Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

Những bài thơ hay của Phạm Thái, bài 3,4,5,6 và 7

Những bài thơ hay của Phạm Thái, bài 3,4,5,6 và 7       

*

[3] NÚI CON VOI

                                Thơ Phạm Thái

Tạo hoá khen thay khéo vẽ vời

Dạm[1] nên một rặng núi Con Voi

Tới chầu điện ngắm quỳ khom gối

Nằm ngắm doành[2] thanh vắt vẻo vòi

Cây biếc dưới trên che tán rợp

Mây vàng cao thấp thắng bành ngồi

Cưa mưa búa tuyết dầu dầu[3] vậy

Xương đá lòng rêu vẫn hẳn hoi[4]

Núi Voi là một quần thể thiên nhiên đa dạng, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 20km về phía Tây Nam. Núi Voi là một ngọn núi cao nhất ở phía bắc Kiến An, bên bờ sông Lạch Tray. Ngay dưới chân núi có động Long Tiên. Trong động thờ bà Lê Chân, một nữ tướng của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, người đã lập ra làng An Biên, Hải Phòng ngày nay.

Trên đỉnh núi Voi có một khoảng đất tương đối bằng phẳng gọi là bàn cờ cõi tiên. Trên núi còn nhiều dấu vết đền chùa và vết tích thành nhà Mạc được xây dựng vào thế kỷ XVI.

Đặc biệt các nhà khảo cổ còn tìm thấy nhiều di vật của người xưa như rìu, đục bằng đá, đồng cách đây gần 3.000 năm. Di tích núi Voi còn chứa nhiều hang động kỳ thú như động Long Tiên, động Nam Tào, Bắc Đẩu, động Họng Voi, Bàn cờ Tiên cùng những truyền thuyết bí ẩn, hấp dẫn.

          Năm 1089, Nhà Lý cho xây chùa; đời nhà Trần, nhà Mạc tiếp tục xây đền, chùa, cung điện (đền Chúa Thượng, Chúa Hạ). Hang động trên Núi Voi mang đậm dấu ấn chiến tích chống giặc ngoại xâm qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Hải Phòng:

 

 



        

 Ảnh Núi Voi, Hải Phòng, [bài 3] Google.

“Đứng trên đỉnh núi ta thề

        Không giết được giặc,                                                                                                          không về Núi Voi”

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

    𡶀𡥵.

造化𠸦埃矯𡲈,

𢴗𢧚沒鄧𡶀𡥵.

𨗛殿𥋴跪堪𨆝,

𦣰𥋴溋清𢪱𦞑.

核碧𨑜𨑗𩂏,

𩅹黄高𥰊乘彭𡎢.

𩄎鈽雪油油丕,

𩩪𥒥𢙱𧄈吻罕.

Diễn ý bài thơ:

+Hai câu đề:
Giới thiệu núi Con Voi:
-Thật khen thay tài biến hóa, vẽ vời của Tạo Hóa,

-Đã tạo ra một rặng núi có hình dáng con voi.

+Bốn câu thực-luận:

Hình dáng và trang bị của con voi.

-Voi đang quỳ khom gối như khi tới chầu điện vua,

-Voi đang vắt vẻo cái vòi, như đang ngắm nhìn dòng suối đẹp chảy trong xanh.

-Cái tán của voi là rừng cây xanh như ngọc bích che dưới, phủ trên.

-Cái bành để người ngồi của voi là những áng mây vàng cao thấp.

+Hai câu kết: Cảm tưởng của tác giả: Thời gian tàn phá tất cả nhưng núi con Voi vẫn trường cửu.

-Núi con Voi đã dạn dày trong mưa gió như cưa xẻ thân, tuyết sương như búa bổ đầu,

-Xương như đá, lòng như rêu, mãi mãi trường tồn với thời gian.

      Ngân Triều cảm đề:
Tạo hóa huyền vi tạc tuyệt vời,

Khen cho tụng phẩm, núi con voi.

Quỳ khom gối phục chầu cung ngự,

Say ngắm dòng mơ, lắt lẻo vòi.

Trên dưới rừng ươm, xây tán biếc,

Thấp cao mây ủ, dựng bành ngồi.

Tuyết mưa như búa mòn năm tháng,

Rêu đá bền gan vẹn hẳn hoi.

15/09/2019

                      ***

             [4] TỰ THÁN

                         Thơ Phạm Thái

Dăm bảy năm nay những loạn ly,

Cũng thì duyên phận, cũng thì thì.

Ba mươi tuổi lẻ là bao nả,[5]

Năm sáu đời vua khéo chóng ghê!

Một tập thơ dày ngâm sảng sảng,[6]

Vài nai rượu kếch ních tì tì.[7]

Chết về tiên bụt cho xong kiếp,

Đù oả trần gian sống mãi chi!

Nguồn: Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm

Quyển 2, NXB Bộ Giáo Dục, trang 90.

            Bản Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

          自嘆

𠄼𦉱𢆥𠉞仍亂漓,

共時緣分共時時.

𠀧𨑮𥛭羅包拏,

𠄼𦒹𠁀𢂜𨖼𠺳.

沒集集𠫅创磢,

排坭溜劇𡀡裨裨.

𣩁衛仙侼渚衝刧,

𡀤婐塵間𤯨買之!

Diễn ý bài thơ:
Dăm bảy năm nay toàn là những loạn ly,

Cũng có duyên phận như thế và cũng có thời như thế.

Hơn ba mươi tuổi sao ta nghe ngần ấy năm như chẳng là mấy chốc,

Trải qua năm sáu đời vua rồi, sao mà thật chóng ghê!

Có tập thơ dày, ta cứ ngâm dõng dạc,

Có nai rượu kết, ta vẫn uống hơi dài không thôi.

Chết quách về tiên bụt cho xong kiếp đi thôi!
Chém cha đời nầy, đầy cay đắng thì sống mãi làm chi?

 


Chết về tiên bụt kiếp này,

                   Trần ai chết tiệt,[8] sống hoài mãi chi?

                Ngân Triều Tranh minh họa bài [4], Google.

         Ngân Triều cảm đề:

Năm bảy năm, những loạn ly,

Tơ duyên thì cũng… cũng thì linh đinh.

      Ba mươi tuổi lẻ giật mình,

Mấy vua kế vị, triều đình mấy năm!

     Thơ dày sang sảng ta ngâm,

Tì tì nai rượu, ta nằm, ta say.

     Chết về tiên bụt kiếp này,

Trần ai chết tiệt,[9] sống hoài mãi chi?

16.09.2019 ֎֎

 [5] TỰ TRÀO

Có ai muốn biết tuổi tên gì,

Vừa chẵn hai mươi, gọi chú Lỳ.

Năm bảy bài thơ ngâm lếu láo,[10]

Một vài câu kệ tụng a ê!

Tranh vờn sơn thuỷ, màu lem luốc,[11]

Bầu giốc càn khôn, giọng bét be.[12]

Miễn được ngày nào ngang dọc đã,

Sống thì nuôi lấy, chết chôn đi!

       Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

         自嘲

固埃, 𠸛,

𣃣𠄩𨑮, 噲注離.

𠄼𦉱牌詩吟𠮩,

沒排句偈誦丫𠲖!

幀援山水, 牟淋綠,

蔀渥乾坤, 𦛺.

勉得𣈜芾昂,

𤯨時挼𥙩, 𣩁𪠞!

Diễn ý bài thơ:

Có ai muốn biết ta tuổi, tên gì,

Ta vừa chẵn hai mươi, tên gọi là chú Lì

Ta có dăm bài thơ ngâm dõng dạc,

Ta có vài câu kệ để tụng ê a.

Ta vẽ tranh sơn thủy nổi lên, màu dơ bẩn,

Ta giốc bầu rượu cùng trời đất, giọng lè nhè.

Miễn sống ngày nào cho phỉ chí tang bồng,

          Sống thì hãy nuôi, chết hãy chôn đi.

                                          Ngân Triều cảm đề

                                     Ai muốn biết, tuổi tên gì,

Hai mươi tuổi chẵn, chú Lì ấy tên.

     Dăm bài dõng dạc ngâm lên,

Có câu kệ Phật tụng rền ê a.

Lem luốc sơn thủy thực là…

Giốc cao bầu rượu, sơn hà bét be.

     Miễn sao phỉ chí trai he…

Sống chơi, chết bỏ sè sè mộ hoang.

16.09.2019

[6] VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (*)

Thơ Thuận nghịch độc.

(Đọc xuôi, thơ chữ Nôm, Đọc ngược là bài thơ chữ Hán)

Đọc xuôi:

Thanh Xuân tỏa liễu lãnh tiêu phòng,

Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.

Thanh dạng đổ liên phi phất lục,

Đạm hy tàn cúc thái sơ hoàng.

Tình si dị tố liêm biên nguyệt,

Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.

Tranh khúc cưỡng khiêu sầu mỗi bận,

Oanh ca nhật vĩnh các tiêu hương.

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

青春瑣柳冷椒房,

錦柚停針𥃷點粧.

杜蓮非彿綠,

淡希殘菊彩初黄.

情痴易訴帘边月,

夢促曾僚帳嵿霜.

筝曲強挑愁每遍,

鶯歌日永閣椒香.

Đọc ngược

Bản dịch của Phạm Thái:

Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh

Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh

Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng

Nguyệt bên rèm, tỏ dễ si tình

Vàng tha thướt, cúc tan hơi đạm

Lục phất phơ, sen đọ rạng thanh

Trang điểm ngại chăm, dừng trục gấm

Phòng tiêu lạnh lẽo khoá Xuân xanh.

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

香椒閣永日歌鶯

遍每愁挑強曲筝.

霜嵿帳僚曾促夢,

边帘訴易痴情.

黄初彩, 菊殘希淡,

綠彿非, 蓮杜.

粧點𥃷針停柚錦,

房椒冷柳瑣春青.

*
(*)
Giai thoại kể rằng một hôm Phạm Thái ngồi uống rượu với Kiến Xuyên hầu. Kiến Xuyên hầu trông vào bức tranh tố nữ, bảo ông thử uống cạn mười chén, vịnh thơ một bài. Phạm Thái vâng mệnh, cất bút thảo luôn bài này. Hầu xem xong thích lắm, khen là “thanh quan thắng tuyệt” (trong sáng tuyệt vời), từ đấy hầu có ý muốn gả con gái là Trương Quỳnh Như cho Phạm Thái, vì cũng biết là hai người đã yêu nhau. Tuy nhiên, bà mẹ Quỳnh Như không bằng lòng. Sau Quỳnh Như bị ép gả cho một người khác, nàng liền tự tử. Từ đấy Phạm Thái buồn bã, chán nản, đi lang thang đây đó, uống rượu làm thơ, tự xưng là Chiêu Lỳ.

Đây là một bài thơ theo lối thuận nghịch độc, đọc xuôi bằng chữ Hán, đọc ngược bằng chữ Nôm. Bản dịch chính là bản đọc ngược của bài thơ bằng chữ Nôm.


         Ảnh Sông Nhị hay sông Hồng, Google.

Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,

Nước Nam sừng sững sách trời còn. Ngân Triều.

***
[7]
Họa bài VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (*) của Phạm Thái:

Véo von[13] bên liễu tiếng hoàng oanh,

Khuyên khách đừng quên chí chiến tranh.

Giữa lúc nước nhà đang hoạn nạn,[14]

Phải khi tráng sĩ vướng tơ tình?

Sông trôi đất Bắc in dòng đỏ,

Núi đứng trời Nam nhuộm vẻ thanh.

Khúc khải hoàn ca rồi mạnh mẽ,

Phòng tiêu[15] đầm ấm rạng ngày xanh.

Trương Quỳnh Như

    Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

𠶓边柳黄鶯,

勸客停𠅳志戰爭.

𠁹𣅶渃茄當患难,

沛欺壯士𥿁絲情?

坦北印𣳔,

𡶀𥪸𡗶南染𡲈.

曲凱還歌耒猛瑪,

房椒淫喑𠓁𣈜𩇛.

Diễn ý bài thơ:
Bên rặng liễu, có tiếng hót cao và thanh, véo von con chim hoàng oanh nào,

Khuyên người khách đừng quên nhiệm vụ chiến tranh.

Dẫu rằng tráng sĩ đang vướng vào vòng tình ái.

Kìa, đất Bắc, dòng sông trôi in màu đỏ,

Nọ, núi trời Nam nhuộm màu xanh.

Chừng nào chiến thắng trở về, khúc khải hoàn ca, tưng bừng,
Chúng ta sẽ chung một phòng tiêu ấm áp rạng rỡ ngày xanh.

          Ngân Triều cảm đề:

Rặng liễu hoàng oanh hót véo von,

Chiến tranh nhắc nhở chí hằng toan.

Những đau vận nước, thương dân khổ,

Chớ đắm biển tình, đuối phấn son.

Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,

Nước Nam sừng sững sách trời còn.

Khải hoàn vang dội mừng Xuân mới,

Là lúc tưng bừng phượng với loan.

21.09.2019



***
Chú thích

[1] Dạm: tô lại, như dạm mực, dạm son, dạm chữ. Ở đây có nghĩa tạo ra, làm nên.

[2] Doành: dòng nước, ở đây là dòng suối nước trong veo xanh biếc, doành thanh.

[3] Dầu dầu: phơi trải ra.

[4] Hẳn hoi: tươm tất, tử tế, trọn vẹn. Ở đây là trường tồn, còn lại dài lâu với thời gian.

[5] Nả: ngắn ngủi, chẳng mấy chốc

[6] Sảng sảng: thường nói là sang sảng, dõng dạc, dòn dã, mạnh mẽ.

[7] Tì tì: cách uống rượu ừng ực, liên tục, dài hơi hết chai, hết bầu.

 [9] Chết tiệt: tiếng chửi thề, chết đi cho rổi.

[10] Lếu láo: hỗn và xấc xược; bậy bạ, không thực. Ở đây có thể hiểu là khoác lác, lên mặt; tự cao và chơi trội hơn người.

[11] Lem luốc: dơ bẩn

[12] Bét be: giọng lè nhè của người say rượu. đồng nghĩa với bét nhè.

[13] Véo von: tiếng chim hót cao và thanh.

[14] Hoạn nạn: lo lắng, tai nạn.

[15] Phòng tiêu: phòng trải hạt hoặc quét tường bằng bột hạt tiêu cho ấm thường thấy ở các nhà quyền quý.

(Còn tiếp) 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét