhà thơ đương thời ngưỡng mộ Hồ Xuân Hương (HXH), một nhà thơ đứng đắn, lãng mạn, không có chuyện phê phán HXH là một nhà thơ dâm tục.

Dịch nghĩa:

Ai là người đến đó khách đài trang, dòng dõi quyền quí.

Cơn gió nam bấy giờ nhẹ lướt êm êm,

Trăng nước sóng lồng cánh sen vừa mới nở, nõn nà tinh khiết.

Khói hương chùa bay lên như chiếc tán lọng(tàn) quý báu; lại bay lên nữa, như cánh cò cánh hạc bay lên vầng mây.

Đóa hoa sen mới nở như mỉm miệng cười, hàm tiếu, cười nụ, nhẹ nhàng rửa tan niềm tục,

Ngắm cỏ xanh mùa Xuân làm cho tỉnh niềm mơ.

Đến cảnh muốn ngoảnh lại, muốn hỏi chàng,  (Nguyễn Du lòng đang muốn về quê Hồng Lĩnh),

Vung tay áo vẫy gọi đàn hồng nhạn bay về phía Đông Nam. 

*
Đề Trấn Quốc tự (Trấn Bắc tự)

Trang lâm thùy thị cảnh trung nhân, 
Tế tế thanh phong phiến phiến huân. 
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát, 
Hương yên bảo thoại lộ liên vân. 
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại, 
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân. 
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn, 
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương,  Nhất Uyên dịch thơ

*

Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:

        鎮 北 寺 
莊 臨 誰 是 景 中 人 
細 細 清 風 扇 扇 薰 
水 月 波 籠 蓮 插 茁 
香 煙 寶 憩 露 連 雲 
洗 空 塵 慮 花 含 態 
喚 醒 迷 途 草 亦 春 
到 景 令 人 回 首
問 

東 南 拂 袖 鴈 成 群

*

Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh dịch thơ:

Ai người đến đó, khách đài trang, 
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam. 
Trăng nước sóng lồng sen nõn cánh, 
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn. 
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu, 
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm Xuân. 
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi, 
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn.

*
Ngân Triều cảm đề:

Ðề chùa Trấn Bắc

(Trấn Quốc tự)

Ngoạn cảnh đài trang khách quý đây, 
Gió Nam man mát ngát hồn đầy .
Sóng vờn trăng nước, sen cười mỉm, 
Hương khói tán cò, bay thấu mây.
Tẩy sạch phiền trần hoa thẹn mặt, 
Cỏ Xuân mơn mởn, khách lòng khuây.

Dừng  chân  ngoảnh lại như thầm hỏi, 
Tay vẫy Đông Nam nhạn một bầy.[1]

câu (a) trên có thể hiểu hai ý:

-Khi về quê ở Hồng Lĩnh, Nguyễn Du sẽ gặp lại thân bằng quyến thuộc của mình rất đông, một đàn.

-Tay áo của Nguyễn Du có đính những sợi dây cột, khi vẫy tay áo, những sợi đó  bay bay như hình ảnh một đàn nhạn bay lả lướt trong gió.

*

Nguồn: 

1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 

2. Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, 2009 

3. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.

4. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.

***
Bài 3: 
Hoûi  traêng   (2)

Ảnh minh họa, Google.

                                            Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.

Hỏi con bạch thố đà bao tuổi,

Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?

Đêm tối cớ chi soi gác tía?

Ngày xanh còn thẹn với vừng son.

Năm canh lơ lửng chờ ai đó?

Hay có tình riêng với nước non?

                                                                        (Quốc văn tùng ký) 

Khảo dị: 
            - Bản Xuân Hương thi sao 
            Tựa đề: Vịnh vấn nguyệt 
            Mấy vạn trăm năm vẫn hãy còn 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Nuôi chàng Ngọc Thố đà bao tuổi 
            Giấu ả Hằng Nga đã mấy con 
            Đêm thẳm cớ chi soi gác tía 
            Ngày xanh sao lại thẹn vòng tròn 
            Năm canh thơ thẩn chờ ai đó 
            Hay có tình riêng mấy nước non? 
            - Bản Xuân Hương thi vịnh 
            Mấy vạn năm nay vẫn hãy còn 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Hỏi con Ngọc Thố đà bao tuổi 
            Chớ gái Hằng Nga được mấy con 
            Đêm vắng cớ chi soi gác tía 
            Ngày chầy sao thẹn mấy vầng son 
            Năm canh thơ thẩn chờ ai đó 
            Hay có tình riêng mấy nước non? 
            - Bản Nghi Xuân Uy Viễn Nguyễn gia thế phả chép bài này của Nguyễn Công Trứ, với lời như sau: 
            Mấy vạn ngàn năm vẫn hãy còn, 
            Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? 
            Kia muông ngọc thỏ bao nhiêu tuổi, 
            Nọ ả Hằng Nga đã mấy con? 
            Chập tối cớ chi dòm gác tía, 
            Ban ngày sao thẹn với vừng son. 
            Ba mư­ơi mồng một đi đâu vắng, 
            Hay có tình riêng với nư­ớc non? 
            Nguồn: 
            - Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008 

             -"Thêm ba bài thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ", Nguyễn Thị Lâm, Tạp chí Hán Nôm, số 4 (107), 2011

*

Văn bản chữ Nôm,Ngân Triều soạn

  [其二]

𣦆氽秋𠉞吻矣群

故牢欺闕吏欺𧷺

𠳨𡥵白厝它包𢆫

𠳨姊姮娥㐌氽𡥵

𡖵最故之𥋸格紫

𣈜𩇛群𢢆唄𣜸𣜱

𠄼更泸𣼽䟻埃𥯉

能𣎏情𥢆𢭲渃𡽫

Chú giải:

Bài Hỏi Trăng trong thơ truyền tụng Hồ Xuân Hương, văn bản Landes do Lê Quý chép năm 1882 từ một bản chép tay của con cháu Tử Minh, học trò Xuân Hương ghi lại tâm sự một người con gái mới biết yêu. Yêu Nguyễn Du rồi Xuân Hương tự hỏi với lòng mình. Hỏi vầng trăng muôn thuở, mấy thu qua vẫn tròn, câu hỏi vu vơ cớ sao trăng tròn lại khuyết, hỏi thỏ trên cung trăng bao nhiêu tuổi, hỏi chị Hằng Nga vợ Hậu Nghệ đã mấy con rồi.

Đêm tối cớ chi soi duyên nàng đến với Nguyễn Du con nhà quyền quí ở gác tía lầu son.                                    

Khiến cho ngày xanh gặp nhau thẹn với mặt trời đang lên.

Năm canh lơ lửng trằn trọc nhớ ai, hay đã có tình riêng với nước non, với chàng?

Gác tía: 格 紫, theo thành ngữ gác tía lầu son, cái gác sơn màu tía, cái lầu có màu son, tức là nhà ở cao, rộng; tả cảnh sống giàu sang phú quý thời phong kiến xưa.

lơ lửng泸 𣼽 hay lửng lơ: ở trạng thái di động nhẹ, ở khoảng giữa lưng chừng, không dính vào đâu cả.

Đại ý:

Tâm sự của một người con gái mới biết yêu.
(1-2-3-4): Hồ Xuân Hương đã yêu Nguyễn Du rồi, tự vấn lòng mình:

 Hỏi vầng trăng muôn thuở bằng  những câu hỏi vu vơ:

-Tình yêu không phôi pha, vì trải mấy thu nay vẫn còn đó...

-Vẫn còn đó, vẫn réo rắt đậm nhạt trong tim.

-Không biết con bạch thố, thỏ bạch trên cung trăng nay đã được bao nhiêu tuổi?

-Biết chăng, chị Hằng Nga bây giờ đã được mấy con rồi.

(5-6-7-8): Tâm trạng và nỗi nhớ :
-Đêm tối cớ chi soi duyên ta đến với “người ấy”, con nhà quyền quý,  gác tía lầu son.

-Để những ngày xanh gặp nhau, thẹn thùng với mặt trời rạng rỡ đang lên.

-Năm canh ngẩn ngơ, lơ lửng, đợi chờ, nhớ ai.

-Hay ta đã có tình riêng với nước non, với chàng.

Ngân Triều cảm đề:

Trải mấy thu qua vẫn những là...

Vẫn còn nguyên sắc dễ phôi pha!

Ơi con thỏ bạch giờ nhiêu tuổi?

Hỡi chị Hằng Nga mấy lửa ha![2]

Tơ thắm vương hương soi gác tía?

Hẹn hò những thẹn nắng trời hoa.

Ngẩn ngơ, lơ lửng treo thương nhớ,

Hay có tình riêng với nước nhà.

                                                Ngân Triều

Nguồn:

- Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008 

-Theo Tài liệu: của TS Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du, trang 5).



[1] Có thể tay áo  của Nguyễn Du co những gút và sợi dây, thoạt trông như 1 đàn nhạn.Cũng  như trong bài Quan Hậu sợ vợ, có hai câu:

Hành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,

Thứu Lĩnh đen trùm một thức mây.

“Đôi hàng nhạn” tức là hai khúc vòng chuỗi trên cổ người thiếu nữ.

[2] Theo cổ tục, khi người phụ nữ sanh con, thì phải nằm hơ lửa than một tháng cho cơ thể hồi phục, sau nầy khi cao tuổi sẽ không có bệnh hậu. Cho nên hỏi người thiếu phụ mấy lửa, tức là hỏi người ấy đã có mấy lần sinh con rồi.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét