Thơ Trương Quỳnh Như, bài 17 và 18. (hết)
Cảnh chùa Am, di tích quốc gia, trên 600 năm.
Thích nhàn từng trải thú sơn hà,
Phong cảnh am mây mới gọi là…
Doành[1] chở bè từ[2] vờn sắc ngọc,
Đỉnh in trăng tuệ[3] tỏ màu hoa.
Véo von kệ sớm câu chim gióng,
Êm ái đàn Xuân khúc gió hoà.
Dù chẳng thần tiên nhưng chẳng tục,
Mới hay rằng Phật cũng là ta.
Trương Quỳnh Như.
Nguồn: Quách Tấn, Hương vườn
cũ, NXB Hội nhà văn, 2007
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
山陰古寺,
惕閒曾𣦆趣山河,
風景庵𩅹買噲𪜀.
𠶓𠹚偈𣋽句𫚳凍,
㛪愛彈春曲𩙍和.
油丕神仙仍丞俗,
買能㖫佛共𪜀𢧲
Diễn ý bài thơ:
Thích nhàn từng
trải qua thú du ngoạn núi sông,
Phong cảnh
cái am cao ngất tầng mây, am mây mới gọi là…
Dòng nước, doành; chở bè lành, từ; lượn, vờn; trong sắc nước trong như ngọc,
Đỉnh núi in bóng vầng trăng khôn sáng, tuệ; soi sáng tỏ màu hoa.
Véo von hót sớm mai như câu kệ trỗi lên, gióng.
Gió êm mát, gió hoà như một khúc đàn Xuân.
Dù không phải
là thần tiên nhưng chẳng phải tầm thường, tục;
Mới hay rằng Phật cũng là ta.
Nội dung bài thơ:
-Hai
câu đề: Giới thiệu bản thân tác giả và Sơn Âm cổ tự.
Bản thân đã từng đi vãng cảnh khắp nơi
trên mọi miền đất nước.
Chùa Sơn Âm cổ tự thì ở trên núi, cao ngất
tầng mây.
-Bốn
câu thực-luận: Những chi tiết độc đáo trên đường đi:
Chiếc bè lành, trôi trên dòng sông xanh
biếc, nước trong veo như ngọc.
Đường đêm, ánh trăng soi lên đỉnh núi,
ngàn hoa rực rỡ lộ ra.
Ban ngày, chim hót véo von như những bài
kệ trỗi lên.
Gió Xuân êm mát, xuyên qua cành lá như
đang hòa tấu một khúc nhạc.
-Hai
câu kết: Cảm nghĩ của tác giả:
Dẫu không phải là thần tiên hay khách tục
nhưng lòng vui phơi phới vì “Phật tức tâm, tâm tức Phật”[4] 佛 即心, 心即佛.
Ngân Triều cảm đề Sơn âm cổ tự:
Bước chân in dấu, khắp sơn hà,
Am ngất tầng mây, mới gọi là…
Bè lành dòng biếc, trong như ngọc,
Trăng soi đỉnh núi, tỏ ngàn hoa.
*
Chim hót véo von, câu kệ trỗi,
Êm mát gió Xuân, khúc nhạc hoà.
Dẫu chẳng thần tiên, không khách tục,
Rõ ràng lòng Phật, cũng lòng ta.[5]
***
[18] Tặng ông Chiêu Lỳ
về quê, Trương Quỳnh Như
Hương lửa[6] tình này dễ nói
năng,
Chẳng hay lòng khách thấu cùng chăng?
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu đà xui yến cách chừng.
Vàng đá[7] nên chăng cùng một ước,
Nước non thề[8] đã có đôi vừng.
Lời này dặn với tri âm nhé:
Chớ đổi cầm treo[9] đợi dưới trăng.
Nguồn: Thơ tình nữ sĩ Việt Nam, Kiều Văn
tuyển chọn, NXB Đồng Nai
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
贈翁招離衛圭
香焒情尼𥚯訥能,
丞能𢙱客腠共丕?
園桃忇𧡊鶯拸信,
𨤮柳㐌吹燕鎘烝.
鐄𥒥𢧚丕共沒約,
渃𡽫誓㐌𣎏對暈.
𠳒尼吲某知音唲,
𠤆𢷮琴招𫁧𨑜𦝄.
張瓊茹
-Hương lửa thề nguyền, thật khó mà giải bày tâm tư.
-Hỡi chàng ơi! Có thấu hiểu cho tấm lòng thiếp chăng?
-Lúc đang ở vườn đào, chợt nhận tin chàng đưa đến,
-Chạnh tưởng chàng nơi dặm liễu xa xôi kia, ai làm cho đôi ta cách xa?
-Tình có phôi pha hay chăng thì cũng đà chung mộng ước,
-Lời thề non nước ấy đã có đôi vầng nhật nguyệt tỏ soi.
-Xin có mấy lời dặn với người thương nhé!
- Mai sau, chớ phụ “người ta” đợi dưới trăng.
*
Tặng ông Chiêu Lỳ về quê, Ngân Triều cảm đề
Hương
lửa thề nguyền, khó nói ra,
Chẳng hay tao khách thấu lòng ta?
Vườn đào chợt thấy tin oanh đến,
Dặm liễu ai xui yến cách xa.
Vàng đá đợi trông cùng mộng ước,
Đôi vừng non nước mãi không nhòa.
Mấy lời
nhắn nhủ tri âm nhé:
Dưới
nguyệt đừng quên khách đợi chờ.
*
[18bis] Tiễn Phạm Thái (@)
Sắt đá lòng này có
biết chăng?
Xe duyên mong mượn gió cung Đằng.
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu ai xui én cách chừng?[10]
Vàng ngọc ví không cùng một ước,
Nước non thề đã có hai vầng.
Ai sang cậy hỏi tri âm với,
Chớ phụ cầm thư[11] đợi dưới trăng.
Trương
Quỳnh Như
(@)
Bài thơ này coi như dị bản của bài thơ số [18] Tặng ông Chiêu Lỳ về quê. Nguồn:
1. Quách Tấn, Hương vườn
cũ, NXB Hội nhà văn, 2007. 2. Quách Tấn, Nét bút giai nhân, NXB Hà Nội, 1977.
Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn
餞笵泰
鉄𥒥𢙱尼𣎏別丕,
𦀺緣懞𠼦𩙍宫滕.
園桃忇𧡊鶯拸信,
𨤮柳埃吹燕挌烝.
鐄玉喟空共沒約,
渃𡽫誓㐌𣎏𠄩暈.
埃廊𢚁噲知音貝,
Ngân Triều cảm đề
Bền lòng sắt đá biết chăng?
Những mong mượn gió cung Đằng xe duyên.
Vườn đào oanh chợt đưa tin,
Ai xui dặm liễu én oanh cách chừng?
Mai sau vàng ngọc không cùng,
Lời thề non nước hai vừng cao thâm.
Biết ai cậy hỏi tri âm,
Dưới trăng chớ phụ tao nhân đợi chờ.
***
Ghi
chú của NT.
Khi mở trang thơ
của Trương Quỳnh Như trong Thi Viện, tôi nhặt được 13 bài thơ gồm:
-10 bài vịnh
canh giờ tong ngày (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ Ngọ, Mùi Thân và Dậu). Riêng
hai bài vịnh giờ Tuất và Hợi thì Phạm Thái làm tiếp theo.
11-Sơn Âm Cổ tự.
12-Tặng Ông
Chiêu Lỳ về quê.
13-Tiễn Phạm
Thái.
-------
Tôi lại tìm thêm được 4 bài nữa, tổng cộng là 17 bài thơ, nên xin ghi ra luôn để quý vị tham khảo:
14-Đề núi Dục Thúy.
15-Thăm chùa Non Nước.
16-Bài họa Ngày Xuân uống rượu của Phạm
Thái.
17- Bài họa Vịnh Tố Nữ đồ của Phạm Thái.
-------
Ba bài thơ Sơn Âm Cổ Tự, Đề Núi Dục Thúy, Thăm Chùa Non Nước có lẽ được sáng
tác trước trang tình sử của tác giả với Phạm Thái.
(Hết)
Chú thích:
[1] Doành (duềnh): 溋, dòng
nước.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
[3] Tuệ: 慧, khôn sáng.
[4]Phật
tức tâm, tâm tức Phật: 佛 即心, 心即佛. Phật tức
là những điều thiện ở trong lòng ta, những điều thiện ở trong lòng ta tức là Phật
đấy.
[5] Phỏng dịch câu Phật tức tâm, tâm tức Phật, Rõ ràng lòng Phật, cũng lòng ta.
[6] Hương lửa: 香焒
là do chữ hương và đèn trong thề nguyền đôi lứa. Sách Truyền Đăng Lục chép rằng:
Có một người nằm mộng, thấy một vị lão tăng, ở trước mặt có tia khói rất nhỏ. Vị
tăng nói rằng: Đó là khói hương của người đàn việt (người có lòng bố
thí) kết nguyện, người kết nguyện ấy đã trải qua ba kiếp mà khói hương vẫn còn.
Do điển ấy, người ta nói hương lửa ba sinh là hương lửa thề nguyền có hiệu
lực đến ba kiếp.
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn
phương. ĐTTT,
Nguyễn Du, (1766-1820), câu 2213-2214.
[7] Vàng đá hay đá vàng, do chữ kim thạch, chỉ chuông, vạc
bằng đồng; bia, kệ bằng đá. Người xưa dùng để ghi công cho được bền lâu. Ngoài
ra, đá vàng còn dùng để chỉ lòng trung thành, tình yêu bền vững hay tiết tháo
trung trinh.
Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời vâng tạc đá vàng thủy
chung.
ĐTTT, Nguyễn Du,(1766-1820),
câu 351-352.
[9] Cầm treo: cây đàn treo, lở đây có thể hiểu
là tao khách, tao nhân: (người khách phong lưu, thanh lịch). Xin xem
thêm chú thích 110: cầm thư tiếp theo.
[10] Cách chừng: 挌烝, Cách biệt nhau, mỗi người một nơi,
mỗi người một hướng.
[11] Cầm thư: 琴書, Đàn và sách. Đào Uyên
Minh 陶淵明:
“Duyệt thân thích chi tình thoại, lạc cầm thư dĩ tiêu ưu” 悅親戚之情話, 樂琴書以消憂 (Quy
khứ lai từ 歸去來辭)
“Vui vẻ nghe chuyện trò tình thật của người thân thích, vui với cây đàn và cuốn
sách để khuây lo”. Ngoài ra, Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Cầm thư: Cây đàn và
cuốn sách. Chỉ người học trò, kẻ sĩ. Nguyễn Công Trứ khi đi thi có vế câu đối
tự thuật rằng:
“Anh em ơi, ba mươi sáu tuổi rồi,
khắp đông tây năm bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.
Trời đất nhẽ, gắng một phen này nữa,
xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh”. Ở đây có thể hiểu là tao
khách, tao nhân (người khách phong lưu, thanh lịch).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét