Hình boùng Hoà Xuaân Höông qua
Thô Phaïm Ñình Hoå
(Nguồn: Hình
bóng Hồ Xuân Hương qua thơ Phạm Đình Hổ,
TS Phạm Trọng Chánh, trang
web năm 2012)
***
Tiểu sử Phạm Đình Hổ
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Phạm Đình
Hổ 范廷琥
Phạm Đình Hổ, 范廷琥, 1768 - 1839), tự Tùng Niên (松年), Bỉnh Trực (秉直), bút hiệu Đông Dã Tiều (東野樵), biệt hiệu Chiêu Hổ
tiên sinh (昭琥先生), là một danh sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu
thế kỷ XIX.
Phạm Đình
Hổ sinh năm Mậu Tí (1768), nguyên quán tại hương Đan Loan, huyện Đường An, phủ
Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông
là ấm sinh của một vọng tộc khoa hoạn, có cha là Phạm Đình Dư đã đỗ cử
nhân, làm Hiến sát Sơn Nam Hạ, rồi thăng Tuần phủ Sơn Tây, sau về trí sĩ ở phường
Hà Khẩu (nay là phố Hàng Buồm, Hà Nội) năm Giáp Ngọ (1774).
Ngay từ
nhỏ, Phạm Đình Hổ đã tỏ chí rằng:
Làm người
con trai phải lập thân hành đạo… Lấy văn thơ nổi tiếng ở đời...[1].
Tuy học và
đọc nhiều sách (năm 9 tuổi, ông đã học sách Hán thư), nhưng ông chỉ đỗ đến sinh đồ vào khoảng cuối đời Chiêu Thống.
Gặp buổi
loạn lạc, Lê Chiêu Thống cho người chạy sang cầu viện nhà Thanh, rồi triều đình
Lê trung hưng sụp đổ, nhà Tây Sơn lên cầm quyền... Suốt quãng thời gian này, Phạm
Đình Hổ sống đời cơ hàn dạy học ở quê.
Đến khi Gia Long lên ngôi, cho
khôi phục lại việc học hành thi cử; ông có đi thi Hương ba lần, nhưng đều không
đỗ. Hồi ấy ông đang dạy học ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương trong thành
Thăng Long, hằng ngày rèn luyện học trò và biên soạn sách. Tại đây, ông
kết bạn thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Làm
quan:
Năm Canh
Thìn (1820), có chỉ triệu ông và Phan Huy Chú vào Huế đợi mệnh cất dùng, nhưng
vì ốm ông không vào được.
Năm Tân Tị
(1821), vua Minh Mạng ra Bắc. Khi ấy, Phạm Đình Hổ ở tuổi 53, được vời ông đến
hỏi về học vấn, thi cử và tình hình nhân tài đất Bắc. Lại khuyên hễ có những
sách tiền triều, trước thuật... nên đem tiến trình. Ông bèn dâng lên nhà vua những
sách do mình biên soạn, bèn được triệu vào Huế làm Hành tẩu Viện Hàn lâm, được
ít lâu, ông xin từ chức.
Năm Minh
Mạng thứ 7 (1826), vua lại triệu ông, cho làm Thừa chỉ Viện Hàn Lâm, tiếp đến
làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Năm sau, xin nghỉ bệnh rồi từ chức. Sau, ông lại vào
sung chức, được thăng Thị giảng học sĩ.
Năm Nhâm
Thìn (1832), ông xin về trí sĩ. Năm Kỷ Hợi (1839), Phạm Đình Hổ mất, thọ 71 tuổi.
Tác phẩm:
Văn chương
Phạm Đình
Hổ, vốn muốn lấy văn thơ nổi tiếng ở đời[2], nên cuộc đời ông chủ yếu dành cho
việc sáng tác và biên soạn sách hơn là việc ở chốn quan trường. Và nhờ đọc nhiều,
đi nhiều, ông đã để lại nhiều công trình khảo cứu, biên soạn có giá trị thuộc đủ
mọi lĩnh vực như luận lý, lịch sử, địa dư, trước thuật... tất cả đều bằng chữ
Hán, nay còn lưu đến 22 tác phẩm, đáng kể gồm:
- An Nam chí
- Ô châu lục
- Kiền khôn nhất lãm
- Quốc triều hội điển
- Đạt Man quốc địa đồ
- Ải Lao sứ trình
- Bang giao điển lệ
- Nhật dụng thường đàm
- Hi kinh lãi trắc
- Quốc sử tiểu học
- Hành tại diện đối
- Quốc thư tham khảo
- Châu Phong tạp kho
- Vũ trung tùy bút
- Tang thương ngẫu lục[3]
- Tùng trúc liên mai tứ hữu
Thi phú:
- Đông Dã học ngôn thi tập
- Bạn tiếp tồn phùng thi tập
- Châu Phong thi tập
Vinh danh:
Phạm Đình Hổ đã được đặt tên phố ở quận Hai
Bà Trưng Hà Nội, và quận 6 Sài Gòn.
Tham khảo:
Wikisource
có các tác phẩm gốc nói đến hoặc của:
Phạm Đình Hổ
1. ^ Trích bàiTự thuật trong sách Vũ Trung tùy bút.
2. ^ Dựa theo Trần Nho Thìn (Từ điển Văn học, tr. 1356) & Tạ Ngọc Liễn (tr.
320 và 322).
3. ^ Hợp soạn với ông Nguyễn Án.
• Phạm Đình Hổ, Vũ Trung tùy bút (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến). Nhà
xuất bản Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy Văn học TP. HCM, in lại năm 1989.
• Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục (bản dịch của Trúc Khê). Nhà xuất bản VHTT
in lại năm 2000.
• Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản
(bản in lần thứ 10) năm 1968.
• Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
• Nhiều người soạn, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ 13-nửa đầu thế kỷ 19. Nhà
xuất bản Văn học, 1978.
• Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà
xuất bản KHXH, 1992.
• Tạ Ngọc Liễn, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Thanh
Niên, 2008.
*****
Baøi soá 1:
Caûm höùng
Phạm Đình Hổ
Trong thơ
chữ Hán của Phạm Đình Hổ có bốn bài thơ viết về một người con gái ở kinh đô
Thăng Long, ông không nói tên, Người con gái ấy biết làm thơ, yêu hoa mai, biết
đàn, nhỏ tuổi hơn ông, chưa kể các sự việc khác. Ngày nay nếu tại Hà Nội, tìm một
cô gái như thế tên gì, thì chả khác chi tìm cây kim trong đống rơm, nhưng ở thời
đại ông, kinh đô Thăng Long với vài chục ngàn dân, là một cái thành, vài chục
phố phường và làng mạc bao bọc chung quanh, các thiếu nữ biết làm thơ, bao thế
kỷ chưa thể kể đủ tên trên mười đầu ngón tay, và người thiếu nữ ấy yêu hoa mai
nữa, khỏi cần là "nhà trinh thám" ta biết ngay thiếu nữ đó là Xuân
Hương, Hồ Phi Mai. Phạm Đình Hổ viết các bài thơ về một cô gái: bài Sở hữu cảm,
Thiếu nữ tản kiều, Hoài cổ, Vô đề.
Bài Sở hữu cảm là cảm hứng về một cô gái nhỏ
ở kinh đô, đôi tay còn vấn tóc thề, còn ở khuê phòng, cha mẹ khá giả nuôi dưỡng, cuộc đời chưa biết
khổ là gì. (Ở thế kỷ 18, trẻ em gái làm
việc từ 7, 8 tuổi, rất sớm như cấy lúa, cắt cỏ, sàng gạo, ẵm em, nấu
cơm, bán hàng rong…). Riêng cô chỉ thích làm việc nhàn hạ là quét hoa rụng trên
sân nhà.
- Cô
gái nhỏ kinh đô Thăng Long ấy,
- có đôi mi đen như vầng trăng non,
- vì yêu hoa mai thanh khiết
- nên chẳng nề gió lạnh lùng.
- *
- Cô gái đã có tâm hồn thơ
- vì yêu hoa mai trắng trong,
- nên quét hoa,
- cô không lười biếng.
- *
- Cô gái kinh đô Thăng Long
- ngồi nhìn hoa,
- buông cây đàn cười chẳng gảy,
- ngại làm ai chạnh lòng.
Nhất
Uyên phiên âm Hán Việt:
Sở hữu cảm
Trường An tiểu nhi nữ,
Tiêm thủ quản tiểu hoàn,
Thâm khuê bất tri khổ,
Do tảo lạc hoa khan.
*
Trường An tiểu nhi nữ,
Mi đại nguyệt song loan,
Vị ái mai hoa khiết,
Lâm phong bất giác hoàn.
*
Trường An tiểu nhi nữ,
Hoa tiền độc ỷ lan,
Chỉ phạ đàn lang thính,
Hoành cầm bất tiếu đàn.
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
長 安 小 兒 女
㩥 手 管 小 鬟
深 閨 不 知 苦
由 掃 洛 華 看
*
長 安 小 兒 女
眉 大 月 雙 鸞
爲 愛 梅 華 潔
霖 風 不 覺 環
*
長 安 小 兒 女
華 前 獨 倚 闌
止 怕 彈 郞 聽
横 珡 不 笑 弹
*
- Trường An cô gái nhỏ, Mi đen nét cong cong,
Thơ chữ Hán Phạm Đình Hổ, Nhất Uyên dịch thơ:
Cảm hứng
Trường An cô gái nhỏ,
Đôi tay vấn tóc thề,
Khuê phòng không biết khổ,
Quét hoa rụng bay về.
*
Trường An cô gái nhỏ,
Mi đen vầng trăng non,
Vì yêu mai thanh khiết,
Chẳng nề gió lạnh lùng.
*
Trường An cô gái nhỏ,
Nhìn hoa tựa bên song.
Buông đàn cười chẳng gảy,
Sợ làm ai chạnh lòng.
*
Ngân Triều cảm đề:
Trường An cô gái nhỏ
Tay xinh vấn tóc thề.
Khuê phòng chưa biết khổ,
Quét hoa rụng lê thê.
*
Trường An cô gái nhỏ,
Mi đen nét cong cong,
Vì yêu mai cao khiết,[1]
Bao quản lạnh mưa phùn.[2]
*
Trường An cô gái nhỏ,
Nhìn hoa tựa cửa hiên,
Sợ mắt chàng ngấp ngó,[3]
Ngưng đàn cười hồn nhiên.
Ngân
Triều
*****
Baøi soá 2:
Thieáu nöõ taûn kieàu
Ai biết đâu, gấu váy,
Bông cỏ may còn vương.(NT)
Thiếu nữ làm duyên là hình ảnh của một cô gái mới lớn, vừa mới biết điểm trang, học kẻ mày lá liễu, đứng trước gương ngắm nghía bóng mình, uốn éo như đứt ruột, không nhớ rằng nơi gấu váy, còn vướng bông cỏ may trong lúc đuổi bướm hái hoa.
Nhất Uyên phiên âm Hán Việt:
Thiếu nữ tản kiều
Thiếu tiểu thùy gia nữ,
Phong tiền mại tiếu trang.
Thiển mi chung học liễu,
Đính mấn tảo sơ hương.
*
Niểu niểu sơ lâm kính,
Y y tự đoạn trường,
Bất tri bồng tất lý,
Áp tuyến chính phùng thường.
*
Bản chữ Hán,
Ngân Triều soạn:
少女散嬌
少小誰家女
風前賣笑粧
淺眉終學柳
訂鬢掃初香
*
嫋嫋梳臨镜
依依緖斷腸
不知芃膝裏
押線正縫裳
***
Bài thơ
hoàn toàn phù hợp với Xuân Hương, Hồ Phi Mai những năm 1790-1791, cô gái mới lớn
bắt đầu biết yêu, bắt đầu để ý đến nhan sắc của mình, học kẻ lông mày vụng về,
đứng trước gương ngắm bóng mình. Câu : Y
y tự đoạn trường, uốn éo như đứt ruột cho ta phỏng đoán thêm một chi tiết
thú vị, cô gái ấy đang mới yêu một chàng công tử đang diễn Nôm truyện " Đoạn trường tân thanh ",
chàng trai ấy sau ba năm phiêu bạt giang hồ đi vạn dặm Trung Quốc, mang về quyển
Kim Vân Kiều truyện, chàng say mê diễn ca thơ Nôm, gặp ai chàng cũng thuyết giảng,
kể chuyện về Hồng nhan đa truân.
Bạn bè
chàng Phạm Quý Thích thì khuyến
khích, Đoàn Nguyễn Tuấn bị ảnh hưởng
viết cả một bài thơ về Hồng nhan đa truân trong Hải Ông Thi tập, nhưng Phạm Đình Hổ thì chế nhạo, nên nguyên cả
tùy bút, thơ văn mình viết về bạn bè đương thời, có cả một bài viết về họ Nguyễn
Tiên Điền, (trong Vũ Trung tùy bút) một bài viết cho Nguyễn Tiên Điền (trong
thơ văn Phạm Đình Hổ) không rõ là cho Nguyễn Nể hay Nguyễn Du, nhưng không hề một
chữ nào nhắc đến Nguyễn Du viết Đoạn Trường Tân Thanh. [Có thể do ghen tỵ, câu
nệ, nhỏ nhen? NT]
Điều này
tôi (TS Phạm Trọng Chánh) có trao đổi với GS Hoàng Xuân Hãn và GS Nguyễn Tài Cẩn.
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn phỏng đoán rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều rất sớm từ
năm 1790 lúc còn rảnh rỗi vì sau đó khi ra làm quan, Nguyễn Du không có thì giờ
để viết một truyện Nôm như thế.
GS Nguyễn
Tài Cẩn, sau mười năm tìm chữ húy trên 10 văn bản cổ nhất Truyện Kiều đã đi đến
kết luận, Truyện Kiều được viết trước thời Gia Long (1802) vì có nhiều chữ húy
thời Lê Trịnh.
*
Thơ chữ Hán Phạm Đình Hổ, Nhất Uyên dịch thơ:
Thiếu nữ làm duyên
Thiếu nữ nhà ai đó,
Trước gió vụng điểm trang.
Mày thưa học nét liễu,
Tóc ngắn vừa tỏa hương.
*
Trước gương thướt tha đứng,
Uốn éo như đoạn trường.
Nào hay nơi gấu váy,
Đầy cỏ may bên đường.
*
Ngân Triều
cảm đề
bài Thiếu nữ làm duyên:
Cô
gái xinh nhà ai?
Gió
Xuân tập kẽ mày.
Mày
thưa mong thêm sậm,
Tóc
ngắn thơm, bờ vai.
*
Ai
biết đâu, gấu váy,
Bông
cỏ may còn vương.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét