Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

VÔ ĐỀ (Lý Thương Ẩn) / Một bài Thơ Đường không tên / Lời bình Ngân Triều



* Đầu năm Quý Tỵ, thân ái mời quý bạn thưởng thức một bài thơ Xuân hay.
*Thân tặng các bạn: Võ Công Danh, Võ Hồng Phi, Phạm Thị Hòa, Tô Thị Hằng,Trần Lâm Phát, Từ Thị Cảnh...đã cổ vũ, chia sẻ để Ngân Triều hoàn thành bài viết nầy.
*Xin cầu chúc các bạn, quý độc giả cùng quý quyến,  một năm mới 2013: AN KHANG, THỊNH ĐẠT, THỎA LÒNG. Ngân Triều


*****





Khai bút đầu Xuân, biết viết gì đây?  Tự nhiên,  tôi chợt nhớ đến một bài Thơ Đường đã đọc ngày xưa, bài Vô đề của Lý thương Ẩn  (無   題   -    李   商   隠).Lý thương Ẩn (813 – 858), tự là Nghĩa Sơn, hiệu là Ngọc Khê Sinh.  Người huyện Hà Nội, nay là Phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.  Thiếu thời, giỏi văn chương nên thường giao du với con cái của những người quyền quý bấy giờ.  Năm 837, ông nhờ thế lực, đậu tiến sĩ, được dùng vào việc thư ký, được gả con gái của Quan trấn Thủ Hà Dương.  Do ở giữa các thế lực đối đầu nhau nên con đường công danh của ông nhiều  phen lận đận …Bệnh  mất năm 858, lúc đó ông mới 46 tuổi.
Xin hãy đọc bài thơ.

Vô đề - Lý Thương Ẩn
Tương kiến thời nan, biệt diệc nan.
Đông phong vô lực, bách hoa tàn.
Xuân tàm đáo tử ti phương tận,
Lạp chúc thành hôi, lệ thủy can
Hiểu kính đản sầu vân mấn cải,
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị thám khan


無   題                李   商   隠
相   見   時   㬮   别   亦   㬮
東   風   無   力   百   花   殘
春   蚕   到   死   絲   方   盡
蠟   燭   成   灰   淚   始   乾
曉   鏡   疸   愁   雲   擯   改
夜   吟   應   覺   月   光   寒
蓬   萊   此   厺   無   多   路
青   鳥   慇   懃   爲   探   看

Tạm chuyển sang Tiếng Việt:
Không  đề  bài – Lý Thương  Ẩn

Gặp nhau  đã  khó  mà  chia tay nhau lại càng khó  hơn
Cũng như  gió xuân kia,thổi nhẹ  nhàng  mà  muôn  hoa tàn  héo.
Cũng như  con tằm Xuân ,đến chết vẫn còn cho tơ
Cũng như   ruột  nến kia  cứ  tuôn lệ  sầu  cho  đến lúc thành tro  mới dứt
Buổi sáng, soi gương,những buồn vì tóc mây đổi màu
Đêm  đến ngâm thơ, mới thấy  ánh trăng lạnh lẽo
Cơ  hội mừng vui còn gặp nhau (Bồng Lai)chắc không còn  nhiều  nữa
Vậy  ân  cần  cậy   người (chim  xanh),xin   hãy  đưa  đón,trợ   giúp tôi.

Vô  đề -   Lý  Thương  Ẩn
Xa  nhau  kh ó,  t ựa  gặp  nhau
Gió  Đông  kh ông  sức,  ho a  rầu  x ác  xơ
Thác  rồi  tằm  vẫn cho  tơ;
Tàn rồi nến  m ới  biết  kh ô  lệ  sầu.
Soi  gương,  bu ồn  tóc  đổi  m àu;
Ngâm   khuya  h ẵn  biết  trăng th âu lạnh lùng
Cõi xa  xôi,m ấy  non  B ồng,
Dò  đường  hỏi  lối,  cậy  cùng  chim  xanh
(Thầy   Trần  Trọng  San   dịch)

·       Về đề bài
Đã hơn ngàn năm qua rồi, mà ý tưởng của cổ nhân thật là gần gũi!  Vô đề là không  có đầu đề bài thơ.  Tác giả có lẽ dạt dào cảm xúc, chưa kịp nghĩ ra đề bài, hay
y đó chính là một cách nói nửa vời, thi vị, gây tò mò cho độc giả…(Dẫu sao, cấu tứ cụ thể cũng đã dàn trải trong nội dung của bài thơ hàm súc…Đặt đầu đề hay không  khi đoc qua bài thơ thì độc giả cũng hiểu bài thơ chuyên chở điều gi). 
Hơn ngàn năm sau, trong lĩnh vực âm nhạc Việt Nam, có nhạc sĩ cũng đã sáng tác hàng loạt ca khúc có tựa đề là “Bài ca không tên số…” cũng rất được khán thính giả cổ vũ và ưa thích một thời.
Vậy là, “không đề bài” có thể là một sự đề xướng hữu duyên của tiền bối, được người sau sử dụng như  một phong cách đưa duyên, trữ tình, thi vị.
·        Hai câu đề:
相   見   時   㬮   别   亦   㬮
東   風   無   力   百   花   殘


Thiên nhiên và con người như đồng cảm trước cảnh hợp tan.
 Câu đầu tác giả đã đưa ra một sự thật hiển nhiên.  Gặp nhau, đã khó nhất là ngày xưa, đường đi núi sông cách trở, phương tiện đi lại khó khăn, thì người gặp người… quả là thiên nan, vạn nan.
Nhưng đã gặp nhau rồi, biết bao tình mừng vui khấp khởi, thỏa lòng.  Khi chia tay nhau thì càng khó khăn hơn.  Thương người đi xa, dấn thân vào noi nguy hiểm, tự hỏi không biết có còn gặp nhau nữa không, hay lần găp nhau lần nầy, kể như là vĩnh biệt.  Thật quá bi thương!  Khác nào sự tàn úa, rơi rụng của muôn hoa, trong gió Xuân mát lạnh, nhẹ nhàng.  (Muôn hoa buồn vì cảnh chia ly nên phải lìa cành/ Có thể hiểu cảnh chia tay trong mùa Xuân, thấy hoa rụng, tưởng như hoa kia lìa cành cũng như nỗi lòng tác giả phải lìa xa người bạn)
Lý Bạch 李 白 đã tiễn đưa Mạnh Hạo Nhiên 孟 浩 然 đi Quảng Lăng 廣  陵  cũng đồng một tâm tình như thế.  Ộng đứng lại rất lâu, mãi nhìn theo cánh buồm lẻ loi (cô phàm)của bạn xa dần…xa dần, chỉ còn là một chấm nhỏ (viễn ảnh), cho đến khi tan biến vào khoảng trời xanh biếc (bich không tận).  Tình bạn thật là cảm kích:
Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lý Bạch)

Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc Lâu,(1)
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu (2)
Cô phàm viễn ảnh bích không tận (3)
Duy kiến trường giang thiên tế lưu (4)

Nguyên văn:

送   孟  浩 然 之 廣 陵   (李   白)

故     人    西    辭    黃    鶴    樓
煙     花    三    月    下    楊    州
孤     帆    遠    影    碧    空    盡
唯     見    长    江    天    際    流


Chuyển sang Tiếng  Việt:
TIỄN   MẠNH   HẠO NHIÊN  ĐI  QUẢNG  LĂNG
(1)Bạn cũ  rời  xa  lầu  Hoàng  Hạc  phía  Tây
(2)Đi xuống  Dương  Châu ,  vào  tháng  ba,mùa  hoa  khói
(3)Cứ   mãi  nhìn theo  cánh  buồm  lẻ  loi (của  bạn)  cho   đến tận  cuối  trời xanh  biếc,
(4)(Cuối   cùng) Chỉ còn thấy dòng  sông  dài  tuôn  chảy  đến  bên  trời.

Dịch thơ:

 Bạn từ Lầu Hạc lên đường,
Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng.
Bóng buồm  đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.
(Ngô Tất Tố dịch)

Bạn cũ  rời chân Hoàng  Hạc Lâu,
Giữa mùa hoa  khói, xuống  Dương  Châu.
Buồm  ai mất hút trong  mây  biếc,
Chỉ thấy Trường  Giang vẫn chảy  mau.
(Thầy Trần Trọng San dịch)

·       Hai câu thực:
春   蚕  到    死    絲   方   盡
蠟   燭  成   灰    淚    始   乾


                   Phải chăng  chuyện hợp tan là cái qui luật đau thương của kiếp người, muôn nơi                      
                   và muôn thuở?
Điều đó, khác nào “Con tẳm đến thác cũng còn vương tơ” (Kiều câu 1976)/ hay như  ngọn nến kia cứ mãi nhỏ lệ cho đến khi tim cháy thành tro tàn, lệ nến mới khô.  Hai hình ảnh con tằm và lệ nến được chọn lọc, như một từ nhãn tự, hàm súc, gợi tả tuyệt vời...

·       Hai câu luận: Chạnh nỗi niềm riêng

曉   鏡   疸   愁   雲    擯   改
夜   吟   應    覺   月   光   寒

Buồn vì thấy mình cao tuổi, già đi khi soi gương.  Già đi là một trong bốn cái khổ của thế nhân: Sinh, lão, bệnh, tử.  Tứ thơ rất thanh thoát như phần mở đầu của bài thơ Tương Tiến Tửu của Lý Bạch:
Quân bất kiến
Hoàng Hà chi thủy, thiên thượng lai
Bôn lưu, đáo hải, bất phục hồi
Quân bất kiến
Cao đường minh kính bi bạch phát
Triêu như thanh ty mộ thành tuyết…

君   不 見
黄   河   之   水   天   上   來
奔   流   到   海   不   復   回
君   不  見
高   堂   明   鏡   悲   白   髮
朝   如   青   絲   暮   成   雪

Anh thấy chăng
Nước sông  Hoàng  Hà,từ trời  đến
Tuôn chảy ra tận biển  không bao giờ trở lại
Anh thấy chăng
Gương  tỏ  nhà  cao, buồn tóc trắng
Buổi  sáng  như  tơ  xanh,buổi chiều trở thành tuyết.
Ý  nóithời gian  cũng như  tuổi Xuân trôi qua  như dòng song ra biển, không bao giờ trở lại.  Đời người nhanh sao!   Mới sớm chiều thôi, mà  tuổi già  đã sồng sộc đến.
Mặt khác, chi tiết ánh trăng  lạnh lẽo  hàm  ẩn  sự  vắng vẻ, cô   liêu,rượi buồn trong  nỗi niềm vắng bạn.
·        Hai câu kết  : Tâm  tình  của tác  giả

蓬    萊   此   厺   無   多   路
青    鳥   慇   懃   爲   探   看

Với những  ý  tưởng  trên, gặp  gỡ -  chia  tay là  khó  khăn , buồn  khổ  thêm   nhưng đời người  ngắn  ngủi, buồn  hiu,trong cô quạnh thì có lẽ  cũng  nên có  những  cơ hội mừng vui (họp mặt)gặp nhau cho thỏa  lòng.   Vậy xin  nhờ  người  đưa  đón  (tổ chức) tạo  điều  kiện và  trợ  giúp  cho  ta  nhé!

Tóm lại,

Vô  đề  (Lý  Thương  Ẩn)  là   môt  tiếng   ca  buồn,  nhiều  cung  bậc về cảnh ngộ  hợp-tan  của  đời  người.   Cái buồn   thật  là   não   nuột.   Việc   tương   phùng   đã   khó   thay   mà   ly   tan   càng   khó   hơn   bội   phần .    Đời   người   chóng    qua, dài  trong   gang   tấc   sớm    chiều   mà   người  sống   trong   chốn   tịch   liêu , bạn   bè    xa   cách   phương   trời,   không   thể   gặp   nhau… thì   hụt   hẫng    lòng   đau,  nhớ   thương   không   dứt…
Vô   đề   còn là một thông  điệp  về lòng  hiếu khách, ái hữu, tôn trọng , yêu quý bạn bè  rất mực của tác giả.
Kết thúc bài thơ, tôi cứ lẩm nhẩm :

Thác rồi ,tằm vẫn cho tơ.
Tàn rồi, nến mới biết khô lệ sầu.
Tứ thơ thật là tao nhã!  Tứ thơ không những cao ngất lòng vị tha mà  nó còn dạt dào thông đạt một thái độ hiểu lẽ đời, (ý thức rõ cái nghĩa thống  khổ, thương  đau trong cõi người ta) …của một thức giả, của một bậc minh triết.

Ngân Triều

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét