Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 21 & 22 (tiếp theo)
Bài
số 21:
Chí Hieân taëng (1)
Nguyễn Du
Sau khi gửi bài thơ này cho Hồ Xuân Hương năm
1795. Hồ Xuân Hương hiểu mối tình mình chỉ là giấc mộng. Nguyễn Du thôi làm
Hồng Sơn Liệp Hộ mà làm Nam Hải Điếu Đồ, đi câu cá biển Nam Hải. Tâm sự Nguyễn
Du lúc này trong bài Tạp thi I viết:
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng
thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang
nhiên.
Xuân lan thu cúc thành hư
sự
Hạ thử Đông hàn đoạt thiếu
niên.
Tạp thi kỳ nhất, Nguyễn Du
*
Bạc đầu tráng sĩ ngửng trời
than,
Dựng nghiệp mưu sinh thảy
lỡ làng,
Thu Cúc, Xuân Lan thành
mộng ảo.
Hạ nồng, đông lạnh cướp
ngày xanh…
Nhất Uyên
dịch thơ
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
壯 士 白 頭 悲 向 天
雄 心 生 計 兩 茫 然
春 蘭 秋 菊 成 虛 事
夏 暑 東 寒 奪 少 年
雜 詩 其一 , 阮 攸
*
Nguyễn Du cho rằng chuyện tình của mình với
cô Cúc làng Trường Lưu hay với Xuân Hương làng Nghi Tàm đều đã thành mộng ảo.Về
Hồng Lĩnh, Nguyễn Du tâm sự với người bạn cũ Thực Đình (bút hiệu có nghĩa là
người ăn ở đình làng) Họp bạn khó tìm người mắt biếc.
Sau vụ khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên
Điền bị làm cỏ, người sống sót chẳng ai dám tỏ một thái độ gì. Do đó Nguyễn Du
không thể ở lại, dạy học, cũng không thể tìm ra thủ hạ, do đó, tôi bác bỏ đoạn
gia phả Nguyễn Tiên Điền chép:
Nguyễn Du từ Hà Tỉnh dẫn
thủ hạ mang quân lương ra tiếp rước Vua Gia Long. Và được đưa ra Bắc phong tri
huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.
Bước đường tìm cách vượt biển vào Nam theo
chúa Nguyễn Ánh, có lẽ Nguyễn Du đã rơi vào bẫy của quan biên phòng của Hiệp
Trấn Hà Tĩnh Nguyễn Văn Thận, nên thay vì vào Khánh Hoà, Nguyễn Du bị chở thẳng
vào tù. Nguyễn Văn Thận nể tình bạn thân với Nguyễn Nể, và tài thơ văn Nguyễn
Du nên chỉ cho ở tù sơ sơ mười tuần (ba tháng).
Trong Bài Cảm Hứng trong tù Nguyễn Du cho
rằng nỗi lòng mình không ai biết:
Tâm
sự chút lòng, ai biết tỏ,
Như
sông Quế sâu dưới non Hồng.
Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm
1802, vua Gia Long tiến đánh, Thận thua trận chạy ra Thanh Hóa và bị giết ở đó.
Tin tức Nguyễn Du bị tù đã ra tới Thăng Long.
Hồ Phi Mai lên đường về nhà chồng anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.
Nguyễn Du sau khi ra tù , ban đêm Nguyễn Du
đã đi bộ trốn ra Thăng Long bài Dạ hành:
…
Nam minh tàn nguyệt phù
thiên lý
Cổ mạch hàn phong cộng nhất
nhân
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu
Bạch đầu vô lại chuyết tang
than
Dạ hành, Nguyễn Du
*
…
Trăng xế biển Nam ngàn dặm
chiếu,
Đường xa gió lộng một người
trông.
Đêm đen mờ mịt bao giờ sáng
Đầu bạc mà còn vụng dấu
thân.
Nhất Uyên dịch
*
Chữ Hán, Ngân Triều soạn
…
南溟殘月浮千 里
古陌寒風共一 人
黒夜何其迷失暁
白頭無賴拙藏 身
夜行, 阮 攸
*
Trên đường đi Nguyễn Du
phải đi ăn xin: Bài Khất Thực, Nguyễn
Du viết:
Khất thực
Tầng lăng trường kiếm ỷ
thanh thiên,
Triển chuyển nê đồ tam thập
niên.
Văn tự hà tằng vi ngã dụng,
Cơ hàn bất giác thụ nhân
liên (lân)
*
Chống gươm ngạo nghễ thét
trời xanh,
Ba chục năm trong bùn hôi
tanh,
Chữ nghĩa ích gì cho cuộc
sống,
Nào ngờ đói rách người
thương tâm.
Nhất
Uyên dịch thơ
*
Chữ Hán Ngân Triều soạn
乞 食
嶒 崚 長 劍 倚 青 天
輾 轉 泥 塗 三 十 年
文 字 何 曾 為 我 用
饑 寒 不 覺 受 人 憐
*
Đến Thăng Long Nguyễn Du đến một quán khách
quen biết bên bờ Hồ Tây, chủ quán cho hay Xuân Hương Hồ Phi Mai đã đi lấy
chồng, anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Chủ quán mời một bình trà, Nguyễn
Du uống bao nhiêu lần, không tiền nên chỉ xin nước sôi uống trà lạt, ngồi viết
hai bài thơ ký tên Chí Hiên. Bài thơ oán trách Hồ Xuân Hương thậm tệ. Còn có
bài thơ trách móc nào đau đớn hơn nhưng nàng vẫn trân trọng lưu trong tập thơ
Lưu Hương ký.
*
Chí Hiên tặng I, Nguyễn Du.
Chữ giao nguyền với mấy năm
tròn,
Xe nón tình kia mãi mãi còn.
Chẳng biết dạ người đen tựa mực,
Sao hay lòng khách thắm như son.
Còn tai chửa lãng lời vàng ngọc,
Có mắt mà xem mặt nước non.
Chớ trách chúa Xuân lòng mỏi mệt;
Mận đào được thế tiếng công môn.
Thơ chữ Nôm Nguyễn Du, Hồ
Xuân Hương đã ghi trong Lưu Hương ký.
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn
𡨸交𡅪唄買𢆥𧷺
車𥶄情箕買買群
拯别胣𠊚顛似墨
𫳵咍𢚸客𧺀如崙
群𦖻𣗓𢠯𠳒鐄玉
𣎏眜麻䀡𩈘渃𡽫
詛責主春𢙱痗瘼
槾桃得屉㗂公門
*
Nhất Uyên diễn ý
Đã giao du với nhau mấy năm
tròn,
Thề thốt tình thâm giao xe,
nón mãi mãi còn…
Xe
nón車𥶄 do chữ Xa lạp車 笠, theo sách Phong thổ ký, phong tục nước Việt
thuần phác. Trong buổi sơ giao, hai bên làm lễ kết nghĩa thường có lời thề: Anh
cỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau sẽ xuống xe vái chào tôi, anh cầm ô tôi cỡi
ngựa, khi gặp nhau tôi sẽ xuống ngựa chào anh... Thơ Khổng Bình Trọng: Việc
đời biến đổi khôn lường, chớ vì cởi xe mà khinh kẻ đội nón. Vì thế tình
thân là xạ lạp chi giao, mối giao tình xe nón..
Không biết tại lòng nàng tham giàu sang mà
thay dạ đổi lòng, lòng đen tựa mực đi lấy chồng thầy thuốc,
Còn tôi mới ra tù, tình tôi vẫn thắm như son,
một lòng yêu nàng.
Tai tôi chưa quên lời vàng ngọc của nàng,
Nàng có mắt hãy xem tôi làm nên sự nghiệp với
nước non.
Chớ trách chúa Xuân, vì sợ chờ đợi tôi mà mỏi
mệt sợ lỡ thì.
Tình nàng sớm mận tối đào như thế có xứng
đáng dòng dõi con nhà quyền quí chăng?
[Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn?]
*
Sớm tối lòng ai đen tựa
mực, Đục trong tình khách đỏ như
son.
Ảnh minh họa, Google.
*
Ngân Triều cảm đề, bài Chí Hiên tặng (1):
Giao tình ròng rã mấy năm
tròn,
Xe nón lòng đây vẫn mãi
còn.
Sớm tối lòng ai đen tựa
mực,
Bể dâu tình khách đỏ như
son.
Đá vàng sao vội quên lời
hẹn,
Chống mắt mà xem rỡ
nước non.
Chớ trách chúa Xuân,
chờ đợi lỡ,
Lẳng lơ ai dám rước, lầu
son?
Nguồn: Đi tìm Cổ
Nguyệt Đường và mối tình HXH và ND của TS Phạm Trọng Chánh.
*****
Bài
số 22:
Chí Hieân taëng (2)(Chí Hiên tặng) 2
Nguyễn Du
Bài Chí Hiên tặng II. Nguyễn Du không trách
móc nữa mà bày tỏ lòng mình:
Rủi may nào sá gì, nghĩ rằng cùng tắc thông,
thông tắc biến, biến tắc hóa theo Kinh Dịch…
Ra Bắc phen này (1796) mong làm nổi việc,
Nghĩ lại việc vào Nam (1794) cũng hoài công,
Hà Tỉnh chẳng ai theo, chẳng thể lập cứ địa chống Tây Sơn, cũng chẳng thể vượt
biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh…
Bạn thơ cũ nay đâu, ngồi uống trà một mình,
uống bao nhiêu bình nước rồi ấm trà đã nhạt.
Quán trọ đêm qua năm canh không ngủ được vì
manh áo quá mong manh, trời đã vào lập đông…
Trông ra sông hồ mù mịt sương khói từ biển
thổi vào.
Người xưa Cổ Nguyệt đường lòng như tấm gương
trong nào thấy đâu?
*
Chí Hiên tặng II, Nguyễn
Du:
Rủi may nào sá nghĩ cùng
thông,
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng.
Ra Bắc phen này mong nổi việc,
Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công.
Bạn thơ năm hết mâm trà lạt,
Quán khách canh chầy mảnh áo mong.
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể,
Nguyệt đường bao nã thấy gương trong
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
㩡𢆧芾咤𢣂窮通
諸𠴭知音祖𢚶𢙱
𦋦北畨尼懞挼役
𠓨南𡄎𠓀共壞工
伴詩𢆥盡𣙺茶𤁕
舘客更迡𤗖𥜌𤘁
憾洱矓𦋦模𤌋𣷭
月堂包那𧡊𨩍𤄯
*
Ngân
Triều cảm đề Bài Chí Hiên tặng (2)
Rủi may
nào sá tắc cùng thông,
Chưa phải tri âm để tỏ lòng.
Ra Bắc phen này lòng đã quyết,
Vào Nam, giúp Chúa, sự hư không.
Nhạt trà bằng hữu còn đâu nữa,
Đêm rét đơn y, ngủ chẳng xong.
Bể cả sông hồ sương khói mịt,
Đâu nào Cổ Nguyệt, tấm gương trong?
*
Nguyễn
Du tìm đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan cho Tây
Sơn, nhà cao cửa rộng, chẳng kém gì các biệt thự các vị quan to thời
trước:
Trên
bờ sông Nhị nhà chen gần,
Đã
chiếm cả thành hết cảnh xuân,
Cầu
gác Đông Tây cao ngất dựng.
Ở
Quỳnh Hải, Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út cho Nguyễn Du và giao gia trang, năm
1797. Từ đây Rằm tháng giêng ở Quỳnh Hải, Quỳnh
Hải nguyên tiêu, sau khi nếm trải phong trần, góc biển chân trời ba mươi tuổi, con thuyền lênh đênh của Nguyễn Du
mới an phận cập bến hạnh phúc:
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên Xuân hứng, thùy gia lạc?
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên?
Hồng Lĩnh vô
gia huynh
đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
*
Rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải
Nguyên tiêu lồng lộng khắp trời,
Trăng như người cũ,
tuyệt vời không phai!
Trời Xuân ập xuống nhà ai?
Mấy ai tận hưởng
trăng này xa xôi?
Tan nhà, huynh đệ chia phôi,
Bạc đầu căm giận tuổi
đời ruỗi mau.
Trăng ơi! Đêm vẫn nhìn nhau,
Tấm thân tam thập lao
đao cuối trời.
Ngân Triều dịch.
Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời Mười năm
gió bụi có vợ con, dạy học, dạy văn và võ, hoàn tất Truyện Kiều.
Năm
năm Quỳnh Hải (1797- 1802) Nguyễn Du đã giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân
ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn, Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ,
học trò và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa ,bò, heo dâng sớ đón
rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam thì gặp Vua Gia Long, vua phong ngay
cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc,
người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phù Dung
nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi
Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi
tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.
Nguồn: Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và
mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS
Phạm Trọng Chánh.
(Còn tiếp)
*****
Ảnh minh họa:

Ảnh minh họa, Google.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét