Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

 

THIÊN TÌNH SỬ HXH-NGUYỄN DU (Tiếp theo)

                                                    Ảnh minh họa Bài 2, HXH-ND, Google
                                                    Chùa Trấn Quốc.
Bài 2:
Ñeà Traán Quoác töï (Đề Trấn Quốc Tự)
Hồ Xuân Hương
Trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn, Hồ Xuân Hương trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du có câu: Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ. Lời thơ đề chùa Trấn Quốc rêu phong cổ kính còn vang vọng. Bài Đề Trấn Quốc Tự, Hồ Xuân Hương chép trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Tập thơ này gồm những bài ngâm vịnh rất đứng đắn, có lẽ Đại Thần Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương đã đọc tập qua, cho nên các ông đã sánh Hồ Xuân Hương ngang với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh, là những nữ sĩ nổi tiếng bấy giờ. Vậy là, ở thế kỷ 19, các nhà thơ đương thời ngưỡng mộ Hồ Xuân Hương (HXH), một nhà thơ đứng đắn, lãng mạn, không có chuyện phê phán HXH là một nhà thơ dâm tục.
Dịch nghĩa:
Ai là người đến đó khách đài trang, dòng dõi quyền quí.
Cơn gió nam bấy giờ nhẹ lướt êm êm,
Trăng nước sóng lồng cánh sen vừa mới nở, nõn nà tinh khiết.
Khói hương chùa bay lên như chiếc tán lọng(tàn) quý báu; lại bay lên nữa, như cánh cò cánh hạc bay lên vầng mây.
Đóa hoa sen mới nở như mỉm miệng cười, hàm tiếu, cười nụ, nhẹ nhàng rửa tan niềm tục,
Ngắm cỏ xanh mùa Xuân làm cho tỉnh niềm mơ.
Đến cảnh muốn ngoảnh lại, muốn hỏi chàng, (Nguyễn Du lòng đang muốn về quê Hồng Lĩnh),
Vung tay áo vẫy gọi đàn hồng nhạn bay về phía Đông Nam.
*
Đề Trấn Quốc tự (Trấn Bắc tự)
Trang lâm thùy thị cảnh trung nhân,
Tế tế thanh phong phiến phiến huân.
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát,
Hương yên bảo thoại lộ liên vân.
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại,
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân.
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn,
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ
*
Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:
鎮 北 寺
莊 臨 誰 是 景 中 人
細 細 清 風 扇 扇 薰
水 月 波 籠 蓮 插 茁
香 煙 寶 憩 露 連 雲
洗 空 塵 慮 花 含 態
喚 醒 迷 途 草 亦 春
到 景 令 人 回 首 問
東 南 拂 袖 鴈 成 群
*
Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh diễn thơ:
Ai người đến đó, khách đài trang,
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam.
Trăng nước sóng lồng sen nõn cánh,
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn.
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu,
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm Xuân.
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi,
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn. (a)
*
Ngân Triều diễn thơ:
Ðề chùa Trấn Bắc
(Trấn Quốc tự)
Ngoạn cảnh đài trang khách quý đây,
Gió Nam man mát ngát hồn đầy .
Sóng vờn trăng nước, sen cười mỉm,
Hương khói tán cò, bay thấu mây.
Tẩy sạch phiền trần hoa thẹn mặt,
Cỏ Xuân mơn mởn, khách lòng khuây.
Dừng chân ngoảnh lại như thầm hỏi,
Tay vẫy Đông Nam nhạn một bầy.
Câu (a) trên có thể hiểu hai ý:
-Khi về quê ở Hồng Lĩnh, Nguyễn Du sẽ gặp lại thân bằng quyến thuộc của mình rất đông, một đàn.
-Tay áo của Nguyễn Du có đính những sợi dây cột, khi vẫy tay áo, những sợi đó bay bay như hình ảnh một đàn nhạn bay lả lướt trong gió.
*
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, 2009
3. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
4. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.
*****

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét