Những bài thơ hay của Phạm Thái, bài 3,4,5,6 và 7
*
[3] NÚI CON VOI
Thơ Phạm Thái
Tạo hoá khen thay khéo vẽ vời
Dạm[1]
nên một rặng núi Con Voi
Tới chầu điện ngắm quỳ khom gối
Nằm ngắm doành[2]
thanh vắt vẻo vòi
Cây biếc dưới trên che tán rợp
Mây vàng cao thấp thắng bành ngồi
Cưa mưa búa tuyết dầu dầu[3]
vậy
Xương đá lòng rêu vẫn hẳn hoi[4]
Trên đỉnh núi Voi có một khoảng đất tương đối bằng phẳng gọi là bàn
cờ cõi tiên. Trên núi còn nhiều dấu vết đền chùa và vết tích thành nhà Mạc được xây dựng vào thế kỷ XVI.
Đặc biệt các nhà khảo cổ còn tìm thấy nhiều di vật của người xưa
như rìu, đục bằng đá, đồng cách đây gần 3.000 năm. Di tích núi Voi còn chứa nhiều hang động kỳ thú như động Long
Tiên, động Nam Tào, Bắc Đẩu, động Họng Voi, Bàn cờ Tiên cùng những truyền
thuyết bí ẩn, hấp dẫn.
Năm
1089, Nhà Lý cho xây chùa; đời nhà Trần, nhà Mạc tiếp tục xây đền, chùa,
cung điện (đền Chúa Thượng, Chúa Hạ). Hang động trên Núi Voi mang đậm dấu ấn
chiến tích chống giặc ngoại xâm qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của
nhân dân Hải Phòng:
Ảnh Núi Voi, Hải Phòng, [bài 3] Google.
“Đứng
trên đỉnh núi ta thề
Không
giết được giặc, không về Núi Voi”
Phiên âm Hán Nôm,
Ngân Triều soạn:
𡶀𡥵㺔.
造化𠸦埃矯𡲈潙,
𢴗𢧚沒鄧𡶀𡥵㺔.
細𨗛殿𥋴跪堪𨆝,
𦣰𥋴溋清𢪱㧼𦞑.
核碧𨑜𨑗𩂏傘雴,
𩅹黄高𥰊乘彭𡎢.
鋸𩄎鈽雪油油丕,
𩩪𥒥𢙱𧄈吻罕咴.
Diễn ý bài thơ:
+Hai câu đề:
Giới thiệu núi Con Voi:
-Thật khen thay tài biến hóa, vẽ vời của Tạo Hóa,
-Đã tạo ra một rặng núi có hình dáng con
voi.
+Bốn câu thực-luận:
Hình dáng và trang bị của con voi.
-Voi đang quỳ khom gối như khi tới chầu điện
vua,
-Voi đang vắt vẻo
cái vòi, như đang ngắm nhìn dòng suối đẹp chảy trong xanh.
-Cái tán của voi là rừng cây xanh như ngọc
bích che dưới, phủ trên.
-Cái bành để người ngồi của voi là những
áng mây vàng cao thấp.
+Hai câu kết: Cảm
tưởng của tác giả: Thời gian tàn phá tất cả nhưng núi con Voi vẫn trường cửu.
-Núi con Voi đã dạn
dày trong mưa gió như cưa xẻ thân, tuyết sương như búa bổ đầu,
-Xương như đá, lòng như rêu, mãi mãi trường
tồn với thời gian.
Ngân Triều
cảm đề:
Tạo hóa huyền vi tạc tuyệt vời,
Khen cho tụng phẩm,
núi con voi.
Quỳ khom gối phục
chầu cung ngự,
Say ngắm dòng mơ,
lắt lẻo vòi.
Trên dưới rừng
ươm, xây tán biếc,
Thấp cao mây ủ, dựng
bành ngồi.
Tuyết mưa như búa
mòn năm tháng,
Rêu đá bền gan vẹn
hẳn hoi.
15/09/2019
***
[4] TỰ THÁN
Thơ Phạm Thái
Dăm bảy năm nay những loạn ly,
Cũng thì duyên phận, cũng thì thì.
Ba mươi tuổi lẻ là bao nả,[5]
Năm sáu đời vua khéo chóng ghê!
Một tập thơ dày ngâm sảng sảng,[6]
Vài nai rượu kếch ních tì tì.[7]
Chết về tiên bụt cho xong kiếp,
Đù oả trần gian sống mãi chi!
Nguồn: Việt Nam thi văn
hợp tuyển, Dương Quảng Hàm
Quyển 2, NXB Bộ Giáo Dục, trang 90.
Bản Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
自嘆
𠄼𦉱𢆥𠉞仍亂漓,
共時緣分共時時.
𠀧𨑮歲𥛭羅包拏,
𠄼𦒹𠁀𢂜窖𨖼𠺳.
沒集集𠫅吟创磢,
排坭溜劇𡀡裨裨.
𣩁衛仙侼渚衝刧,
𡀤婐塵間𤯨買之!
Diễn ý bài thơ:
Dăm bảy năm nay toàn là những loạn ly,
Cũng có duyên phận như thế và cũng có thời
như thế.
Hơn ba mươi tuổi sao ta nghe ngần ấy năm như
chẳng là mấy chốc,
Trải qua năm sáu đời vua rồi, sao mà thật
chóng ghê!
Có tập thơ dày, ta cứ ngâm dõng dạc,
Có nai rượu kết, ta vẫn uống hơi dài không
thôi.
Chết quách về tiên bụt cho xong kiếp đi
thôi!
Chém cha đời nầy, đầy cay đắng thì sống mãi làm chi?
Chết về tiên bụt kiếp này,
Trần ai chết tiệt,[8]
sống hoài mãi chi?
Ngân
Triều Tranh minh họa bài
[4], Google.
Ngân Triều cảm đề:
Năm
bảy năm, những loạn ly,
Tơ duyên thì cũng…
cũng thì linh đinh.
Ba mươi tuổi lẻ giật mình,
Mấy vua kế vị, triều
đình mấy năm!
Thơ dày sang sảng ta ngâm,
Tì tì nai rượu, ta
nằm, ta say.
Chết về tiên bụt kiếp này,
Trần ai chết tiệt,[9]
sống hoài mãi chi?
16.09.2019 ֎֎
[5] TỰ TRÀO
Có ai muốn biết tuổi tên gì,
Vừa chẵn hai mươi, gọi chú Lỳ.
Năm bảy bài thơ ngâm lếu láo,[10]
Một vài câu kệ tụng a ê!
Tranh vờn sơn thuỷ, màu lem luốc,[11]
Bầu giốc càn khôn, giọng bét be.[12]
Miễn được ngày nào ngang dọc đã,
Sống thì nuôi lấy, chết chôn đi!
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
自嘲
固埃㦖別, 歲𠸛咦,
𣃣診𠄩𨑮, 噲注離.
𠄼𦉱牌詩吟𠮩咾,
沒排句偈誦丫𠲖!
幀援山水, 牟淋綠,
蔀渥乾坤, 喠𦛺陂.
勉得𣈜芾昂唷㐌,
𤯨時挼𥙩, 𣩁墫𪠞!
Diễn ý bài thơ:
Có ai muốn biết ta tuổi, tên gì,
Ta vừa chẵn hai mươi, tên gọi là chú Lì
Ta có dăm bài thơ ngâm dõng dạc,
Ta có vài câu kệ để tụng ê a.
Ta vẽ tranh sơn thủy nổi lên, màu dơ bẩn,
Ta giốc bầu rượu cùng trời đất, giọng lè
nhè.
Miễn sống ngày nào cho phỉ chí tang bồng,
Sống thì hãy nuôi, chết hãy chôn đi.
Ngân Triều cảm đề
Ai muốn biết, tuổi tên gì,
Hai mươi tuổi chẵn,
chú Lì ấy tên.
Dăm bài dõng dạc ngâm lên,
Có câu kệ Phật tụng
rền ê a.
Lem
luốc sơn thủy thực là…
Giốc cao bầu rượu,
sơn hà bét be.
Miễn sao phỉ chí trai he…
Sống chơi, chết bỏ
sè sè mộ hoang.
16.09.2019
[6] VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (*)
Thơ Thuận
nghịch độc.
(Đọc
xuôi, thơ chữ Nôm, Đọc ngược là bài thơ chữ Hán)
Đọc xuôi:
Thanh
Xuân tỏa liễu lãnh tiêu phòng,
Cẩm trục
đình châm ngại điểm trang.
Thanh dạng
đổ liên phi phất lục,
Đạm hy
tàn cúc thái sơ hoàng.
Tình si dị
tố liêm biên nguyệt,
Mộng xúc
tằng liêu trướng đỉnh sương.
Tranh
khúc cưỡng khiêu sầu mỗi bận,
Oanh ca
nhật vĩnh các tiêu hương.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
青春瑣柳冷椒房,
錦柚停針𥃷點粧.
青样杜蓮非彿綠,
淡希殘菊彩初黄.
情痴易訴帘边月,
夢促曾僚帳嵿霜.
筝曲強挑愁每遍,
鶯歌日永閣椒香.
Đọc ngược
Bản dịch của Phạm Thái:
Hương
tiêu gác vắng nhặt ca oanh
Bận mối sầu
khêu gượng khúc tranh
Sương đỉnh
trướng gieo từng giục mộng
Nguyệt
bên rèm, tỏ dễ si tình
Vàng tha
thướt, cúc tan hơi đạm
Lục phất
phơ, sen đọ rạng thanh
Trang điểm
ngại chăm, dừng trục gấm
Phòng
tiêu lạnh lẽo khoá Xuân xanh.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
香椒閣永日歌鶯
遍每愁挑強曲筝.
霜嵿帳僚曾促夢,
月边帘訴易痴情.
黄初彩, 菊殘希淡,
綠彿非, 蓮杜样青.
粧點𥃷針停柚錦,
房椒冷柳瑣春青.
*
(*)
Giai thoại kể rằng một hôm Phạm Thái ngồi uống rượu với Kiến Xuyên hầu. Kiến
Xuyên hầu trông vào bức tranh tố nữ, bảo ông thử uống cạn mười chén, vịnh thơ một
bài. Phạm Thái vâng mệnh, cất bút thảo luôn bài này. Hầu xem xong thích lắm,
khen là “thanh quan thắng tuyệt” (trong sáng tuyệt vời), từ đấy hầu có ý muốn gả
con gái là Trương Quỳnh Như cho Phạm Thái, vì cũng biết là hai người đã yêu
nhau. Tuy nhiên, bà mẹ Quỳnh Như không bằng lòng. Sau Quỳnh Như bị ép gả cho một
người khác, nàng liền tự tử. Từ đấy Phạm Thái buồn bã, chán nản, đi lang thang
đây đó, uống rượu làm thơ, tự xưng là Chiêu Lỳ.
Đây là một bài thơ theo lối thuận nghịch độc,
đọc xuôi bằng chữ Hán, đọc ngược bằng chữ Nôm. Bản dịch chính là bản đọc ngược
của bài thơ bằng chữ Nôm.
Ảnh Sông
Nhị hay sông Hồng, Google.
Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,
Nước Nam sừng sững sách trời còn. Ngân Triều.
***
[7] Họa
bài VỊNH TỐ NỮ ĐỒ (*) của Phạm Thái:
Véo von[13]
bên liễu tiếng hoàng oanh,
Khuyên
khách đừng quên chí chiến tranh.
Giữa lúc
nước nhà đang hoạn nạn,[14]
Phải khi
tráng sĩ vướng tơ tình?
Sông trôi
đất Bắc in dòng đỏ,
Núi đứng
trời Nam nhuộm vẻ thanh.
Khúc khải
hoàn ca rồi mạnh mẽ,
Phòng
tiêu[15]
đầm ấm rạng ngày xanh.
Trương Quỳnh Như
Phiên âm Hán
Nôm, Ngân Triều soạn:
𠶓員边柳㗂黄鶯,
勸客停𠅳志戰爭.
𠁹𣅶渃茄當患难,
沛欺壯士𥿁絲情?
滝㵢坦北印𣳔䚂,
𡶀𥪸𡗶南染𡲈青.
曲凱還歌耒猛瑪,
房椒淫喑𠓁𣈜𩇛.
Diễn ý bài thơ:
Bên rặng liễu, có tiếng hót cao và thanh, véo
von con chim hoàng oanh nào,
Khuyên
người khách đừng quên nhiệm vụ chiến tranh.
Dẫu rằng
tráng sĩ đang vướng vào vòng tình ái.
Kìa, đất
Bắc, dòng sông trôi in màu đỏ,
Nọ, núi
trời Nam nhuộm màu xanh.
Chừng nào
chiến thắng trở về, khúc khải hoàn ca,
tưng bừng,
Chúng ta sẽ chung một phòng tiêu ấm áp rạng rỡ ngày xanh.
Ngân Triều cảm đề:
Rặng liễu hoàng oanh hót véo von,
Chiến tranh nhắc nhở chí hằng toan.
Những đau vận nước, thương dân khổ,
Chớ đắm biển tình, đuối phấn son.
Sông Nhị chưa phai màu máu khựa,
Nước Nam sừng sững sách trời còn.
Khải hoàn vang dội mừng Xuân mới,
Là lúc tưng bừng phượng với loan.
21.09.2019
***
Chú thích
[1] Dạm:
tô lại, như dạm mực, dạm son, dạm chữ. Ở đây có nghĩa tạo ra, làm nên.
[2] Doành:
dòng nước, ở đây là dòng suối nước trong veo xanh biếc, doành thanh.
[3] Dầu dầu: phơi trải ra.
[4] Hẳn hoi:
tươm tất, tử tế, trọn vẹn. Ở đây là trường tồn, còn lại dài lâu với thời gian.
[5] Nả: ngắn ngủi, chẳng mấy chốc
[6] Sảng sảng: thường nói là sang sảng, dõng dạc,
dòn dã, mạnh mẽ.
[7] Tì tì: cách uống rượu ừng ực, liên tục,
dài hơi hết chai, hết bầu.
[9] Chết tiệt: tiếng chửi thề, chết đi cho rổi.
[10] Lếu láo: hỗn và xấc xược; bậy bạ, không thực.
Ở đây có thể hiểu là khoác lác, lên mặt; tự cao và chơi trội hơn người.
[11] Lem luốc: dơ bẩn
[12] Bét be: giọng lè nhè của người say rượu. đồng
nghĩa với bét nhè.
[13] Véo von: tiếng chim hót cao và thanh.
[14] Hoạn nạn: lo lắng, tai nạn.
[15] Phòng tiêu: phòng trải hạt hoặc quét tường bằng
bột hạt tiêu cho ấm thường thấy ở các nhà quyền quý.
(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét