Thay lời mở đầu
Ñeâm buoàn
(Đêm buồn)
Tạp
bút, Ngân Triều.
Không biết đêm nay vì sao
tôi buồn,
Buồn vì trời mưa hay bão
trong tim?
Đã mấy thu qua tôi vẫn đi
tìm.
Để rồi buồn ơi! Nghe tiếng
mưa đêm...[1]
-Giai điệu và ca từ của bài hát đã đến
với tôi trong một đêm mưa; quả là buồn rượi! Mưa buồn, bài bát buồn, làm cho
đêm mưa nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn. Tự nhiên cái nỗi buồn
không biết ở đâu lại đến, đeo bám trong tâm hồn tôi, khiến cho lòng tôi chơi
vơi buồn nhớ vu vơ. Một nỗi buồn vô cớ! Nỗi buồn ấy phảng phất theo từng cơn
gió nhẹ lạnh lùng. Buồn ơi chào mi, lại rủ rê thêm Nhớ ơi xin chào,
người bạn tri kỷ của nó đến đậu vào tâm trí tôi những mảng sầu nhớ đa đoan. Vì
sao vậy nhỉ? Tôi tự hỏi. Phải chăng đây là những biểu hiện của tuổi “mùa thu
lá bay”, cái tuổi nghỉ hưu để mặc cảm thấy mình như thành người vô dụng của
xóm làng và là người đang ở cái thời điểm xa trời gần đất. Mà thực thế. Ở cái
tuổi nhân sinh thất thập cổ lai hi,[2]
sức khỏe mỏi mòn, suy yếu; vợ chồng sống nhờ gia đình con cháu, dòng họ;
nhóm bạn bè cố tri, xóm giềng tốt bụng sớm tối, những mối quan hệ xã hội cố hữu
thân quen… trông đi ngoảnh lại thì “Bạn bè lớp trước nay còn mấy, Chuyện cũ
mười phần chín chẳng như”[3]
. Rõ ràng, cái thân lực bất tòng tâm, thành trụ hoại không, cuối
cùng sẽ trở về không, cái không hư vô, zero; hay cái thân sinh trụ dị
diệt, đến chữ diệt cũng sẽ là chấm dứt, là hết và cái thân sinh
lão bệnh tử thì đến nấc tử cũng sẽ
không còn; chờ ngày hóa thân cùng cát bụi, thoát khỏi kiếp phù sinh, biển trần
khổ vơi vơi trời nước,[4] trở về quê cũ, nơi mà hạt
bụi của mình đã lên bệ phóng, xuất phát phiêu du.[5]
Khoảng trời đất cổ kim,
kim cổ,
Mảnh hình hài không có,
có không.
Lọ là thiên tứ, vạn chung[6].
-Buồn,
chữ Hán viết là sầu: 愁;
gồm có chữ Thu 秋,
mùa thu lá rụng + chữ tâm tấm lòng 心;
tức là khi mùa Thu về, lá cây rụng hết, khiến lòng ta sầu
não. (Thu 秋 về
ngắm cảnh mặc dầu, Lòng 心
buồn da diết âu sầu 愁
lắm thay!
-Buồn, còn
có nghĩa là muộn 悶;
gồm chữ môn 門,
hình cái cửa + chữ tâm 心;
tức
là tâm hồn hay tấm lòng 心 của
người trong cánh cửa 門,
gởi cho người phương xa, hay kẻ ở lại thương nhớ người ra đi. (Lòng 心 lão
thân buồn 悶 khi
tựa 門 cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm;[7]
hay: Nỗi lòng 心 biết
tỏ cùng ai, Thiếp trong cánh cửa 門,
chàng ngoài chân mây[8]).
-Nhớ chữ Hán còn viết là niệm
念 nỗi
nhớ, nghĩ đến, mong mỏi; gồm có chữ kim 今 là nay + chữ tâm 心 lòng mình; tức là đối với những sự việc đã qua,
nay 今 cố dùng tâm
心 của mình mà nhớ lại. (Thuyền
ơi! [nay] 今
có nhớ 念 bến
chăng? Bến thì một dạ 心 khăng
khăng đợi thuyền).
-Nhớ
còn viết là tưởng 想
gồm tướng 相
là xem lại hình ảnh của người trong tâm 心 trí mình. (Bởi
lòng 心 tạc
đá ghi vàng, Tưởng 想 nàng
nên lại thấy 相 nàng
về đây).[9]
-Nhớ
còn viết là hoài 懷
(gồm chữ y 衣
trong từ y phục + chữ thế 涕
văn cổ là nước mắt; biểu thị lòng ta ẩn giấu nỗi niềm gì, khi nghĩ đến là muốn
khóc, tức là hoài niệm 懷念.
Ta ngã hoài nhân: 嗟我懷人.
Ôi! Ta nhớ người yêu [biết bao]. Kinh Thi; Nội hoài gian hoạt, quốc
chi sở hoạn, 内懷奸猾, 囯之所患. Hoài (trong lòng) chất
chứa điều gian dối, đấy là điều đáng lo của tổ quốc. Hán Thư. Đã
không kẻ đoái người hoài, 懷
Sẵn đây ta thắp một vài nén hương. Kiều, Nguyễn Du, câu 91-92).[10]
-Lòng
buồn dạt dào, tôi chợt nhớ đến cái thuở lớp ba trường làng. Nhớ người Thầy già
kính yêu đã giảng cho chúng tôi một bài học thuộc lòng trong sách Quốc Văn giáo
khoa thư, một bài ca dao cổ khuyết danh, Đêm qua ra đứng bờ ao. Lời giảng
của Thầy nghe trầm buồn, xa vắng tưởng như Thầy muốn khóc. Lớn lên mới hiểu,
hóa ra bài học đó cũng là tâm sự của Thầy về tình yêu và thời thế.
-Có
thể, Alzheimer, bệnh quên quên nhớ nhớ, là bạn người già. Vậy xin mời quý bạn
cùng tôi, trong đậm nhạt nhớ quên này, đọc lại bài ca dao mượt mà này xem:
Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi! Sao hỡi! Nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê[11] nước chảy hãy còn trơ trơ.
Nguồn:
1. Mã Giang Lân, Tục ngữ và ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999
(tái bản lần thứ 5.
2. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Kho tàng ca dao người Việt,
NXB Văn hoá thông tin, 2001.
Đại ý:
Tâm trạng trông chờ, tưởng nhớ người xa và tấm lòng trung trinh sắt đá của nhân
vật trữ tình trong hoàn cảnh éo le ngang trái của cuộc đời.
Bố cục:
Hai câu đầu: Thời gian và nỗi
niềm mong nhớ:
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông
cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.
Trước
hết, bài ca dao làm theo thể phú, nói thẳng vào vấn đề là lời kể lại của tác giả
hay tự sự. Khung thời gian thuộc về ban đêm, đêm qua. Khoảng không gian
là cái bờ ao nhà, nơi vương vấn một câu chuyện lòng.
(Ngày
xưa, ở nông thôn, có một thời, nhà nào cũng có vườn rau, ao cá. Vì khi cất ngôi
nhà mới, người ta đào ao, đào mương, lấy đất đấp nền nhà; nền nhà cao hơn mặt
ruộng, ao sâu thả cá; không lấy đất đâu xa, nhất cử lưỡng tiện. Trên bờ mương
phía ngoài, người ta trồng tre, trúc, tầm vông vừa để làm hàng rào bảo vệ gia
đình vừa để làm vật dụng đan lát, ăn măng, vừa để làm chuồng trại, làm giậu vườn
rau; cái ao sâu để dự trữ nước mưa, thả bè rau muống, rau nhúc để nuôi cá hoặc
cá ở đồng ruộng về mùa mưa theo mương vào ao nhà. Ao nhà là nơi sinh hoạt của
gia đình, có cầu ao, có bờ ao).
Cho nên còn có câu
ca dao:
Ta
về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn
hơn.
-Trở
lại câu chuyện, tác giả hay nhân vật trữ tình đã nêu lên điều gì? Đêm qua,
người ấy đã ra đứng rất lâu bên bờ ao nhà, để cúi đầu nhìn xuống
mặt ao, trông cá, để không thấy cá, cá lặn; rồi ngẩng đầu nhìn
lên trời cao, trông sao; để chẳng thấy ngôi sao nào của mình, sao mờ.
Mục đích của việc trông xuống, trông lên đều không như ý muốn, nếu không nói là
vu vơ, vô ích. Tìm cá, không thấy cá mà tìm sao trên trời cao cũng chẳng ra
sao. Vô vọng. Trông nghĩa là để con mắt đến sự việc gì, và mong đợi điều
gì. Trông cá ngoài nghĩa tường minh là nhìn con cá trong ao ban đêm,
không thấy nó đã đành, vì nó đã lặn mất; mà kể cả ban ngày, chúng ta cũng không
thấy nó, chỉ thấy cái đớp móng của nó trên mặt ao thôi.
-Ngoài
ra, trông cá, cá lặn nghĩa là trông mong, đợi chờ tin tức của ai đó ở
xa, mà tin tức ở xa đưa lại thì hoàn toàn không có tin tức chi hết, cá lặn.
Trông sao trên trời thì sao mờ, lẫn lộn, không biết được sao quen là sao nào và
hiện giờ nó đang “định vị” nơi đâu. Hoặc không biết người xa giờ ở góc biển
nào, sao mờ. Tin tức của người xa bặt tăm! Không biết tin tức, không biết
người phương trời giờ ở nơi đâu, thì nỗi buồn như chờn vờn ngày càng tăng tiến
thêm trong tâm tưởng.
-Trong
văn hoá truyền thống, hàm nghĩa văn hoá của cá được thể hiện dưới nhiều
phương diện. Thời cổ có "ngư tố", tương truyền đó là hình thức
dùng lụa viết thư, sau đó nhét vào bụng cá để gửi đi, nên gọi là "ngư
truyền xích tố". Loại thư tín dùng cá để truyền đi này còn gọi là "ngư
thư", hoặc "ngư tiên".
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
Bóng
chim tăm cá biết đâu mà nhìn.[12]
-Như vậy, hai câu
thơ đầu cho biết mối sầu thoang thoảng chợt đến vì nỗi niềm lạc lõng, tâm trạng
cô đơn, bơ vơ.
Bốn câu tiếp theo:
Cảnh buồn trong nỗi chạnh lòng:
Buồn
trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn
trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Phải chăng bốn câu
thơ khắc họa nỗi buồn cụ thể trong lòng nhân vật trữ tình với ít nhiều
thất vọng, vời vợi nhớ thương.
-Buồn
trông, là nhìn sự vật qua nhãn quan nội tâm phiền não,
ủ ê. Kìa là một con nhện nào trong tầm mắt, đang dệt, giăng những
mối tơ cho tổ ấm của nó. Những mối tơ mong manh, khéo léo và bền chắc. Con
nhện phơi phới nhẹ buông sợi tơ hoàn hảo, mối tơ nào cũng nõn nà, cũng dính,
cũng hợp lý, cũng hay!
-Nhìn
mối tơ nhện, chạnh tưởng phận mình. Con nhện kia còn có tơ vương, còn mối tơ
duyên của bản thân ta, vẫn còn linh đinh, vô định, giờ vẫn chưa biết tấm thân sẽ
phiêu linh về đâu. Phải chăng, tấm thân này, không phải như một tấm lụa đào giữa
chợ, mà thê thảm như một con nhện lạc loài, mòn mỏi đợi chờ mối ai?
-Âu
là ta phải chờ, phải đợi. Nhưng biết phải chờ đợi bao lâu, trong khoảng không
gian hữu hạn, đường đi gian nan vì cách núi e sông; thời gian vô định, trong
khi tuổi Xuân, ngày càng héo úa, nhạt phai. Thật là một khoảnh khắc đêm sầu ảm
đạm, biết tâm sự cùng ai?
-Thôi
thì, hãy trông lên cuối trời xa vậy. Đó là một ngôi sao Mai nghiêng nghiêng, chênh
chếch trên phía chân trời hừng sáng! Ánh sao Mai đang mờ dần, mờ dần vì ánh
sáng rực rỡ của mặt trời bình minh thăng hoa. Sao mờ là sao mất dần ánh
sáng tự thân do đối diện với nguồn sáng mạnh hơn của mặt trời. Sao Mai mờ như vậy
là sao Mai buồn! Nỗi buồn luôn hòa quyện cùng nỗi nhớ. Vậy, Sao Mai ơi! Sao có
nhớ ai không…mà buồn chênh chếch? Phải chăng Sao Mai phương xa đó, đang buồn nhớ
đến ta?
-Giai
điệu nhện ơi nhện hỡi, sao ơi sao hỡi, cất lên âm thầm trong
cõi lòng tuyệt vọng, trong nội tâm đa đoan, trong một đêm không trăng, đường trần
mịt mờ muôn lối, tối tăm. Người ơi! Hãy nhìn đăm đăm về phía trời xa, cất cao
tiếng lòng vời vợi, chết trong lòng một ít; âm thầm rưng rưng cất cao tiếng sầu
thảm xé lòng, vì nghịch cảnh đành phải ly tan: “Xin đừng quên tôi!”; “Hãy nhớ
lấy tình tôi”:[13]
Rồi có khi nào ngắm bóng
mây,
Chiều thu đưa lạnh gió heo may.
Dừng chân trên bến sông xa vắng,
Chạnh tưởng tình tôi
trong phút giây.
Thế
Lữ
Hay:
Rồi có khi nào trong phút giây
Trăng lên khỏi núi gió
đùa mây
Thì anh nên nhớ người năm
nọ
Xưa đã cùng anh sống những
ngày.
Mộng Cầm.[14]
(Sao Hôm và sao Mai
là những khái niệm quen thuộc trong văn hóa dân gian Việt Nam. Sao Mai xuất hiện
lúc bình minh và sao Hôm xuất hiện lúc chập tối. Tuy nhiên không phải ai cũng
biết rằng sao Mai và sao Hôm thường gọi là hai sao như thế nhưng thực ra nó
chỉ là một ngôi sao, đúng ra là hành tinh thứ hai của hệ mặt trời
chúng ta, tên là Sao Kim (Vénus)[15]
Sao
Kim ở gần Mặt trời hơn Trái đất, buổi sáng, nó nằm ở phía Tây của Mặt trời, khi
đó, chúng ta quan sát từ Trái đất sẽ thấy nó hiện lên ở phía Đông vào rạng
sáng, sớm hơn Mặt trời, và dân gian gọi nó là sao Mai.
Khoảng
14 giờ thì nó ở trên đỉnh đầu chúng ta, khi đó, chúng ta có thể thấy rõ nó bằng
mắt thường trong lúc trời quang mây, ánh sáng thuận lợi. (Người viết bài nầy
cùng một nhóm bạn cũng đã nhìn thấy nó bằng mắt thường vào năm 1957, lúc 15 tuổi,
khi học lớp đệ lục ở Tây Ninh, nhưng phải tinh mắt và cố lắm mới thấy sao Kim
như một thiên thể to bằng hạt chuỗi trắng, nhìn trật ót).
Ngược
lại, buổi chiều, lúc sao Kim nằm ở phía Đông của Mặt trời, nếu chúng ta quan
sát về phía Tây vào thời điểm sau khi Mặt trời hoàng hôn lặn xuống chân trời,
chúng ta sẽ thấy hành tinh này sáng dần trên chân trời lúc chập tối và dân gian
gọi nó là sao Hôm).
Đọc tiếp 4 câu kết:
Khẳng định lòng chung thuỷ
sắt son.
Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao Tinh Đẩu đã
ba năm tròn.
Đá
mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê nước chảy hãy
còn trơ trơ.
Song,
tâm tình buồn khi mong đợi tin tức người xa, trong đêm qua không trăng, không
phải chỉ một lần. Đó là tâm tình khôn nguôi niềm nhớ vì nó cứ diễn ra liên tục,
bất tận, đêm đêm. Tưởng nghĩa là nhớ. Dải Ngân hà[16]
chỉ sự ly tan, ngăn cách. Còn nhớ đến chia ly chính là còn tha thiết ước
mong tao ngộ, tương phùng.
(Sao
Tinh Đẩu là chòm sao Đại Hùng, Big Dipper, gồm 7 ngôi sao sáng như
cái gàu lớn, định vị phương Bắc để xác định ngôi sao Bắc Đẩu, Polaris. Ở
Việt Nam, dân gian gọi nó là Sao Bánh Lái lớn, định vị hướng Bắc để ngư
dân phải đi biển vào ban đêm không lạc lối lúc trở về nhà).
Nguồn: EarthSky.org: Ảnh chòm sao Đại Hùng Tinh, Big Dipper, Cái Muỗng lớn; Tiểu Hùng Tinh, Little Dipper, Cái muỗng nhỏ và Sao Bắc Cực, Polaris. Sao Bắc Cực không sáng lắm. Nó nằm ở cuối chòm sao Little Dipper. Sao Merak và sao Dubhe là sao dẫn hướng để định vị sao Bắc Cực, bằng cách nối dài hai sao nầy theo hướng từ đáy muỗng trở ra + 5 lần khoảng cách đó, có sai số tương đối theo góc nhìn đôi chút là đến sao Bắc Đẩu hay sao Polaris.
-Từ ngày ly biệt, thắm thoát, chuôi
sao Tinh Đẩu đã quay ba vòng giáp mối. Đã ba năm tròn ròng rã. Xa mặt thời
cách lòng là thói đời yêu thương qua đường, yêu cuồng sống vội, trong xã hội vật
chất, kim tiền. Người phương xa ơi! Người có đổi trắng thay đen như thế hay
chăng?
Chu kỳ sao Đại Hùng,
Big Dipper quay quanh sao Bắc Cực bốn mùa trong một năm. Google.
Thức
mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi
sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài.[17]
-Người
ta thường nói, nước chảy thời đá mòn, đó là quy luật của tự nhiên. Còn
quy luật gắn bó tơ duyên trong tình yêu đôi lứa là tấm lòng chung thủy son sắt,
kiên định trung trinh. Tấm lòng chung thủy đó là tấm lòng không thay đổi, trước
sau như một, dạ chẳng mòn.
Cuối cùng, nhân vật trữ tình đã minh họa cho tấm lòng chung
thủy ấy là hình ảnh một khe suối, chắc là tên một khe suối nổi tiếng ở quê nhà,
Khe Tào, Tiên Sơn, Bắc Ninh. Tào Khê kia, dẫu đã muôn ngàn năm nước
chảy, mà nó hãy còn trơ trơ, vẫn nguyên vẹn, sừng sững như
tình yêu đôi ta. Tấm lòng của thiếp, tấm lòng của chàng mãi mãi
rực rỡ như phẩm chất của
loài hoa hướng dương, cứ luôn luôn nhìn bóng mặt trời:
Hướng dương lòng thiếp dường hoa
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái
Hoa để vàng bởi tại bóng dương.[18]
Lời kết:
Tóm lại, bỏ qua cái hay, cái bóng bẩy về
ngôn từ của hình thức nghệ thuật đặc sắc, bài ca dao đã thông đạt một nỗi niềm
thương nhớ, ngẩn ngơ của đôi lứa ở đầu và cuối sông Tương. Tan hợp là quy luật
thường tình của thế nhân. Có mấy ai, chia ly mà lòng không bồi hồi thương nhớ?
Mong một lần tái ngộ vô định thì biết đâu quá xa vời. Con Tạo quá vô tình! Tưởng
một đằng, nó quằng một nẻo. Thôi thì cam đành. Cho lòng buồn u uất trong quạnh
vắng, trơ trọi, ngân ngất nhớ thương.
Chim
xa rừng còn thương cây nhớ cội,
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà không biết thì thôi,
Biết rồi mỗi đứa một nơi cũng buồn.
Ca dao
- Thế mà, đêm mưa buồn vẫn
còn dai dẳng, chưa tạnh. Nhạc Đèn khuya thì đã tắt lâu rồi. Dòng nước mưa rơi đều
đều từ máng xối xuống chậu nước trước hiên nhà tôi tạo thành một âm thanh dịu
êm như ru hồn vào mộng. Đôi lúc âm thanh đó tí tách như chờ đợi, bẽn lẽn, ngập
ngừng; đôi lúc lại như trầm lắng, tỏ lòng; như lời của một người đầu sông Tương
âm thầm nhờ tiếng gió nhắn nhe. Phải chăng người ấy cũng buồn, cũng đồng cảm với
tôi, chia sẻ với tôi trong một khoảnh khắc buồn nhớ vu vơ mà sâu lắng của một đêm buồn không tên?
Nghẹn
ngào xa nhau
Lệ
nhòa đôi mắt
Cho
lòng se thắt
Phương
trời ánh sao!
*
Mong
ngày gặp nhau
Cho
ngời đôi mắt
Tình
xưa bát ngát,
Ngàn
sao! Ngàn sao!
Ngân Triều
***
Tieåu Söû Phaïm Thaùi
(Tiểu sử Phạm Thái)
Tham
khảo Phạm Thái toàn tập, Sở Cuồng Lê Dư phiên chú; Trần Trọng Dương khảo cứu,
hiệu chú; nxb Văn Học, 2019; trang 13-31.
[1] Khảo về năm sinh, năm mất.
Trọng Bạch Đường thư thuyết
ghi Phạm Thái sinh năm Đinh Dậu[19].
Trong câu đối của mình, Phạm Thái cũng tự nhận ông sinh năm này. Phổ
Chiêu thiền sư thi văn tập ghi Phạm Thái sinh thời Hậu Lê năm Đinh Dậu,
ngày 19 tháng 01 năm 1777, mất năm 1814, hưởng dương 37 tuổi. Từ điển nhân vật
lịch sử Việt Nam ghi ông sinh ngày 19 tháng 02 năm Đinh Dậu tức ngày 26
tháng 02 năm 1777 và mất năm 1813, Từ điển Văn Học 2006 ghi rằng ông
sinh ngày 26 tháng 02 năm 1777 và mất năm 1813. Nếu cho rằng thông tin thọ 37
tuổi là đúng, thì theo cách tính tuổi mụ, Phạm Thái mất năm 1813 mới chính xác.
Coøn nếu coi thông tin năm mất 1814 do Sở Cuồng Lê Dư cung cấp là đúng thì ông
phải thọ 38 tuổi. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tế, các tư liệu cổ ghi chép
thường ghi tuổi thọ, còn nếu đã ghi năm mất thì phải ghi theo can chi. Vậy thì,
chính xác hơn cả là Phạm Thái đã mất năm 1813. Như vậy, có thể nhận định rằng Phạm
Thái sinh ngày 19 tháng 01 năm Đinh Dậu tức ngày 26 tháng 02 năm 1777 và mất
năm 1813, hưởng dương 37 tuổi[20].
Tuy nhiên, Chiêu
tôn sư tân trang truyện thuyết của Nguyễn Tử Mẫn (1816-1901) ghi có hai
ngày sinh của ông. Thứ nhất là giờ Thân ngày 19 tháng 09 năm Đinh Dậu, thứ hai
là giờ Thân ngày 23 tháng 08 năm Đinh Dậu. Nguyễn Lộc chọn ngày 19 tháng 09, mà
không đề cập đến cách ghi chép thứ hai. Trong Sơ Kính Tân Trang, Phạm Thái có
mô tả lá số tử vi như sau:
Tử
vi xem mới lạ dường,
Lộc,
Quyền chiếu mệnh, Khúc, Xương giáp trì.
Âm
dương lưỡng diệu giao huy,
Việt,
Khôi, Tử, Phủ đóng về Thân cung.
Còn
e Dương, Kiếp, Đà, Không,
Suy
trong vận chửa khỏi vòng truân chiên.
Chúng tôi thử lập
ba lá số theo thông tin trên, riêng ngày sinh 19 tháng 01 không có giờ sinh,
thì tạm ấn định cũng sinh giờ Thân. Nhưng so cả ba lá số này với mô tả của Sơ
Kính Tân Trang thì đều không khớp với hành trạng của ông cũng như lời ông tả
trong truyện. Vấn đề này có lẽ tạm nêu đây để chờ các bậc thức giả minh giải
sau này.
[2] Khảo về tên gọi, tên tự
và tên hiệu.
Ông có tên hiệu là
Trọng Bạch Đường 重白堂,
nguyên ủy năm Mậu Ngọ, 1798, ông 22 tuổi, có dựng được một ngôi nhà, nên lấy hiệu
Trọng Bạch Đường, Trọng Bạch 重白
nghĩa là hâm mộ tài năng của Lý Bạch đời nhà Đường, nên mới lấy tên ấy. Theo
Nguyễn Tử Mẫn, bạch 白
cũng mang nghĩa là “bạch nhãn khán nhân”[21] (mắt
trắng nhìn người). Tên nầy cho thấy ông cũng là người coi trọng tài năng văn
chương, muốn theo đuổi sự nghiệp thi ca như Lý Bạch. Còn theo cách diễn nghĩa của
Nguyễn Tử Mẫn, thì tên hiệu nầycũng cho thấy khí khái ngang tàng của một nhà
Nho, giống như Nguyễn Tịch trọng người tài đức mà khinh thường kẻ tục.
Ngoài ra, Phạm Thái còn có tên Phạm
Phượng, 笵鳯 hay Phạm Phượng Sinh 笵鳯生,
Phạm Đan Phượng 笵 丹鳯.
Trước nay các sách đều ghi các tên này mà không giải thích từ nguyên. Nay xét
trong Sơ Kính Tân Trang có đoạn ghi về sự ra đời của Phạm Kim với nội dung như
sau. Họ Phạm không sinh được con trai, nên buộc phải sửa sang âm phần (mồ mả),
thầy đạo lưu đặt lại mộ vào huyệt Hàm thư đan phượng, sau ba năm mộ kết phát mới
sinh ra một người con trai có khôi tinh chiếu mệnh. Nếu coi Sơ Kính Tân Trang
như là một cuốn tự truyện thì có thể coi Phạm Thái chính là nguyên mẫu của Phạm
Kim. Hay nói cách khác, cái tên Phạm Đan Phượng, (Phạm Sinh) đều chứa đựng một
phần sự thật nào đó về tên của Phạm Thái, mà Thái cũng chỉ là cách gọi tắt của
Thái Phượng 彩鳯 mà thôi. Theo
cách lý giải trong gia phả nhà Phạm Thái thì khi xưa thân phụ ông nằm mơ thấy
chim thiêng ngũ sắc bay múa, khi mới sinh ra ông, liền đặt tên này. Loại chim
thiêng này chính là chim phượng, được coi là đứng đầu loài có lông vũ, là một
trong bốn vật tứ linh. Sách Đại Đái lễ ký ghi;
“Trong 360 loài có cánh thì phượng hoàng đứng
đầu”.
Thành ngữ có câu Đan Sơn Thái phượng, 丹山彩鳯, đều chỉ việc
chim phượng là điềm lành. Với các cứ liệu này, có thể nhận định Thái là tên
húy, còn Đan Phượng, Phượng, Phượng Sinh là các tên tự của ông.
Theo Sở Cuồng, Phạm Thái có “tên tự
xưng là Chiêu Lỳ, với nghĩa ‘Chiêu’ là con quan, là tiếng xưng hô như tiếng
công tử, con các bậc công hầu, còn ‘lỳ’ là say rượu, chán đời, có khi ngông cuồng
phụ khí, có khi ngây dại ly bì”. Lược truyện các tác gia Việt Nam và nhiều
sách sau này đều ghi tên tục của ông là Chiêu Lỳ, đều tiếp thu vào Sở Cuồng.
Xét bài Chiêu tôn sư tân trang truyện thuyết, sau khi người yêu chết, Phạm
Thái “không còn để lòng ở cõi thế, đi lang bạt kỳ hồ, lấy thơ lấy rượu làm vui,
tự gọi mình là Chú Lỳ[22],
注醨, tức là lấy rượu làm
tên”. Nguyễn Tử Mẫn chú rằng:
“Thấy bài quốc âm của ông làm có câu rằng:
Có ai muốn biết tuổi tên gì, Vừa chỉn ba mươi gọi chú Lỳ”. Ông cũng cho
biết Phạm Thái được người đời gọi là Ông Sư Chiêu, hay ông Chiêu Lỳ. Nếu theo
thuyết này thì chữ “Chiêu” còn là cách gọi tắt pháp hiệu “Phổ Chiêu thiền sư” 普昭禪師 của Phạm Thái khi ông xuất gia đi tu thời
Tây Sơn tại chùa Tiêu, núi Tiêu Sơn. Cho nên Nguyễn Tử Mẫn còn gọi ông là Chiêu
Tôn Sư hay Chiêu Sư Ông. Cách giải thích “chiêu là nói tắt từ cậu ấm cô chiêu
“như Sở Cuồng là lối giải thích theo từ nguyên dân gian, lại vừa sai với tuyến
lý lịch của Phạm Thái.
Đến đây có thể gút lại như sau, Phạm
Thái còn có tên là Phạm Phượng, tên tự là Phượng Sinh hoặc Đan Phượng, tên hiệu
là Trọng Bạch hoặc Trọng Bạch Đường. Vào thời Tây Sơn, khi đi tu, ông có pháp
hiệu là Phổ Chiêu thiền sư, nên được người đời gọi là Ông Sư Chiêu. Đầu thời
Nguyễn, khi lang thang lấy rượu làm vui, ông tự gọi mình là Chú Lỳ hoặc ông
Chiêu Lỳ. Ngoài ra, ông còn có quán hiệu (hiệu đặt theo quê quán) là An Thường
(nói gộp từ thôn An Thị 安市,
xã An Thường 安常).
[3]
Khảo về gia thế và hành trạng:
Phạm Thái là người thôn An Thị, 安市; xã An Thường, 安常, huyện Đông Ngàn, 東岸; phủ Từ Sơn, 慈山; xứ Kinh Bắc 京北. Sở Cuồng Lê Dư cho là nay (1932) thuộc tỉnh
Bắc Ninh. Từ điển Văn Học và một số sách cho là huyện Gia Lâm, ngoại
thành Hà Nội. Chúng tôi cho là thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Phạm Thái là con trai ông Phạm Công, đỗ
Tạo sĩ[23]
đời nhà Lê, được phong tước là Thường Trạch hầu. Có sách ghi ông Phạm Công tên
là Phạm Đạt, nhưng không có nguồn. Trọng Bạch Đường thư thuyết ghi:
“Ông Trọng Bạch Đường là con nhà võ họ
Phạm sống cuối đời Lê”. Dị bản khác do Sở Cuồng công bố thì Phạm Công có tước
Trạch Trung Hầu, 澤忠候.
Hiện sử liệu về Phạm Thái chỉ có vậy. Phạm gia phả ký và tác phẩm Trọng
Bạch Đường thư của ông vào thời Tự Đức còn ở trong tay Nguyễn Tử Mẫn, nhưng
đến nay đã tuyệt tích. Chiêu tôn sư tân trang truyện thuyết ghi:
“Ông sinh ra đã dĩnh ngộ lạ thường, có văn
tài, mọi người nói là ‘tướng môn nhi xuất’ (nhà làm tướng võ), nhưng có tướng
khôi khoa hiển hoạn”.
Phạm Thái sinh trưởng vào giai đoạn nội
chiến giữa bốn thế lực Lê-Trịnh với Nguyễn và Tây Sơn. Ông sinh năm 1777 (Đinh
Dậu), đúng năm này Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dương dùng kế trốn thoát khỏi quân Tây
Sơn về với Chúa Nguyễn, nên Nguyễn Huệ tiến đánh Gia Định, xử tử Nguyễn Phúc
Dương và Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Ánh trốn ra đảo Thổ Chu.
Năm 1780 (Canh Tý), khi mới 4 tuổi, mẹ
ông qua đời, khi này Nguyễn Phúc Ánh xưng vương. Năm 1782, khi ông 6 tuổi, Tĩnh
Đô Vương Trịnh Sâm chết, Trịnh Tông lên làm Đoan Nam Vương (1782-1786).
Năm 1786 (Bính Ngọ) khi ông 10 tuổi,
nhà Tây Sơn khởi binh, tiến quân ra Bắc Hà. Vua Lê Hiển Tông băng hà, vua Lê
Chiêu Thống lên ngôi. Nguyễn Nhạc cũng ra Bắc, rồi cùng em rút quân về Nam. Phổ
Chiêu thiền sư thi văn tập ghi:
“Nguyên Trạch Trung hầu là cựu thần nhà
Lê, gặp khi vận nước gian truân, ngoài thì chúa Trịnh cầm quyền, trong thì Tây
Sơn mạnh thế, cái lòng trung vua, yêu nước, Trạch Trung hầu ra tay dẹp loạn phò
nguy, nhóm binh đánh Tây Sơn.”
Cuối năm 1788 (Mậu Thân), khi ông 12
tuổi, Tôn Sĩ Nghị đem quân nhà Thanh vào xâm lược với danh nghĩa phù Lê. Xã hội
động loạn. Mùng năm Tết Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung đại phá quân Thanh.
Năm 1792, vua Quang Trung băng hà, vua
Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản lên ngôi, khi đó Phạm Thái 16 tuổi. Năm 1795, nhà
Tây Sơn tiếp tục lục đục, tướng Vũ Văn Dũng giết các tướng Bùi Đắc Tuyên và Ngô
Văn Sở, khi này Phạm Thái 19 tuổi.
Năm 1796 (Bính Thìn), Phạm Thái 20 tuổi,
thì cha mất trong sự nghiệp cần vương khôi phục cơ đồ cũ. Phổ Chiêu thiền sư
thi văn tập ghi:
“Trạch Trung hầu thất bại nơi sa trường
chiến địa, nhà cửa tan hoang”. Sử liệu này cho thấy từ năm 1786-1796, là khoảng
thời gian 10 năm, Trạch Trung hầu đi theo các lực lượng nhà Lê chống đối Tây
Sơn ở ngoài Bắc Hà. Phạm Thái học tập và trưởng thành trong giai đoạn đầy biến
động này. Ông chắc chắn đã theo gương cha, giơ cao ngọn cờ phù Lê.
Chiêu tôn sư tân trang truyện thuyết
ghi ngắn gọn rằng:
“Nhà Lê sụp, cha mất, ông sống trong cảnh
ly loạn, bèn xuống tóc làm tăng, hiệu là Phổ Chiêu thiền sư”.
Sau khi Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn, ông hoàn
tục làm Nho. Nếu vậy thì sau năm 1796, khi Trạch Trung hầu chết trận, nhà Tây
Sơn truy lùng gắt gao, Phạm Thái xuống tóc đi tu. Phổ Chiêu thiền sư thi văn
tập chép:
“Từ sau năm 1796, Phạm Thái tiếp tục công
cuộc phục Lê, ông tìm gặp được Nguyễn Đoàn, có dâng một bài Quân yếu (cốt
yếu của việc quân), luận bàn về việc tiến công. Nguyễn Đoàn sau cũng mất mạng,
nên Phạm Thái mai danh ẩn tích, giả làm sư ở chùa Tiêu Sơn”.
Hiện không có sử liệu chính xác năm ông xuống
tóc, chỉ biết là sau năm 1796. Nếu suy luận không quá xa thì việc này xảy ra có
lẽ cũng vào các năm 1797-1798. Nhưng thời gian ông xả pháp hoàn tục thì chắc là
sau năm 1802.
Trong thời đoạn này, có lẽ ông cũng
lang thang nhiều nơi để tìm người cùng chí hướng. Các địa danh này thường là những
danh lam thắng tích đều được ông đưa vào Sơ Kính Tân Trang đoạn số 9 từ câu 115
đến câu 216), bao gồm: Thúy Lĩnh (Núi
Non Nước, Ninh Bình). Cửa Thần Phù, Cung
Giáng Hạc, Chùa Ngự Loan (chưa rõ ở đâu trong đất Ninh Bình), Bích Động, Tràng An, Đền Nhị Đế (Đền Vua
Đinh, Đền Vua Lê), Hang Cửu Tầng, Kỳ Lão
(?), Hương Tích, Chùa Cầu Tím (?), Núi Tử
Sầm (Núi Trầm), Cung Vương Ngự, Núi
Vô Vi, Sài Sơn, Chùa Phật Tích, Đền Thờ Hùng Vương, Chùa Quỳnh Lâm, Núi Yên Tử,
Thành Công, Kính Chủ, Đồ Sơn, Hoa Phong (Nghiêu Phong Quảng Ninh), Vạn
Ninh. Cũng có thể nghĩ rằng các địa danh này ông đã từng qua trước đây trong thời
tuổi trẻ. Bởi đoạn tả này nằm trong phần đầu được sáng tác vào năm 1804.
Trong khoảng thời gian sau khi cha mất,
bị truy lùng gắt gao, Phạm Thái được sư ông Phổ Tĩnh nhận vào ở chùa Tiêu Sơn
(ngay Từ Sơn, Bắc Ninh) gần quê nhà, được đặt pháp hiệu là Phổ Chiêu thiền sư.
Nếu theo hàng chữ Phổ[24]
thì đây là quan hệ cùng hàng (huynh-đệ, chứ không phải thày trò). Sở Cuồng cho
biết Phổ Tĩnh cũng là người anh hùng lánh nạn, cũng quốc sĩ thương đời như Phạm
Thái. Hai người tuy bề ngoài tụng kinh gõ mõ, nhưng vẫn thầm tôi luyện cả văn lẫn
võ. Bài Trọng Bạch Đường thư thuyết thì ghi:
“(Thế mà) xuống tóc làm tăng, (thực ra) ấy
cũng như việc quốc sĩ nuốt than giả câm mà thôi. Nên xem sức vóc thì thấy ông
là vị tăng có khí khái, bèn kết giao. Việc ông được sư trụ trì ở Chùa Tiêu Sơn
[để mắt] thì khá biết rồi. Ông còn lấy rượu làm tên phải chăng ông là bậc mưu
thần nhưng đã theo tiên mà luyện phép tịch cốc? Xem việc ông đối đãi bàn luận,
thì cũng biết chẳng phải khách tầm thường, nên thêm phần kính phục. Việc bày lời
ở Đông Sơn cũng khá biết rồi vậy.”
Trong thời gian đi tu, Phổ Chiêu thiền sư
có soạn ba bốn bài văn phổ khuyến trong giai đoạn này, gồm Tờ phổ khuyến
Chùa Nghiêm Xá, Tở phổ khuyến làm tam quan Chùa Tam Thanh, Tờ khuyến lễ kết hạ
và Bài văn khao thần ôn dịch (được tuyển trong chính văn sách này). Bài cuối
mà ông soạn cho Chùa Tiêu Sơn (tức Chùa Thiên Tâm). Bài một soạn cho Chùa
Nghiêm Xá có thể chính là Chùa Nghiêm Xá thuộc xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh nay. Bài hai cho Chùa Tam Thanh ở trên Lạng Sơn. Mà ta biết một người
bạn của ông từng đóng quân ở Lạng Sơn là Trương Đăng Thụ (?-1802).
Năm 1788, Trương Đăng Thụ cùng cha Trương
Đăng Quỹ và Ngô Thì Chí đi lên thượng du Kinh Bắc và Lạng Sơn chiêu mộ một số
phiên thần thổ mục miền núi dấy quân đi giúp vua Lê khi đó đang ở Chí Linh. Như
thế, trong lúc đi tu, ông vẫn vân du đây đó, soạn văn làm thơ để giúp việc nhà
chùa, nhưng mục đích là để liên kết những người cùng chí hướng. Phổ Chiêu
thiền sư thi văn tập chép:
“Mấy thu nấp bóng bồ đề, tuy niệm nam mô
mà chí ngang tàng vẫn lăm phấn khởi. Một hôm, bỗng tiếp phong thư của người đồng
chí, là thơ của Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ, người làng Thanh Nê, làm quan
đóng ở Lạng Sơn, sai người về đón, Chiêu Lỳ từ biệt Phổ Tĩnh rồi trở ra đi, một
gánh tang bồng, lưng bầu phong nguyệt, quan san lặn lội, đường lối chông gai. Đến
nơi, tâm đầu ý hợp, Thanh Xuyên hầu cung làm thượng khách. Trong dịp này, ông
có tham dự bữa tiệc xướng họa mừng sinh nhật của Thanh Xuyên hầu. Trương Đăng
Thụ làm một bài xướng, Phạm Thái họa lại, đó là bài Họa thơ mừng tiệc sinh nhật
của quan Thanh Xuyên hầu”. (Xem toàn văn trong phần trích tuyển ở sách này).
Giai đoạn lý lịch này của Phạm Thái có lẽ
đã tạo nên cảm hứng để sau này Khái Hưng viết tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ.
Năm sau Phạm Thái về Bắc Ninh thăm quê
nhà, ở nhà ít lâu thì được tin Thanh Xuyên hầu mất, và gia quyến họ Trương đã
đưa linh cữu Trương Đăng Thụ về an táng ở nguyên quán là làng Thanh Nê. Nghe
tin xiết xấu, Phạm Thái liền tìm đến Thanh Nê, “gọi là một lễ sau cùng đền
ơn tri ngộ”.
Năm 1802, Vua Gia Long thống nhất sơn hà,
lập nên triều Nguyễn. Khi này, Phạm Thái thấy non sông đã đổi chủ, kẻ thù đã chết,
chí phục Lê có lẽ đã dần cạn cùng với sự ra đi của những người cùng chí hướng.
Mặt khác, ông không còn chịu sự truy bắt của nhà Tây Sơn nữa, nên quyết định xả
pháp hoàn tục. Khi này ông đã 25 tuổi. Ông đến xã Thanh Nê xứ Sơn Nam làm môn
nhân cho Thượng Thư -Tiến sĩ Trương Đại nhân. Trương Đại nhân được đề cập ở đây
là trương Đăng Quỹ 張登揆
(1733 -?) ông là người xã Thanh Nê, huyện Chân Định (nay là xã An Bồi, huyện Kiến
Xương, tỉnh Thái Bình), đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1766)[25].
Năm 1775, khi chúa Trịnh Sâm đến Vĩnh
Dinh, sai Thự Hiến sứ Trương Đăng Quỹ mua vét lương thực ở Hải Dương để phục vụ
quân nhu, năm 1776 ông được bổ làm Thự Tham Chính Thanh Hoa, năm 1777 làm Phó đốc
thị Thuận Hóa; năm 1787 làm Đồng Bình Chương sự. Tháng 7 năm 1787, Đăng Quỹ định
đưa Trịnh Bồng từ Đồ Sơn về kinh.
Cuối tháng 3 năm 1788, vua Lê Chiêu Thống
khi chạy xuống Sơn Nam lấy nhà của Trương Đăng Quỹ làm hành cung, sau bị quân
Tây Sơn đánh, Trương Đăng Quỹ có lẽ đã đầu hàng, vua Lê lại chạy vào Thanh Hoa.
Trong bài văn bia mộ Thanh Xuyên hầu, Phạm Thái có ghi:
Vậy
nên nấn ná tòng quyền,
Mong vì họa được chu tuyền là hơn.
Chẳng
là chịu tước thụ hàm,
Dàm danh lợi ấy xem làm phù vân.
Tháng 12, Trương Đăng Quỹ bị vua cách chức
xuống Tư huấn vì hàng “giặc”. Ông từng được cho là cận thần theo hầu vua Lê
Chiêu Thống chạy sang nhà Thanh. Sử liệu trong Chiêu tôn sư tân trang truyện
thuyết cung cấp hai chi tiết mới.
Thứ nhất, Trương Đăng Quỹ
từng làm chức Thượng Thư thời Lê (chi tiết này ứng với sử liệu trong bài văn
bia mộ Thanh Xuyên Hầu).
Thứ hai, ông ở quê nhà cho
đến tận sau năm 1802. Thanh Xuyên Hầu Trương Đăng Thụ là con trai của Kiến
Xuyên Hầu 建巛侯 Trương Đăng Quỹ.
Sau
năm 1802, Phạm Thái đã đến ở nhà Kiến Xuyên Hầu Trương Đăng Quỹ[26]
và học hỏi thêm kinh sách từ ông:
Trương
Công thấy vẻ văn phong,
Xót
tài vả lại có lòng trọng Nho.
Cơm
sẻ với, áo nhường cho,
Đạo
cao, phép nhiệm, nhỏ to dạy truyền.
Theo Sở Cuồng, Phạm Thái đến nhà Trương
Đăng Quỹ là để viếng Trương Đăng Thụ. Phạm Thái đã viết một bài văn bia phúng bạn
(hiện chưa tìm thấy bài văn bia bằng Hán văn này). Nhưng hiện còn giữ được bản
diễn Nôm lục bát bài văn ấy (Xem Văn bia mộ Thanh Xuyên Hầu, bài 21, trang 79
trong sách nầy của NT). Cụ Trương Đăng Quỹ do cảm kích tấm lòng và văn tài của
Phạm Thái nên đã mời ông ở lại.
Ngoài ra ông còn viết ba bài thơ Nôm Diễn
thơ Trương Tứ Lang. Cũng trong dịp này ông được chứng kiến câu chuyện người
vợ Lẽ của Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ là nàng Long Cơ 龍姬
đã toan tự vẫn để theo chồng. May mà mọi người phát hiện cứu kịp, nàng Long Cơ
bèn xin dựng một ngôi lều Nghĩa Lư bên cạnh mộ chồng để ra đó ở, vừa tiện để việc
khói nhang, vừa để nêu gương thủ tiết. Cảm kích trước tình cảm phu thê ấy, Phạm
Thái đã soạn hai bài “Đề tòa nhà Nghĩa Lư” (Xem bài 13 Đề nghĩa lư nàng
Long Cơ trang 61 trong sách nầy của NT). Cũng trong thời gian này, Phạm Thái
thường được hầu chuyện sách vở Trương đại nhân, tiếp tục theo đòi nghiệp bút
nghiên, đêm ngày nấu sử xôi kinh, thi ca xướng họa.
Có một lần Phạm Thái hầu cụ Trương Đăng Quỹ
uống rượu. Cụ ngắm bức Mỹ nữ đồ, bức tranh vẽ một cô thiếu nữ ôm đàn
tranh, bên cạnh có bình sen, bình cúc, phái trên có vầng trăng sáng. Ông sai Phạm
Thái lấy đó làm bài đề vịnh. Phạm Thái uống xong mười chén rượu, thảo luôn một
bài thơ Đường luật bằng chữ Hán, rồi đọc ngược theo hồi văn cách thành một bài
thơ Nôm dịch nghĩa cho bài chữ Hán kia. Cụ Trương Đăng Quỹ đọc bài thơ xong liền
phê bốn chữ “thanh quang thắng tuyệt” 清光勝絶 sáng
trong, cảnh đẹp cực kỳ; (xem Vịnh tố nữ đồ trang 46 của NT và bài họa
của Trương Quỳnh Như trang 48 của NT). Sau ông đem Thanh Nê thập vịnh thi
trình cho đại nhân xem (mười bài này hiện chưa tìm được).
Khi làm môn nhân ở nhà cụ Trương Đăng Quỹ,
Phạm Thái cùng các Nho sĩ ở đây lập ra thi xã, cùng nhau ôn văn luyện chữ, cùng
nhau thù tạc xướng họa. Chính ở đây, Phạm Thái đã được gặp nàng Trương Quỳnh
Như. Chiêu tôn sư tân trang truyện thuyết ghi rằng:
“Trong nhà đại nhân có tài nữ cải trang
làm nam, thường cùng ông ngâm họa, lập ra thi xã”.
Còn Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập ghi:
“Hầu [tức Kiến Xuyên hầu Trương Đăng Quỹ]
có gái Quỳnh Như, tuổi vừa đôi tám, người đẹp văn hay, thường ham đọc truyện
Phan Trần và tự cho truyện đó là văn chương tuyệt tác. Chiêu Lỳ làm bộ truyện đề
tên Sơ Kính Tân Trang. Quỳnh Như được đọc, mới lại phục rằng lời văn nét bút
còn hay gấp mấy mươi tập Truyện Phan Trần”.
Lại xét, bản Sơ Kính Tân Trang hiện còn (bản
A.1390) ghi niên đại thành thư ngay ngoài bìa là “Gia Long Giáp Tý tam niên” tức
năm 1804. Niên đại này là rất phù hợp với diễn biến lịch sử. Có thể thuật lại
trình tự như sau:
“Phạm Thái ở lại nhà cụ Trương Đăng Quỹ để
hầu bút mực cụ vào năm 1802. Sau đó ông cùng nhiều môn nhân khác có lập ra thi
xã để bình luận và sáng tác văn chương. Trong thi xã này, có nàng Trương Quỳnh
Như, (con gái của Trương Đăng Quỹ với một bà vợ lẽ) cải trang làm con trai để
cùng nhau học tập xướng họa; hai người đã có nhiều xướng họa tâm đầu ý hợp”[27].
Các bài Tây giang nguyệt, Thư gửi tình
nhân, Tình nhân gửi thư, có lẽ đều được sáng tác trong thời gian này. Sau,
Phạm Thái chắc đã phát hiện ra nàng là thân nữ, thầm thư từ qua lại, và hai người
đã có thề nguyền. Đến năm 1804, Phạm Thái soạn Sơ Kính Tân Trang để gửi tặng
người yêu và thuật lại chuyện tình cảm của hai người, Quỳnh Như rất lấy làm tâm
dắc về tài năng của Phạm Thái. Bản Sơ Kính Tân Trang soạn năm 1804 có lẽ chính
là 17 đoạn đầu trong văn bản hiện còn.
Trương Đăng Quỹ nhận ra mối quan hệ của Phạm
Thái và Trương Quỳnh Như, và cũng có ý tác thành cho hai người kết nghĩa Châu
Trần. Nhưng mẹ của Quỳnh Như chỉ sinh được mỗi mình nàng, cho rằng Phạm Thái là
người nghèo khó, vốn là nhà sư, quê quán xa xôi. Lại thêm, khi ấy có một người
trọc phú (tên Trịnh Nhị) đem lễ lạc hậu hĩnh đến cầu hôn, nên bà nhất quyết
không muốn gả con cho Phạm Thái. Đôi trai tài gái sắc không chịu tuân theo ý ấy.
Quỳnh Như bị mẹ mắng nhiếc suốt ngày, nàng mang bệnh u uất rồi qua đời.
Đau buồn trước cái chết của người yêu, Phạm
Thái viết các bài Triệu linh, Thơ khóc cô Trương Quỳnh Như (Tự khúc chiêu
linh văn), Bài văn khóc cô Trương Quỳnh Như, Bài triệu linh cô Trương Quỳnh
Như.
Phạm Thái từ đó cũng bỏ nhà họ Trương đi
lang thang đây đó, lấy thơ rượu làm thú qua ngày, nên lấy hiệu là Chú Lỳ. Năm
1805, Phạm Thái về quê, bán hết điền sản, để tiện đi đây đi đó. Về giai đoạn
này của Phạm Thái, Ông Sở Cuồng Lê Dư có viết như sau:
“Cặp
uyên ương lứa đôi đã lỡ, kiếp phù sinh thôi có ra chi? Từ đấy, Chiêu Lỳ bỏ nhà
Kiến Xuyên hầu mà đi lang thang, nay đây mai đó, dạo chơi khắp danh lam thắng cảnh,
gửi tình nơi nước biếc non xanh, cũng có khi dãi gió dầm sương, ngỏ tấm gan
vàng với vầng trăng bạc, cũng có lúc câu thơ chén rượu, dành bầu máu đỏ đợi người
mắt xanh”.
Như
thế từ năm 1805 về sau (cho đến khi mất), Phạm Thái đã du chơi ngoạn cảnh ở nhiều
nơi. Mùa Xuân năm 1806, Phạm Thái 30 tuổi, ông đã soạn đôi câu đối để cảm khái
về cuộc đời mình như sau:
-Mệnh ta tuổi Đinh Dậu, năm nay ba chục,
chừng nhi lập xem đà phải khoảng, nghĩ mình nay đầu đã lớn tày dành, ví thân
này nửa kiếp đã hầu qua, phù sinh ấy khéo buồn tênh thay mình nhỉ, giận cái
long đong làm lỡ phận, không thanh danh cho lừng lẫy áng băng gia, khư khư ôm
vinh nhục những bằng trời, chết chôn kỹ kẻo vất vơ ma huyễn thế.
-Người ta năm Bính Dần, đầu tháng mồng
hai, tiết tân Xuân nay đã đến thì, mừng trời ấy mũi hẳn to bằng thúng, như Xuân
thế một năm hầu dễ mấy, lạc thú kia nên náo nức với ai ơi, sợ con sồng sộc kíp
theo chân, đua thanh sắc để nhởn nhơ ngoài thành thị, hẳn hẳn lấy tính tình vui
với cảnh, sống chơi dai cho khủng khẳng rạng trần gian.
Trong thời gian này, Phạm Thái mưu sinh bằng
nghề dạy học. Chiêu tôn sư tân trang truyện thuyết cho biết, Phạm Thái dạy học
tại nhà họ Nguyễn. Học trò của ông là anh trai cả (bá huynh 伯兄) của Nguyễn Tử Mẫn-người chép bản Sơ Kính
Tân Trang. Ông cả này sau đó có đỗ Tú tài. Nguyễn Tử Mẫn thuật lại rằng:
“Cha tôi thuở nhỏ thất học, sinh bá huynh
tôi, mong giúp con trưởng thành, thấy thơ ông công (dùng) chữ rất khéo, vời về
làm thầy cho con. Mỗi khi ông giảng sách, tôi đứng cách một bức vách mà lén
nghe, để tập làm thơ quốc âm. Còn làm văn thì cũng tạm được chút ít. Khi trưởng
huynh tôi 19 tuổi thì ông đã quyên trần rồi. Tôi (sau) được trưởng huynh tôi khải
mông[28]
cho, rồi lại được cha và anh ngâm đọc những điều ông viết, lòng thực ái mộ. Đã
gắng mà làm theo thì cũng theo được đôi chút. Ông thực là sư tổ của tôi vậy”.
Phạm Thái có lẽ không chỉ dạy học ở mỗi
nhà họ Nguyễn, mà còn dạy học ở nhiều nơi khác nữa. Bằng chứng là, khi bản gia
tàng Sơ Kính Tân Trang của Nguyễn Tử Mẫn bị mất, thì lại có một người khác đem
bản chép của nhà họ đến cho. Theo Sở Cuồng, thì họ Nguyễn này cư trú tại làng
Thư Điền, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình. Đây cũng là điều lý giải vì sao có
nhiều địa danh thắng cảnh Ninh Bình được chép lại trong Sơ Kính Tân Trang. Việc
sao chép thơ Phạm Thái khi đó chủ yếu là do những người quen biết, bạn bè và học
trò của Phạm Thái. Ông có chân dung tự họa như sau:
Năm
bảy bài thơ gầy gối hạc,
Một vài đứa trẻ béo răng ghê.
Tranh
vờn sơn thủy màu nhem nhuốc,
Bầu dốc càn khôn giọng bét be.
Thời gian lang thang đây đó và mưu sinh bằng
nghề dạy học, Phạm Thái vẫn tiếp tục sáng tác thơ văn. Và như thói quen của Nho
sĩ làng quê, nhất là những Nho sĩ không đỗ đạt theo con đường quan lộ, thì Phạm
Thái cũng đã có thể soạn văn thơ, câu đối, hoành phi, văn bia, văn tế, để kiếm
sống qua ngày, giống như Phạm Đình Hổ. Nguyễn Tử Mẫn cho biết, ông từng đọc cuốn
Phạm gia phả ký. Tác phẩm này được chép trong Trọng Bạch Đường thư
(sách của ông Trọng Bạch Đường), có lẽ cuốn này cũng do Phạm thái soạn trong thời
gian này. Trong đó, có ghi lại hành trạng, thơ văn của ông.
Phạm Thái vẫn tiếp tục sống với cuộc tình
lỡ dở trong cõi mộng. Ông chắc đã không lấy vợ, vì trong lòng luôn ấp ủ hình
bóng Trương Quỳnh Như. Để vượt thoát khỏi thực tế phũ phàng, trong thời gian cuối
đời, ông đã biên soạn tiếp phần sau của Sơ Kính Tân Trang (từ đoạn 22 đến đoạn
40).
Năm 1812, Phạm Thái đến chơi nhà họ Dương ở
đất Tràng An (tỉnh Ninh Bình). Khi ấy, có một người học trò mang một tập văn
tên Tây Hồ tụng của Nguyễn Huy Lượng (?-1808). Phạm Thái than rằng:
“Xưa làm thần tử nhà Lê, nay trở sang lụy
Tây ngụy, sao dày mặt như vậy, cho nên ta ghét những đứa nịnh ấy. Ta thấy thơ
có thể chiến cổ, nay tụng ta làm bài chiến kim, nhân vì bỉ cái người mà chiến
bài tụng, để một chuyện cười cho thiên hạ”.
Ông
sáng tác bài Chiến tụng Tây Hồ phú (xem toàn bài trong sách này). Việc
phản đối Tây Sơn của ông trong bài phú này khiến cho một số nhà nghiên cứu đánh
giá bài này không có giá trị gì. (Nội
dung bài phú hùa theo lý tưởng trung quân phong kiến tàn tạ cuối mùa, chủ quan
bài xích điểm son chói ngời trong lịch sử, chiến thắng ngoại xâm oai hùng, vẻ
vang của Nhà Tây Sơn với quân Thanh và quân Xiêm, NT).
Như vậy, trong giai đoạn từ 1805-1812, Phạm
Thái đã soạn nhiều câu đối, hiện chỉ còn 4 câu đối Nôm, viết một số bài như Tự
Trào, Tự thuật, Hay rượu, sáng tác tiếp phần hai của Sơ Kính Tân trang,
biên soạn Phạm gia ký, Trọng Bạch Đường thư và bài Chiến tụng Tây Hồ phú.
Năm 1813, Phạm thái mất tại Thanh Hóa, hưởng
dương 37 tuổi.
*
Thử
so sánh Phạm Thái với một số tác giả cùng thế hệ:
Phạm Thái sinh sau Nguyễn Gia Thiều,
tác giả Cung oán ngâm khúc 36 năm, mất sau Nguyễn Gia Thiều 16 năm.
Phạm Thái sinh sau Nguyễn Huy Tự,
tác giả Hoa Tiên truyện 34 năm, mất sau Nguyễn Huy Tự 24 năm.
Phạm Thái sinh sau Nguyễn Du, tác
giả Đoạn Trường tân thanh 12 năm, mất trước Nguyễn Du 6 năm.
Phạm Thái sinh trước Nguyễn Huy Hổ,
tác giả Mai Đình mộng ký 6 năm, mất trước Nguyễn Huy Hổ 27 năm.
Ông cùng một thế hệ với 4 nhà văn trên
đây, thế hệ đóng khép cho một thời kỳ văn học vô cùng quan trọng trong văn học
sử chữ Nôm và chuyên chở những sắc thái chủ yếu gồm tính chất bi quan (Đoạn
Trường Tân Thanh, Nguyễn Du); lánh đời (Mai Đình mộng ký, Nguyễn Huy Hổ)
và hoài cổ (Cung Oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều; Thơ Đường luật, Bà Huyện
Thanh Quan)
Riêng Nguyễn Công Trứ (1778-1858), sinh
sau ông có 1 năm nhưng tác giả này lại thuộc về một thế hệ mới, mở đầu cho một
thời kỳ mới, thời kỳ phục hưng chính quyền quân chủ tập trung với những sắc
thái xây dựng lành mạnh, lạc quan của nó.[29]
[4]
Kết luận
Sđd
bên trên trang 152-153.
Phạm Thái (1777-1813) là một nhà thơ nổi
tiếng trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ông chiếm một vị trí độc
đáo trong lịch sử văn học, bởi lẽ các tác phẩm của ông còn lại đều là thơ Nôm,
mà phần lớn đều đạt đến ngưỡng “thi trung hữu tình”. Các tác phẩm Nôm của ông
được xây dựng bằng một thứ ngôn ngữ sống động, nhiều màu sắc, với nhiều thể loại
khác nhau, như phú Nôm, từ Nôm, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, thơ Nôm Đường
luật, văn phổ khuyến, câu đối Nôm, truyện thơ Nôm…
Sự đóng góp của Phạm Thái thể hiện ở kỹ
thuật ngôn từ. Ông đã thao diễn các kỹ thuật từ chương tiếng Việt một cách điêu
luyện và giàu cảm xúc, thậm chí đôi khi còn đẩy lên mức cực đoan thành kỹ xảo.
Từ việc phô diễn kỹ xảo, có lúc còn chuyển sang các hình thức giải kỹ xảo, để
có những bài thơ vượt ra ngoài khuôn khổ của từ chương cổ điển. Có những câu
thơ gần như không còn dấu ấn kỹ thuật, mà nhịp điệu cấu trúc, âm hưởng ngôn từ,
hình ảnh thi ca có sức lay động mạnh mẽ đến người thưởng lãm. Phạm Thái góp phần
tạo nên một thứ tiếng Việt biến ảo, tài hoa và đa tình, vừa gần gũi lại vừa lấp
lánh nhân văn.
Bút pháp của ông có một khí thế dũng mãnh
như sóng ngàn thác lũ lôi cuốn cảm xúc sục sôi trong một tâm hồn cuồng nhiệt,
hiên ngang bất cần vần điệu của câu thơ. Nhịp thơ đi như triều lên gió loạn, bẻ
gãy mọi tiết tấu hiền hòa, êm dịu của thể thơ lục bát vốn mềm mại, để tạo ra một
nhịp điệu mới, hỗn độn và ngang tàng. Người ta có cảm tưởng khi nhà thơ vung
bút lên - như người chiến sĩ vung kiếm – là bao nhiêu mê say bồng bột cùng dâng
lên, òa vỡ, lan tràn đến đầu ngọn bút.[30]
Phạm Thái là một kẻ lãng tử trong chốn
tình trường, là một kẻ lãng du trong cõi đời bể dâu biến động, là một tình lang
tài hoa trong cõi thơ Nôm, là một thi tiên ngang tàng và cực đoan trong ngôn từ
và hành động.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Sơ Kính
Tân Trang là tác phẩm tự truyện Nôm đầu tiên và duy nhất tả thực cái cảm xúc
bâng khuâng sâu lắng của tuổi trẻ khi lần đầu bước vào tình yêu.[31]
Các bài thơ, bài triệu linh, bài văn tế
khóc cô Trương Quỳnh Như là những tác phẩm đầu tiên và duy nhất mà tình nhân
dành cho tình nhân trong thời trung đại. Phạm Thái là kẻ duy nhất hành động
theo thuyết định tình[32],
đem cái định tình trong văn chương ra ngoài cuộc sống, để sống với nó và chết với
nó.
Ở khía cạnh xã hội, một mặt ông là hiện
thân của một nhà Nho hành đạo-nhà Nho nhập thế, có chính kiến về chính trị,
phân biệt chính-ngụy một cách rạch ròi thậm chí cực đoan, mặt khác ông lại hành
xử như một nhà Nho tài tử với cái Tôi cá nhân vùng vẫy vượt ra ngoài lề thói
thông thường. Cái sở học của ông là đa thức đa nguyên, không chỉ điển chương
kinh nghĩa Nho gia, mà còn thêm cả thao lược binh gia và pháp số Phật giáo. Cái
sở trường của ông không chỉ là văn chương chữ nghĩa mà còn cầm kỳ thi họa. Nguyễn
Tử Mẫn đánh giá rằng ông là bậc thiên tài về thơ Nôm:
“Trong sách thì thơ thông vận, chữ hiệp
âm, điển thì đoạn chương thủ nghĩa, lời thì khinh đời tỏ lòng. Có khi lại dẫn dụ
cái dục, thêm thắt niềm đau, đại khái đấy chẳng phải là cái học cử tử vậy”
[33]
Phạm Thái đã có đóng góp không nhỏ ở
phương diện lịch sử ngôn ngữ văn chương tiếng Việt. Sự đóng góp thể hiện ở
phương diện thể loại-đề tài. ở phương diện kỹ thuật ngôn từ - kỹ pháp tu từ - kỹ
xảo từ chương, với cái Tôi cá nhân muốn vượt thoát khỏi thực tại xã hội đầy rẫy
tai ương, bất trắc! Ông là một tình lang tài hoa của cõi thơ Nôm.[34]
***
[5] Bảng thống kê tác phẩm của Phạm Thái:
Trích Phạm Thái toàn tập, Sở Cuồng Lê Dư
phiên chú; Trần Trọng Dương khảo cứu, hiệu chú, NXB Văn Học, 2019, trang 43-46.
[1]
Giễu người hay đi đánh bạc, SC. [Thơ yết hậu].
[2]
Thuật hoài quốc âm khúc, SC. [Lục bát, song thất lục bát]
[3]
Núi con voi, SC. [Thất ngôn bát cú]
[4]
Đối nguyệt cảm hứng, SC. [Ngũ ngôn tứ tuyệt]
[5]
Trời Đông nghe trống đánh, SC. [Ngũ ngôn tứ tuyệt]
[6]
Đề Chùa Tiêu Sơn, SC. [Thất ngôn bát cú]
[7]
Tờ phả khuyến Chùa Nghiêm Xá, SC. [Khuyến, biền văn]
[8]
Tờ phả khuyến làm Tam quan chùa Tam Thanh, SC. [Khuyến, biền văn]
[9]
Tờ phả khuyến lễ kết hạ, SC. [Khuyến, biền văn]
[10]
Bài văn khao thần ôn dịch, SC. [Văn tế, biền văn].
[11]
Họa thơ mừng tiệc sinh nhật của quan Thanh Xuyên hầu, SC. [Thất ngôn bát cú]
[12]
Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu (Nôm), SC. [Lục bát]
[13]
Đề tòa nhà Nghĩa Lư 1, SC. [Thất ngôn bát cú]
[14]
Đề tòa nhà Nghĩa Lư 2, SC. [Thất ngôn bát cú]
[15]
Diễn thơ Trương Tứ lang 1, SC. [Thất ngôn bát cú]
[16]
Diễn thơ Trương Tứ Lang 2, thuận độc, SC. [Thất ngôn bát cú]
[17]
* Diễn thơ Trương Tứ Lang 3, thuận nghịch độc, SC. [Thất ngôn bát cú]
[18]
Mỹ nữ đồ, hồi văn cách thi, Bản A, SC. [Thất ngôn bát cú]
[19]
* Nghịch độc làm thơ quốc âm, Bản A, SC. [Thất ngôn bát cú]
[20]
* Tây giang nguyệt 1, Bản A, Bản B, SC. [Từ]
[21]
* Tây giang nguyệt 2, Bản A, Bản B, SC. [Từ]
[22]
* Thư gởi tình nhân 1, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[23]
* Thư gởi tình nhân 2, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[24]
* Tình nhân gửi thư 1, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[25]
* Tình nhân gửi thư 2, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[26]
* Mộng nhớ Quỳnh nương, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[27]
* Liên đối Chùa Kim Sơn 1, Bản A, Bản B, SC. [Câu đối]
[28]
* Liên đối Chùa Kim Sơn 2, Bản A, Bản B, SC. [Câu đối]
[29]
* Liên đối Chùa Kim Sơn 3, Bản A, Bản B, SC. [Câu đối]
[30]
* Thơ giáng thần, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn tứ tuyệt]
[31]
* Vịnh Thúy Hoa Dương, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn tứ tuyệt]
[32]
* Họa lại cô Trương Quỳnh Như, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn tứ tuyệt, độc vận].
[33]
* Thơ trên vách lầu chuông ở Kim Sơn, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[34]
* Họa thơ trên vách lầu chuông ở Kim Sơn, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát
cú]
[35]
* Tăng xướng, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[36]
* Nàng họa, Bản A, Bản B, SC. [Thất ngôn bát cú]
[37]
* Nhất tiễn mai 1, Bản A, Bản B, SC. [Từ]
[38]
* Nhất tiễn mai 2, Bản A, Bản B, SC. [Từ]
[39]
* Tiễn mai 1, bản B. [Từ]
[40]
* Tiễn mai 2, bản B. [Từ]
[41]
Bài Cầm tháo, SC. [Lục bát, 2 bài Từ, 2 bài thơ]
[42]
Thơ khóc cô Trương Quỳnh Như, SC. [Thất ngôn bát cú]
[43]
bài văn Khóc cô Trương Quỳnh Như, SC. [Văn]
[44]
Bài Triệu linh cô Trương Quỳnh Như, SC. [Song thất lục bát]
[45]
Triệu linh, SC. [Song thất lục bát]
[46]
Tự trào, SC. [Thất ngôn bát cú]
[47]
Tự thuật (Tự trào 2), SC. [Thất ngôn bát cú]
[48]
Hay rượu, SC. [Thơ yết hậu]
[49]
Câu đối gặp đám ma, SC. [Câu đối]
[50]
Câu đối tự sự, SC. [Câu đối]
[51]
Câu đối chơi Xuân, SC. [Câu đối]
[52]
Câu đối ngày Xuân bán đất (1805), SC. [Câu đối]
[53]
Câu đối cảm Xuân năm Bính Dần (1806), SC. [Câu đối]
[54]
Câu đối cảm Xuân, SC. [Câu đối]
[55]
Chiến tụng Tây Hồ phú, VNv.184, SC. [Phú]
[56]
Sơ Kính Tân trang/ Châu sơ, Kim kính lục, Bản A, Bản B, SC. [Lục bát, xen
các thể khác như từ, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, song thất lục bát, câu đối]
[57]
Quân yếu (đã mất)
[58]
Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu, Hán văn, (đã mất).
[59]
Phạm gia phả ký, (đã mất)
[60]
Trọng Bạch Đường thư, (đã mất).
[61]
Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, (đã mất).
[62]
Thanh Nê thập vịnh thi, 10 bài, (đã mất)
*Tổng
cộng là 71 bài, gồm cả các bài lẻ và các tập sách.
Ghi
chú:
SC:
bài
có trong tài liệu Sở Cuồng, xuất bản năm 1932.
Bản
A:
bài có trong Sơ Kính Tân Trang ký hiệu A.1390 còn gọi là bản A.
Bản
B:
bài có trong Châu sơ kim kính lục, ký hiệu AB. 275, gọi là bản B.
(*):
Dấu hoa thị, bài không có tiêu đề trong nguyên tác. Dịch giả Trần Trọng Dương tạm
đặt tiêu đề.
***
Phân
loại niên đại & hoàn cảnh sáng tác:
Trích và tóm tắt sđd nêu trên, trang
43-46; trang 51-53.
Sau khi thống kê số lượng tác phẩm của Phạm
Thái, gồm 71 bài, chúng tôi phân tích và xác định niên đại và hoàn cảnh sáng
tác của ông như sau:
Nhóm
1: Chưa thể xác định niên đại, gồm các bài:
1-
Quân yếu (đã mất)
2-
Giễu người hay đi
đánh bạc
3-
Thuật hoài Quốc âm
phú
4-
Núi con voi
5-
Đối nguyệt cảm hứng
6-
Trời Đông nghe trống
đánh
Nhóm
2 a:
Được sáng tác
trong khoảng 1796-1802: giai đoạn làm tăng:
1-
Đề Chùa Tiêu Sơn
2-
Tờ phả khuyến Chùa
Nghiêm Xá
3-
Tờ phả khuyến làm
tam quan chùa tam Thanh
4-
Tờ phả khuyến lễ kết
hạ
5-
Bài văn khao thần
ôn dịch
6-
Họa thơ mừng tiệc
sinh nhật của quan Thanh Xuyên hầu
Nhóm
2 b:
Được sáng tác
trong khoảng 1802-1804: giai đoạn hoàn tục, về Thanh Nê viếng bạn, làm môn nhân
tại nhà Tiến sĩ Trương Đăng Quỹ và yêu Trương Quỳnh Như:
1-
Văn bia mộ Thanh
Xuyên hầu
2-
Đề tòa nhà Nghĩa
Lư 1
3-
Đề tòa nhà Nghĩa
Lư 2
4-
Diễn thơ Trương Tứ
lang 1
5-
Diễn thơ Trương Tứ
lang 2
6-
Diễn thơ Trương Tứ
lang 3
7-
Mỹ nữ đồ 1
8-
Mỹ nữ đồ 2
9-
Họa lại thơ cô
Trương Quỳnh Như
10-
Tây giang nguyệt 1
11-
Tây giang nguyệt 2
12-
Thư gửi tình nhân
1
13-
Thư gửi tình nhân
2
14-
Tình nhân gửi thư
1
15-
Tình nhân gừi thư
2
16-
Thơ khóc cô Trương
Quỳnh Như
17-
Bài văn khóc cô
Trương Quỳnh Như
18-
Triệu linh
19-
Bài triệu linh cô
Trương Quỳnh Như
20-
Bài Cầm Tháo
21-
17 đoạn đầu của Sơ
Kính Tân Trang
22-
31 Thanh Nê thập vịnh
thi đã mất, 10 bài.
Nhóm
3: từ năm 1805-1813:
1-Tự trào
2- Tự thuật
3- Hay rượu
4- Các câu
đối
5- Chiến tụng
Tây Hồ phú
7-
Phạm gia ký (đã mất)
8-
Sơ Kính Tân Trang
đoạn 18-44
9-
Thơ Giáng Thần
10-
Vịnh Thúy Hoa
Dương
11-
Ngôn chí 1
12-
Ngôn chí 2
13-
Nhất tiễn mai 1
14-
Nhất tiễn mai 2
15-
Tiễn mai cách 1
16-
Tiễn mai cách 2
17-
Các liên đối ở
Chùa Kim Sơn
18-
Mộng nhớ Quỳnh
Nương
***
Phụ
lục
Nhặt
trên: Tranh Đông Hồ nên treo trong nhà.
http//:9houz.vn/baiviet/top-20-buc-tranh-dong-ho-nen-treo-trong-nha
7 thg 2, 2020.
[1]
Hứng dừa
Bức tranh “Hứng Dừa” với nét vẽ mộc mạc, dí dỏm
“Con ôm gốc, bố cố leo
Dừa cao, dừa thấp cùng treo ngọt ngào
Tròn tròn hai trái, hái trao
Váy dâng lên đến nôn nao, Hứng
Dừa.”
“Hứng dừa” là một bức tranh nổi tiếng thể hiện sự hòa hợp, hạnh
phúc của một gia đình Việt Nam. Dù mưa nắng, bão lũ, đất đai khô cằn, con người
vẫn luôn vươn lên, sống hạnh phúc, vui vẻ, ấm no, hòa thuận, vượt qua mọi khó
khăn trở ngại. Trong bức tranh, ta có thể thấy người đàn ông, người trụ cột
trong gia đình, biết dũng cảm trèo lên cao, tượng trưng cho đỉnh cao của danh
vọng để đem đến hạnh phúc, tiếng cười cho vợ con. Cho thấy một ý nghĩa sâu xa
đằng sau những nét vẽ mộc mạc, giản dị.
Ghi chú:
Hai câu 6/8 trong tranh là:
𠸦埃窖𢫡𢧚梌,
帝𨅹低興朱𣃣𠬠堆.
Khen ai khéo dựng nên dừa,
Đấy trèo, đây hứng cho vừa một đôi.
***
Chú thích
[1] Ca từ bài hát Đèn khuya, sáng tác 1958 của nhạc sĩ Lam Phương. Ông tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh năm 1937 tại Rạch Giá. Nhạc của ông chuộng điệu mambo nhưng đa dạng với rất nhiều đề tài. Nói lên cảm xúc về năm 1954 có "Chuyến đò vĩ tuyến", "Nhạc rừng khuya", "Đoàn người lữ thứ" và "Nắng đẹp miền Nam". Nói về tình quân nhân ông có "Tình anh lính chiến", "Chiều hành quân". Nói đến tình mẫu tử ông có "Đèn khuya", "Tạ ơn mẹ". Nói đến những kiếp sống lầm than ông có "Kiếp nghèo", "Chiều tàn". Riêng về tình ca, có thể nói ông là một suối nguồn phong phú. Ông là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc miền Nam Việt Nam với khoảng 200 tác phẩm.
Tin mới nhận được: Nhạc sĩ Lam Phương đã từ trần tại Fountain Valley, California, Hoa Kỳ, ngày 22.12.2020. Nguồn: wikipedia.org
[2] Nhân sinh thất thập cổ lai hy: Trích trong bài Khúc Giang 2, 曲江其二, (Đỗ Phủ (712 – 770): Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, Nhân sinh thất thập cổ lai hy. 酒債尋常行處有,人生七十古來稀. Nợ tiền uống rượu vốn chuyện thường, nơi nào cũng có, Xưa nay đời người sống tới bảy chục là hiếm hoi. Nợ tiền quán rượu đâu không thế? Sống bảy mươi năm đã mấy người? (Tản Đà) dịch.
[3] Mậu Thân tự thọ, Nguyễn Khuyến, Mậu Thân tức năm 1908, Quốc văn tùng ký bản số (AB.383) và Nam âm thảo (VHv.2381). Có bản chép là Cảm hứng, Đại lão…cả câu là nỗi niềm cay đắng trong cô đơn, đời mười phần không vừa ý mình đến tám, chín phần. và cảm thấy mình xa lạ, lạc loài trong chốn cũ.
4 Biển trần khổ vơi vơi trời nước. Ánh Thái Dương rọi trước phương Đông… Kinh cúng nước, Đạo Cao Đài.
[5] sinh ký tử quy, nghĩa là sống gửi, ở đậu, cõi tạm; tử, chết, trở về nơi mình đã ra đi.
[6] Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập - tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004: Trích trong bài hát nói Uống rượu tiêu sầu của Cao Bá Quát: Xưa nay, mảnh hình hài của thân xác ta là vô nghĩa. Tại sao ta phải bỏ hết đời mình tích cóp, vung quén để lo làm giàu? Khi chết có đem theo đâu?
[7]Chinh Phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm, traduit en Francais par Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng, nxb Bộ Giáo Dục và Thanh Niên, năm 1969, câu 157-158: Votre mère est triste: sur le seuil elle attend. Votre enfant bouche bée réclame sa béquée. Page 42
[8] Sđd như trên, câu 111-112: A qui peut-on confier le secret de son coeur? Moi, derrière ma porte et vous, à l’horizon! Page 34.
[9] Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du, câu 2855-2856: Son coeur s’était attaché aux serments gravés sur la pierre et l’or dans le passé. En lui pensant, il croyait qu’il la voyait revenir dans une rêverie. Pòeme de Nguyễn Du, traduction Francaise en vers libres par Lưu Hoài, nxb Văn Học-Hà Nội 2003, trang 344.
[10] Puisque personne n’est souvenu d’elle, n’a jetté sur elle unregard, Par cette occasion, je vais bruler et offrir quelque batonnêts d’encens. Poème de Nguyễn Du, traduction Francaise en vers libres par Lưu Hoài, nxb Văn Học-Hà Nội 2003, trang 55.
[11] Tào Khê: Khe Tào, nay còn dấu vết ở Tiên Sơn, Bắc Ninh.
[12] Truyện Kiều bản 1780, Nguyễn Du, Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, khảo dị, nxb Văn Học& TTNC Quốc Học, 2003, câu 2943-2944; tăm cá: bọt cá ở dưới nước nổi lên, tăm cá hoặc tăm hơi, nghĩa hàm ẩm là tin tức, thư từ. Bóng chim: Trên trời thẳm thì dò đâu ra bóng chim mà tìm chim. Nghĩa rộng, Tô Vũ đi sứ Hung Nô, bị đày ở Tây Bá Lợi Á 19 năm. Ông xé áo viết nhiều thư, cột vào chim nhạn gởi về quê nhà. Biết ông còn sống, Hán Vũ Đế, (140 tcn-87 tcn) can thiệp rước ông về quê nhà. Nhạn bạch: dải lụa buộc chân nhạn để gởi thư: Lý thư nhạn bạch, vô tiêu tức, (Thư trong bụng cá chép, thơ buộc chân nhạn, không tăm hơi nào cả) Thơ Nguyễn Trung Ngạn (chữ Hán: 阮忠彥;1289–1370).
[13] Truyền thuyết văn học Pháp nói rằng trong thời Trung cổ, một hiệp sĩ cùng người tình đi dọc theo bờ sông nước chảy xiết. Chàng hiệp sĩ cố nhổ một cụm hoa, tặng cho người yêu nhưng do bộ áo giáp quá nặng nề chàng đã rơi xuống nước. Khi bị chìm xuống, chàng đã ném bó hoa cho tình nhân của mình và kêu lên "xin đừng bao giờ quên anh" "Ne m'oubliez jamais". Vì thế loài hoa này gắn liền với chuyện tình lãng mạn và định mệnh bi thảm. Nó thường được các cô gái mang theo như là biểu hiện của lòng chung thủy và tình yêu vĩnh cửu-Sự tích Hoa Lưu Ly, Myosotis, Forget me not… Vào thế kỷ XV ở Đức, người ta cho rằng những người mang theo hoa này sẽ không bao giờ bị người tình quên lãng.
[14] Bà Mộng Cầm, tên thật là Huỳnh Thị Nghệ sinh ngày17/7/1917. Quê Mộng Cầm ở Phan Thiết, gần lầu Ông Hoàng nhưng thân sinh bà ra làm việc tận Nghệ An, nên mới có tên Huỳnh Thị Nghệ. Sau đó bà được gửi về trọ ở nhà ông cậu ở Phan Thiết học trường Pline Exercices. Mộng Cầm là cháu gọi nhà thơ Bích Khê bằng cậu nên bà cũng có "máu thơ văn". Hàn Mặc Tử là mối tình đầu của bà năm Bà 17 tuổi. Tình yêu của đôi bạn thắm thiết và trong sáng. Sau khi Hàn Mặc Tử mất, bà Mộng Cầm lập gia đình và sinh được 7 người con. Ngày 23/7/2007, bà Mộng Cầm qua đời tại số nhà số 300, Trần Hưng Đạo, Phan Thiết. Theo lời trăng trối của bà Mộng Cầm, cô con gái đã mai táng bà trên lưng đồi lầu Ông Hoàng. Theo Người đưa tin, Google.
[15] Hệ mặt trời của chúng ta có 9 hành tinh, thứ tự từ gần mặt trời ra xa: [1] Sao Thủy, Mercure; [2] Sao Kim, Venus; [3] Trái đất, Earth; [4] Sao Hỏa, Mars; [5] Sao Mộc, Jupiter; [6] Sao Thổ, Saturn; [7] Sao Thiên Vương, Uranus; [8] Sao Hải Vương, Neptune; [9] Diêm Vương Tinh, Pluto. Đầu năm 2016, các nhà khoa học bác bỏ Diêm Vương Tinh vì trong rìa dải Kuiper Belt (vành đai mặt trời) mà nó hiện hữu còn có các hành tinh khác tương tự và lớn hơn nó, theo thứ tự: Ceres; sao Diêm Vương, Pluto; Haumea; Make Make; Eris…các sao nầy dạng băng, chờ nghiên cứu, được gọi là hành tinh lùn của hệ mặt trời. Kiến thức mới hiện nay, Hệ mặt trời có 9 hành tinh quay quanh mặt trời hình ellip, vòng trong có 4 hành tinh dạng rắn như sao Thủy, sao kim, Trái Đất, Sao Hỏa; vòng ngoài có 5 hành tinh dạng khí là Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và hành tinh thứ 9 mới phát hiện vào đầu năm 2016. (chưa công bố tên).
[16]Dải Ngân hà: Theo điển tích Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bê việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nãi việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận dữ, đày cả hai phải cách xa ở hai bên bờ sông Ngân hà. Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình gia ơn, cho hai người mỗi năm được gặp nhau vào ngày mùng bảy tháng Bảy âm lịch, được chim ô thước làm cầu. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ ôm nhau, khóc sướt mướt, thời gian sum vầy quá ngắn, không thỏa nỗi nhớ thương. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành mưa Ngâu. Ở đây, ý thơ nói về thời gian đôi lứa chia ly cách biệt nay đã ba năm tròn.
[17] Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, Maxreadin, câu 313-316.
[18] Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, câu 303-306.
[19] Năm 1777
[20] Năm 1813
[21] Nguồn Nguyễn Tử mẫn, 1887, Trọng Bạch Đường thư thuyết, Tài liệu A.1390, trang 5b.
Bạch nhãn khán nhân: Tức là nhìn thẳng, thấy mắt xanh (đen) thanh nhãn (trọng thị); còn nhìn lên trời mắt trắng là bạch nhãn (khinh thị). Sách Tấn bách quan danh viết: Kê Hỉ tự Công Mục, Thứ sử Dương Châu, anh của Kê Khang. Khi Nguyễn Tịch có tang, Hỉ đến viếng. Tịch nhìn Hỉ bằng đôi mắt trắng dã. Hỉ chán nãn bỏ về. Người em của Hỉ là Kê Khang nghe chuyện bèn ôm đàn, xách rượu đến thăm anh rồi cùng nhau say khướt.
[22] Lỳ: 醨, rượu nhạt
[23] Tạo sĩ: học vị của người đỗ Tiến sĩ thuộc ngạch quan võ thời Lê (đến nhà Nguyễn gọi là võ Tiến sĩ) được bổ dụng ngang với Tiến sĩ ngạch văn, chế độ này bắt đầu từ năm 1724 thời Chúa Trịnh Cương.Khoa cử Việt Nam, nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, trang 275.
[24] Tông phái Lâm tế tại Bắc Hà tk 17-18 là truyền tông lập phái theo bài kệ của sư Trí Bản Đột Không. Bài kệ như sau: “Trí tuệ thanh tịnh, Đạo đức viên minh, Chân như tính hải, tịch chiếu phổ thông…智慧清淨; 道德圓明; 真如性海; 寂照普通. Xem sự thừa kế trên bia số 22161 dựng năm Cảnh Hưng 24 (1763) là đến hàng chữ tịch. Còn Sư ông Chùa Tiêu và Phạm Thái đều mang chữ Phổ, tương ứng với bài kệ, tức là cùng huynh đệ.
[25] Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 27 (1766)
[26] Việc Đăng Thụ là con của Đăng Quỹ cũng được chính sử chép lại: năm 1788 Đăng Thụ là con của Trương Đăng Quỹ giữ chức xuất nạp. Đại Việt sử ký tục biên, trang 478.
[27] Hiện còn 12 bài thơ vịnh 12 canh giờ của Quỳnh Như làm về tình yêu và nỗi nhớ của nàng về Phạm Thái. Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVII-hết thế kỷ XIX, tập 1, nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
[28] Khải mông: Dạy học từ lúc bắt đầu, còn ngu tối.
[29] Phạm Thái và Sơ Kính Tân Trang, Nguyễn Văn Xung, NXB Lửa Thiêng Saigon 1973, trang 32-33
[30] Phạm Thái và Sơ Kính Tân Trang, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon 1973, trang 63
[32] Thuyết định tình: Chính là sự gắn bó thủy chung, trước sau như một của đôi tình nhân. Có thể kể mối tình chung thủy của Thoại Khanh-Châu Tuấn; Tống Trân-Cúc Hoa; Phạm Tải-Ngọc Hoa; Phan Tất Chính-Trần Kiều Liên (Truyện Phan Trần). Các chuyện này đều đề cao tình cảm trước sau như một của đôi uyên ương. Đặc biệt phái nữ vừa đẹp người, đẹp nết, dẫu chết vẫn trung trinh với chồng…Phạm Thái đã hư cấu biểu tượng gương lược để chứng minh cho thuyết định tình.
[33] Trọng Bạch Đường thư thuyết, Nguyễn Tử Mẫn 1887, trang 5b-6a.
[34]Phạm Thái toàn tập, Sở Cuồng Lê Dư phiên chú; Trần Trọng Dương khảo cứu, hiệu chú; Trung Tâm nghiên cứu Quốc Học; Viện nghiên cứu Hán Nôm; NXB Văn Học 2019, trang 153.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét