Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, bài 10,11,12
Baøi 10: (Bài 10)
Nhất Uyên dịch nghĩa, bài 10:
Khi làm quan ở đền đài, hay sống giang hồ nay đây mai đó đều có thời.
Khi thời đến thì như cánh chim Bằng bay cao vút chín tầng trời.
Gặp gỡ nàng, người có con mắt xanh nhìn đời lưu lại những bài thơ
mùa Xuân.
Hẹn hò với lòng son trong ánh nắng chiều tà.
Chèo thuyền bằng gỗ quế, bơi theo dấu chim hạc đen,
Tôi như chàng Lưu Thần từ Đào Nguyên nơi mây biếc trở về.
Nơi trường đình từ biệt, chia tay nếu nàng còn nhớ,
Hãy nhớ lấy quê tôi, ở phía Nam Châu Hoan, Nghệ Tĩnh, huyện Thạch
Hà .
*
Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 10:
Lăng miếu giang hồ các hữu thì,
Thì lai bằng cách cửu thiên phi.
Tao phùng thanh nhãn[1]
lưu Xuân khúc,
Đề đính đan tâm đối tịch huy.
Quế trạo mỗi tòng huyền hạc[2] tế,
Đào châu nguyên tự bích vân quy.
Trường đình[3] biệt
hậu như tương ức,
Ký thủ Hoan Nam, Thạch ẩn nhi.
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn,
bài 10:
陵廟江湖各有時
時來鵬隔九天飛
遭逢青眼留春曲
題訂丹心薱夕揮
桂掉每從玄鶴蔽
桃州源自碧澐歸
長亭别後如相憶
記取驩南石隱而
*
Nhất Uyên dịch thơ, bài 10:
Đền đài sông nước cũng theo thời,
Thời đến Bằng bay chín cửa trời.
Gặp gỡ mắt xanh xuân hát khúc,
Hẹn lòng son sắt nắng vàng trôi.
Ruổi rong huyền hạc, bơi chèo quế,
Từ cõi hoa đào mây biếc trôi.
Từ biệt trường đình nàng hãy nhớ :
Hoan Nam, huyện Thạch chốn quê tôi.
*
Ngân Triều cảm đề, bài 10:
Thời đến bằng tung
cánh ngất trời./ Ngân Triều/ Google
Ngựa xe, trôi nổi thảy do thời,
Thời đến bằng tung cánh ngất trời.
Gặp gỡ mắt xanh thơ đắm đuối,
Hẹn hò vương ánh nắng chiều rơi!
Bỏ công chèo quế tìm tiên cảnh,
Mây biếc đây chăng, đã đến rồi?
Từ biệt trường đình xin nhớ nhé,
Thạch Hà, Nghệ Tĩnh, ấy quê tôi.
Ngân Triều
*
Nguồn: TL Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, TS Phạm Trọng
Chánh
****
Baøi 11: (Bài 11)
Tốn Phong lại viết thêm:
Nhất Nguyên dịch nghĩa bài 11:
Diệu vợi núi sông mấy dặm đường.
Giữa phố phường hỏi thăm chốn đình mai (Cổ nguyệt Đường).
Hoa đào tự ta không phải là không có duyên phận.
Tơ liễu với ai lại rất có tình,
Khách ghen chịu sao được điều oán nhỏ nhặt.
Nhớ người, ngàn nụ cười làm nhẹ tấm lòng.
Chị Hằng hiểu được riêng tấm lòng thương nhớ,
Xin tỏa ánh trăng sáng xuống Cổ Nguyệt Đường.
*
Nhất Uyên phiên âm, bài 11:
Thiều đệ giang
sơn vạn lý trình,
Phồn hoa mạch thượng phong mai đình.
Đào hoa tự ngã phi vô phận,
Liễu nhứ ư nhân thái hữu tình.
Đố khách na kham quan tiểu hận,
Hoài nhân thiên tiếu nhất thân khinh.
Hằng Nga hội đắc tương tư ý,
Cổ Nguyệt đường tiền tả nhất minh.
*
Bản chữ Hán,
Ngân Triều soạn, bài 11:
韶遞江山萭里程
蕃華陌上封梅亭
桃華自我非無分
柳絮於人太有情
妬客那堪關小恨
懷人千笑一身輕
恆娥會得相思意
古月堂前寫一明
*
Nhất Uyên dịch thơ, bài 11:
Dịệu vợi giang
sơn mấy dặm đường,
Phồn hoa thăm hỏi chốn mai đình.
Đào hoa ta cũng không duyên phận,
Tơ liễu ai kia rất có tình.
Sao để khách ghen điều nhỏ nhặt.
Ngàn nụ cười vui nhẹ tấm thân.
Hằng Nga hiểu được lòng thương nhớ,
Cổ Nguyệt Đường xin tỏa ánh trăng.
*
Chị Hằng có thấu niềm thương nhớ,
Tỏa ánh trăng thanh sáng Nguyệt Đường, Ngân Triều, Google.
*
NgânTriều cảm đề, bài 11:
Chốn cũ sơn khê vạn dặm trường,
Phố phường tìm lại chốn mai đường[4].
Hoa đào không phải không duyên phận,
Tơ liễu đa tình, đa vấn vương.
Xót dạ, nghe qua điều oán nhỏ,
Thỏa lòng, say ngắm nụ cười thương.
Chị Hằng có thấu niềm thương nhớ?
Tỏa ánh trăng thanh sáng Nguyệt Đường.
Ngân Triều
***
Năm 1814. Tốn Phong sau khi thi hỏng trường Nghệ năm 1813, lại
trở ra thăm Hồ Xuân Hương, viết tiếp 20 bài thơ tặng nàng.
Nguồn: TL Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong, của TS
Phạm Trọng Chánh.
*****
Baøi 12: (Bài 12)
Nhất Nguyên dịch nghĩa bài 12:
Đã quen biết nhau ở Phố Nam thành Thăng Long gần 10 năm trước,
Nơi hiệu sách gần chùa Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không, thuở ấy Xuân
Hương ở xa ngôi nhà nàng sinh trưởng làng Nghi Tàm.
Năm nay 1814, gặp lại nàng ở Cổ Nguyệt Đường phía Bắc thành Thăng
Long,
Tình xưa như tơ liễu vẫn còn vấn vương như sương khói.
Bao năm qua nàng như cành mai phất phơ trong đông tàn tuyết lộng,
đời nàng nhiều phong trần.
Từ khi từ biệt lòng Tốn Phong vẫn thương nhớ như nước mênh mông liền
trời.
Gặp nhau đây nơi nhà nàng thắp sáng ngọn đèn bạc,
Cùng
kể nhau nghe chuyện lưu lạc sông hồ, hò hẹn duyên nợ xa xưa.
*
Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 12:
Nam phố[5]
tương tri thập tải tiền,
Đào hoa do tự cách tiên nguyên.
Bắc thành tương kiến kim niên cảnh,
Liễu nhữ hoàn ưng đối dã yên.
Bán điểm xuân tình mai dục tuyết,
Vạn trùng lý tứ thủy như thiên.
Hữu thời lan thất[6]
khiêu ngân chúc,[7]
Cộng thoại giang hồ đính túc duyên.[8]
*
Bản chữ Hán
Ngân Triều soạn,
bài 12:
南 舖 相 知 十 載 前
桃 華 由 自 隔 前 源
北 城 相 見 今 年 景
柳 汝 還 應 薱 也 煙
半 點 春 情 梅 欲 雪
萭 重 里 思 水 如 天
有 時 欗 室 挑 銀 燭
共 話 江 湖 訂 宿 縁
*
Nhất Uyên dịch thơ, bài 12:
Nam Phố mười
năm xưa đã quen,
Hoa đào độ ấy cách nguồn tiên.
Năm nay gặp lại nơi thành bắc,
Tơ liễu vẫn còn sương khói vương.
Điểm nửa tình xuân mai tuyết lộng,
Muôn trùng nỗi biệt nước trời chen.
Nhà lan là lúc chong đèn bạc,
Kể chuyện giang hồ hẹn mối duyên.
*
Ngân Triều cảm đề, bài 12:
Gặp nhau thắp sáng màu đèn bạc,
Cùng kể lênh đênh chuyện túc duyên.
Ngân Triều, tranh mh Google
*
Nam Phố đã quen nhau thập niên,
Hoa đào thuở ấy xa nhà huyên.
Năm nay tái ngộ nơi thành Bắc,
Tơ liễu tình xưa vẫn mới nguyên.
Phơ phất phong trần mai tuyết lộng,
Nhớ thương vời vợi nước mông mênh
Gặp nhau thắp
sáng màu đèn bạc,
Kể chuyện lênh
đênh mối túc duyên.
Ngân Triều.
*
Nguồn: Theo TL của TS Phạm Trọng Chánh, như đã ghi trên.
Chú thích:
[1] Thanh
nhãn: 青眼mắt xanh, người có mắt suy xét việc đời. Theo Tấn Thư, Nguyễn Tịch
người đời Tấn khi tiếp khách, nếu người tốt, tri kỷ mắt ông xanh, (thanh nhãn);
nếu là người xấu thì mắt ông trắng (bạch nhãn).
[2] Huyền hạc:
玄鶴theo truyền thuyết, chim hạc sống hai nghìn năm thì lông biến thành
màu xanh, lại sống nghìn năm nữa thì lông biến thành màu đen gọi là huyền hạc
tượng trưng người ẩn dật. Ngày nay thì ta biết chuyện này không đúng vì Hạc có
nhiều nơi trên thế giới có giống lông trắng, lông xanh, lông đen, lông hồng,
lông xám, có giống pha nhiều màu.
[3] Trường đình: 長亭, đình trạm, trên đường cái quan, năm dặm thì dựng cái đình nhỏ gọi là đoản đình, mười dặm thì dựng cái đình lớn gọi là trường đình, để ngựa trạm và người công sai đưa công văn, người đi đường dừng chân nghỉ ngơi. Trường đình Trung Quốc có từ thời Đường, có lẽ do ý kiến của Trần Huyền Trang sau khi đi Ấn Độ về kể chuyện những đình trạm thời A Dục Vương
[5] Nam Phố: 南 舖, Phố Nam thành Thăng Long.
[6] Lan thất: 欗室, nhà lan, nơi phụ nữ ở.
[7] Ngân chúc: 銀燭, đèn bằng bạc thắp bằng dầu lạc. Thời Hồ Xuân Hương thường dùng đèn bằng đất sét, hay đèn sứ, có bấc bằng sợi bông vải, ngâm trong dầu lạc (dầu phọng), chỉ có nhà khá giả mới dùng đèn bạc chạm khắc công phu.
[8] Túc duyên: 宿縁, mối duyên xưa đã định từ trước.
(Còn tiếp)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét