Thơ Trương Quỳnh Như & Phạm Thái, bài 9,10,11 và 12.
Bài
9
Giôø Thaân
Thơ
Trương Quỳnh Như.
Giờ Thân từ 15-17g
Ban chiều bóng đã xế về thân,
Sực[1] tưởng nguồn cơn nỗi ái ân[2].
Chẳng dám học ai trau chuốt ngọc,
Màng bao[3] mượn khách[4] truyện trò xuân[5].
Thẫn thờ [6]một bóng bao mong đợi,
Chia cách đôi nơi luống ngại ngần[7].
Tưởng lúc bây giờ trông thấy mặt,
Đỡ vui nửa khắc giá nghìn cân!
Nguồn:
Thi Viện, Google
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
𣇞申
班𣊿𣈖㐌㫼衛申
忇想源𩂀𦁀愛慇
丕噉學埃𢭂捽玉
芒包摱客傳𠻀春
吲蜍没𣈖包懞待
技挌堆坭𨻫碨艮
想𣅶悲𣇞𥉩𧡊𩈘
扡𢝙姅刻价𠦳斤
Diễn ý bài
thơ:
Bóng xế, kìa giờ
Thân, trời đã về chiều,
Bỗng nhớ chuyện tình
mình biết bao nỗi thương yêu.
Không dám như người
ta ứng xử, thường hay tô lục chuốt hồng,
Bản thân không bao giờ
dám tham gia chuyện trò vui cùng với khách.
Ngẩn ngơ một bóng
trông mong đợi chờ lúc gặp nhau,
Hai đầu nỗi nhớ nuốn
tỏ lòng mình nhưng vẫn còn e ngại.
Giá mà trong lúc nầy
ta được trông thấy mặt nhau,
(Dẫu) Niềm vui chỉ nửa
khắc thôi, cũng vơi đi biết bao nỗi niềm thương nhớ.
Ngân Triều cảm đề Giờ Thân
Bóng xế giờ Thân trời
đã chiều,
Chạnh lòng bát ngát nỗi
thương yêu!
Tính trời chẳng chuốt
hồng tô lục,
Khép kín khuê phòng
phận nữ lưu[8].
***
Bài 10
Giôø Daäu
Thơ Trương Quỳnh Như.
Giờ Dậu từ 17-19g
Tranh
minh họa, Google
Dậu về buổi tối, tủi duyên thầm,
Bỗng thấy ai như… đã lại nhầm!
Rắp hỏi người Hàn[9], sao quạnh bếp?
Nào ai nàng Mạnh [10]chẳng bưng mâm?
Cợt cười mấy truyện, không đề hoạ,
Ca đọc ba câu, vắng tiếng tăm[11].
Chợt tỉnh, tâm tình năn nỉ vậy,
Đèn xanh, chong bóng [12]ngại không nằm.
Nguồn: Trang thơ
Trương Quỳnh Như. Thi Viện.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
𣇞酉
酉衛𣇜𣋁悴緣忱
俸𧡊埃如㐌吏𢗖
𢘮𠳨𠊚寒牢縈灶
芾埃娘孟丕挷盤
恄唭貝傳空題和
歌讀𠀧句咏㗂吣
秩醒心情噒呢丕
畑赬炵𣈖碨空𦣰
Diễn ý nghĩa bài thơ:
Giờ Dậu,
17-19g, tối rồi, lòng tự cảm tủi duyên thầm,
Bỗng thấy ai đó nhưng… mà không phải.
Muốn hỏi người vào Tết Hàn thực, sao quanh bếp lạnh tanh,
Nàng Mạnh đâu rồi sao chẳng bưng mâm.
Xem sách, cười đùa nội dung mấy truyện, không thể viết lời bình hay họa lại,
Ngâm đọc dăm ba câu thơ, vẻ chán chường.
Chợt nghĩ nỗi niềm, thân phận và tự an ủi,
Đối bóng với ngọn đèn xanh, cứ trơ vơ[13]
…
Ngân Triều cảm đề Giờ Dậu
Giờ Dậu tối rồi, nghe tủi thêm,
Kìa trông ai nhỉ… chẳng người quen!
Hàn ư bếp lạnh, sao không lửa?
Nàng Mạnh mâm đâu, chẳng dọn lên?
Xem sách cười đùa không thể họa,
Ngâm thơ ngẫu hứng thấy buồn tênh.
Cánh hồng vương vấn bên trời nhớ,
Đối bóng đèn xanh đắng mối duyên.
Lời
bình:
Cho hay:
Từ phen đá biết tuổi vàng,
Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ
ĐTTT, Nguyễn
Du: 1766-1920; câu 363-364.
***
Bài 11
Giôø Tuaát [@]
Thơ Phạm
Thái.
Càng thêm ngao ngán [14]bận lòng xuân.
Nguyệt mờ, trướng ngọc, khôn êm giấc,
Gió lạnh, rèm hoa, ngại lẻ chân.
Nghĩ nỗi tình này, khôn kẻ biết,
Tưởng điều tâm sự, mấy người thân?
Bóng dần dầu tỏ dầu không tỏ[15],
Tài tử giai nhân [16]vẫn nợ nần[17].
Nguồn: thơ Phạm Đan Phượng, Google.
[@]: Để đáp lại những bài thơ của
Phạm Thái tặng, Quỳnh Như cũng trao cho Phạm Thái tập thơ nàng đã viết trong những
giờ một mình suy nghĩ, đặt tên là: Thơ Vịnh 12 giờ, nhưng chỉ được 10 bài thì
ngưng. Phạm Thái làm tiếp bài 11 và bài 12.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
𣇞戌
𣇞戌廊更待貝分
强沾嘵喭絆𢙱春
月𥊚帳玉坤㛪聀
𩙍㳥帘花碍禮蹎
議馁情尼坤仉別
想調心事貝𠊚親
𣈖寅怞訴怞空訴
才子佳人吻嫧嫨
Diễn ý nghĩa bài thơ:
Giờ Tuất từ 19-21g, sang canh chừng mấy phần,
Nghĩ càng buồn chán, bận lòng.
Ánh trăng mờ ảo. soi nơi trướng ngọc, khó mà an giấc,
Gió lạnh, lay màn hoa, ngại cho ai bước chân lẻ loi,
Nỗi niềm này, không ai thấu rõ,
Nghĩ đến người thân, biết có ai để mà tâm sự?
Chuyện sẽ lộ ra, dù có thế nào,
Điều đó có phải chăng là nợ tình đôi lứa?
Ngân Triều
cảm đề
Giờ Tuất
Giờ Tuất, sang canh mấy lúc rồi,
Chuyện lòng vương vấn chẳng hề nguôi?
Trăng mờ, trướng ngọc, khôn an giấc,
Gió lạnh, màn hoa, tủi lẻ loi.
Tri kỷ nỗi niềm ai thấu hiểu?
Người thân tâm sự, kẻ chia vơi?
Chuyện lòng minh chính dù trong đục,
Có phải tơ hồng nợ lứa đôi?
Giôø Hôïi
Thơ Phạm Thái.
Giờ Hợi từ 21-23g, Google.
Hợi sang, xanh
biếc ngọn đèn tàn,
Gượng đốt[18], lò vàng ngại với hương.
Làn khói chập chờn[19] vương nỗi
nhớ:
Cõi lòng thảng
thốt[20] nẫu[21] đêm trường.
Canh gà eo óc[22], khua bên trướng,
Hồi cuốc băn
khoăn[23], giục dưới tường
Mấy kẻ chung
tình, ai đã nhấp[24]
Hay còn trằn trọc[25] nỗi người
thương!
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
𣇞亥
亥廊赬碧𦰟畑殘
強炪垆黄碍貝香
瀾𤌋執廛𥿁𦁀𢖵
𡑭𢙱倘猝𦼝𡖵長
更𪃿喓沃抠边帳
咴𪅦彬寬欲𨑜牆
買仉鈡情埃㐌扖
咍群珍濁馁𠊚傷
Diễn ý nghĩa bài thơ:
Giờ Hợi
Giờ Hợi đến, khi ngọn đèn xanh biếc trong thư phòng
đã lụn tàn.
Lòng buồn gượng đốt lò vàng nhưng còn e ngại mùi
hương. (Buồn thì đốt hương thơm mà chi!)
Nhìn làn khói tỏa ra và tan biến vào khoảng không, gợi
lên bao nhiêu nỗi nhớ nhung.
Cõi lòng bỗng xao động, dày vò nỗi niềm đau đớn
trong lòng.
Có tiếng gà gáy đâu đâu như vang lên trong trướng,
Tiếng chim cuốc khắc khoải như giục giã bên tường
nhà.
Những kẻ yêu thương nhau chắc là đã ngủ,
Hay còn thao thức, băn khoăn vì nhớ người thương như
nỗi niềm riêng?
Ngân Triều
cảm đề
Giờ Hợi
Giờ Hợi, đèn xanh đã lụn tàn,
Đốt thêm, sầu ái ngại mùi hương.
Khói lan vương vấn, khơi nhung nhớ,
Lòng đắng bơ vơ, ủ mộng trường
Gà gáy ơ hờ vang vọng lại?
Cuốc kêu thương nhớ dội bên tường.
Giờ nầy đôi lứa chung chăn ấm?
Cô lữ canh dài thương bóng thương?
***
[2] Ái ân: 愛慇 nỗi niềm yêu thương.
[3] Màng bao: 芒包 không bao giờ muốn
[4]Mượn
khách 摱客, mời gọi, rủ rê.
[5]Truyện
trò xuân: 傳𠻀春 chuyện
trò vui vẻ.
[6] Thẫn thờ: 吲蜍, đờ đẫn, không còn vẻ
linh hoạt, nhanh nhẹn.
[7] Ngại ngần: 碨艮, có điều e ngại, nên còn đắn đo
chưa dám.
[8] Nữ lưu: thế giới phụ
nữ, phụ nữ nói chung.
[9]Người Hàn, 𠊚寒, người ta ăn Tết Hàn
thực, ăn lạnh để tưởng nhớ Giới Tử Thôi, trung thần phò vua lâm nạn,
lóc thịt vua ăn, vua vô tình quên nghĩa cử ấy. Khi nhớ ra, tìm mời, Giới Tử
Thôi cõng mẹ vào rừng trốn, vua cho đốt rừng, Giới Tử Thôi không ra, chết cháy.
Vua truyền dân ăn Tết Hàn thực, nấu bếp từ ngày trươc, ngày hàn thực không nấu
bếp, để nhớ ơn.
[10]Nàng Mạnh: 娘孟 là nàng Mạnh Khương 孟羌, có chồng đi lao dịch
xây Vạn Lý trường thành, nàng vạn lý tìm chồng, biết bao nhiêu gian khổ, tìm được
xương cốt chồng và chết theo chồng, được người đời bấy giờ cảm phục.
[11] Vắng tiếng tăm: 咏㗂吣, ý nói không muốn đọc,
vì phiền não chuyện lòng.
[12]Chong
bóng: 炵𣈖, chong đèn nhìn bóng mình, cô đơn, lẻ loi, sầu tư.
[13]Trơ vơ: có nghĩa là lẻ loi, cô đơn, không nơi
nương tựa, chỉ trạng thái một mình, không có ai bên cạnh hoặc không có gì để
che chở, hỗ trợ. Từ này diễn tả sự lạc lõng, vắng vẻ giữa không gian rộng lớn.
[14] ngao ngán: 嘵喭 buồn rầu, chán nãn, vô hứng.
[15] Cả
câu: Chuyện lòng rồi có thỏa lòng hay không.
[16]Tài tử
giai nhân: 才子佳人, người con trai có
tài, người con gái đẹp.
[17] Cả
câu: Đó là cái duyên, cái nợ của chàng trai tài năng và người
thục nữ.
[18] Gượng đốt: 強炪 cố đốt nhưng lòng chưa muốn đốt.
[19] chập chờn: 執廛 trạng thái nửa ngủ nửa
thức, nửa tỉnh nửa mê; tỏa ra và tan biến vào hư không.
[20]thảng
thốt: 倘猝có vẻ như hoảng hốt
do chấn động mạnh về tinh thần.
[21]Nẫu: 𦼝, (trái cây) chin rục, nghĩa bóng chín ruột, chin gan;
dày vò, đau đớn trong lòng.
[22]eo óc: 喓沃những tiếng kêu thường
là gà gáy, nổi lên đây đó, không nghe rõ.
[23] băn khoăn: 彬寬, không yên lòng do có điều phải nghĩ ngợi.
[24] Nhấp: 扖, nhấp mắt, nhắm mắt.
[25]trằn
trọc: 珍濁 (Trong giấc ngủ) trở mình luôn, thao thức không ngủ được vì có
điều phải lo nghĩ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét