Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, thư số 13 & 14
Bài số 13:
Thu vuõ
Hồ Xuân Hương
Xuân
Hương đã phúc đáp bài Thu Dạ I của Nguyễn Du bằng bài Thu Vũ. (Mưa Thu). Nàng đã khóc khi nghe tin Nguyễn Du bệnh gần
cả năm, tóc đã nhuốm bạc.
Diễn ý bài thơ Thu vũ:
Trời ảm đạm mây mù giăng mờ mịt, lòng em như
mây (tiếp
ý mây bài Thu dạ hữu hoài và Thu Dạ I),
Nhưng mây đầy trời ảm đạm và mù mịt, tí tách
mưa thu rơi trên sân vắng.
Đầu cành cây khô giọt lệ tuôn dài ngắn,
Mưa lộp độp trên lá chuối vàng, tiếng nhặt
khoan.
Ngâm đọc xong bài Thu Dạ (I) , ngẩn ngơ,
chạnh buồn thương người cách xa ngàn dặm,
Sầu vấn vương, mối tình đòi đoạn vò tơ, (ND), lòng như hoang vắng, thắc thỏm suốt
năm canh.
Nơi khuê phòng, giờ chỉ khổ cho phận hồng
nhan,
Một mảnh sầu không tên như thế nầy, muốn vẽ
nhưng không thể nào vẽ đươc nên tranh.
*
Mưa Thu
Trời thảm mây giăng tối mịt
mùng,
Mưa Thu tí tách nhỏ ngoài sân.
Cây khô dài ngắn rơi hàng lệ.
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh.
Ngâm dứt đê mê sầu vạn dặm,
Buồn dâng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc,
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ.
*
Thu vũ, Nhất Uyên phiên âm:
Thiên
cách vân âm thảm bất minh,
Tiêu
tiêu thu vũ lạc nhàn đình.
Đoản
trường khô thụ chi đầu lệ,
Thư
cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
Ngâm
đoạn đê mê thiên lý mộng,
Sầu
khiên liêu lạc ngũ canh tình.
Thâm
khuê tối khổ như hoa diện,
Nhất
phiến sầu dung hoạ bất thành.
*
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm &
giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn
hoá - Thông tin, 1999
2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối
tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng
Chánh.
*
Thu
Vũ, bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋 雨
天 隔 雲 陰 慘 不 明
蕭 蕭 秋 雨 落 閒 庭
短 長 枯 樹 枝 頭 淚
舒 急 黃 蕉 葉 上 聲
吟 斷 低 迷 千 里 夢
愁 牽 寥 落 五 更 情
深 閨 最 苦 如 花 面
一 片 愁 容 畫 不 成
*
(1) Mưa Thu
Bản
dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Trời cách mây mù thảm chả
xanh,
Mưa thu sân vắng giọt buồn tanh.
Đầu cành cây héo châu dài vắn,
Trên lá tiêu vàng tiếng chậm thanh.
Hát dứt đê mê mơ vạn dặm,
Sầu giăng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê sâu rất khổ mày hoa ấy,
Vẻ mặt buồn thương vẽ chẳng thành.
*
(2) Nguyễn Cang dịch
thơ:
Mưa Thu
Trời mây sầu thảm ngập mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh
Cây chết, vắn dài cành nhỏ lệ
Mưa rơi tàu chuối tiếng trầm thanh
Thơ ngâm dứt đoạn, sầu ly biệt
Khắc khoải u hoài thức trắng canh
Vò võ khuê phòng hoa héo úa
Sầu riêng một mảnh khéo đành hanh![1]
Nguyễn Cang (15/10/2017)
Nguồn: Trích FB Nguyễn
Cang
*
(3) Lưu Đức Thọ cảm đề:
Mưa Thu
Trời thu ảm đạm không mây xanh
Rả rích mưa buồn cảnh vắng tanh
Rũ héo cành khô rơi lệ ứa
Tiếng mưa tàu chuối đếm trầm thanh
Nhận thơ đọc hết yêu người lắm
Thắc thỏm sầu vương tận những canh
Thương quá ở hai đầu nỗi nhớ!
Sầu riêng tự họa mãi không thành
Lưu Đức Thọ
Praha, 14.10.2017
*
(4)Kim Trân cảm đề:
Gió đùa mây thắm tận trời xanh
Lác đác mưa Thu ngõ vắng tanh
Nhặt cánh thư buồn dâng suối lệ
Chạnh lòng cành rũ, nhạt mày thanh
Nhớ ai ai nhớ sầu trăm nỗi
Tái dạ tim bời vọng tứ canh
Mái tóc hoa sương đành gửi chút
Tình riêng hoài tưởng họa không thành!
Kim Trân
*
(5) Ngân Triều cảm đề:
Mưa Thu:
Mây mù ảm đạm, mây mông mênh,
Tí tách mưa Thu, sân vắng tanh.
Cây chết đầu cành
cây đọng lệ,
Mưa khua tiếng chuối, tiếng trầm thanh.
Đọc thư thờ thẫn người xa cách,
Quạnh vắng sầu giăng suốt ngũ canh.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.
Ngân Triều
*****
Bài số 14:
Thu dạ (2)
Nguyễn Du
Nguyễn Du trả lời bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương
bằng bài Thu Dạ II…
Tiết
Bạch Lộ tháng tám âm lịch, hơi thu đã già, qua tháng chín là tiết Sương giáng,
không phải chỉ lòng em đầy mây mù đâu, lòng anh cũng lạnh lẽo, sương giăng mờ
mịt cây cỏ quanh bến giang thành đìu hiu. Bên đèn khuya quạnh quẽ ngóng đợi. Vắt
tóc như Chu Công bận lo việc nước, vừa gội đầu vừa tiếp sĩ phu, phải vắt ba lần
mới gội đầu xong. Lo cái chí nguyện tàn phai theo ngày tháng, non sông nghìn
dặm càng nghĩ càng nhớ càng lo lắng trong ngày dài. Phong cảnh bốn mùa thay
đổi, riêng mình ngậm ngùi buồn Trời chớm lạnh. Mới hay không áo là khổ. Nghe
tiếng chày người khuê phụ đập vải trong chiều, lòng nhớ đến em nơi khuê phòng
trông ngóng.
Đêm Thu II.
Móc trắng sương thu giăng
mịt mùng,
Đìu hiu cây cỏ bến giang thành.
Đèn khuya quạnh quẽ đêm dài ngóng,
Vắt tc lo hoài chí nhạt tan.
Vạn dặm giang sơn dài nỗi nhớ,
Bốn mùa mây nước ngậm ngùi trông.
Chớm lạnh mới hay không áo khổ,
Tiếng chày khuê phụ, bóng chiều phong.
..
Thơ chữ Hán Nguyễn Du Thanh Hiên Thi tập..
Chú Thích:
Bạch
lộ: 白露sươn,g móc trắng, tiết bạch lộ là tháng 8 âm
lịch.
Ác
phát: 握髮Chu Công bận lo việc nước có khách lại, ông
vắt tóc lên ra tiếp, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.
*
Bản chữ Hán,
Ngân Triều soạn:
秋夜其二
白露為霜秋氣深
江城草木共蕭森
剪燈獨照初長夜
握髮經懷末日心
千里江山頻悵望
四時煙景獨沉吟
早寒已覺無衣苦
何處空閨催暮砧
*
Nhất Uyên phiên âm,Thu dạ kỳ 2
Bạch
lộ vi sương thu khí thâm,
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm.
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ,
Ác phát kinh
hoài mạt nhật tâm.
Thiên lý giang sơn tần trướng vọng,
Tứ thì yên cảnh độc trầm ngâm.
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm?
*
Dịch nghĩa
Móc
trắng thành sương, hơi thu đã già.
Cây cỏ quanh thành bên sông, trông đến tiêu điều!
Khêu ngọn đèn cho chiến rọi vào cảnh đêm dài mới bắt đầu.
Búi tóc mà lo cho chí nguyện những ngày tàn tạ.
Non sông ngàn dặm cứ nhìn là thấy buồn.
Phong cảnh bốn mùa, riêng mình ngậm ngùi.
Mới rét, đã khổ vì không áo,
Mà nơi đâu tiếng đập vải của người khuê phụ rộn rã trong chiều hôm?
Móc trắng như sương,
thu sắp hết, Ảnh minh họa Google
*
Ngân Triều cảm đề:
Móc trắng sương giăng, Thu sắp hết,
Quanh sông cây cỏ, những tiêu điều!
Khêu đèn soi sáng đêm dài tới,
Chuyện phiếm hoài công ngày quạnh hiu.
Ngàn dặm non sông buồn lặng ngắm,
Bốn mùa khoe sắc, cảnh cô liêu.
Rét về thêm khổ vì không áo,
Đập vải người đâu rộn rã chiều?
[1] đành
hanh: cay nghiệt, đáo để.
Trẻ tạo hóa đành hanh quá
ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơi.
Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.
Cung Oán ngâm khúc, ONH Nguyễn Gia Thiều, câu 73-76
Ảnh minh họa bài 13 HXH & bài 14 Nguyễn Du:


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét