TRÖÔNG QUYØNH NHÖ
(Thơ Trương Quỳnh Như)
…” Trương Quỳnh Như: 張瓊茹
“Tiểu sử: Trương Quỳnh Như 張瓊茹 là cô thiếu nữ đoan trang thuỳ mị ở làng Thanh Nê,
huyện Yên Tĩnh, tỉnh Nam Định. Thân phụ là một nhà nho tính tình khảng khái.
Bào huynh, Trương Đăng Thụ, bấy giờ làm tổng trấn (tỉnh trưởng) tỉnh Lạng Sơn.
Một hôm, bỗng thấy mấy người chở quan tài quan tổng trấn về làng, có một nhà sư
theo sau hộ tống, Quỳnh Như sửng sốt, lén nghe nhà sư trình bày với cha, mới biết
rõ đầu đuôi: vì ông Thụ ủng hộ Trần Quang Diệu đề tiễu trừ tướng Tây Sơn Vũ Văn
Dũng, nhưng cơ mưu bại lộ, Dũng sai thủ hạ Phan Đình Hồng, lúc ấy làm hiệp trấn
(phó tỉnh trưởng) đầu độc cho Thụ chết. Do đó, đồng chí của Thụ là nhà sư này
lo việc đưa xác bạn về nơi quê quán. Nhà sư nguyên tên là Phạm Thái, con Thạch
Trung hầu trong đảng Cần vương, vì nối chí cha mong khôi phục nhà Lê, nên bị
truy nã gắt gao,”
*
Tình yêu đã giúp Trương Quỳnh Như dệt nên một số bài
thơ như Sơn âm cổ tự, Tặng ông Chiêu Lì về quê (Chiêu Lì là hiệu
của Phạm Thái) và 12 bài thơ Nôm Đường luật ứng với 12 canh giờ trong
ngày thể hiện tâm trạng nhớ thương người yêu da diết. Đây cũng là điều mới lạ,
hiếm hoi có tính “bứt phá” của phụ nữ dưới thời phong kiến.
Còn với Phạm Thái, từ mối tình với cô gái tài sắc họ
Trương đã giúp ông viết nên Cầm tháo, Thuật
hoài, Văn triệu linh Trương Quỳnh Như..., đặc biệt là Văn tế Trương Quỳnh Như
và Sơ Kính Tân Trang
- Truyện thơ Nôm Sơ Kính Tân Trang gồm 1484 câu, chủ
yếu là thơ lục bát, xen song thất lục bát, một số bài Đường luật và câu đối, với
một kết cấu khác lạ so với các truyện thơ Nôm nước ta thời trung đại. Truyện thơ Sơ Kính Tân Trang, Văn tế Trương
Quỳnh Như cùng với bài Chiến Tụng Tây Hồ nổi tiếng trước đó đã đưa Phạm
Thái trở thành nhà thơ lớn của lịch sử văn chương Việt Nam. (Nhà Thơ Phan Hoàng - Kiến Thức Ngày Nay)
Bài 1
Giôø Tyù (Giờ Tý)
Thơ Trương Quỳnh Như.
"Giờ Tý là khoảnh khắc từ
23 giờ khuya đến 1 giờ sáng hôm sau".
Nguồn tại: https://phongthuyso.vn/gio-ty-la-may-gio.html
Tranh
minh họa giờ Tý, Google.
Giờ Tý canh khuya, thở[1] giáp canh,
Giận ai, thổn thức[2] rộn trăm tình.
Ngửa nghiêng[3] đôi ngả ai là bạn,
Trằn trọc[4] đòi nau[5] thấy những mình!
Một tấm sắt son[6] đà gắn bó,
Mấy điều trăng gió[7] cũng màng tênh[8].
Thôi thôi dặn hãy làm thinh vậy,
Mọi nỗi chung riêng hãy để dành.
Phiên âm
Hán Nôm, Ngân Triều soạn
𣇞子
𣇞子更𣅘咀甲更,
恨俟忖恜吨𤾓情.
仰迎堆我俟𣅘伴,
𠼂濁隊㝹𧡊仍𨉟.
沒𤗲𨫊𣘈㐌拫抪,
買調𣎞𩙍共忙惺.
慛慛哏唉爫請丕,
每𢚶終𥢆唉底𢙛.
Diễn ý bài thơ:
Canh khuya, giờ
Tý là giờ giáp canh của đầu ngày mới,
Tự nhiên không
biết bực bội (giận) ai mà lòng xao xuyến, trăm nỗi chạnh lòng.
Ngang trái đôi
đường, biết ai là bạn?
Trăn trở bao nỗi
đau…chỉ một mình cô đơn.
Đã yêu nhau, tình yêu đà gắn bó,
Không quan tâm đến
những tình cảm khác, hời hợt, lăng nhăng.
Thôi thì hãy dặn
lòng không tâm sự gì với ai nữa cả,
Mọi điều chung
riêng đó, xin hãy để dành (cho đối tượng.
Lời bình: Ngân
Triều
Hai câu đề:
Giờ
Tý canh khuya, thở[9]
giáp canh,
Giận
ai, thổn thức[10]
rộn trăm tình.
Giới thiệu giờ Tý một
cách ngắn gọn và bộc bạch tâm tình riêng.
Giờ Tí, giờ con chuột đến. Nó thở, nhân hóa, là lúc giáp canh. Ngày xưa, một ngày có 12 canh giờ là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ,
Mùi, Thân Dậu, Tuất và Hợi. Giờ Tý qua đi và trở lại là giờ của đầu một ngày mới.
Thế là thời gian đã khởi đầu cho một ngày mới rồi! Lòng ta vẫn đang chất
ngất những buồn bực vu vơ. Sao ta cứ sướt mướt, tủi cho số phận của bản thân, bối
rối, ngổn ngang trăm mối bên lòng?
Bốn câu thực và luận:
Chạnh nỗi niềm riêng và tâm nguyện, tỏ lòng:
Ngửa nghiêng đôi ngả ai là bạn,
Trằn trọc đòi nau thấy những
mình!
Một tấm sắt son đà gắn bó,
Mấy điều trăng gió cũng màng
tênh.
Hai
ngả tâm tình chưa quyết định, biết ai là bạn tri âm.
Nhiều lúc bâng khuâng, lòng không yên, trằn trọc, thấy lẻ loi cô quạnh, chỉ có mỗi mình ta với
ta.
Khi một mối tình chung thủy, một tấm sắt son, bây giờ đã kết lại rồi, thì những tình cảm lẳng
lơ, lãng mạn, trăng gió, ta chẳng hề để ý, chẳng
hề quan tâm, màng tênh.
Nghệ thuật đối chuẩn mực, đúng khuôn phép của
một bài thơ Đường luật.
Hai câu kết: Nét tâm trạng của tác giả.
Thôi thôi dặn hãy làm thinh vậy,
Mọi nỗi chung riêng hãy để dành.
Đã tỏ lòng nhưng chỉ có một cách là im lặng, làm thinh vì hãy còn e ấp.
Nói ra nhưng coi như là chưa nói vì trong lòng
còn lắm nỗi đắn đo, khó xử. Lối nói phân hai, thực ra chỉ là đẩy đưa duyên dáng
để thể hiện tâm tình mong ước gặp nhau. (Nhưng thực ra khi gặp nhau rồi thì
hình như đôi tình nhân như chỉ biết có mình và…quên tất cả…).
Ngân Triều cảm đề
Canh khuya, ngày mới, đầu giờ Tý,
Tủi phận vu vơ những chạnh lòng.
Ngang trái đôi đường chim lẻ bạn,
Đau buồn, gối chiếc một phòng không.
Tơ hồng Nguyệt lão xe hồng thắm,
Trăng gió khuê phòng kín gió trăng.
Khắc khoải tâm tình chi nói nữa,
Tương phùng trút hết nỗi riêng chung.
***
Bài 2
Giôø Söûu (Giờ Sửu)
Thơ Trương Quỳnh
Như.
Giờ Sửu là từ
1 giờ khuya đến 3 giờ sáng.
Tranh minh họa giờ Sửu, Google.
Đằng đẵng[11]
canh dài khá trách đêm,
Đìu hiu[12]
giờ sửu giấc nào êm!
Tiếng hàn niêm niện,[13]
hơi sương lạnh,
Trận hỏa than nồng, dạ sắt mềm.
Eo óc [14]giục
người, gà nội quạnh[15],
Véo von[16]
gọi khách, dế bên thềm.
Vắt tay ngang mặt, mong chờ sáng,
Thấy sáng mà sầu đã lại thêm.
***
Khảo dị
VỊNH GIỜ SỬU
Câu (1) Đằng đẳng
canh dài khá cách đêm,
Câu (3) Tiếng hàn
chiêm nện hơi sương lạnh,
Câu (4) Trận hỏa
than nung dạ sắt mềm.
Câu (7) Vắt tay
ngang mặt mong cho sáng,
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
𣇞丑
騰蕩更𨱾可責𣎀
調囂𣇞丑𥋏芾淹
㗂寒粘攆𣱬霜冷
陳火灰燶肔铁𩞝
喓喔𠽖𠊚𪃿㘨郡
𠶓𠹚噲客𧍝边𡍞
𢪱拪昂𩈘懞除𠓇
𧡊𠓇麻愁㐌吏沾
Diễn ý bài thơ:
Chớ trách đêm khuya quá dài như vậy, vì thức khuya mới
thấy đêm dài.
Chẳng qua giờ Sửu, cảnh vật bấy giờ trở nên quạnh vắng,
cũng là lúc mọi người thả hồn mình trong một giấc ngủ say nồng.
Bấy giờ, sương đêm tỏa ra mang hơi lạnh đến.
Khi ấy, mọi người phải đốt lửa than hồng lên để sưở /
i;
mà với lửa (tình) kia thì dù cho lòng dạ cứng như sắt, cũng phải mềm ra.
Đâu đó, tiếng gà xao xác, nổi lên đồng vọng, giục
người dậy sớm, trong xóm vắng thưa người.
Bên thềm nhà, tiếng dế mải miết gọi ta, giai điệu
réo rắt, ngân nga.
Cũng đành vắt tay ngang mặt mình để mong mau sáng?
(Mà) Đến sáng, (thì) lòng thêm vương vấn sầu tư.
Ngân
Triều cảm đề
Sao nghĩ đêm khuya bước chậm dài,
Phải chăng giờ Sửu, giấc người say.
Sương lan khắp chốn, tim se buốt,
Lửa sưởi ấm lòng, chảy dạ ngay…
Đây đó tiếng gà xao xóm vắng,
Bên thềm nhạc dế réo kêu ai?
Vắt tay trên trán, chờ mau sáng?
Trời sáng mạch sầu, vương vấn thay!
***
Bài 3
Giôø Daàn (Giờ Dần)
Thơ Trương Quỳnh
Như
Giờ Dần là từ 3 giờ
khuya đến 5 giờ sáng.
Giờ dần eo óc [17]lộ vừng hồng,
Nghĩ nỗi chung tình bận tấm lòng.
Điếu thuốc say tình[18] không ý vị,
Chén chè nịnh tính[19] kém hương phong[20].
Biết ai lứa bạn làm khuây khoả[21]?
Dẫu mấy tôi đòi chẳng não nùng[22]
Rầu rĩ thế này, buồn thế ấy,
Sầu riêng thấy mặt mới là xong.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
𣇞寅
𣇞寅喓喔 露暈紅
𢣂𢚶終情𢏑㤈𢙱
鈟茦醝情空意喟
𥗜茶佞性釼鄉風
别埃侶伴爫𢣧 踝
唒買倅𠐬丞惱儂
𠿈 𠯇世尼𢞂世意
愁𥢆 𧡊𩈘𡤓 𪜀衝
Diễn ý nghĩa bài
thơ:
Giờ Dần vừng hồng dần dần lộ ra rực rỡ, (eo óc: dần
dần, theo văn cảnh bài thơ),
Nghĩ đến chuyện tình cảm của bản thân, càng thêm bận
lòng.
Điếu thuốc say, như say tình, không hứng thú chi cả,
Chén chè (trà) sảng khoái lòng mình, mà không bằng
hương vị chè địa phương.
Biết có ai là bạn để cho nguôi những nỗi niềm khắc
khoải, u tình?
Cho dẫu kết với những kẻ hèn kém, cũng chẳng buồn phiền chi.
Sầu buồn thì ngổn ngang trăm mối bên lòng, phân vân
chẳng xiết,
Chờ đến lúc gặp nhau, thì bao phiền muộn tiêu tan.
Ngân Triều
cảm đề
Tiếp diễn giờ Dần
trời rực rỡ,
Tơ duyên canh cánh
nặng bên lòng.
Say tình, say thuốc, say giây phút,
Hơi rượu, hơi trà,
hơi hư không.
Tri kỷ biết ai chia nỗi nhớ?
Bạn hèn dẫu có vẫn
hằng trông.
Mối sầu lấp cả trời
tươi thắm,
Diện kiến nhau thời
hết nhớ đong.[23]
***
Bài 4
Giôø Maoõ (Giờ Mão)
Thơ Trương Quỳnh
Như
Giờ Mão là từ 5 giờ
đến 7 giờ sáng.
Tranh
minh họa giờ mão, Google.
Mão thì đến bữa tưởng là vui,
Đến bữa mà sao vẫn ngậm ngùi[24]?
Đũa gắp ngập ngừng không thấy miếng,
Miệng ăn mặn lạt chẳng ra mùi.
Thức ngon, vật lạ băn khoăn[25] đứng…
Của đắng, đồ cay gắng gỏi [26]ngồi
Nhiều ít bây giờ ai ép uổng[27],
Cũng mong qua bữa tếch[28] cho rồi.
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
𣇞 卯
卯時𦤾𩛷 想𪜀𢝙,
𦤾𩛷麻牢吻唅𢢯.
𥮊𢰽汲凝空𧡊㳑,
𠲶咹漫溂拯𦋦味.
𠲧𤯆勿𤳧𠺚𡂷𥪸,
𧵑凳荼𠹽𠡚噲𡎥.
𡗊𠃝𣊾𣇞 埃押枉
共懞過𩛷踖㧣𠱤
Diễn ý bài thơ:
Giờ Mão, bữa sáng tưởng vui,
Sao mà ta vẫn nghe lòng mình u sầu, thương tâm.
Đũa gắp ngập ngừng như chẳng thấy thức ăn,
Lo âu chất ngất, không biết mặn lạt là gì.
Món ngon vật lạ, chẳng màng, đứng dậy mà đi,
Của đắng đồ cay, ngồi dai, hết bữa.
Nhiều ít lớn rồi, đâu còn ai ép buộc ngồi ăn,
Cũng mong hết bữa, đi khỏi bàn ăn cho rồi.
Ngân Triều cảm đề
Tưởng giờ ăn sáng, Mão giờ
vui,
Đến bữa sao ta vẫn ngậm ngùi.
Muốn gắp ngập ngừng không động đũa,
Vui chi mặn lạt chẳng nghe mùi!
Thức ngon vật lạ không màng ngó,
Cay đắng quen đời hết
bữa ngồi.
Có tuổi giờ này ai ép nữa?
Mong mau hết bữa dẹp cho rồi.
Chú thích:
[1] Nhân hóa, ý nói giờ Tý đến, sống trong khoảnh khắc nầy, thở,
tuy là nửa đêm nhưng là đầu ngày mới. Thời gian 12 canh của một ngày đã giáp
nhau.
[2] Thổn thức: khóc thành tiếng, cố nén mà không
được; hoặc đang ở tâm trạng có những cảm xúc không yên.
[3] Tư thế nằm ngủ. Ở đây có thể hiểu
là ngang trái, éo le, nghịch cảnh. (Tình yêu của tác giả không được cha mẹ thuận
lòng).
[4] Trở mình luôn, không tài nào ngủ
được.
[5] Nau là lần, lúc, từ cổ. Đòi nau; nhiều lúc. Thấy
những mình: tâm trạng cô đơn, ta với ta.
[6] Ý nói tác giả đã yêu rồi.
[7] Trăng gió: mối quan hệ yêu đương hời hợt,
lăng nhăng.
[8] Màng là tưởng nghĩ đến; màng tênh:
không quan tâm, không hề tưởng nghĩ đến.
[9] Nhân hóa, thở là sống, ý nói giờ Tý đến; tuy
là nửa đêm nhưng là bắt đầu một ngày mới trong khoảng thời gian qui định riêng.
12 canh của một ngày bây giờ đã giáp nhau.
[10] Thổn thức khóc thành tiếng, cố nén mà không
được; hoặc đang ở tâm trạng có những cảm xúc không yên.
[11]Đằng đẵng: Quá dài, chưa biết
khi nào mới dứt.
Trời ơi! Có thấu tình chăng?
Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu. (Ca dao)
[12] Đìu hiu: vắng vẻ và buồn bã.
Phong cảnh đìu hiu.
[13]niêm
niện: niêm 粘 phong lại, ủ lại; niện 攆: đuổi đi, tỏa ra; niêm niện 粘攆: ủ lại và tỏa ra.
[14]Eo
óc: những
tiếng kêu (thường là tiếng gà gáy) cùng nổi lên đây đó, vang vang nghe không
rõ.
[15] quạnh:
vắng và yên lặng, gây cảm giác trống trải, buồn bã. Vắng đàn ông quạnh nhà, Vắng đàn bà quạnh bếp (TN). Gà nội: gà ở thôn
xóm, đồng nội.
[16]Véo
von: âm thanh cao mà thanh, lên xuống nhịp nhàng nghe êm
tai. Chim hót véo von.
[17] eo óc: dần dần, mỗi lúc một tiến triển.
[18] Say tình: Có thể ngây ngất như say thuốc điếu.
[19]nịnh tính: 佞 性, uống trà sảng khoái tâm hồn.
[20] hương phong: 鄉 風: phong tục (đãi trà) ở làng.
[21]khuây khoả: 𢣧踝: nguôi những n ỗi buồn, thương nhớ, chạnh
lòng.
[22] não nùng:
惱儂:
Buồn khổ, đau đớn. Ve ngâm buồn bã, dế kêu não nùng, LVT, Nguyễn Đình Chiểu
[23]
Nhớ
đong: như sầu đong.
Sầu đong càng lắc
càng đầy.
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
ĐTTT, Nguyễn Du: 1766-1820, câu 247-248
[24] ngậm ngùi:
唅𢢯
buồn rầu thương xót
[25]băn
khoăn:
𠺚𡂷 không
yên lòng vì đang có những nan đề cần suy nghĩ giải quyết.
[26]gắng
gỏi: Cố sức hơn binh thường để hoàn
thành công việc. Ai hữu chí từ nay xin gắng
gỏi. Bài ca chúc Tết thanh niên, Phan
Bội Châu: 潘佩珠, (1867-1940); hiệu Sào Nam.
[27]ép
uổng: 押枉
Bắt ép theo một bề, một
cách chủ quan quyết liệt.
[28]tếch: 踖
đi, bỏ đi, đi mất: Kéo buồm thuyền tếch
ra khơi, Lục Vân Tiên.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét