Thơ Trương Quỳnh Như, bài 13, 14.
Bài 13
Đề núi Dục Thúy[1]
Trương
Quỳnh Như
Trơ trơ bích thạch[2] bóng vân san,[3]
Hỏi núi chờ ai đã mấy sương?
Uốn éo bên sườn dòng nước biếc,
Phát tuôn cửa động ngọn chùa hoang.
Mây trôi phảng phất hồn Lê Trịnh,
Đá khắc lờ mờ dấu Phạm Trương.[4]
Cũng muốn bể dâu bàn chuyện cũ,
Nào ai xứng với khách đài trang.[5]
Nguồn: Phạm Thái
và Sơ Kính Tân Trang, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng,1973, trang 177.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân
Triều soạn
題𡶀浴翠
豬豬壁石𣈖雲山,
𠳨𡶀䟻埃㐌某霜?
捥嘹边傖𣳔渃碧,
發𣻆𨷶峒𦰟㕑塃.
𩅹㵢彷怫魂黎鄭,
𥒥刻𩆴𢠩𨁪范張.
共㦖波柚𡂑𡀯𦼨,
芾埃稱某客臺妝.
Ảnh các bài thơ được
khắc trên núi Dục Thúy ở Ninh Bình.
nguồn timeoutvietnam.com
Diễn ý
bài thơ:
Đề núi Dục Thúy
Tầng đá thẳng đứng, núi lẩn vào mây,
Hỏi núi đứng chờ ai, ở mãi nơi này.
Bên sườn núi có dòng suối biếc nước chảy uốn éo,
Phát sinh trước cửa động, nóc chùa hoang.
Mây trôi trên trời kia như còn in đậm nhạt hồn nước
thời Lê - Trịnh,
Bia đá ở đây còn khắc lờ mờ chữ viết của hai ông Phạm
Trương.
Trong cuộc bể dâu, cũng muốn bàn bạc chuyện xưa cũ,
Biết có ai tâm đầu ý hợp với ta chăng?
Cheo leo tường
đá mây ôm núi,
Núi hỡi chờ ai vạn
vạn năm?
Uốn éo sườn non
dòng suối biếc,
Leo teo cửa động
nóc chùa hoang.
Mây trôi vương vấn
hồn Lê Trịnh,
Rêu phủ lờ mờ đá
Phạm Trương.
Dâu bể bồi hồi ôn
chuyện cũ,
Biết ai hợp ý
khách đài trang.
***
Thăm Chùa Non Nước
Trương Quỳnh Như
Non xanh nước biếc, cảnh
tiên dưới trần.
Thướt tha mây trắng một làn,
Như buông bốn phía cánh màn
bạch sa.[6]
*
Chim hót véo von chào khách,
Cỏ thơm hớn hở mừng ai.
Gió Thu rung động mấy cành mai,
Khêu gợi hồn thơ lai láng.
Cầm bút lạm đề[7] trên thạch tảng,[8]
Một bài cổ tích cảm hoài.[9]
Nào người tráng sĩ, kẻ văn tài,
Khôn hỏi nước non đâu tá?
Nguồn: Trích trong Phạm Thái và Sơ Kính Tân
Trang, Nguyễn
Văn Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon
1973, trang 178.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
𠶀厨𡽫渃
蹽𨑗浴翠𠶀廛,
𡽫𩇛渃碧, 景仙𨑜塵.
切𢫌𩅹𤽸沒灡,
如捹𦊚𠌨𦑃幔白紗.
*
𫚳唿𠶓𠹚嘲客,
苦𩡋𢠦𢠇𢜠埃.
𩙍秋搈動某梗梅,
挑㨳魂詩來𣼽.
扲筆濫題𨑗石磉,
芾𠊚壯士, 仉文才,
坤𠳨渃𡽫兜些.
張瓊茹
Ngân Triều cảm đề
Đăng sơn Dục Thúy thăm chùa cổ,
Nước biếc non xanh, như cảnh tiên.
Mây trắng một làn trông diễm ảo,
Màn sa trang điểm cõi Nam thiên.
*
Véo von chim hót chào tao khách,[10]
Hương cỏ lừng thơm ngát đón ai?
Gió Thu lay động mấy cành mai,
Đa đoan[11]
đắm hồn thơ lai láng.
*
Phơi phới[12]
mạn đề trên thạch tảng,
Cổ tích, thơ chở nỗi cảm hoài.
Nào ai tráng sĩ, kẻ văn tài:
- Đây Dục Thúy,[13]
mà Nước Non đâu nhỉ?[14]
[2] Bích
thạch: Đá dựng thẳng đứng, thẳng như bức vách.
[3] Vân san: núi cao lẩn trong mây.
[4] Phạm Trương: Phạm Tử Hư, một đạo sĩ đắc đạo đời Trần, thường
ngao du trên núi Dục Thúy. (Xem Truyền kỳ mạn lục Sách gồm 20 truyện, viết bằng
chữ Hán, theo thể loại tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện (trừ
truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình của tác giả hoặc của một người
có cùng quan điểm của tác giả. Tác phẩm được Hà Thiện Hán, người cùng thời, viết
lời Tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính, Nguyễn Thế Nghi, dịch ra chữ Nôm; và đã
được Tiến sĩ Vũ Khâm Lân (1702-?), đánh giá là một "thiên cổ kỳ
bút").
Trương Hán Siêu (?-1354), 張漢超, tương truyền
thọ hơn 80 tuổi, có
ít nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai và thứ
ba”. Về cuối đời, ông lại là người sùng đạo Phật và
những sáng tác của ông cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng này. Bạch Đằng giang phú (hay
Phú sông Bạch Đằng) là tác phẩm xuất sắc, được xem là một áng thiên cổ hùng văn. Ông cũng soạn Linh tế tháp ký (bài
ký tháp Linh Tế) ở núi Dục Thúy, đến nay vẫn còn. Ngoài ra ông cũng soạn Quang
nghiêm tự bi văn (bài văn bia chùa Quang Nghiêm). Hai bài đó có tư tưởng đề
cao Nho học và phê phán Phật giáo.
[5] Đài trang: hay đài gương do chữ kính đài 鏡臺 hay trang đài, chỗ người phụ
nữ soi gương, trang điểm, cách gọi tôn quý nữ giới. Đài gương soi đến dấu
bèo cho chăng? Kiều, Nguyễn Du: 1766-1820.
[6] Bạch sa: lụa trắng rất đẹp.
[7] Lạm đề: 濫題, đề không
đáng. (nói khiêm tốn).
[8] Thạch tảng: tảng đá.
[9] Cổ tích cảm hoài: Những cảm xúc trữ tình trước nơi cổ
tích.
[10] Tao khách: cùng nghĩa như tao nhân. Tao nhân là người hay
thơ.
[11] Đa đoan: nhiều mối, nhiều nỗi.
[12] Phơi phới: hứng khởi nổi lên cách thanh thản
nhẹ nhàng.
[13] Dục Thúy: 浴翠, Dục: toàn bộ, đẫm; thúy:
màu xanh biếc. Dục Thúy là toàn màu xanh biếc.
[14] Cả câu là lời đưa duyên để kết
thúc bài thơ tự do.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét