Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Thiên tình sử HXH & Nguyễn Du, bài 15 & 16

Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 15 &16:

Bài số 15:
Coá kinh thu nhaät

                                       Hồ Xuân Hương

Rồi mùa thu sau. Xuân Hương lại gửi đến Nguyễn Du bài thơ chữ Hán. Cố kinh thu nhật, trong Hương Đình Cổ nguyệt thi tập:

Thắm thoát đã bao mùa thu qua, bóng trăng xế bóng, tuổi càng cao ngày một quá thì,

Nơi chốn cũ phồn hoa nhớ xưa cùng mời rượu chàng

Dòng sông Tô nước chảy cuồn cuộn về hướng Tây, bất tận,

Trời quang đảng trông rõ bóng núi Tam Đảo phía Bắc xa xa.

Dưới đèn sáng tỏ, nơi Cổ Nguyệt Đường, thương chăn xanh, vật cũ di sản nho học dòng dõi cha ông.

Sương móc trắng rơi đọng lại quanh nhà, sương móc trắng không chỉ rơi nơi nhà anh (bài Thu Dạ II), mà nơi em cũng như vậy nữa.

Ước gì đôi ta gặp lại nhau cho dạt dào nỗi nhớ?

Năm hết, Tết sắp đến, anh vẫn mãi biền biệt thế a ? 

*
Ngày Thu kinh đô cũ
 

(Người dch: Bùi Hnh Cn)

Thm thoát đường Thu ánh nguyt tà, 

Chn xưa li chuc chén phn hoa. 

Dòng Tô nước cun v Tây hết, 

Tam Đo tri quang ngó Bc xa. 

Đèn rng chăn xanh thương vt cũ, 

Sương buông móc  trng đng mô nhà.

Ln này gp mt càng mong nh, 

Khách mãi năm tàn ni thế a!

Nguồn: 

1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 

2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam

3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.

*
Nhất Uyên phiên âm,

Cố kinh thu nhật

Nhiễm nhiễm chinh đồ thu nguyệt tà. 
Nhất bôi hoàn đối cựu phồn hoa. 
Nhất Tô thủy lạo Tây vô tận, 
Tam Đảo tình quang Bắc vọng xa. 
Đăng nguyệt thanh chiên[1] bi cố vật, 
Sương tiền bạch lộ lạc thùy gia. 
Thử lai tương đối trùng tương đắc 
Khách cũ niên thâm nhược nại hà ?

*
Bản chữ Hán
, Ngân Triều soạn:

     故  
 
 
西  
 
 
 
 

*

  Ngày Thu cố kinh

Thắm thoát đường Thu ánh nguyệt tà  
Chốn xưa rượu chuốc chén phồn hoa.  
Dòng Tô nước cuốn về Tây mãi,  
Tam Đảo trời quang vọng Bắc xa.  
Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ,  
Sương buông móc trắng đọng bên nhà.  
Ước gì gặp lại vơi mong nhớ,  
Khách cũ, năm tàn mãi thế a? 

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

*
Ngân Triều họa thơ của Nhất Nguyên,

Bài Cố kinh Thu nhật:

Thắm thoát thu qua, bóng nguyệt tà,

Chốn xưa đối ẩm rượu phồn hoa.

Dòng Tô nước chảy về Tây mãi,

Tam Đảo trời quang núi Bắc xa.

Di sản chăn xanh, thương nghiệp cũ,

Sương pha móc trắng quyện quanh nhà,

Ước gì tái ngộ dào mong nhớ?

Biền biệt năm tàn mãi thế a? 

                                                                   *****

                                                       Bài số 16:

Khai song

                          Nguyễn Du

Nguyễn Du phúc đáp bài Cố kinh Thu nhật của Hồ Xuân Hương bằng bài Khai song, dùng lại điển tích thanh chiên và cũng ý mùa Thu. Nguyễn Du vẫn giữ mãi cái chăn xanh, như tấm lòng yêu thương nàng, và cho biết đang chữa bệnh nên chậm thư phúc đáp.

Cảnh vật trước nhà đã ra sao rồi?

Nhàn hạ mở cửa sổ, nhìn cảnh vật, chạnh lòng suy tưởng,

Sáu tháng qua có gió lớn đưa cánh chim Bằng[2] bay mãi không nghỉ.

 (Phải chăng chim Bằng là Bằng quận công, gặp thời nhứ gió bay cao. Nguyễn Hữu Chỉnh thuộc hạ Hoàng Đình Bảo, khi Bảo bị kiêu binh giết, trốn vào Nam phò Tây Sơn, đem quân ra Bắc diệt Trịnh thao túng quyền hành Bắc Hà rồi bị tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm giết. Tuy nhiên tình hình lúc Nguyễn Du làm bài này là lúc Gia Long liên tiếp thắng nhiều trận lớn từ Gia Định đang đánh tới, Bình Thuận, Diên Khánh,  Nha Trang)

Một sân mưa đọng kiến bò cao, xã hội đầy những kẻ thấp kém bất tài thừa cơ nước lụt bò lên cao. Nguyễn Du ám chỉ quân Tây Sơn thời mạt vận chăng? Khác với anh Nguyễn Nể phò nhà Tây Sơn, được vua Quang Trung trọng dụng, ưu đãi, hai lần được đi sứ, được giao cho trấn đóng Thành Bình Định, quê hương nhà vua, được dâng sách, dạy vua đọc hàng ngày và thảo chiếu biểu cho Vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Du theo Gia Long và khinh miệt Tây Sơn, khi cho Tây Sơn là kiến, khi là sâu trùng. (Cóc nhái quần bếp vắng, Sâu trùng bò mé ngoài, bài Bất Mị

Chiếc chăn xanh vật cũ, như thanh danh của cha ông, vẫn giữ mãi,

Chí cao, tóc đã bạc, chua xót không nói nên lời.

Bệnh cũ khổ thân, còn phải lo chạy chữa,

Không biết ý Thu giờ đến nhà ai?

                   Mở cửa sổ

Trước nhà cảnh vật đã ra sao,  
Mở cửa ngày nhàn sinh ý nhiều.  
Sáu tháng gió tung bằng lượn mãi;  
Một sân mưa đọng kiến bò cao.  
Chăn xanh vật cũ khư khư giữ. 
Tóc bạc hùng tâm luống nghẹn ngào.  
Trở bệnh hãy còn lo chạy chữa,  
Biết chi Thu tứ đến nhà nao?

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.

*
Bản chữ Hán
, Ngân Triều soạn:

 
 
 
 
 
 
調 

*

                Nhất Uyên phiên âm bài Khai song 

Môn tiền yên cảnh cận như hà? 
Nhàn nhật khai song sinh ý đa. 
Lục nguyệt bồi phong bằng tỷ địa, 
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa. 
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích, 
Bạch phát hùng tâm không đốt ta. 
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực, 
Bất tri Thu tứ đáo thuỳ gia?

*

Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang:

Trước nhà phong cảnh hiện nay sao?

Mở cửa nhìn xem sinh ý nhiều.

Sáu tháng gió đưa bằng đổi chỗ,

Một sân mưa đọng kiến bò cao.

Nệm xanh vật cũ lo gìn giữ,

Tóc bạc lòng hăng luống nghẹn ngào.

Còn bệnh hãy nên lo chạy chữa,

Chẳng hay Thu tứ đến nhà nào?

*

Bản dịch của Trương Việt Linh

          Trước nhà phong cảnh nay sao?

Mở nhìn vạn vật sắc màu xinh tươi.

          Chim bằng cưỡi gió tung trời,

Sân mưa nước đọng, kiến dời tổ đi.

          Bạc đầu thôi thở than chi!

Nệm xanh vật cũ đến nay vẫn dùng.

          Bệnh nhiều nên chạy chữa luôn,

Nhà ai Thu đến mộng hồn bâng khuâng.

*
Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Phong cảnh trước nhà nay sao rồi?

Ngày nhàn mở cửa vẫn vui tươi.

Sáu tháng chim bằng bay cưỡi gió,

Sân đọng mưa lâu kiến di dời.

Vật cũ nệm xanh yêu quý giữ,

Hùng tâm, tóc bạc thở than thôi.

Bệnh xưa vẫn phải lo điều dưỡng,

Không biết nhà ai tứ Thu rơi?

*

Bản dịch của Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh
            Gửi bởi tôn tiền tử ngày 05/01/2015

Trước nhà cảnh vật đã ra sao?

Mở cửa ngày nhàn sinh ý nhiều.

Sáu tháng gió tung bằng lượn mãi,

Một sân mưa đọng kiến bò cao.

Chăn xanh vật cũ khư khư giữ,

Tóc bạc, hùng tâm luống nghẹn ngào.

Trở bệnh hãy còn lo chạy chữa,

Biết chi Thu đã đến nhà nao?

*

Ngân Triều cảm đề, bài Khai song:

Băn khoăn cảnh cũ đà thay đổi? 
Nhàn rỗi, khai song, thanh thản vui. 
Xuôi gió chim bằng bay bổng miết! 
Ngập hang lũ kiến bò cùng nơi. 
Chăn xanh nếp cũ gia phong quý, 
Tóc bạc mong gì, than thở thôi.

Lại bệnh, phải còn lo chạy chữa, 
Ý  Thu lan tỏa nhà ai rồi?

(Còn tiếp)

*
Ảnh minh họa bài 15 & 16:

                 

     Biền biệt năm tàn mãi thế a? Ảnh minh họa,  Google                                               

 









  Xuôi gió chim bằng bay bổng miết! 

                  Ngân Triều, ảnh Google


[1] Thanh chiên: chăn xanh lót bằng tơ tằm thô, hay bông vải, làm mền đắp cho khỏi lạnh. Vương Hiến Chi đời Tấn, đêm thấy kẻ trộm vào nhà lấy nhiều đồ vật. Ông ung dung bảo với tên trộm rằng: Lấy gì thì lấy nhưng cái chăn xanh là vật cũ của nhà ta, nên bỏ trả lại ta. Về sau người ta dùng chữ thanh chiên để chỉ những nhà dòng dõi Nho học. 

[2] Chim Bằng: Qua câu thơ của Nguyễn Du, Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa: : Sáu tháng qua có gió lớn đưa cánh chim Bằng bay mãi không nghỉ. Sách Trang Tử, thiên Tiêu dao du: Loài chim ấy thấy biển động bèn bay sang biển Nam. Chim Bằng bay qua biển Nam, làm sóng nước nổi lên ba ngàn dặm, nương gió bay lên chín vạn dặm, bay sáu tháng mới nghỉ. Bởi vậy khi chim Bằng bay lên cao, cưỡi lên lớp gió dưới nó.

  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét