Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 19-20
Bài số 19
Hoïa nhaân (Họa nhân)
Hồ Xuân Hương
Thời gian xa cách thắm thoát đã hai năm.
Nguyễn Du vẫn biền biệt nơi Hồng Lĩnh. Mẹ Xuân Hương thúc ép nàng lấy
chồng. Có anh thầy Lang xóm Tây làng
Nghi Tàm, con cụ Lang, cậy người mai mối. Nhân có người về Hà Tĩnh, Hồ Xuân Hương gửi thơ cấp báo:
Vài
hàng viết thư gửi chàng mà chạnh lòng nước mắt rơi,
Tưởng rằng thức suốt năm canh ánh trăng vẫn
còn đó, tưởng rằng em (nguyệt) có thể chờ đợi anh lâu hơn,
Nhìn lá nhuộm sương mai buổi sớm mà lòng thẹn
(vì đã hẹn với chàng),
Màu sương khói chỉ làm rộn
ràng nỗi buồn,
Bước ra ngoài nhà thẩn thơ trước gió,
Xa xa tiếng địch ai thổi chói tai (lời anh
Lang xóm Tây theo ve vản nàng),
Muốn hỏi trăng già sao khe khắc với tình
duyên đôi ta,
Trêu nhau làm chi mà xe mối tơ không trọn vẹn
để đôi ta xa nhau.
Phạm Đình Hổ đã chứng kiến, việc mẹ gã Xuân
Hương cho anh thầy Lang, có lẽ cũng là học trò cụ Đồ Diễn, thư sinh ngày xưa
không thi cử làm quan thì cũng hành nghề: Y, Lý, Bốc, Số, anh Lang không thi
cử, trở về tiếp tục nghề nghiệp của cha. Bài Hoài Cổ. (Nhớ xưa) Phạm Đình Hổ
viết về Xuân Hương, tôi dịch như sau:
Năm xưa hoa đào nở,
Em tôi học cài trâm.
Năm nay hoa đào nở.
Mẹ gả xóm Tây gần.
*
Năm nay hoa đào nở,
Gió xuân sao lạnh lùng.
Em nhìn hoa mà khóc.
Sầu vương nét mi cong.
*
Năm nay hoa đào nở,
Cỏ xuân mượt trời mơ.
Bên hoa em cười nụ,
Ngâm thành tự đề thơ.
*
Phạm Đình Hổ là người ham học hỏi, thấy người
tài là đến chơi, thấy nhà ai có nhiều sách hay thì đến đọc, thấy việc gì cũng
ghi chép. Trong thơ văn ông, tôi khám phá, ông chứng kiến mối tình Xuân Hương
với Nguyễn Du, với anh Thầy Lang, với Mai Sơn Phủ, và cho Xuân Hương mượn tiền
để mở quán sách Phố Nam thành Thăng Long, cạnh đền Lý Quốc Sư và trường ông
Nghè Phạm Quý Thích, sau khi Xuân Hương dứt tình với Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà.
Xuân Hương không tự đề thơ, mà viết bài thơ cuối cùng cho Nguyễn Du.
*
Trăng già sao nỡ duyên khe khắc!
Xe mối tơ xa, biết có tròn?Ngân Triều
Ảnh minh họa Google
Họa nhân
Vài hàng chữ gấm chạnh niềm
châu;
Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lâu.
Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn,
Sương pha khói biếc rộn thêm sầu.
Thẩn thơ trước viện, nhà khoe gió,
Đồng vọng bên tai, địch thét đâu,
Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy,
Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương. Lưu Hương ký
*
Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn:
和 人
𠄧洚𡨸䌝𢤜惗珠
𢣂想𠄼更月嚱婁
𦲿染式籃沾𡲈𢢆
霜波𤌋碧吨沾愁
矧𠽔𠓀院茄誇𩙍
同望边𦖻笛𠯦兜
嚈𠳨綾𦓅慀吃悲
嘲饒之仍𥿥箕裘
*
Ngân
Triều cảm đề, bài Họa nhân:
Thư gởi đến chàng rơi nước mắt,
Năm canh cứ tưởng nguyệt luôn còn.
Sương mai lá nhuộm lòng thêm thẹn,
Khói trắng giăng giăng rộn nỗi buồn,
Thơ thẩn ngoài sân trời nổi gió,
Xa xa tiếng địch hú buồn nôn.
Trăng già sao nỡ duyên khe khắc!
Xe mối tơ xa, biết có tròn?
***
Tham khảo:
Hồ Xuân Hương, Bà
Lang khóc chồng.
Lo
lắng trước tình duyên của con gái, đã hai mươi bốn tuổi mà vẫn còn chờ đợi Nguyễn
Du, ngày cưới hỏi vẫn chưa thấy đâu. Xóm Tây, con thầy Lang làng Nghi Tàm cậy
mai mối đến hỏi cho con trai, cũng làm nghề thầy lang, cũng là học trò cụ Đồ Diễn.
Gả con về Hà Tĩnh cách trở xa đường, còn con thầy Lang dầu sao cũng xóm làng gần.
Hồ Xuân Hương gửi thơ bao lần thúc dục Nguyễn Du, Bài thơ nguyên là một ghi chú
dài dòng nhân có ông ... về Hồng Lĩnh gửi thơ cho chàng:
Vài hàng viết thơ gửi chàng mà nước mắt rơi lai láng,
nghĩ tưởng rằng em sẽ chờ đợi chàng được lâu. Nhìn lá nhuộm sương buổi ban mai
mà lòng thêm thẹn, màu sương khói chỉ làm rộn thêm nỗi sầu. Em thờ thẩn trước
nhà, nhà đang sửa soạn chưng diện đám hỏi, lòng em trống trải, như nhà chưng
diện để khoe với gió. Vì lòng em đã chán nghe những lời tán tỉnh của anh Lang
như tiếng địch (tiêu, sáo dọc) thét bên tai, anh chàng thổi sáo dở, lại cứ đem
địch thổi bên tai nghe chói như tiếng thét (ngày nay, mang đàn vĩ cầm đi tán
gái, không cần người yêu than chói tai, hàng xóm cũng lấy trộm mất cây đàn vĩ
cầm). Muốn hỏi trăng già sao khe khắt với tình yêu đôi ta, trêu nhau chi mà se
những mối tơ không trọn vẹn để cho đôi ta phải xa nhau !
*
Nguyễn Du bặt tin. Hồ Xuân Hương không còn lối thoát
đành lên kiệu hoa về nhà chồng, thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.
Theo Gs Hoàng Xuân Hãn, tương truyền người chồng thứ nhất
Hồ Xuân Hương là một thầy thuốc, con một thầy lang, đám cưới chưa được bao lâu
thì thầy lang đi chữa bệnh chẳng may bị nhiễm bệnh mất. Xuân Hương viết bài Bà
Lang Khóc Chồng. Bản Quốc Âm Thi Tuyển chữ nôm tựa Khóc Chồng Làm
Thuốc.
Bà lang khóc chồng:
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì ?
Thương chồng nên khóc tỉ tì ti.
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo,[1]
Cay đắng chàng ơi vị quế chi.[2]
Thạch nhủ,[3]
trần bì [4]
sao để lại,
Qui thân,[5]
liên nhục [6]
tẩm mang đi.
Dao cầu,[7]
thiếp biết trao ai nhỉ ?
Sinh ký chàng ơi, tử tắc quy. [8]
*
Bản
chữ Nôm: (Ghi theo Hồ
Xuân Hương thi tập, bản chép tay, Quán Ven Đường mượn của Viện Đại Học Yale,
USA, trang IX; phần mềm Winvnkey và Đại Từ Điển Chữ Nôm, Vũ Văn Kính).
[Xin
tham khảo bài 2, chương III trang 166]
*
Bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:
妑
俍
哭 𫯰
永 永 腮 𦖑 㗂 哭 夷
傷 𫯰 𦖑 哭 比 砒 絲
𤮿 裴 妾 𫺈 味 甘 草
咳 噔 払 喂
味 桂 枝
石 乳 陳 皮 燒 底 吏
歸 身 連 肉
浸 茫 𪠞
刀 梂 妾 别 牢 埃 咡
生 寄 払 喂 死 則 歸
Chú giải:
Tỉ tì ti: 比 砒 絲 ,hài thanh, tiếng khóc thê thảm,
đau đớn, láy ba.
(1-2) :Giới thiệu bà lang khóc chồng
(3-4): Hồi tưởng những cảnh sung
sướng và khổ sở; ngọt bùi, cay đắng;
cùng chia sẻ với nhau trong đời sống vợ chồng.
Chơi chữ dùng 2 món thuốc cam thảo: 甘 草 vị ngọt
và quế chi: 桂 枝vị cay.
Vừa là 2 vị thuốc Bắc, vừa chỉ những kỷ niệm về hạnh phúc và khổ sở cùng nhau.
(5-6): Trách chồng để lại và mang
đi:
Chơi chữ dùng 2 vị thuốc thạch
nhũ: 石 乳: nhũ: 乳: bộ phận
cho sữa nuôi con lúc bé chưa ăn được; trần bì 陳 皮; bì: da, cái đẹp thứ 2 của
người phụ nữ: nhất dáng, nhì da).
Như vậy, 2 chi tiết thạch nhũ và trần bì chỉ cái đẹp mà người chồng để lại, tức là chính người vợ,
tu từ hoán dụ, chi tiết - tổng thể).
Quy thân, 歸 身, liên nhục, 連 肉: vị thuốc, mà còn chỉ chi tiết,
người chồng mang theo.
Quy thân, quy: 歸vừa là
tên 1 vị thuốc, vừa là cục hạch, glande;
liên nhục: 連 肉tên thuốc
là hạt sen đã bóc vỏ, bỏ mầm rồi; có thể
ẩn dụ đến chi tiết đặc trưng về giới tính của người chồng. Thật rất hóm
hỉnh, thanh và tục chứa chan.
(7) Dao cầu: 刀 梂 :dụng cụ dùng để cắt mỏng thuốc, vừa có ý nghĩa trái cầu để kén chồng. Ý nói sau nầy người
vợ biết lấy ai.
Mặt khác, anh Jean
Sary, giải thích câu "Dao
cầu/ thiếp/ biết/ trao/ ai nhỉ": "Ngoài ẩn dụ về chiếc dao cầu của
ông lang, tác giả còn thêm vào một cách chơi chữ: nếu đổi dấu thanh của chữ thứ
hai, ta sẽ có dao cấu, đọc như giao cấu". Nếu lưu ý rằng quê Hồ
Xuân Hương ở Nghệ An, chúng ta sẽ thấy lý giải của Jean Sary rất thú vị.
Theo Jean Sary - nhà thơ Pháp dịch thơ Hồ Xuân
Hương, Ngô Tự Lập
(8) Tự an ủi:
Đời người thì sống gởi, thác về .
Đó là định mệnh, là qui luật, trên
đời không ai tránh khỏi.
Xuân Hương không yêu thầy lang nên
đùa bỡn, mượn tên các vị thuốc : Cam thảo, quế chi, thạch nhủ, trần bì, qui
thân, liên nhục và Dao cầu để sắc thuốc bắc, từ nay thân phận thiếp biết trao
cho ai. Hồ Xuân Hương không cho mối tình này nằm trong tình sử của mình nên
cũng không chép trong Lưu Hương Ký.
*****
Bài số 20:
Kyù moäng (Ký mộng)
Nguyễn Du
Trước sự nguy cấp của tình hình Nguyễn
Du, không biết hành động gì hơn, đã trả lời bài thơ này bằng bài Ký mộng:
Thời gian qua nhanh như nước chảy ngày đêm,
Anh như người du tử ở biệt mãi chốn quê
hương.
Bao năm rồi không gặp mặt lại,
Nói làm sao hết những nhớ thương,
*
Chỉ còn biết gặp nhau trong mộng,
Đêm qua anh mơ thấy rõ ràng,
Em đến tìm anh nơi bến sông Giang Đình.
Dung nhan vẫn như ngày xưa,
*
Áo tứ thân không buồn chăm sóc.
Thoạt tiên em kể nỗi đau ốm,
Rồi than thở những ngày xa nhau,
Sụt sùi không nói hết, như cách một bức màn.
*
Bình sinh em không thuộc lối,
Mộng hồn không biết thực hay không.
Núi Tam Điệp nhiều hổ trĩ,
Sông Lam lắm cá sấu.
*
Đường đi hiểm trở khó khăn,
Không biết có nhờ cậy ai ?
Mộng đến ngọn đèn cô đơn giọi sáng,
Mộng tan gió thổi lạnh lùng.
*
Người đẹp của lòng anh không thấy nữa,
Lòng
anh rối như tơ vương.
Nhà trống ánh trăng xế soi vào,
Chiếu trên tấm áo cô đơn của anh.
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
Kyù moäng
Thệ thủy nhật dạ lưu,
Du tử hành vị qui.
Kinh niên bất tương kiến,
Hà dĩ uý tương ti (tư).
*
Mộng trung phân minh kiến,
Tầm ngã giang chi mi.
Nhan sắc thị trù tích,
Y sức đa sâm si.
*
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn,
Kế ngôn cửu biệt ly.
Đái khấp bất chung ngữ,
Phảng phất như cách duy.[9]
*
Bình sinh bất thức lộ,
Mộng hồn hoàn thị phi.
Điệp sơn đa hổ trĩ,
Lam Thủy đa giao ly.
*
Đạo lộ hiểm thả ác,
Nhược chất [10]
tương hà y ?
Mộng lai cô đăng thanh,
Mộng khứ hàn phong xuy,
*
Mỹ nhân bất tương kiến,
Nhu tình[11]
loạn như ti.
Không ốc lậu tà nguyệt;
Chiếu ngã đan thường y.
Nguyễn
Du
Bản chữ Hán, Thi Viện:
記夢
*
Người vợ trước của Nguyễn Du là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn, đã mất ở
Quỳnh Hải, Thái Bình. Lúc này Nguyễn Du ở Hà Tĩnh chiêm bao thấy vợ. Ông nghĩ
lúc sống bà chưa biết đường làm sao tìm được ông trong giấc chiêm bao.
Tham khảo: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn Nghệ, 2007
*
Ghi lại
giấc mộng
Dòng nước ngày đêm chảy,
Người biệt chốn cố hương.
Bao năm không gặp mặt,
Làm sao hết nhớ thương ?
*
Trong mộng rành rành thấy,
Tìm ta nơi bến sông,
Dung nhau vẫn như trước,
Y trang buồn biếng chăm.
*
Trước kể nỗi đau ốm,
Rồi than những ngày xa,
Nghẹn ngào không nói hết,
Dường cách bức màn sa.
*
Bình sinh không thuộc lối,
Mộng hồn biết thật chăng ?
Núi Điệp đầy hổ báo,
Sông Lam lắm thuồng luồng.
*
Đường đi thật hiểm trở,
Phận gái nhờ ai không ?
Mộng đến đèn côi sáng.
Mộng tan gió lạnh lùng.
*
Giai nhân nào thấy nữa,
Lòng ta rối tơ vương.
Nhà trống vầng trăng xế,
Soi manh áo cô đơn.
(Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ)
*
Ngân
Triều cảm đề, bài Ký mộng:
Thời gian như nước chảy,
Biền biệt mãi quê hương.
Bao năm rồi không gặp,
Làm sao vơi nhớ thương,
*
May ra là mộng tưởng,
Đêm qua thấy rõ ràng,
Gặp nàng nơi Giang Đình.
Vẫn dung nhan ngày cũ,
*
Áo tứ thân xốc xếch,
Nàng kể nỗi ốm đau ,
Than thương nhớ xa nhau,
Khuất màn không nói hết.
*
Bình sinh không biết lối,
Nàng đến, biết thực không?
Tam Điệp nhiều hổ báo,
Lắm cá sấu đường sông
*
Đường hiểm trở khó khăn,
Liễu yếu cậy ai thân?
Cầu có đèn soi sáng,
Gió lạnh lùa mộng tan!
*
Còn tình nào hơn thế?,
Ngơ ngẩn buồn nào hơn.
Nhà trống bóng trăng xế,
Lồng bóng manh áo đơn.
*
Bài thơ này, ông Đào Duy Anh cho rằng Nguyễn Du nhớ vua
Lê Chiêu Thống; ông Trương Chính, Lê Thước lúc đầu cho rằng nhớ người bạn cũ,
sau đó cho rằng nhớ vợ (em gái Đoàn Nguyễn Tuấn). Các bản khác đều cho như thế.
Riêng tôi (TS Phạm Trọng Chánh), chứng minh bài này Nguyễn Du nhớ Xuân Hương,
Hồ Phi Mai.
Hồ Xuân Hương đã nhận được bài thơ này, nên trong bài: Cảm Cựu Kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn
Hầu, gửi Nguyễn Du năm 1813. Hồ Xuân Hương đã nhắc lại bằng câu: Giấc
mộng rồi ra nửa khắc không. Xuân Hương đã hiểu Nguyễn Du khi viết: Mộng đến đèn côi sáng, mộng tan gió lạnh
lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương. Nguyễn Du đã xem cuộc
tình ba năm với Xuân Hương, Hồ Phi Mai, như một giấc mộng.
Bài Tạp Thi (I) , Nguyễn Du cũng xem cuộc tình với cô
Xuân Hương làng Nghi Tàm, hay cô Cúc làng Trường Lưu đều là mộng ảo. Xuân lan, thu cúc, thành mộng ảo (Xuân
lan thu cúc thành hư sự.)
Dù còn yêu, nhưng biết rằng tình yêu không lối thoát,
Nguyễn Du không thể nào cậy mai mối hay người thân đến cưới hỏi, ít ra Nguyễn
Du cũng còn mấy bà chị dâu, hay chị ruột ở Thăng Long? Ba đồng một miếng trầu cay, Sao
anh không hỏi những ngày còn không ?
Tin Nguyễn Du bị bắt giam tại Hà Tĩnh ra đến Thăng Long.
Bà Đồ Diễn thôi thúc con gái lấy chồng. Phạm Đình Hổ trong bài Hoài cổ ( Nhớ xưa), mượn ý thơ Thôi Hộ,
đã trêu nàng:
Hoài cổ
Năm xưa hoa đào nở,
Em tôi học cài trâm.
Năm nay hoa đào nở,
Mẹ gả xóm Tây gần,
*
Năm nay hoa đào nở,
Gió Xuân sao lạnh lùng.
Em nhìn hoa mà khóc,
Sầu vương nét mi cong.
*
Năm nay đào lại nở,
Cỏ xuân mượt trời mơ.
Bên hoa em cười nụ,
Ngâm thành tự đề thơ.
***
Nguyên văn chữ Hán
Khứ tuế đào hoa phát,
Lân nữ học sơ kê.
Kim tuế đào hoa phát.
Dĩ giá lân gia Tây;(tê)
*
Kim tuế đào hoa phát,
Xuân phong hà thê thê,
Lân nữ đối hoa khấp,
Sầu thâm mi chuyển đê...
*
Kim tuế đào hoa phát,
Xuân thảo hà thê thê.
Lân nữ đối hoa tiếu,
Ngâm thành thủ tự đề
(Phạm Đình Hổ.
Tuyển tập thơ văn ; nxbKHXH 1998.)
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
懷古
去歲桃花發,
鄰女學初笄.
今歲桃花發,
已嫁鄰家西.
*
今歲桃花發,
春風何淒淒.
鄰女對花泣,
愁深眉轉低
*
今歲桃花發,
春草何淒淒.
鄰女對花咲,
吟成首自題
*
Ngân Triều cảm
đề
Nhớ xưa hoa đào
nở,
Em còn tập cài trâm.
Năm nay đào lại
nở,
Xuất giá bên
nhà gần.
*
Nhớ xưa hoa đào
nở,
Gió Xuân đưa lạnh
về.
Nhìn hoa em giọt
tủi,
Sầu cúi đầu tái
tê.
*
Năm nay đào lại
nở,
Cỏ Xuân sao bơ
phờ.
Nhìn hoa cười
hớn hở,
Viết thành một
bài thơ.
***
Nguyễn Du phúc đáp bằng bài thơ Ký Mộng, mơ thấy Xuân Hương, bỏ mẹ, bỏ
lớp dạy trẻ , vượt đèo Tam Điệp đầy hổ báo, vượt Sông Lam lắm cá sấu, đường đi
thật hiểm trở, vào Hồng Lĩnh thăm mình. Tỉnh dậy viết bài Ký mộng gửi Xuân
Hương, nên năm 1813 khi tình duyên tan vỡ, đò đã qua mấy chuyến, trong bài Cảm
Cựu Kiêm Trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu, mừng chàng làm Chánh Sứ: Xuân Hương
nhắc lại:
Giấc
mộng rồi ra nửa khắc không .
Đáp
lại các câu thơ:
Mộng
đến ngọn đèn sáng,
Mộng
đi gió lạnh lùng,
Giai
nhân nào thấy nữa,
Lòng
ta rối tơ vương.
Ngày trước ông Đào Duy Anh, trong cuốn Khào
luận Truyện Kiều căn cứ vào câu Du tử hành vị quy, cho rằng Nguyễn
Du nhớ vua Lê Chiêu Thống. Các ông Lê Thước, Trương Chính trong thơ Chữ Hán
Nguyễn Du cho rằng nhớ một người bạn cũ, sau đó lại cho rằng nhớ người vợ trước
em Đoàn Nguyễn Tuấn. Riêng tôi, (TS Phạm Trọng Chánh), Nguyễn Du không gọi là hiền thê, vợ hay bạn
hay vua mà gọi là mỹ nhân, Mỹ nhân đó
chính là Xuân Hương, Hồ Phi Mai, lúc đó Nguyễn Du còn cô đơn chưa vợ. Ba mươi
tuổi Nguyễn Du mới về Quỳnh Hải cưới vợ, lúc ở Hồng Lĩnh chỉ ở một mình bếp
lạnh hoang vắng.
Nguồn: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của
TS Phạm Trọng Chánh.
(Còn tiếp)
[1] Cam
thảo : 甘草thân cây có chất ngọt.
[2] Quế
chi : 桂 枝cành vỏ quế có quế vị cay, có quế vị đắng.
[3] Thạch
nhũ: 石 乳, một loại lá trà, cũng có nghĩa là vú đá
trong hang động.
[4] Trần
bì : 陳 皮, vỏ quýt phơi khô, nghĩa
bóng cái giống người nữ hay người nữ trần truồng.
[5] Qui
thân : 歸 身, tên 1 một loại thuốc, nghĩa bóng là qui đầu, dương vật.
[6] Liên
nhục : 連 肉, hột sen nghĩa bóng là thân
thể.
[7] Dao cầu
: 刀 梂, một loại dao xắt lát thuốc
Bắc.
[8] Cả câu: Sinh
ký tử qui : 生 寄 死歸Sống gửi thác về, lấy từ sách Hoài Nam Ký.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét