Thơ yết hậu:
Về thơ “Yết Hậu”, Phạm
Thái đã làm trước Tản Đà cả trăm năm; xem bài Gà Thiến của Tản Đà dưới đây:
[11] CHA CON RƯỢU
CHÈ CỜ BẠC
(Lời cha trách con)
Ác lặn, xăm xăm tới,
Gà kêu, lẻn lẻn về,
Quan ngắn hết, quan dài hết,
Ghê!...
*
(Con trả lời)
Một năm mười hai tháng,
Một tháng ba mươi ngày,
Hũ lớn cạn, hũ bé cạn,
Say!...
*
(Cha con phá nhà, vợ than thở)
Trông lên nhà đổ đoạn,
Trông xuống vách tan rồi,
Cha thế ấy, con thế ấy,
Thôi!...
Nguồn: Phổ Chiêu
thiền sư thi văn tập, 1932, trang 13
Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn:
𤕔𡥵溜茶棋鉑
鴉𠓬侵侵細,
鵸呌躒躒衛.
貫短喝, 貫𨱾喝,
稽!
*
沒𢆥𨑮𠄩𣎃,
沒𣎃𠀧𨑮𣈜.
圬𡘯汗, 圬𡮥汗,
醝!
*
𥉫𨑗茄杜斷,
𥉫𨑜𡋦散耒.
𤕔世意, 𡥵世意,
傕!
笵泰
***
GÀ THIẾN
Gà
thiến muốn đi tu
Chưa
thuộc tiếng nam mô
Cửa Phật chắc không hẹp
Cho nhờ chỗ bóp bu
Cúc cu.
(Tản Đà)
***
[11 bis]
Hay rượu
Thơ yết hậu
Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Chết về âm phủ cắp kè kè,
Diêm vương phán hỏi rằng: chi đó?
Be!
Phiên âm Hán Nôm
Ngân Triều soạn:
能酒
𤯨𣄒陽間𢱏𡃹㖇,
𣩁衛陰府𢰽棋棋,
閻王判噲㖫: 之帝?
𤮑!
*****
[12] Đối nguyệt cảm hứng
Đèn đàn nương chiếc bóng,
Nguyệt tỏ rạng bên hiên.
Xa diễn nào ai thấu?
Chi ta có phúc điền.
Phạm
Thái
Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932,
trang 11.
Phiên
âm Hán Nôm,
Ngân
Triều soạn:
對月感興
畑彈𢭗隻𣈖,
柁演芾埃腠,
之些𣎏𣎏田.
普照禪師 詩文集 1932, trang 11.
*****
[12 bis] Trời Đông nghe trống đánh
Đèn mờ khôn tỏ bóng,
Nguyệt khuyết mái Tây hiên.
Xa nghe rền điểm trống,
Lồng lộng chốn bình điền.
Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932,
trang 12.
Phiên
âm Hán Nôm,
Ngân
Triều soạn:
𡗶東𦖑𤿰打
畑𢠩坤𤍄𣈖,
月闋𠃅西軒.
柁𦖑廛点𤿰,
𢲣弄坉平田.
普照禪師 詩文集 1932, trang 12
*****
Hoa tươi mộ mới tình sâu nặng,
Trăng chiếu chòi sơ tiết ánh trong.
[13] Đề nghĩa lư nàng Long Cơ[1]
Phạm Thái.
[1]
Cuồn cuộn xe mây kiếp ruổi rong,
Dễ mà theo hỏi chốn hành tông[2].
Khêu sầu chín khúc chùng dây sắt[3],
Diễn thảm năm canh chạnh giọt đồng[4].
Niệm đảo[5]
mơ màng hồi thú cổ[6],
Sinh tiêu[7]
nghe lắng tiếng thiền chung[8].
Huyền thương[9]
ví chẳng thù hồng phấn[10],
Chi kiếp trần hoàn trả chửa xong.
[2]
Gió thu hiu hắt khóm phương tùng[11],
Thổi rụng hàng châu, nghẹn má hồng.
Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng[12],
Trúc vàng[13]
thà điểm giọt Ngu cung.
Hoa kề cổ trủng[14]
đeo tình nặng,
Trăng rạng cô lư sáng tiết trong.
Dệt gấm Thanh Nê[15]
câu nhất tiếu,
Thêu nền Thúy Ái[16]
chữ tam tùng.
Phiên âm Hán Nôm,
Ngân Triều soạn
[1]
題義庐娘龍幾
滚淃車𨗠刧𨆷𨀐,
易麻蹺噲坉行踪.
挑愁𠃩曲𦇮𦀊瑟,
演惨𠄼更𢤜湥銅.
唸倒𢠩恾咴戍皷,
之刧塵寰把渚衝.
[2]
𩙋秋咻迄㯲芳松,
𠺙梇行珠, 喭媽紅.
苦碧丕招魂楚帳,
竹黄時點湥虞宮.
花倛古塚, 㧅情𥘀,
𦝄𠓁孤廬, 𠓇節𤄯.
𦂾錦清坭句一笑,
絩𡋂翆愛𡨸三從.
[1]
Xe mây cuồn cuộn, đưa hồn chàng đi mất,
Dễ gì biết được
chàng đi về đâu.
Muốn tỏ lòng sầu đứt
ruột, dây đàn đã chùng,
Thể hiện nỗi đau đớn
xót xa thâu đêm, giọt đồng cùng nhỏ lệ.
Khấn vái vong linh
chàng tưởng chừng như nghe vang vọng hồi trống nơi biên ải,
Tiếng sênh và tiêu
vang lên nghe như tiếng chuông chùa lắng đọng.
Phải chăng Trời đã
thù ghét người má phấn,
Đã vậy làm chi,
cho kiếp trần hoàn nầychưa trả xong được.
[2]
Gió thu se sẻ thổi
vào khóm phương tùng,
Làm rơi những giọt
châu đọng trên lá, làm cho lòng nghẹn ngào không nói được.
Thân phận hèn mọn
như cỏ biếc, ta không thể chết theo vua Sở như nàng Ngu Cơ,
Thà như hai bà Nga
Hoàng và Nữ Anh, khóc vua Thuấn mà lệ còn đọng mãi trên rặng trúc vàng.
Làm hoa bên mộ chồng,
tình hoa sâu nặng lắm thay,
Trăng soi vào lều
cỏ, sáng ngời phẩm chất thủy chung của vợ hiền.
Dệt bức gấm ở Thanh
Nê, quê chồng nàng là một thiếu phụ đẹp,
Thêu nền ở Thúy
Ái, chết theo chồng chết trận, nàng Phan Thị Thuấn ngời sáng chữ tam tùng.
Ngân Triều cảm đề
[1]
Dong ruổi xe mây vùn vụt khuất,
Về đâu há biết nẻo về đâu?
Đoạn trường gióng nhạc tơ chùng phím,
Đồng nhỏ thâu đêm suối lệ sầu.
Cúng vái thì thùng mơ trống thú,
Sanh tiêu trầm lắng mộng chuông mầu.
Ông Xanh sao ghét thân bồ liễu?
Dang dở nợ trần trả được đâu!
[2]
Gió thu phơn phớt ngọn phương tùng,
Lệ nhỏ hàng cây, lệ má hồng.
Bèo bọt chẳng theo dòng thác đổ,
Lệ hoa thà thổn thức hương cung.
Hoa tươi mộ mới
tình sâu nặng,
Trăng chiếu chòi sơ
tiết ánh trong.
Dệt gấm Thanh Nê trang quốc sắc,
Cùng gương Thúy Ái vẹn tam tùng.
22.09.2019
***
Có rượu, có thơ Xuân ý vị,
Ngày nào trời cũng ánh Thiều quang.
[14] Ngày Xuân uống
rượu
Hơi Xuân hây hẩy động rèm dương[17],
Thổi gợn lăn tăn nước rượu vàng.
Rạng rỡ tiên hoa[18]
khoe tử sắc[19],
Nồng nàn thánh tửu tỏa mê hương[20].
Đầu xanh trước gió lao đao[21]
chuyển,
Tóc bạc sau mày lỏa tỏa[22]
vương.
Có rượu, có thơ, Xuân có mãi,
Trăm năm ba vạn sáu thiều quang[23].
Phạm
Thái, (範泰, 1777-1813)
Phiên âm Hán Nôm,
Ngân Triều soạn:
𣈜春𠶖溜
唏春希海動帘陽,
𠺙湎漣㳯渃溜黄.
𠓁焒仙花恗茈色,
濃難聖酒鎖醚香.
頭𩇛畧𩙍撈忉轉,
𩯀白𢖕𣭒蠡鎖𥿁.
固溜, 固詩, 春固買,
𤾓𢆥𠀧萬𦒹韶光.
範泰, (1777-1813)
Diễn ý bài thơ
Hương mùa Xuân theo gió nhẹ, lay động bức
rèm che nắng,
Làm gợn sóng lăn tăn trên nước rượu màu
vàng trong chun rượu. (E là rượu Cúc)
Tươi sáng, hoa tiên đẹp tuyệt vời, như
tiên, khoe sắc tía,
Đậm đà, rượu thánh tỏa mùi ngất ngây.
Đầu xanh trước gió, cử động cách nhọc mệt,
Tóc rối đã bạc sau mày phất phơ.
Ta có rượu, có thơ thì mãi có mùa Xuân,
Vậy là đời người ngày nào cũng là ngày của
mùa Xuân.
Hương Xuân khe khẽ
lay rèm nắng,
Gợn sóng lăn tăn cốc
rượu vàng.
Ngoạn mục hoa tiên
khoe sắc tím,
Đậm đà rượu thánh
ngất ngây hương.
Đầu xanh trước gió
nghe hưng phấn,
Tóc bạc rối dài phơ
phất vương.
Có rượu, có thơ Xuân
ý vị,
Ngày nào trời cũng
ánh Thiều quang.
*****
[14bis]
Bài họa “Ngày Xuân uống rượu” của Phạm
Thái
Trương Quỳnh Như
(Hoạ
nguyên Vận)
Rực rỡ trời xuân ánh
thái dương,
Xuyên
qua chén rượu nhuốm màu vàng.
Hoa
xuân kín đáo thầm phong nhụy,
Men
rươu nồng nàn ngát tỏa hương.
Má
phấn say xuân hây ửng đỏ,
Thơ
tình thiếu rượu rối vân vương,
Tìm
vần trong rượu vần không thấy,
Chỉ
thấy xuân đầy vẻ diễm quang.[24]
Nguồn:
-Trích Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưng: 1896-1947,
chương 46: Kén Rể.
-Trích Phạm Thái và Sơ Kính tân trang,
trang 177, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng, Saigon, 1973.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
和𣈜春𠶖酒
張瓊茹
𤊧焒𡗶春映太陽,
串過𡓥酒洳牟黄.
花春謹到啿封蕊,
𥾃酒濃難吃鎖香.
媽瀵𫑹春希怏𧹥,
詩情少酒𦆹雲𥿁.
尋韻𥪝酒韻空𧡊,
只𧡊春菭𡲈豔光.
Trời xuân rực rỡ ánh thái dương,
Lóng lánh giao thoa chén rượu vàng.
Hoa xuân khép kín ngầm phong nhụy,
Men rượu thơm nồng tỏa ngát hương.
*
Má phấn men xuân hừng ửng đỏ,
Thơ tình thiếu rượu bí vần thương.
Tìm vần trong rượu vần chưa đến,
Chỉ thấy xuân đầy ánh diễm quang.
Chú thích
[1]
Lư 庐 là lều, chòi;
nghĩa 義 là có nghĩa; nghĩa lư 義庐 là lều của nàng Long Cơ, lều dựng cạnh mộ chồng để cư
tang.
[2]Hành
tông, hành tung: 行踪
Lý do của hành động,
việc làm.
[3] Dây sắt: 𦀊瑟, đàn sắt thường sánh với đàn cầm
chỉ tình nghĩa phu thê.
[4]Giọt
đồng: 湥銅,
giọt đồng hồ nước, chỉ thời gian trôi qua.
[5] Niệm đảo: 唸倒,
đọc lời khấn trong lễ cầu siêu cho chồng.
[6] Hồi thú cổ:
咴戍皷, thú là biên ải, cổ là trống; ẩn dụ nàng Long Cơ theo chồng
là Trương Đăng Thụ lúc ông làm trấn thủ ở Lạng Sơn.
[7]Sinh
tiêu: 笙簫sênh
và tiêu: hai loại nhạc khí.
[8]Thiền chung: 禅鐘,
chuông chùa.
[9]Huyền
thương: 玄蒼, huyền là huyền nhiệm; thương
là xanh; ý nói Trời xanh huyền nhiệm,
[10] Hồng phấn:
紅粉, phấn hồng chỉ người đàn bà.
[11] Phương tùng:
芳松 Một
giống cây tùng thơm.
[12] Sở trướng:
楚帳 Trong
trướng của Sở Bá Vương, Hạng Vũ. Khi ông bị vây ở Cai Hạ, vợ là Ngu Cơ tự vận để
ông khỏi vướng bận.
[13] Trúc vàng: 竹黄, giống trúc có vân ngoằn ngoèo;
người đời cho rằng đó là nước mắt của hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh, khóc chồng là
vua Thuấn, lệ rơi xuống mà thành ra như vậy.
[14] Cổ trủng:
古塚 Gò mả xưa.
[15] Thanh Nê
清坭, là quê hương của Thanh Xuyên Hầu,
chồng bà Long Cơ là người thủ tiết trong Nghĩa lư, thuộc trấn Sơn Nam tức tỉnh
Nam Định bây giờ. Câu nhất tiếu: nói
tắt của câu nhất tiếu thiên kim, nụ
cười đáng ngàn vàng, nghĩa hàm ẩn là ca tụng người phụ nữ đẹp.
[16] Thúy Ái:
翆愛 Thúy Ái là tên con sông thuộc huyện
Thanh Trì tỉnh Hà Đông, nơi bà Phan Thị Thuấn vợ thứ ba, mới 20
tuồi, tuẩn tiết theo chồng là Thu Lĩnh hầu Ngô Cảnh Hoàn đời Hậu Lê. (nay là
phường Thúy Ái, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội), Thu Lĩnh hầu Ngô Cảnh Hoàn, thống
lĩnh thủy binh chống Tây Sơn và chết trận. (Theo Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử
giai thoại, Truyện Bà Phan Thị Thuấn).
[17] Rèm dương: Rèm có bóng mặt trời chiếu vào
nhà.
[18] Tiên hoa: hoa đẹp như hoa cõi tiên.
[19] Tử sắc: sắc tía.
[20] Mê hương: mùi hương ngất ngây, mê say.
[21] Lao đao: nhọc mệt, choáng váng.
[22] Lỏa tỏa: lôi thôi, lòng thòng.
[23] Thiều quang: ánh sáng của sao Thiều, là sao chiếu
sáng trọn mùa Xuân ba tháng.
Ngày Xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chin chục, đã ngoài sáu mươi.
ĐTTT, Nguyễn Du
[24] Diễm quang: ánh sáng tươi đẹp, rực rỡ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét