Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Thơ Trương Quỳnh Như, bài 17 và 18. (hết)

 Thơ Trương Quỳnh Như, bài 17 và 18. (hết)

                                             

Cảnh chùa Am, di tích quốc gia, trên 600 năm.

[17] Sơn âm cổ tự

Thích nhàn từng trải thú sơn hà,
Phong cảnh am mây mới gọi là…

Doành
[1] chở bè từ[2] vờn sắc ngọc,
Đỉnh in trăng tuệ
[3] tỏ màu hoa.
Véo von kệ sớm câu chim gióng,
Êm ái đàn Xuân khúc gió hoà.

Dù chẳng thần tiên nhưng chẳng tục,
Mới hay rằng Phật cũng là ta.

Trương Quỳnh Như.

Nguồn: Quách Tấn, Hương vườn cũ, NXB Hội nhà văn, 2007

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

      山陰古寺,

惕閒曾𣦆趣山河,

風景庵𩅹買噲𪜀.

𨔾𣙨慈援色玉,
頂印𦝄訴牟花.

𠶓𠹚𣋽𫚳,

㛪愛彈春曲𩙍.

油丕神仙仍丞俗,

買能㖫佛共𪜀𢧲

                            張瓊茹

Diễn ý bài thơ:

Thích nhàn từng trải qua thú du ngoạn núi sông,

Phong cảnh cái am cao ngất tầng mây, am mây mới gọi là…

Dòng nước, doành; chở bè lành, từ; lượn, vờn; trong sắc nước trong như ngọc,
Đỉnh núi in bóng vầng trăng khôn sáng,
tuệ; soi sáng tỏ màu hoa.
Véo von hót sớm mai như câu kệ trỗi lên,
gióng.

Gió êm mát, gió hoà như một khúc đàn Xuân.

Dù không phải là thần tiên nhưng chẳng phải tầm thường, tục;
Mới hay rằng Phật cũng là ta
.

Nội dung bài thơ:

           -Hai câu đề: Giới thiệu bản thân tác giả và Sơn Âm cổ tự.

Bản thân đã từng đi vãng cảnh khắp nơi trên mọi miền đất nước.

Chùa Sơn Âm cổ tự thì ở trên núi, cao ngất tầng mây.

          -Bốn câu thực-luận: Những chi tiết độc đáo trên đường đi:

Chiếc bè lành, trôi trên dòng sông xanh biếc, nước trong veo như ngọc.

Đường đêm, ánh trăng soi lên đỉnh núi, ngàn hoa rực rỡ lộ ra.

Ban ngày, chim hót véo von như những bài kệ trỗi lên.

Gió Xuân êm mát, xuyên qua cành lá như đang hòa tấu một khúc nhạc.

          -Hai câu kết: Cảm nghĩ của tác giả:

Dẫu không phải là thần tiên hay khách tục nhưng lòng vui phơi phới vì “Phật tức tâm, tâm tức Phật[4] , 心即佛.

Ngân Triều cảm đề Sơn âm cổ tự:

Bước chân in dấu, khắp sơn hà,
Am ngất tầng mây, mới gọi là…

Bè lành dòng biếc, trong như ngọc,
Trăng soi đỉnh núi, tỏ ngàn hoa.
*

Chim hót véo von, câu kệ trỗi,

Êm mát gió Xuân, khúc nhạc hoà.

Dẫu chẳng thần tiên, không khách tục,
Rõ ràng lòng Phật, cũng lòng ta.
[5]

***

[18] Tặng ông Chiêu Lỳ về quê, Trương Quỳnh Như

Hương lửa[6] tình này dễ nói năng,
Chẳng hay lòng khách thấu cùng chăng?
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu đà xui yến cách chừng.
Vàng đá
[7] nên chăng cùng một ước,
Nước non thề
[8] đã có đôi vừng.
Lời này dặn với tri âm nhé:
Chớ đổi cầm treo
[9] đợi dưới trăng.                                           
Nguồn: Thơ tình nữ sĩ Việt Nam, Kiều Văn tuyển chọn, NXB Đồng Nai

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

贈翁招離衛圭

情尼𥚯訥能,

丞能𢙱客腠共丕?

園桃忇𧡊拸信,

𨤮㐌吹燕鎘烝.

𥒥𢧚丕共沒約,

𡽫𣎏對暈.

𠳒吲某知音唲,

𠤆𢷮琴招𫁧𨑜𦝄.

             張瓊茹

-Hương lửa thề nguyền, thật khó mà giải bày tâm tư.

-Hỡi chàng ơi! Có thấu hiểu cho tấm lòng thiếp chăng?

-Lúc đang ở vườn đào, chợt nhận tin chàng đưa đến,

-Chạnh tưởng chàng nơi dặm liễu xa xôi kia, ai làm cho đôi ta cách xa?

-Tình có phôi pha hay chăng thì cũng đà chung mộng ước,

-Lời thề non nước ấy đã có đôi vầng nhật nguyệt tỏ soi.

-Xin có mấy lời dặn với người thương nhé!

- Mai sau, chớ phụ “người ta” đợi dưới trăng.

*

Tặng ông Chiêu Lỳ về quê, Ngân Triều cảm đề

Hương lửa thề nguyền, khó nói ra,
Chẳng hay tao khách thấu lòng ta?
Vườn đào chợt thấy tin oanh đến,
Dặm liễu ai xui yến cách xa.
Vàng đá đợi trông cùng mộng ước,
Đôi vừng non nước mãi không nhòa.

Mấy lời nhắn nhủ tri âm nhé:

Dưới nguyệt đừng quên khách đợi chờ.

*

[18bis] Tiễn Phạm Thái (@)

Sắt đá lòng này có biết chăng?
Xe duyên mong mượn gió cung Đằng.
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu ai xui én cách chừng?
[10]
Vàng ngọc ví không cùng một ước,
Nước non thề đã có hai vầng.
Ai sang cậy hỏi tri âm với,
Chớ phụ cầm thư
[11] đợi dưới trăng.

                                                                                        Trương Quỳnh Như
(@) Bài thơ này coi như dị bản của bài thơ số [18] Tặng ông Chiêu Lỳ về quê. Nguồn: 1. Quách Tấn, Hương vườn cũ, NXB Hội nhà văn, 2007. 2. Quách Tấn, Nét bút giai nhân, NXB Hà Nội, 1977.

Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn

      

       餞笵泰

𥒥𢙱𣎏別丕,

𦀺緣懞𠼦𩙍.

園桃忇𧡊拸信,

𨤮柳埃吹燕挌烝.

鐄玉喟空共沒約,

𡽫𣎏𠄩.

埃廊𢚁噲知音貝,

琴書𨑜𦝄.
                             張瓊茹

Ngân Triều cảm đề

Bền lòng sắt đá biết chăng?
Những mong mượn gió cung Đằng xe duyên.
          Vườn đào oanh chợt đưa tin,
Ai xui dặm liễu én oanh cách chừng?
          Mai sau vàng ngọc không cùng,
Lời thề non nước hai vừng cao thâm.

          Biết ai cậy hỏi tri âm,
Dưới trăng chớ phụ tao nhân đợi chờ.

***

Ghi chú của NT.

Khi mở trang thơ của Trương Quỳnh Như trong Thi Viện, tôi nhặt được 13 bài thơ gồm:

-10 bài vịnh canh giờ tong ngày (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ Ngọ, Mùi Thân và Dậu). Riêng hai bài vịnh giờ Tuất và Hợi thì Phạm Thái làm tiếp theo.

11-Sơn Âm Cổ tự.

12-Tặng Ông Chiêu Lỳ về quê.

13-Tiễn Phạm Thái.

-------
Tôi lại tìm thêm được 4 bài nữa, tổng cộng là
17 bài thơ, nên xin ghi ra luôn để quý vị tham khảo:

14-Đề núi Dục Thúy.

15-Thăm chùa Non Nước.

16-Bài họa Ngày Xuân uống rượu của Phạm Thái.

17- Bài họa Vịnh Tố Nữ đồ của Phạm Thái.

-------
Ba bài thơ Sơn Âm Cổ Tự, Đề Núi Dục Thúy, Thăm Chùa Non Nước có lẽ được sáng tác trước trang tình sử của tác giả với Phạm Thái.

 

(Hết)



Chú thích:

[1] Doành (duềnh): , dòng nước.

 Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

ĐTTT, Nguyễn Du (1766-1820), câu 1053-1054.

[2] Bè từ: bè lành.

[3] Tuệ: , khôn sáng.

[4]Phật tức tâm, tâm tức Phật: 即心, 心即佛. Phật tức là những điều thiện ở trong lòng ta, những điều thiện ở trong lòng ta tức là Phật đấy.

[5] Phỏng dịch câu Phật tức tâm, tâm tức Phật, Rõ ràng lòng Phật, cũng lòng ta.

[6] Hương lửa: là do chữ hương và đèn trong thề nguyền đôi lứa. Sách Truyền Đăng Lục chép rằng: Có một người nằm mộng, thấy một vị lão tăng, ở trước mặt có tia khói rất nhỏ. Vị tăng nói rằng: Đó là khói hương của người đàn việt (người có lòng bố thí) kết nguyện, người kết nguyện ấy đã trải qua ba kiếp mà khói hương vẫn còn. Do điển ấy, người ta nói hương lửa ba sinh là hương lửa thề nguyền có hiệu lực đến ba kiếp.

Nửa năm hương lửa đương nồng,

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. ĐTTT,

Nguyễn Du, (1766-1820), câu 2213-2214.

[7] Vàng đá hay đá vàng, do chữ kim thạch, chỉ chuông, vạc bằng đồng; bia, kệ bằng đá. Người xưa dùng để ghi công cho được bền lâu. Ngoài ra, đá vàng còn dùng để chỉ lòng trung thành, tình yêu bền vững hay tiết tháo trung trinh.

Đã lòng quân tử đa mang,

Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung.

ĐTTT, Nguyễn Du,(1766-1820), câu 351-352.

[8] Nước non thề: tức là Sơn minh hải thệ: , lời thề lấy núi và bể làm nhân chứng.

[9] Cầm treo: cây đàn treo, lở đây có thể hiểu là tao khách, tao nhân: (người khách phong lưu, thanh lịch). Xin xem thêm chú thích 110: cầm thư tiếp theo.

[10] Cách chừng: 挌烝, Cách biệt nhau, mỗi người một nơi, mỗi người một hướng.

[11] Cầm thư: 琴書, Đàn và sách. Đào Uyên Minh : “Duyệt thân thích chi tình thoại, lạc cầm thư dĩ tiêu ưu”  (Quy khứ lai từ ) “Vui vẻ nghe chuyện trò tình thật của người thân thích, vui với cây đàn và cuốn sách để khuây lo”. Ngoài ra, Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Cầm thư: Cây đàn và cuốn sách. Chỉ người học trò, kẻ sĩ. Nguyễn Công Trứ khi đi thi có vế câu đối tự thuật rằng:

“Anh em ơi, ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông tây năm bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác. 

Trời đất nhẽ, gắng một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh”. Ở đây có thể hiểu là tao khách, tao nhân (người khách phong lưu, thanh lịch).

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét