Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Thơ Trương Quỳnh Như, bài 1, 2, 3, 4

 

THÔ

 TRÖÔNG QUYØNH NHÖ

(Thơ Trương Quỳnh Như)

 Có thể nói mối tình Phạm Thái - Trương Quỳnh Như là một trong những mối tình độc đáo của văn học sử Việt Nam.

…” Trương Quỳnh Như:  張瓊茹

            “Tiểu sử: Trương Quỳnh Như 張瓊茹 là cô thiếu nữ đoan trang thuỳ mị ở làng Thanh Nê, huyện Yên Tĩnh, tỉnh Nam Định. Thân phụ là một nhà nho tính tình khảng khái. Bào huynh, Trương Đăng Thụ, bấy giờ làm tổng trấn (tỉnh trưởng) tỉnh Lạng Sơn. Một hôm, bỗng thấy mấy người chở quan tài quan tổng trấn về làng, có một nhà sư theo sau hộ tống, Quỳnh Như sửng sốt, lén nghe nhà sư trình bày với cha, mới biết rõ đầu đuôi: vì ông Thụ ủng hộ Trần Quang Diệu đề tiễu trừ tướng Tây Sơn Vũ Văn Dũng, nhưng cơ mưu bại lộ, Dũng sai thủ hạ Phan Đình Hồng, lúc ấy làm hiệp trấn (phó tỉnh trưởng) đầu độc cho Thụ chết. Do đó, đồng chí của Thụ là nhà sư này lo việc đưa xác bạn về nơi quê quán. Nhà sư nguyên tên là Phạm Thái, con Thạch Trung hầu trong đảng Cần vương, vì nối chí cha mong khôi phục nhà Lê, nên bị truy nã gắt gao,”

 *

Tình yêu đã giúp Trương Quỳnh Như dệt nên một số bài thơ như Sơn âm cổ tự, Tặng ông Chiêu Lì về quê (Chiêu Lì là hiệu của Phạm Thái) và 12 bài thơ Nôm Đường luật ứng với 12 canh giờ trong ngày thể hiện tâm trạng nhớ thương người yêu da diết. Đây cũng là điều mới lạ, hiếm hoi có tính “bứt phá” của phụ nữ dưới thời phong kiến.

Còn với Phạm Thái, từ mối tình với cô gái tài sắc họ Trương đã giúp ông viết nên Cầm tháo, Thuật hoài, Văn triệu linh Trương Quỳnh Như..., đặc biệt là Văn tế Trương Quỳnh Như và Sơ Kính Tân Trang

- Truyện thơ Nôm Sơ Kính Tân Trang gồm 1484 câu, chủ yếu là thơ lục bát, xen song thất lục bát, một số bài Đường luật và câu đối, với một kết cấu khác lạ so với các truyện thơ Nôm nước ta thời trung đại. Truyện thơ Sơ Kính Tân Trang, Văn tế Trương Quỳnh Như cùng với bài Chiến Tụng Tây Hồ nổi tiếng trước đó đã đưa Phạm Thái trở thành nhà thơ lớn của lịch sử văn chương Việt Nam. (Nhà Thơ Phan Hoàng - Kiến Thức Ngày Nay)

Ảnh có chứa văn bản

Mô tả được tạo tự động

  

Bài 1

 

Giôø Tyù (Giờ Tý)

 

Thơ Trương Quỳnh Như.
"Giờ Tý là khoảnh khắc từ 23 giờ khuya đến 1 giờ sáng hôm sau".
Nguồn tại: https://phongthuyso.vn/gio-ty-la-may-gio.html

                                                                     

Tranh minh họa giờ Tý, Google.

Giờ Tý canh khuya, thở[1] giáp canh,
Giận ai, thổn thức
[2] rộn trăm tình.
Ngửa nghiêng
[3] đôi ngả ai là bạn,
Trằn trọc
[4] đòi nau[5] thấy những mình!
Một tấm sắt son
[6] đà gắn bó,
Mấy điều trăng gió
[7] cũng màng tênh[8].
Thôi thôi dặn hãy làm thinh vậy,
Mọi nỗi chung riêng hãy để dành.

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
                        𣇞

𣇞子更𣅘咀甲更,

恨俟忖𤾓.

仰迎堆我俟𣅘,

𠼂濁隊𧡊𨉟.

𤗲𨫊𣘈拫抪,

買調𣎞𩙍共忙惺.

慛慛哏唉爫請丕,

𢚶𥢆唉底𢙛.

Diễn ý bài thơ:
Canh khuya, giờ Tý là giờ giáp canh của đầu ngày mới,

Tự nhiên không biết bực bội (giận) ai mà lòng xao xuyến, trăm nỗi chạnh lòng.

Ngang trái đôi đường, biết ai là bạn?

Trăn trở bao nỗi đau…chỉ một mình cô đơn.
Đã yêu nhau, tình yêu đà gắn bó,

Không quan tâm đến những tình cảm khác, hời hợt, lăng nhăng.

Thôi thì hãy dặn lòng không tâm sự gì với ai nữa cả,

Mọi điều chung riêng đó, xin hãy để dành (cho đối tượng.

Lời bình: Ngân Triều

Hai câu đề:

Giờ Tý canh khuya, thở[9] giáp canh,

Giận ai, thổn thức[10] rộn trăm tình.

           Giới thiệu giờ Tý một cách ngắn gọn và bộc bạch tâm tình riêng.

Giờ Tí, giờ con chuột đến. Nó thở, nhân hóa, là lúc giáp canh. Ngày xưa, một ngày có 12 canh giờ là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân Dậu, Tuất và Hợi. Giờ Tý qua đi và trở lại là giờ của đầu một ngày mới.

Thế là thời gian đã khởi đầu cho một ngày mới rồi! Lòng ta vẫn đang chất ngất những buồn bực vu vơ. Sao ta cứ sướt mướt, tủi cho số phận của bản thân, bối rối, ngổn ngang trăm mối bên lòng?

 Bốn câu thực và luận:

Chạnh nỗi niềm riêng và tâm nguyện, tỏ lòng:

Ngửa nghiêng đôi ngả ai là bạn,

Trằn trọc đòi nau thấy những mình!

Một tấm sắt son đà gắn bó,

Mấy điều trăng gió cũng màng tênh.

          Hai ngả tâm tình chưa quyết định, biết ai là bạn tri âm.

Nhiều lúc bâng khuâng, lòng không yên, trằn trọc, thấy lẻ loi cô quạnh, chỉ có mỗi mình ta với ta.

Khi một mối tình chung thủy, một tấm sắt son, bây giờ đã kết lại rồi, thì những tình cảm lẳng lơ, lãng mạn, trăng gió, ta chẳng hề để ý, chẳng hề quan tâm, màng tênh.

Nghệ thuật đối chuẩn mực, đúng khuôn phép của một bài thơ Đường luật.

Hai câu kết: Nét tâm trạng của tác giả.

Thôi thôi dặn hãy làm thinh vậy,
Mọi nỗi chung riêng hãy để dành.

Đã tỏ lòng nhưng chỉ có một cách là im lặng, làm thinh vì hãy còn e ấp.

Nói ra nhưng coi như là chưa nói vì trong lòng còn lắm nỗi đắn đo, khó xử. Lối nói phân hai, thực ra chỉ là đẩy đưa duyên dáng để thể hiện tâm tình mong ước gặp nhau. (Nhưng thực ra khi gặp nhau rồi thì hình như đôi tình nhân như chỉ biết có mình và…quên tất cả…).

         Ngân Triều cảm đề

Canh khuya, ngày mới, đầu giờ Tý,

Tủi phận vu vơ những chạnh lòng.

Ngang trái đôi đường chim lẻ bạn,

Đau buồn, gối chiếc một phòng không.

Tơ hồng Nguyệt lão xe hồng thắm,

Trăng gió khuê phòng kín gió trăng.

Khắc khoải tâm tình chi nói nữa,

Tương phùng trút hết nỗi riêng chung.

                                            ***

Bài 2

Giôø Söûu (Giờ Sửu)

Thơ Trương Quỳnh Như.

Giờ Sửu là từ 1 giờ khuya đến 3 giờ sáng.

 

Tranh minh họa giờ Sửu, Google.

Đằng đẵng[11] canh dài khá trách đêm,
Đìu hiu[12] giờ sửu giấc nào êm!
Tiếng hàn niêm niện,[13] hơi sương lạnh,
Trận hỏa than nồng, dạ sắt mềm.
Eo óc [14]giục người, gà nội quạnh[15],
Véo von[16] gọi khách, dế bên thềm.
Vắt tay ngang mặt, mong chờ sáng,
Thấy sáng mà sầu đã lại thêm.

                          ***
Khảo dị
VỊNH GIỜ SỬU

Câu (1) Đằng đẳng canh dài khá cách đêm,

Câu (3) Tiếng hàn chiêm nện hơi sương lạnh,

Câu (4) Trận hỏa than nung dạ sắt mềm.

Câu (7) Vắt tay ngang mặt mong cho sáng,

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn
                             𣇞

騰蕩更𨱾可責𣎀

調囂𣇞𥋏

寒粘攆𣱬霜冷

陳火灰燶肔铁𩞝

喓喔𠽖𠊚𪃿

𠶓𠹚噲客𧍝𡍞

𢪱拪昂𩈘懞除𠓇

𧡊𠓇麻愁吏沾

Diễn ý bài thơ:

Chớ trách đêm khuya quá dài như vậy, vì thức khuya mới thấy đêm dài.

Chẳng qua giờ Sửu, cảnh vật bấy giờ trở nên quạnh vắng, cũng là lúc mọi người thả hồn mình trong một giấc ngủ say nồng.

Bấy giờ, sương đêm tỏa ra mang hơi lạnh đến.

Khi ấy, mọi người phải đốt lửa than hồng lên để sưở /         

i; mà với lửa (tình) kia thì dù cho lòng dạ cứng như sắt, cũng phải mềm ra.

Đâu đó, tiếng gà xao xác, nổi lên đồng vọng, giục người dậy sớm, trong xóm vắng thưa người.

Bên thềm nhà, tiếng dế mải miết gọi ta, giai điệu réo rắt, ngân nga.
Cũng đành vắt tay ngang mặt mình để mong mau sáng?

(Mà) Đến sáng, (thì) lòng thêm vương vấn sầu tư.

          Ngân Triều cảm đề
Sao nghĩ đêm khuya bước chậm dài,

Phải chăng giờ Sửu, giấc người say.
Sương lan khắp chốn, tim se buốt,

Lửa sưởi ấm lòng, chảy dạ ngay…

Đây đó tiếng gà xao xóm vắng,

Bên thềm nhạc dế réo kêu ai?

Vắt tay trên trán, chờ mau sáng?
Trời sáng mạch sầu, vương vấn thay!

***

Bài 3
Giôø Daàn (Giờ Dần)

Thơ Trương Quỳnh Như

Giờ Dần là từ 3 giờ khuya đến 5 giờ sáng.

 

Giờ dần eo óc [17]lộ vừng hồng,
Nghĩ nỗi chung tình bận tấm lòng.
Điếu thuốc say tình
[18] không ý vị,
Chén chè nịnh tính
[19] kém hương phong[20].
Biết ai lứa bạn làm khuây khoả
[21]?
Dẫu mấy tôi đòi chẳng não nùng
[22]
Rầu rĩ thế này, buồn thế ấy,
Sầu riêng thấy mặt mới là xong.

          Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

         𣇞

𣇞寅喓喔 露暈紅

𢣂𢚶終情𢏑𢙱

茦醝情空意喟

𥗜茶佞性釼

埃侶伴爫𢣧

唒買𠐬丞惱儂

𠿈 𠯇世尼𢞂世意

𥢆 𧡊𩈘𡤓 𪜀

Diễn ý nghĩa bài thơ:

Giờ Dần vừng hồng dần dần lộ ra rực rỡ, (eo óc: dần dần, theo văn cảnh bài thơ),

Nghĩ đến chuyện tình cảm của bản thân, càng thêm bận lòng.

Điếu thuốc say, như say tình, không hứng thú chi cả,

Chén chè (trà) sảng khoái lòng mình, mà không bằng hương vị chè địa phương.

Biết có ai là bạn để cho nguôi những nỗi niềm khắc khoải, u tình?
Cho dẫu kết với những kẻ hèn kém, cũng chẳng buồn phiền chi.

Sầu buồn thì ngổn ngang trăm mối bên lòng, phân vân chẳng xiết,

Chờ đến lúc gặp nhau, thì bao phiền muộn tiêu tan.

      Ngân Triều cảm đề

Tiếp diễn giờ Dần trời rực rỡ,

Tơ duyên canh cánh nặng bên lòng.

Say tình, say thuốc, say giây phút,

Hơi rượu, hơi trà, hơi hư không.
Tri kỷ biết ai chia nỗi nhớ?

Bạn hèn dẫu có vẫn hằng trông.

Mối sầu lấp cả trời tươi thắm,

Diện kiến nhau thời hết nhớ đong.[23]

***


Bài 4

Giôø Maoõ (Giờ Mão)

Thơ Trương Quỳnh Như

Giờ Mão là từ 5 giờ đến 7 giờ sáng.

                                                                                                Tranh minh họa giờ mão, Google.

Mão thì đến bữa tưởng là vui,
Đến bữa mà sao vẫn ngậm ngùi
[24]?
Đũa gắp ngập ngừng không thấy miếng,
Miệng ăn mặn lạt chẳng ra mùi.
Thức ngon, vật lạ băn khoăn
[25] đứng…
Của đắng, đồ cay gắng gỏi
[26]ngồi
Nhiều ít bây giờ ai ép uổng
[27],
Cũng mong qua bữa tếch
[28] cho rồi.

Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn:

          𣇞

卯時𦤾𩛷 𪜀𢝙,

𦤾𩛷麻牢吻唅𢢯.

𥮊𢰽汲凝空𧡊,

𠲶咹漫溂拯𦋦.

𠲧𤯆𤳧𠺚𡂷𥪸,

𧵑凳荼𠹽𠡚𡎥.

𡗊𠃝𣊾𣇞 埃押枉

共懞過𩛷𠱤

Diễn ý bài thơ:

Giờ Mão, bữa sáng tưởng vui,

Sao mà ta vẫn nghe lòng mình u sầu, thương tâm.

Đũa gắp ngập ngừng như chẳng thấy thức ăn,

Lo âu chất ngất, không biết mặn lạt là gì.

Món ngon vật lạ, chẳng màng, đứng dậy mà đi,

Của đắng đồ cay, ngồi dai, hết bữa.

Nhiều ít lớn rồi, đâu còn ai ép buộc ngồi ăn,
Cũng mong hết bữa, đi khỏi bàn ăn cho rồi.
                                     Ngân Triều cảm đề

         Tưởng giờ ăn sáng, Mão giờ vui,

Đến bữa sao ta vẫn ngậm ngùi.

Muốn gắp ngập ngừng không động đũa,
Vui chi mặn lạt chẳng nghe mùi!

Thức ngon vật lạ không màng ngó,

Cay đắng quen đời hết bữa ngồi.

Có tuổi giờ này ai ép nữa?

Mong mau hết bữa dẹp cho rồi.



Chú thích:

[1] Nhân hóa, ý nói giờ Tý đến, sống trong khoảnh khắc nầy, thở, tuy là nửa đêm nhưng là đầu ngày mới. Thời gian 12 canh của một ngày đã giáp nhau.

[2] Thổn thức: khóc thành tiếng, cố nén mà không được; hoặc đang ở tâm trạng có những cảm xúc không yên.

[3] Tư thế nằm ngủ. Ở đây có thể hiểu là ngang trái, éo le, nghịch cảnh. (Tình yêu của tác giả không được cha mẹ thuận lòng).

[4] Trở mình luôn, không tài nào ngủ được.

[5] Nau là lần, lúc, từ cổ. Đòi nau; nhiều lúc. Thấy những mình: tâm trạng cô đơn, ta với ta.

[6] Ý nói tác giả đã yêu rồi.

[7] Trăng gió: mối quan hệ yêu đương hời hợt, lăng nhăng.

[8] Màng là tưởng nghĩ đến; màng tênh: không quan tâm, không hề tưởng nghĩ đến.

[9] Nhân hóa, thở là sống, ý nói giờ Tý đến; tuy là nửa đêm nhưng là bắt đầu một ngày mới trong khoảng thời gian qui định riêng. 12 canh của một ngày bây giờ đã giáp nhau.

[10] Thổn thức khóc thành tiếng, cố nén mà không được; hoặc đang ở tâm trạng có những cảm xúc không yên.

[11]Đằng đẵng: Quá dài, chưa biết khi nào mới dứt.

      Trời ơi! Có thấu tình chăng?
Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu. (Ca dao)

[12] Đìu hiu: vắng vẻ và buồn bã. Phong cảnh đìu hiu.

[13]niêm niện: niêm phong lại, ủ lại; niện : đuổi đi, tỏa ra; niêm niện : ủ lại và tỏa ra.

[14]Eo óc: những tiếng kêu (thường là tiếng gà gáy) cùng nổi lên đây đó, vang vang nghe không rõ.

[15] quạnh: vắng và yên lặng, gây cảm giác trống trải, buồn bã. Vắng đàn ông quạnh nhà, Vắng đàn bà quạnh bếp (TN). Gà nội: gà ở thôn xóm, đồng nội.

[16]Véo von: âm thanh cao mà thanh, lên xuống nhịp nhàng nghe êm tai. Chim hót véo von.

[17] eo óc: dần dần, mỗi lúc một tiến triển.

[18] Say tình: Có thể ngây ngất như say thuốc điếu.

[19]nịnh tính: , uống trà sảng khoái tâm hồn.

[20] hương phong: : phong tục (đãi trà) ở làng.

[21]khuây khoả: 𢣧: nguôi những n ỗi buồn, thương nhớ, chạnh lòng.

[22] não nùng: 惱儂: Buồn khổ, đau đớn. Ve ngâm buồn bã, dế kêu não nùng, LVT, Nguyễn Đình Chiểu

[23] Nhớ đong: như sầu đong.

        Sầu đong càng lắc càng đầy.
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
ĐTTT, Nguyễn Du: 1766-1820, câu 247-248

[24] ngậm ngùi: 𢢯 buồn rầu thương xót

[25]băn khoăn: 𠺚𡂷 không yên lòng vì đang có những nan đề cần suy nghĩ giải quyết.

[26]gắng gỏi: Cố sức hơn binh thường để hoàn thành công việc. Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi. Bài ca chúc Tết thanh niên, Phan Bội Châu: 潘佩珠, (1867-1940); hiệu Sào Nam.

[27]ép uổng: 押枉 Bắt ép theo một bề, một cách chủ quan quyết liệt.

[28]tếch: đi, bỏ đi, đi mất: Kéo buồm thuyền tếch ra khơi, Lục Vân Tiên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét