Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

Những bài thơ hay của Phạm Thái, bài 15, 16, 17, 18, 19

                            Những bài thơ hay của Phạm Thái, bài 15, 16, 17, 18, 19  (Tiếp theo)

             [15] Chơi hoa

Chơi hoa nầy đã biết danh hoa,

Nhưng nghĩ tình hoa thẹn với hoa.

Réo rắt[1] chiều Xuân oanh hót liễu,

Càng thêm ngao ngán khách tìm hoa.

                                         Phạm Thái

Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn:

          𨔈

𨔈花尼別名花,

𢣂情花𢢆貝花.

𠰉𣋂春鶯𡁾,

強添嘵喭客尋花.

Diễn ý bài thơ:

Chơi hoa thì đã biết tên hoa,

Nhưng nghĩ đến tình hoa đã đáp lại cho mình thì cảm thấy xấu hổ.

Kìa, hãy nghe tiếng chim oanh hót trên rặng liễu, chiều Xuân,

Làm cho kẻ tìm hoa thêm buồn chán, ngao ngán.

Ngân Triều cảm đề

Chơi hoa để biết hoa,

Tình hoa luôn khả ái,
Làm hoa cho người hái,
Tìm hoa thẹn với hoa?

*

Tiếng chim oanh hót hay,

Xuân trẻ trung phơi phới,

Lão niên như chiều tối,
Tìm hoa, buồn vậy thay!

                      *****

Ảnh minh họa: Cổng chùa Tiêu Sơn, Bắc Ninh, Google.

[16] Đề chùa Tiêu Sơn, Phạm Thái.

Tiếng kình réo rắt giục vầng son,

Đưa khách tầm thanh[2] tới phạm môn.[3]

Gió thổi hiu hiu vàng cửa động,

Gấm thêu san sát thắm sườn non.

Đá xây chan chứa kinh dài ngắn,

Hoa phấn xôn xao nhạn véo von.

May gặp cao tăng khi giảng đạo,

Khề khà say thú một bầu ngon.

         Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932 trang 6
Phiên âm Hán Nôm, Ngân Triều soạn

題廚蕉山

鯨坕溧欲暈𣗾,

迻客尋清細范門.

𩙍𠺙咻咻黄𨷯,

錦繞山擦嘇傖𡽫.

𥒥搓滇渚涇𨱾,

𠮿嗃雁𠶓𠹚.

𢆧趿高僧欺講道,

𠿁趣沒蔀𤯆.

Diễn ý bài thơ:

Tiếng chày kình nện chuông vang xa như giục vầng son mau mọc lên, cho ngày mới bắt đầu,

Đưa người khách tìm chốn thanh cao đến cổng chùa.

Gió thồi nhè nhẹ, hiu hiu, đun đưa với những chiếc lá vàng rơi vèo ngoài cửa động, gió và lá vàng cùng đùa vui với nhau, như cửa động có màu vàng.

Trên sườn núi, những mảng rêu san sát kề nhau, như gấm thêu, rất xanh tươi đẹp mắt, thắm, nghĩa hàm ẩn.

Kìa là những đá xây, dọc bờ kinh, dài hay ngắn, với nước lênh láng, tràn đầy, chứa chan.

Đó đây, hoa phấn bay đầy, xôn xao; trên không lại có tiếng chim nhạn hót nghe cao mà thanh, véo von.

Rất may mà được gặp vị cao tăng, khi cùng ta đàm đạo, khi giảng đạo.
Ta cùng với thiền sư nhắm nháp chút rượu, khề khà, cùng thích thú, say thú, thưởng thức một bầu rượu ngon, một bầu ngon.

(Hai câu kết có lẽ tác giả cường điệu và thi vị hóa mà thôi, không có chuyện sư ông cùng đối ẩm; vì rượu, kẻ tu hành không dùng)

Ngân Triều cảm tác

Kình buồn trầm bổng gọi vầng son,

Đùn bước tao nhân đến phạm môn.

Gió phẩy lá vàng vèo trước động,
Rêu thêu ngoạn mục, gấm sườn non.

Nước xanh lênh láng kinh xây đá,

Hoa phấn tung trời, nhạn véo von.

Mến khách, cao tăng cười lạc đạo,[4]

Khề khà đắc ý cạn bầu ngon.

                     ***


Nam đài, vâng nghĩa dâng thơ thọ,

Phận mọn, ơn sâu, nghĩ vốn dài.

[17] Mừng sinh nhật Thanh Xuyên hầu[5]

Bẩm tính thông minh, sẵn tính trời,

Bể lân cấu khí[6], ấy là hai.

Hiếu trung một tiết đều ra sức,

Triều quận[7] đôi phen đã thấy tài.

Thái ất[8] vầng hồng thêm rạng bóng,

Trường canh[9] vẻ thắm lại cao vời.

Nam đài[10], vâng nghĩa dâng thơ thọ,

Phận mọn, ơn sâu, nghĩ vốn dài.

                                                   Phạm Thái

        *

          Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn

   𢜠生日清川侯

稟性聪明, 産性𡗶.

波憐搆氣, 意羅𠄩.

孝忠沒節調𦋦,

朝郡對蕃𧡊.

太乙暈紅添𠓁,

長更𡲈嘇吏高潙.

南臺𢀥𤼸詩壽,

, 恩漊, 𢣂𨱾.

Diễn ý bài thơ

Trời cho ông trí thông minh như bản năng từ thuở nhỏ,

Hai nữa là khí thiêng do địa linh nhân kiệt tạo thành.

Cái khí tiết hiếu trung là chính là phẩm chất mà ông đã thể hiện công sức,

Đồng liêu trong triều ngoài quận mấy lần đã thấy được tài năng của ông.

Ông là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, với vua, mặt trời, sáng lên hẳn hoi,

Ông cũng là hậu thân của sao Thái Bạch hay Trường canh, nên phong cách và tài năng văn chương toàn bích, tuyệt vời.

Ở Nam đài, theo việc nghĩa, dâng thơ mừng thọ,

Phận hèn mọn nầy, cảm nghĩ ân sâu của ông vô cùng.

Ngân Triều cảm đề

Bản chất thông minh, sẵn tính trời,

Địa linh nhân kiệt đó là hai.

Hiếu trung một mực lòng chân chính,

Ứng xử bao phen nức tiếng tài.[11]

Kề cận thái dương danh hiển đạt,

Văn chương hoa gấm đỉnh cao vời.

Đài Nam mừng thọ, lòng nhân hậu,

Hèn mọn ghi ân, nghĩa trọng dài.

22.09.2019

                        ***

[18] Vô đề

(Thuận nghịch độc)

Đan thanh kẻ ấy độc lòng không!

Lứa bạn ai so sánh với cùng?

Hương nhạt, nhị hồng, cành nhạt biếc,

Án in thơ mực, dấu in phong.

Trang khinh tiếc nhẽ, hư chi phấn,

Phận bạc ghê thay, luống thúy hồng.

Thương nặng bởi tình không ghét bỏ,

Quang phong ấy nhẽ mấy Xuân Đông.

Phiên âm Hán Nôm

Ngân Triều soạn:

         無題

丹清仉意毒𢙱,

侶伴埃搊逞貝共?

香溂 蘂紅 梗溂碧,

案印詩墨 𧿫印封.

奘輕惜𨤧 虚之

分泊稽咍 𨻫翠紅.

𥘀𤳄情空恄悑,

光風意𨤧貝春東.

                    ***
Đọc ngược

Đông Xuân mấy nhẽ ấy phong quang,

Bỏ ghét không tình bởi nặng thương.

Hồng thúy luống thay ghê bạc phận,
Phấn chi hư nhẽ tiếc khinh trang[12].
Phong in dấu mực thơ in án,

Biếc nhạt cành hồng, nhị nhạt hương.

Cùng với sánh so ai bạn lứa?

Không lòng độc ấy kẻ thanh đan!

Phiên âm Hán Nôm,

Ngân Triều soạn:

東春貝𨤧意風光,

空情𤳄𥘀.

紅翠𨻫咍稽泊分,

之虚𨤧惜輕奘.

封印𧿫墨詩印案,

碧溂梗紅蘂溂香.

共貝逞搊埃伴侶?

𢙱毒意清丹!

          *****

[19] Dịch thơ Trương Tử Lang [1]

Xanh thắm vì ta độc dạ chăng.[13]

Duyên nay khác trước dễ ai bằng?

Bình kia cành biếc hương phôi nhị,

Án nọ thơ vàng mực ráo ngần.

Phấn sáp khinh thay! Công thúy đại,[14]

Tóc da bạc nhẽ! Phận hồng nhan.

Những thì tính ít ai ghen ghét,

Chỉn xót bình sinh khéo lỡ làng.

  Phiên âm Hán Nôm Ngân Triều soạn:

演詩張子郎 [1]

𩇛嘇爲些毒腋丕?

𠉞恪畧易埃.

瓶箕梗碧香呸橤,

案奴詩黄墨𣋝.

粉蠟輕咍! 工翠黛,

𩯀𨤧! 分紅顏.

仍時情𠃣埃慳,

㐱㤕平生窖.

Diễn ý bài thơ
Anh vui vì ta cô độc trong đêm chăng?
Cơ duyên chúng ta nay đà khác trước, có ai bằng không?

Kia là cái bình với cành hoa xanh biếc, hương đã phôi pha,

Nọ là bàn án, câu thơ trân quý tựa vàng nhưng nghiên mực ráo khô, giấy trắng ngần không nét chữ.

Xem phấn sáp nhẹ thay, bỏ công trang điểm,

Da mồi tóc bạc rồi, đó là số kiếp hồng nhan,
Nhiều lúc thân tình, nên nhiều người mến mộ,

Vẫn xót thương anh ở đời, hãy giữ mình cho khéo, kẻo thiệt thòi. (lỡ làng).

                               Ngân Triều cảm đề
                     Vui vẻ gì đêm lẻ bóng chăng?
                     Cơ duyên hơn trước mấy ai bằng!

Kìa hoa cành biếc hương phai nhạt,

Án nọ thơ vàng chữ trắng ngần.[15]

Xem nhẹ phấn son, công trau chuốt,

Da mồi duyên hết, phận hồng nhan.

Giao du thưa thớt, người không chuộng,

Chỉ sợ đường đi bước lỡ làng.

22.09.2019

                          ***
[19 a] Dịch thơ Trương Tử Lang 2

[thơ thuận nghịch độc]

Đọc xuôi:

Đan thanh kẻ ấy độc lòng không!

Lứa bạn ai so sánh với cùng?
Hương nhạt nhị hồng, cành nhạt biếc,

Án in thơ mực, dấu in phong.

Trang khinh tiếc nhẽ, hư chi phấn,

Phận bạc ghê thay, luống thúy hồng.

Thương nặng bởi tình không ghét bỏ,

Quang phong ấy nhẽ mấy Xuân Đông.

Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932, trang 10.

  Phiên âm Hán Nôm bài [19 a],

          Ngân Triều soạn

丹青仉意毒𢙱!

侶伴埃搊𠁔某共?

香溂橤紅, 梗溂碧,

案印詩墨, 𧿫印封.

妝輕惜𥙧, 墟脂粉,

分泊𠺳, 𨻫翠紅.

𥗾𤳷情空恄悑,

𥙧貝春冬.

                     ***

 [19 b] Dịch thơ Trương Tử Lang 3

[thơ thuận nghịch độc]

Đọc ngược:

Đông Xuân mấy nhẽ ấy phong quang,

Bỏ ghét không tình bởi nặng thương.

Hồng thúy luống thay, ghê bạc phận,

Phấn chi hư nhẽ, tiếc khinh trang.

Phong in dấu mực, thơ in án,

Biếc nhạt cành hồng, nhị nhạt hương.

Cùng với sánh so ai bạn lứa,

Không lòng độc ấy kẻ đan thanh.

Nguồn: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932, trang 10.

Phiên âm Hán Nôm bài [19 b],                                                              Ngân Triều soạn

[thơ thuận nghịch độc]

Đọc ngược:

冬春貝𥙧,

悑恄空情𤳷𥗾,

紅翠𨻫𠺳泊分,

粉脂墟𥙧惜輕妝.

封印𧿫墨詩印案,

碧溂梗紅橤溂香.

共某𠁔搊埃伴侶?

𢙱毒意仉青

                  

                    ***



Ghi chú:

[1] Réo rắt: Tiếng kêu thanh, vang xa.

[2] Tầm thanh: Tìm cảnh, chốn thanh cao.

[3] Phạm môn: cổng chùa.

[4] Lạc đạo: niềm vui với đạo

[5] Thanh Xuyên Hầu Trương Đăng Thụ, trấn thủ Lạng Sơn thời Tây Sơn, bạn cùng chí hướng phục Lê với tác giả.

[6] Cấu khí: khí thiêng hun đúc nên nhân tài.

[7] Triều quận: Trong triều, ngoài quận.

[8] Thái Ất thần kinh hay Thái Ất là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn). Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực. Trong tam thức, Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người.

Theo một số sách bói kinh điển, Thái Ất là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh đói rét bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn

[9] Trường canh: sao Thái Bạch. Tương truyền mẹ Lý Bạch mơ thấy sao Trường Canh rơi vòa bụng, có thai Lý Bạch. Ý nói có năng khiếu văn chương.

[10] Nam đài: chỉ nơi Thanh Xuyên hầu đang ở, Nam Định.

[11] Tiếng tài: Tài năng và thao lược

[12] Khinh trang: Trang điểm đơn sơ, tự nhiên.

[13] Cả câu: trời xanh, dịch chữ “thương thương” 蒼蒼. Độc dạ; lòng dạ độc ác. Ý nói trời xanh kia ghét bỏ, hãm hại người ta. Như câu: Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. (ĐTTT, Nguyễn Du)

[14] Thúy đại: 翠黛, màu xanh biếc và thuốc vẽ lông mày. Chỉ sự trang điểm

[15] Chữ trắng ngần: chữ tiệp màu giấy, giấy trắng, chữ trắng, tức là không có chữ; ý nói tờ giấy không có chữ nào.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét